1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Báo In Với Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

130 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được luận văn “Báo in với vấn đề biến đổi khí hậu ở Đồng bằng Sông Cửu Long”, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô là giảng viên Viện Đào tạo Báo chí

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN THỊNH

BÁO IN VỚI VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Vĩnh Long - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN THỊNH

BÁO IN VỚI VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Chuyên ngành: Báo chí học định hướng ứng dụng

Mã số: 8320101.01 (UD)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn Người hướng dẫn khoa học thạc sĩ khoa học

PGS.TS Vũ Quang Hào PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu

Vĩnh Long - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, theo

sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu Các số liệu thống

kê, kết quả nghiên cứu đảm bảo trung thực, khách quan và chưa được công

bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây Luận văn có

sử dụng, kế thừa và phát triển một số tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ sách, giáo trình, tài liệu,… liên quan đến đề tài

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Thịnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn “Báo in với vấn đề biến đổi khí hậu

ở Đồng bằng Sông Cửu Long”, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô là giảng viên Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu đã tận tình hình dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo, đồng nghiệp đang công tác tại Báo Vĩnh Long, Báo Cần Thơ và Báo Đồng Khởi, cùng các chuyên gia, nhà khoa học đã hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này

Luận văn là sản phẩm nghiên cứu khoa học đầu tiên của tác giả Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ chuyên môn và điều kiện về thời gian hạn hẹp nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế, sai sót

Tác giả chân thành cảm ơn và hy vọng nhận được ý kiến đóng góp

để luận văn hoàn chỉnh hơn

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Thịnh

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài……… 1

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn 9

PHẦN NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO IN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 11

1.1 Khái niệm, thuật ngữ liên quan đến báo in và vấn đề biến đổi khí hậu 11

1.2 Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về biến đổi khí hậu 25

1.3 Sự cần thiết phát huy vai trò của báo in đối với vấn đề biến đổi khí hậu 32

Tiểu kết chương I 41

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA BÁO VĨNH LONG, CẦN THƠ, ĐỒNG KHỞI VỚI VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 43

2.1 Giới thiệu về báo in Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Khởi 43

2.2 Đánh giá chung và vấn đề đặt ra về vai trò của báo in với vấn đề biến đổi khi hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long 47

2.3 Thực trạng vai trò của báo in đối với vấn đề BĐKH trên các báo Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Khởi 59

Trang 6

2.4 Phản hồi của công chúng và các chuyên gia về vai trò của báo in với vấn đề biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long 69 2.5 Một số nhận xét và vấn đề đặt ra về vai trò của báo in với vấn đề biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long 79 Tiểu kết chương 2 76

CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA BÁO IN VỚI VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 82

3.1 Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn báo in với vấn đề biến đổi khí hậu

ở Đồng bằng sông Cửu Long 82 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của báo in đối với vấn đề biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long 86 Tiểu kết chương 3 99

KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BĐKH: Biến đổi khí hậu

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

TN&MT: Tài nguyên và môi trường

KHCN: Khoa học công nghệ

NN: Nhà nước

TX: Thị xã

TP: Thành phố

UBND: Ủy ban nhân dân

TT&TT: Thông tin và truyền thông

TN&MT: Tài nguyên và môi trường

NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

UNFCCC, FCCC: Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu QĐ: Quyết định

NQ: Nghị quyết

UNDP: Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc tại Việt Nam

Trang 9

ĐBSCL là một trong những vùng đồng bằng màu mỡ, có sản lượng nông sản lớn nhất khu vực Đông Nam Á và đứng đầu Việt Nam Tuy nhiên, những lợi thế tự nhiên sẵn có của ĐBSCL đang phải đối mặt với thách thức bất lợi của biến đổi khí hậu (BĐKH), đe dọa đến đời sống sản xuất, sinh kế của người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển ổn định, bền vững về kinh tế- xã hội và môi trường

Về hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, vào các tháng mùa khô, ĐBSCL chịu tác động mạnh bởi xâm nhập mặn, đây là đặc tính của vùng, mức độ xâm nhập những năm trước đây có tính quy luật tương đối rõ rệt Tuy nhiên trong những năm gần đây, do BĐKH và nguồn nước thượng lưu sông MeKong về ĐBSCL đã thay đổi quy luật tự nhiên bởi việc xây dựng, vận hành các hồ chứa thủy điện thượng lưu, dẫn đến xâm nhập mặn có những thay đổi lớn, gây khó khăn trong việc cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Cụ thể, thời gian xâm nhập mặn có xu hướng xuất hiện sớm hơn trước đây từ 1 đến 1,5 tháng Giai đoạn trước năm 2012, mặn thường xâm nhập đáng kể từ tháng 2 đến tháng 4, đỉnh mặn xuất hiện vào cuối tháng 3 hoặc tháng 4 (là tháng có dòng chảy kiệt nhất) Những năm gần đây thường xuyên xuất hiện dòng chảy thượng nguồn đầu mùa khô về thấp, xâm nhập mặn bắt đầu từ cuối tháng 12 năm trước, đỉnh mặn xuất hiện vào tháng 2 hoặc đầu tháng 3 năm sau

Trang 10

2

Về sạt lở đất, năm 2017, người dân vùng Đất Mũi (Cà Mau)- nơi được gọi là “đất biết đi” mỗi năm bồi đắp ra biển hàng chục mét thì nay, theo thống kê của Sở Nông nghiệp- PTNT Cà Mau, hiện có khoảng 150km

bờ biển bị sạt lở nghiêm trọng Khoảng 450ha đất, rừng phòng hộ bị cuốn

ra biển mỗi năm

Còn tại Kiên Giang, bờ biển dài khoảng 200km từ TX Hà Tiên đến huyện An Minh cũng đang sạt lở Tại các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, TP Cần Thơ sạt lở mỗi ngày thêm nghiêm trọng Ở 2 xã ven biển của TX Duyên Hải (Trà Vinh) là Hiệp Thạnh và Trường Long Hòa, hàng chục hécta rừng dương phòng hộ 20 năm tuổi đã bị sóng biển đánh bật gốc, đe dọa đất sản xuất của người dân

Cuối tháng 8/2017, UBND tỉnh Vĩnh Long đã công bố thiên tai cấp

độ 1 do sạt lở bờ sông Hậu tại Khóm 3 (phường Thành Phước- TX Bình Minh) Con số của Viện Khoa học thủy lợi Miền Nam công bố cho thấy, mỗi năm ĐBSCL đang mất khoảng 500ha rừng phòng hộ Đáng lo ngại, diện tích rừng mất đi này không thể phục hồi

Theo dự báo của các Bộ, Ngành, chuyên gia tại Hội nghị đánh giá kết quả hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ

về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, diễn ra trong 2 ngày 17 và 18/6/2019 tại TP Hồ Chí Minh, tình hình BĐKH, thiên tai sẽ diễn biến nhanh trong thời gian tới, tác hại khó lường, khó dự báo do tính chất thất thường, cực đoan

Trong bối cảnh đó, báo chí khu vực ĐBSCL, trong đó có các cơ quan báo in đã thể hiện vai trò vô cùng quan trọng, là kênh thông tin thiết thực, hiệu quả trong việc phổ biến các quan điểm Đảng và Nhà nước về BĐKH Đồng thời, là nhịp cầu nối kết thông tin giữa người dân và các nhà khoa học, nhà quản lý, các doanh nghiệp trong việc hoạch định chính sách, đề ra

Trang 11

Do đó, đây cũng là lý do người viết chọn đề tài “Báo in với vấn đề biến đổi

khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long” (Khảo sát báo Vĩnh Long, Cần

Thơ, Đồng Khởi- Bến Tre) Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, bằng

các phương pháp thống kê, đánh giá, phân tích, phân loại, định lượng, định tính,… người viết mong muốn sẽ phát thảo được cái nhìn bao quát về vấn

đề BĐKH ở ĐBSCL hiện nay Đồng thời, chỉ ra được vai trò của báo in cũng như những ưu điểm và hạn chế của phương tiện truyền thông này với

đề tài BĐKH Qua đây, đề xuất, kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả của báo in với vấn đề BĐKH Với đề tài nghiên cứu này, người viết cũng mong muốn sẽ khơi gợi, cung cấp thông tin hữu ích cho các công trình nghiên cứu tiếp theo

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong quá trình nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi được tiếp cận luận

văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích Hạnh về “Vấn đề tuyên truyền biến đổi

khí hậu trên báo in Việt Nam” [8] Luận văn khảo sát và đánh giá thực

trạng tuyên truyền về vấn đề BĐKH, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về BĐKH thông qua phương tiện báo in

Nghiên cứu vấn đề BĐKH trên phương tiện truyền thông là truyền

hình, có đề tài “Truyền hình các tỉnh Tây Nam Bộ truyền thông về vấn đề

biến đổi khí hậu hiện nay” của Nguyễn Thị Thanh Thảo [23] Luận văn

trình bày được cơ sở lý luận và thực tiễn truyền thông về vấn đề BĐKH trên truyền hình các tỉnh Tây Nam Bộ, làm rõ thực trạng truyền thông về

Trang 12

4

vấn đề BĐKH trên truyền hình các tỉnh Tây Nam Bộ hiện nay Đồng thời, đánh giá những kết quả, hạn chế và đề xuất một số giải pháp đổi mới nội dung, hình thức truyền thông ứng phó với BĐKH

Đề tài “Đổi mới nội dung và hình thức truyền thông về biến đổi khí

hậu trên kênh VTC16 hiện nay” của Trần Thị Thùy Dương [3] Qua tìm

hiểu nội dung, hình thức truyền thông về BĐKH trong chương trình thời sự 18h, chương trình “Nông thôn chuyển động” và chương trình chuyên đề

“Nông thôn với biến đổi khí hậu” trên kênh VTC16, tác giả đưa giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin truyền thông về BĐKH trên kênh VTC16

Đề tài “Vấn đề về chất lượng thông tin về biến đổi khí hậu của

VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Lê Vân [28]

Thông qua đề tài, người nghiên cứu đã khảo sát, đánh giá chất lượng thông tin thông qua việc phân tích nội dung, hình thức thông tin về BĐKH trong chương trình thời sự 19h và chương trình chuyên đề trên kênh VTV1, trên

cơ sở so sánh với kết quả của các cuộc nghiên cứu về BĐKH khác, đề tài đưa ra các khuyến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về BĐKH trên truyền hình

Nghiên cứu vấn đề BĐKH trên phương tiện truyền thông là phát

thanh, có đề tài “Thông tin, tuyên truyền về biến đổi khí hậu trên sóng phát

thanh của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Giang” của tác giả Lê Thế

Biên [1] Với đề tài này, người nghiên cứu đã tập trung phân tích, đánh giá

về tần suất, mức độ xuất hiện; nội dung thông tin, tuyên truyền về BĐKH cũng như hình thức, phương thức thông tin, tuyên truyền về BĐKH trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Giang Từ đó đi đến đánh giá về hoạt động thông tin, tuyên truyền về BĐKH trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Giang ở các mặt thành công,

Trang 13

5

hạn chế, nguyên nhân của những thành công và hạn chế Từ những kết quả khảo sát đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền về BĐKH trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Giang

Đề tài “Tuyên truyền về biến đổi khí hậu của các đài truyền thanh

cấp huyện ở Cà Mau hiện nay” của Lê Kim Hậu [10] Luận văn nghiên cứu

về lý luận báo chí phát thanh, truyền thanh; đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, các văn bản báo cáo khoa học về BĐKH ở thế giới và Việt Nam, đặc biệt là ở Cà Mau Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tuyên truyền về BĐKH (thành công, hạn chế) của các đài truyền thanh cấp huyện ở tỉnh Cà Mau trong năm 2014 (tháng 1/2014 – tháng 12/2014) Nghiên cứu ý kiến công chúng nghe đài truyền thanh cấp huyện về hiệu quả truyên truyền BĐKH của các đài truyền thanh cấp huyện ở Cà Mau Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về BĐKH của các đài truyền thanh cấp huyện ở tỉnh Cà Mau

Nghiên cứu vấn đề BĐKH trên phương tiện truyền thông là báo điện

tử, có đề tài “Báo mạng điện tử với vấn đề biến đổi khí hậu tại Việt Nam

hiện nay” của Nguyễn Thị Huyền Trang [27] Luận văn này đã hệ thống

hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề thông tin về BĐKH trên mạng điện tử Trong đó, tập trung phân tích, đánh giá về tần suất, mức độ quan tâm của độc giả; nội dung thông tin về BĐKH cũng như hình thức, phương thức thông tin về BĐKH trên những tờ báo trên Từ đó đi đến đánh giá về hoạt động thông tin về BĐKH trên báo mạng điện tử chỉ ra các mặt thành công, hạn chế; nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó Từ những kết quả khảo sát đúc kết lại một số vấn đề đặt ra, trên cơ sở đó đưa

ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thông tin về BĐKH trên báo mạng điện tử

Trang 14

6

Đề tài “Vấn đề biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử nước ngoài

hiện nay” của Hoàng Thị Kim Quý [20] Trên cơ sở hệ thống hóa những

vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài, luận văn khảo sát thực trạng vấn đề BĐKH trên báo mạng điện tử nước ngoài, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm

từ báo mạng điện tử nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng thông tin về BĐKH trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài “Báo in với vấn đề biến

đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long”, chúng tôi còn được tiếp cận

với một số bài viết có liên quan như:

Tham luận của TS Đỗ Chí Nghĩa tại Hội thảo quốc tế về “Truyền

thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu” [19] đã khảo sát chương

trình thời sự của Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long và Đài Truyền hình Việt Nam, chỉ ra ưu điểm và hạn chế của truyền hình trong thông tin

về BĐKH hiện nay, từ đó đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả thông tin

về BĐKH trên truyền hình

Báo cáo đề dẫn của PGS.TS Phạm Huy Kỳ tại hội thảo quốc tế

“Truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu” [16] đã định

hướng cho các nhà khoa học trong nước và nước ngoài nghiên cứu về vai trò của truyền thông đại chúng Việt Nam với BĐKH, tìm giải pháp để truyền thông đại chúng Việt Nam phát huy hiệu quả tuyên truyền, định hướng dư luận và dự báo tình hình về vấn đề này

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã khai thác vấn đề BĐKH trên các phương tiện truyền thông đại chúng, từ báo in, truyền hình, phát thanh, báo điện tử ở Trung ương và cả địa phương Dù trước đó đã có đề tài

thạc sĩ báo chí học của Nguyễn Thị Bích Hạnh về “Vấn đề tuyên truyền

biến đổi khí hậu trên báo in Việt Nam” [8], tuy nhiên chưa có đề tài nghiên

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu như trên, luận văn có 3 nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về báo in với vấn đề BĐKH

- Khảo sát, đánh giá thực trạng vai trò của báo in với vấn đề BĐKH ở ĐBSCL

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của báo in với vấn đề BĐKH ở ĐBSCL hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của báo in với vấn đề BĐKH ở ĐBSCL

Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu

3 tờ báo in Vĩnh Long, Cần Thơ và Đồng Khởi về một số vấn đề cụ thể của

Trang 16

8

BĐKH Lý do đề tài chọn báo Vĩnh Long, Cần Thơ và Đồng Khởi, vì thời gian qua trên địa bàn 3 địa phương trên bị ảnh hưởng nặng nề bởi hạn hán, xâm nhập mặn, mưa bão và sạt lở đất Đồng thời, đây là 3 tờ báo hoạt động mạnh, nhiều tin, bài phản ánh thông tin kịp thời, chính xác về BĐKH ở ĐBSCL thời gian qua

Luận văn thu thập và phân tích số liệu các báo Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Khởi thời gian từ năm 2015 đến năm 2019

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng

và chính sách pháp luật của Nhà nước về vai trò của báo chí đối với vấn đề BĐKH; lý luận về báo in

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng hợp các phương

pháp nghiên cứu, cụ thể như sau:

+ Phương pháp khảo sát tài liệu: được sử dụng để tiếp cận các giáo trình, các tài liệu về báo chí nói chung và báo in nói riêng; các nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động,… của Đảng và Nhà nước, cấp ủy đảng, chính quyền địa phương Từ đó, khai thác những tư liệu cần thiết liên quan đến nội dung nghiên cứu

+ Thông qua các phương pháp thống kê, đánh giá, phân tích, phân loại, định lượng, định tính để đánh giá thực trạng vai trò của báo Vĩnh Long, Cần Thơ và Đồng Khởi đối với vấn đề BĐKH Phân tích những ưu điểm, hạn chế của báo in về vấn đề BĐKH trong thời gian qua

+ Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, lãnh đạo các cơ quan báo chí, phóng viên chuyên trách mảng đề tài BĐKH

để thập thông tin, số liệu, từ đó có những nhìn nhận, đánh giá khách quan, trung thực những ưu điểm, hạn chế của báo in trong hoạt động truyền thông

Trang 17

6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 18

10

PHẦN NỘI DUNG Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO IN ĐỐI VỚI

VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1 Khái niệm, thuật ngữ liên quan đến báo in và vấn đề biến đổi

khí hậu

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của báo in

1.1.1.1 Khái niệm báo in

Khái niệm báo chí theo nghĩa rộng được dùng để chỉ các sản phẩm phát hành thông qua các loại hình báo in, báo phát thanh, báo hình và báo mạng điện tử Truyền thông đại chúng là phương tiện chuyển tải thông điệp, thông qua hệ thống các kênh truyền thông tác động vào công chúng

để thông tin và chia sẻ tư tưởng, tình cảm, kỹ năng và kinh nghiệm… nhằm lôi kéo và thuyết phục, tập họp và tổ chức công chúng tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang đặt ra Hai khái niệm này trong thực tiễn gần như trùng khớp nhau

Về phương diện lý thuyết, truyền thông đại chúng là một trong những khái niệm cơ bản, chiếm vị trí trung tâm, nền tảng trong hệ thống lý luận báo chí – truyền thông nói chung Trên phương diện thực tiễn, truyền thông đại chúng đang được đang là một lực lượng xã hội rất quan trọng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề chính trị - kinh tế - xã hội hàng ngày, trên phạm vi quốc gia, quốc tế, khu vực hay trong khuôn khổ gia đình

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, truyền thông ở bình diện tổng quát, được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao (thay đổi) nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ

và hành vi của công chúng Bản chất xã hội của truyền thông là tương tác

Trang 19

11

và chia sẻ, thực hiện những cuộc vận động xã hội trên cơ sở tương tác bình đẳng giữa chủ thể và khách thể nhằm hướng tới mục tiêu chung vì lợi ích cộng đồng [7, tr.32] Truyền thông là một trong những kênh quan trọng nhất, thể hiện rõ nhất tính công khai, dân chủ hóa đời sống xã hội Các kênh truyền thông rất đa dạng, nhưng về cơ bản có các dạng thức như truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng [7, tr.33]

Chính vì thế, yêu cầu quan trọng nhất của hoạt động báo chí – truyền thông là góp phần thay đổi nhận thức của công chúng xã hội, làm cho nhận thức của nhân dân từ chưa đúng đến đúng đắn hơn, từ nông đến sâu, từ nhiều khác biệt đến nhiều tương đồng hơn… Và cuối cùng là thống nhất nhận thức, tạo ra đồng thuận để hình thành thái độ chung, niềm tin, ý chí làm cơ sở cho hành động của đông đảo quần chúng tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển Tạo lập, gây dựng niềm tin

và ý chí cho hàng triệu người là mục tiêu quan trọng nhất của báo chí – truyền thông Trước hết là làm cho công chúng tin cậy vào cơ quan báo chí thông qua việc cung cấp thông tin nóng hổi, chân thực, nhiều chiều và hoạt động quan hệ công chúng một cách chuyên nghiệp Hiệu quả tác động của báo chí do đó cũng chịu sự chi phối, phụ thuộc của nhiều yếu tố, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; từ chủ quan đến khách quan… thể hiện theo các bình diện sau:

Thứ nhất, giao diện, tần suất và cường độ giao tiếp của công chúng với các sản phẩm báo chí – truyền thông;

Thứ hai, năng lực tác động, khả năng chi phối của các ấn phẩm báo chí đối với cộng đồng thông qua việc khơi nguồn, thể hiện – truyền dẫn, định hướng và điều hòa dư luận xã hội;

Trang 20

Thứ năm, khả năng thuyết phục, tập họp và tổ chức công chúng tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra

Từ những phân tích trên đây cho thấy, mỗi loại hình báo chí cần chú

ý khai thác những đặc trưng thế mạnh của mình trong vai trò phát huy sức mạnh của dư luận xã hội Riêng đối với báo in, thời gian qua đã làm rất tốt vai trò này của mình Thông qua việc khơi nguồn, tạo lập dư luận xã hội, phản ánh dư luận xã hội để từ đó định hướng dư luận xã hội Cũng như các loại hình báo chí khác, báo in lấy dư luận xã hội làm nội dung, làm chất liệu phản ánh, vừa thông qua đó để định hướng dư luận xã hội Dùng dư luận để giải thích, thuyết phục dư luận và để định hướng dư luận là cách làm có sức hấp dẫn nhất của báo in

Báo in là loại hình báo chí ra đời sớm nhất và là loại hình gốc của mọi loại hình báo chí sau này

Theo PGS.TS Đinh Văn Hường, báo in là tên gọi loại hình báo chí chuyển tải thông tin và hình ảnh trên giấy, được thực hiện bằng phương tiện kỹ thuật in và được phát hành rộng rãi trong xã hội Các ấn phẩm báo

in gồm có: báo, tạp chí, phụ trương và bản tin

Định kỳ của báo in có nhiều mức độ khác nhau như: hàng ngày, hàng tuần Định kỳ của báo in chính là sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và tương đối ổn định của sản phẩm báo Chu kỳ xuất hiện có ý nghĩa quan trọng đối với báo in vì nó quy định thời điểm mà công chúng đón nhận sản phẩm Nếu tính định kỳ của báo in bị phá vỡ có nghĩa là phá vỡ luôn cả

Trang 21

13

thói quen mua (hay nhận) báo in vào giờ đó của người đọc và người đọc sẽ

đi tìm phương tiện khác để thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình

Sản phẩm báo in được phát hành rộng rãi trong xã hội, từng loại báo, từng tờ báo in đều có đối tượng riêng Báo in địa phương ĐBSCL chủ yếu phục vụ đối tượng bạn đọc địa phương Nội dung thông tin trong các ấn phẩm đó mặc nhiên chỉ quan tâm chủ yếu đến đối tượng của mình Như vậy, mỗi một tờ báo in đều có công chúng khác nhau và công chúng thực hiện phương thức tiếp nhận theo những hướng khác nhau

Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản in gồm: chữ

in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ tĩnh Toàn bộ các yếu tố thể hiện nội dung thông tin của tác phẩm báo in xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc Sự đồng hiện của báo in được thể hiện bằng những thông tin cùng xuất hiện đồng thời trên trang báo in, thông qua việc trình bày tổ chức trang báo, như: tên chuyên mục, tiêu đề, tít, sapô hoặc những dòng chữ gây chú ý, tít phụ cùng sự hỗ trợ của hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Công chúng đọc một bài báo in có thể do tít và sa-pô hấp dẫn hay cũng có thể do hình ảnh, biểu đồ minh họa gây ấn tượng Cũng chính vì vậy mà có thể nói sự đồng hiện thông tin của bài viết trên cùng một trang báo in là một trong những lợi thế nhất định của báo in Và đây cũng chính là lợi thế khi tiếp cận các vấn đề nông nghiệp Vừa có chữ, vừa có hình ảnh, công chúng báo

in ĐBSCL rất dễ hình dung để nắm bắt thông tin thời vụ, mô hình làm ăn hiệu quả, những hướng dẫn kỹ thuật canh tác một cách chính xác Công chúng có thể cùng lúc lướt mắt trên toàn bộ bài báo và sau đó tìm những thông tin thú vị, bổ ích hoặc cần thiết cho mình Công chúng có thể đọc báo

in bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu và làm tài liệu lưu trữ trong nhiều năm, cũng như chia sẻ tư liệu dễ dàng cho người xung quanh

Trang 22

Vì vậy, từ phương thức thông tin đặc thù trên, báo in có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, người đọc sẽ hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in, thông qua việc bố trí thời điểm đọc, cách đọc, tốc độ đọc Tùy vào thời gian rảnh rỗi của mỗi người mà có thể đọc báo bất cứ lúc nào, khác với phát thanh và truyền hình, người nghe có thể nghe bất cứ lúc nào nhưng thông tin không được rõ vì có thể nghe đoạn cuối nói nhưng không nghe đoạn đầu nên rất dễ gây hiểu lầm cho người nghe Mặt khác, người đọc có thể đọc tùy hứng, đọc chậm rãi hay lướt qua, hoặc chú tâm vào các chi tiết, còn với phát thanh, truyền hình tùy vào việc đưa thông tin

và cách đọc của biên tập viên Nghĩa là người nghe - xem phụ thuộc vào biên tập viên Bên cạnh đó, người đọc có thể lướt nhanh để nắm bắt thông tin, lựa chọn thông tin nào mình nên đọc trước và người đọc cũng có thể đọc theo sở thích của mình Đây là điều mà báo mạng điện tử đang kế thừa

và phát huy ưu việt hơn Điều này tạo cho báo in có khả năng thông tin những nội dung phức tạp và sâu sắc hơn

Thứ hai, sự tiếp nhận thông tin từ báo in là hoàn toàn chủ động, vì vậy đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não nếu không thì sẽ không lưu lại được thông tin Đồng thời

Trang 23

15

nguồn thông tin từ báo in đảm bảo sự chính xác và độ xác định cao Dù thông tin chậm hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng đảm bảo sự chính xác về thông tin vì đã được kiểm định kỹ Báo in trở thành nguồn tài liệu quý giá đối với người đọc vì những thông tin mà người đọc lưu trữ trong trí não Báo in có thể làm tài liệu lưu trữ lâu dài, minh chứng cho các công trình nghiên cứu khoa học

1.1.2 Khái niệm biến đổi khí hậu và biểu hiện thực tế của nó

1.1.2.1 Khái niệm biến đổi khí hậu

Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (United Nations Framework Convention on Climate Change, UNFCCC hoặc FCCC) đã đưa

ra định nghĩa BĐKH nghĩa là “biến đổi của khí hậu được qui cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động

tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được” Còn những ảnh hưởng có hại của BĐKH nghĩa là “những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học do những biến BĐKH đổi khí hậu gây những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”

Còn theo tự điển Wikipedia, “BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn Địa Cầu Trong những

Trang 24

16

năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu Nguyên nhân chính làm BĐKH Trái Đất là

do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác”

Trong Điều 1 của Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu (UNFCCC) định nghĩa: BĐKH là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra làm thay đổi cấu tạo của khí quyển toàn cầu và là một trong các nhân tố gây ra những biến động khí hậu

tự nhiên trong các giai đoạn nhất định [35, tr 28]

Còn theo Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC): BĐKH là

do thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm những biến đổi tự nhiên và những biến đổi do các hoạt động của con người gây ra [35, tr 8]

Theo chương trình Mục tiêu Quốc gia năm 2008 của Bộ TN&MT đã giải thích: BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình/hoặc giao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong, hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển

Năm 2017, sau chuyến thị sát và chủ trì Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH, huy động trí tuệ của các bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức quốc tế; trên cơ sở kế thừa thành quả của những chủ trương chính sách của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, tích hợp kết quả của các chương trình nghiên cứu, các dự án đã

và đang triển khai thực hiện trong những năm qua, Thủ tướng Chính phủ đã

Trang 25

17

thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị quyết số 120 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH

Nghị quyết được ban hành đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về

tư duy của các cấp, các ngành trong xây dựng chính sách, xác định các chương trình chiến lược, các dự án cấp bách Đảng, Quốc hội, Chính phủ

đã quan tâm chỉ đạo, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, chính sách, nguồn lực, quy hoạch kết nối liên vùng,… Nhân dân đồng tình, ủng hộ và chủ động tham gia Đảng bộ, chính quyền các tỉnh vùng ĐBSCL nỗ lực vươn lên vượt qua khó khăn thách thức Các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển đã tích cực tham gia và hỗ trợ hiệu quả

Sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 120, Bộ Tài nguyên và Môi trường dự báo trong thời gian tới, tình hình BĐKH, thiên tai diễn biến nhanh, các tác động dài hạn đã được dự báo, nhận diện, tuy nhiên những tác ngắn hạn là khó lường, khó dự báo do tính thất thường, cực đoan Thách thức từ các hoạt động khai thác, sử dụng nước ở phía thượng nguồn, đặc biệt là các dự án thuỷ điện trên dòng chính sông Mê Kông ngày càng phức tạp hơn Dự báo, tình trạng thiếu cát, thiếu màu, thiếu nước sẽ còn tiếp diễn nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến phát triển ĐBSCL Quá trình triển khai Nghị quyết mới ở bước đầu, để đạt được mục tiêu, tầm nhìn chiến lược Nghị quyết đề ra, khối lượng thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp cần triển khai thực hiện còn rất lớn

1.1.2.2 Khái niệm hạn hán

Hạn hán là một thời gian kéo dài nhiều tháng hay nhiều năm khi một khu vực trải qua sự thiếu nước do lượng mưa đạt dưới mức trung bình Nếu tình trạng hạn hán kéo dài sẽ gây ra thiệt hại đáng kể và gây tổn hại nền kinh tế địa phương Có nhiều nguyên nhân gây ra hạn hán tại nước ta, song chủ yếu do 2 yếu tố chính:

Trang 26

18

- Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít

ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt

- Do tác động của con người gây ra: tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước; Việc trồng cây không phù hợp, vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước (như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước; Công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí công trình không phù hợp, làm cho nhiều công trình không phát huy được tác dụng

Tình trạng hạn hán, thiếu nước năm nay xảy ra trên diện rất rộng, trải dài từ Bắc Bộ, miền Trung, Tây Nguyên đến ĐBSCL và có diễn biến hết sức phức tạp Theo tự điển Wikipedia, “hạn hán là một thời gian kéo dài nhiều tháng hay nhiều năm khi một khu vực trải qua sự thiếu nước Thông thường, điều này xảy ra khi khu vực đó luôn nhận được lượng mưa dưới mức trung bình Hạn hán có thể tác động đáng kể lên hệ sinh thái và nông nghiệp của vùng bị ảnh hưởng Mặc dù hạn hán có thể kéo dài nhiều năm, nhưng một trận hạn hán dữ dội ngắn hạn cũng có thể gây ra thiệt hại đáng

kể và gây tổn hại nền kinh tế địa phương”

Một cánh đồng khô cằn, nứt nẻ do hạn hán gây ra ở ĐBSCL

Trang 27

19

Ở Việt Nam, hạn hán có tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội và sức khoẻ con người Hạn hán là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật thậm chí là chiến tranh do xung đột nguồn nước Hạn hán tác động đến môi trường như huỷ hoại các loài thực vật, các loài động vật, quần cư hoang dã, làm giảm chất lượng không khí, nước, làm cháy rừng, xói lở đất Các tác động này có thể kéo dài và không khôi phục được Hạn hán tác động đến kinh tế xã hội như giảm năng suất cây trồng, giảm diện tích gieo trồng, giảm sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lương thực Tăng chi phí sản xuất nông nghiệp, giảm thu nhập của lao động nông nghiệp, tăng giá thành và giá cả các lương thực Giảm tổng giá trị sản phẩm chăn nuôi Các nhà máy thuỷ điện gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận hành Ở Việt Nam, hạn hán xảy ra ở vùng này hay vùng khác với mức độ và thời gian khác nhau, gây ra những thiệt hại to lớn đối với kinh tế-xã hội, đặc biệt là nguồn nước và sản xuất nông nghiệp

1.1.2.3 Khái niệm xâm nhập mặn

Vườn sầu riêng của một hộ dân ở xã Quới Thiện, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long bị chết lá, khô cành, rụng trái bởi ảnh hưởng xâm nhập mặn

Trang 28

20

Theo tự điển Wikipedia, xâm nhập mặn là sự tích tụ quá nhiều muối hòa tan trong đất Xâm nhập mặn bên cạnh sự axit hóa là một trong hai kết quả lâu dài của sự phát triển đất Xâm nhập mặn xảy ra khi sự bốc hơi trong sáu đến chín tháng trong một năm lớn hơn lượng mưa Thêm vào sự phát triển tự nhiên của đất, xâm nhập mặn được tăng tốc đáng kể thông qua hành động của con người như quá trình thủy lợi

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, vào các tháng mùa khô, ĐBSCL chịu tác động mạnh bởi xâm nhập mặn, đây là đặc tính của vùng Mức độ xâm nhập hàng năm có tính quy luật tương đối

rõ rệt, tuy nhiên trong những năm gần đây, nguồn nước thượng lưu sông

Mê Kông về ĐBSCL đã thay đổi quy luật tự nhiên bởi việc xây dựng, vận hành các hồ chứa thủy điện thượng lưu, dẫn đến xâm nhập mặn có những thay đổi lớn, gây khó khăn lớn trong việc cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Cụ thể:

- Thời gian xâm nhập mặn: Có xu hướng xuất hiện sớm hơn trước đây từ 1-1,5 tháng Giai đoạn trước năm 2012, mặn thường xâm nhập đáng

kể từ tháng 2 đến tháng 4, đỉnh mặn xuất hiện vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4 (là tháng có dòng chảy kiệt nhất, gió Chướng hoạt động mạnh nhất) Những năm gần đây dòng chảy thượng nguồn đầu mùa khô về thấp, xâm nhập mặn xuất hiện từ cuối tháng 12 năm trước, đỉnh mặn xuất hiện vào tháng 2; hoặc đầu tháng 3

- Phạm vi xâm nhập mặn: Giai đoạn trước năm 2012, ranh mặn 4 g/l chỉ vào từ 35 † 45 km, năm sâu nhất đến 60 km Từ năm 2012 đến nay, xâm nhập mặn với ranh mặn 4g/l thường xuyên vào sâu hơn, ở mức 50 ÷ 60km, điển hình đợt xâm nhập mặn kỷ lục năm 2016, chiều sâu xâm nhập mặn cao nhất lên tới 90 km Việc này dẫn đến hàng loại cửa lấy nước được xây dựng trước đây ở khoảng cách cách cửa sông 35-50 km không thể lấy

Trang 29

21

nước ngọt (trước đây có thể chủ động lấy nước ngọt); ngoài ra, các cửa cống này thường có cửa van tự động đóng mở theo chênh lệnh mực nước thượng/hạ lưu, nên đã gây tác động không nhỏ đến việc chủ động vận hành

1.1.2.4 Khái niệm sạt lở đất

Một điểm sạt lở ăn sâu vào đất liền tại xã huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

Quyết định số 01/2011/QĐ-TTg ngày 04/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ: Sạt lở bờ sông, bờ biển là hiện tượng mất ổn định và chuyển dịch khối đất, đá tự nhiên của bờ sông, suối, bờ biển, đảo do tác động của các yếu tố chấn động địa chất, mưa lớn, dòng chảy, sóng, biến đổi mực nước và các tác động khác

Theo Tổng cục phòng chống thiên tai (Bộ NN&PTNT), với các đặc điểm về địa hình, địa chất, tác động của các yếu tố thượng nguồn, từ biển

và phát triển vùng đồng bằng, tác động của BĐKH làm gia tăng sạt lở bờ sông, vùng cửa sông ven biển Qua công tác theo dõi thấy rằng:

- Giai đoạn trước năm 2010: Vùng ĐBSCL thường xuyên xảy ra hiện tượng sạt lở, tại một số khu vực đã ghi nhận những thiệt hại do sạt lở

Trang 30

22

gây ra, nhất là những khu vực tập trung dân cư như : TX Tân Châu, TP Long Xuyên (An Giang); TX Hồng Ngự; TP Sa Đéc (Đồng Tháp); TP Vĩnh Long (Vĩnh Long) Tuy nhiên, xu thế chung là ổn định, không gia tăng quá mức; vùng ven biển có xu thế bồi là chính

- Từ năm 2010 tới nay: Sạt lở diễn biến ngày càng phức tạp và có mức độ gia tăng cả về phạm vi và mức độ nghiêm trọng, uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn các công trình phòng chống thiên tai, cơ sở hạ tầng vùng ven biển và làm suy thoái rừng ngập mặn ven biển Trung bình hàng năm, xói lở dã làm mất khoảng 300 ha đất, rừng ngập mặn ven biển Theo số liệu thống kê, hiện khu vực ĐBSCL có 564 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 834 km Trong

đó, sạt lở bờ sông 512 điểm với tổng chiều dài khoảng 566km (chủ yếu diễn ra dọc theo sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và các nhánh chính của hệ thống kênh, rạch); sạt lở bờ biển 52 điểm với tổng chiều dài 268km

Trong số các điểm sạt lở nêu trên, theo tiêu chí về phân loại sạt lở bờ sông, bờ biển quy định tại Quyết định số 01/2011/QĐ-TTg ngày 04/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ, hiện có 57 điểm sạt lở đăc biệt nguy hiểm (sạt lở gây nguy hiểm trực tiếp đến khu tập trung dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng), tổng chiều dài 170km Bao gồm, bờ sông 39 điểm với tổng chiều dài 85 km, bờ biển 18 điểm với tổng chiều dài 85 km (biển Đông 15/69 km, biển Tây 03 điểm/16km)

Còn theo báo cáo tại hội thảo về giải pháp xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển vùng ĐBSCL do Bộ NN&PTNT tổ chức tại Cà Mau vào ngày 9/4/2019, vùng ĐBSCL đã có 562 điểm sạt lở với tổng chiều dài 786 km trong đó, có 57 điểm xói lở đặc biệt nghiêm trọng, chiều dài 164 km Và mỗi năm, 13 tỉnh, thành ở ĐBSCL mất từ 300 - 500 ha đất và hàng chục

Trang 31

23

ngàn hộ dân phải di dời khỏi vùng nguy hiểm do sạt lở Đây là những “con

số biết nói”, mà theo ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT thì trước diễn biến phức tạp của sạt lở có xu thế ngày càng gia tăng, những năm qua Trung ương, các tổ chức quốc tế và các địa phương đã đầu tư hàng chục nghìn tỉ đồng để đầu tư xây dựng công trình, nghiên cứu ứng dụng các giải pháp bảo vệ bờ sông, bờ biển Nhưng thực tiễn triển khai cho thấy, các địa phương còn lúng túng trong việc tổ chức thực hiện các dự án xử lý sạt

lở cấp bách, nên kết quả đạt được đến nay chưa cao

Sạt lở theo quy luật thường xảy ra ở các đoạn sông cong, cửa phân lưu, nhập lưu, các cửa sông phân lạch là nơi dòng chảy không ồn định, vận tốc dòng chảy lớn hơn sức chịu của bùn cát lòng sông Các nguyên nhân sạt

lở được xác định gồm: suy giảm bùn cát do tác động của hô chứa ở thượng nguôn và khai thác cát quá mức trên các triền sông; gia tải lên bờ sông, bờ biển do xây dựng và nâng cấp nhà ở, công trình ven sông, trên sông và ven biển; tác động của BĐKH, nước biển dâng (trung bình 2 – 3mm/năm; suy giảm diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn và ngập mặn ven biển; gia tăng hoạt động của tàu, thuyền gây tác động lên bờ sông và nền địa chất yếu của ĐBSCL

1.2 Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về biến đổi khí hậu

1.2.1 Chủ trương chung của Đảng và Nhà nước

Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (United Nations Framework Convention on Climate Change, UNFCCC hoặc FCCC) là một hiệp ước quốc tế về môi trường được đàm phán tại Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED), thường được gọi là Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất diễn ra tại Rio de Janeiro từ ngày 03 đến ngày 14 tháng 6 năm 1992 Việt Nam đã ký Công ước khung về BĐKH ngày 11 tháng 6 năm 1992, phê

Trang 32

24

chuẩn ngày 16 tháng 11 năm 1994; và ký Nghị định thư Kyoto ngày 03 tháng

12 năm 1998, phê chuẩn ngày 25 tháng 9 năm 2002

Sau khi chính thức ký kết tham gia Công ước UNFCCC, từ năm

2005, một số chính sách, pháp luật trực tiếp liên quan đến BĐKH được ban hành như:

+ Chỉ thị số 35 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH năm 2005

+ Nghị quyết số 60 của Chính phủ giao Bộ TN&MT chủ trì, xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH năm 2008, Chiến lược quốc gia về BĐKH năm 2011, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh năm 2012

Ngoài những chính sách tiêu biểu ở trên, thời gian qua còn có rất nhiều chính sách, pháp luật có liên quan đến BĐKH được ban hành trong các lĩnh vực tài nguyên, sinh học, nông lâm nghiệp, môi trường xây dựng, thủy lợi, giao thông, năng lượng, công nghiệp, y tế,… ví dụ như:

+ Luật Đê điều năm 2006

+ Luật Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng năm 2010

+ Pháp lệnh phòng chống lụt, bão

+ Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai

+ Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

Tháng 10 năm 2016, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2053/QĐ-TTg về việc ban hành kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về BĐKH Kế hoạch này nhằm cụ thể các cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với BĐKH thực hiện các nghĩa vụ áp dụng đối với Việt Nam tại Thoả thuận Paris và bao gồm 5 nội dung chính:

+ Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

Trang 33

25

+ Thích ứng với BĐKH

+ Chuẩn bị nguồn lực

+ Thiết lập hệ thống công khai, minh bạch

+ Xây dựng và hoàn thiện chính sách, thể chế

Nhìn chung, Việt Nam đã tham gia và là thành viên tích cực thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong khuôn khổ Công ước UNFCCC Ở phạm vi quốc gia, Việt Nam đã và đang nỗ lực triển khai nhiều hoạt động ở mọi cấp nhằm ứng phó với các tác động tiêu cực ngày càng tăng của BĐKH Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế nhưng có thể nói rằng Việt Nam đã và đang thực hiện tốt những nghĩa vụ quốc tế của mình trong lĩnh vực này nhằm đóng góp vào nỗ lực chung của thế giới về ứng phó với BĐKH, đồng thời giải quyết và khắc phục các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đang diễn ra tại Việt Nam

Là một trong những quốc gia chịu nhiều tác động của BĐKH, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm chỉ đạo, thực hiện Công ước UNFCCC và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng cả về xây dựng chính sách, pháp luật và thực hiện các giải pháp ứng phó ở tất cả các cấp, các ngành Các nỗ lực của Việt Nam thực hiện UNFCCC đã được ghi nhận tại các diễn đàn trong và ngoài nước Việt Nam được coi là một trong những quốc gia tiên phong trong thực hiện Công ước

Nhận thức được các nguy cơ và thách thức của BĐKH, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã chủ động triển khai xây dựng và ban hành một cách hệ thống các chủ trương, chính sách nhằm ứng phó có hiệu quả với tác động của BĐKH

+ Năm 2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Để thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ

Trang 34

26

đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-CP năm 2014 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW với mục tiêu đến 2020, về cơ bản chủ động được trong thích ứng với BĐKH, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính Mới đây nhất, ngày 23/8/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 56-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên

và bảo vệ môi trường

+ Ngày 18/11/2016, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 07-NQ/TW

về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững NQ hướng đến mục tiêu

cơ cấu lại ngân sách nhà nước và quản lý nợ công theo hướng bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; tăng cường huy động, quản lý, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển văn hóa, con người, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng,

an ninh và hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trong khu vực và trên thế giới

+ Đặc biệt, năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số

120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH (còn được gọi NQ

“thuận thiên”) được xem là giải pháp để giảm thiểu những rủi ro do thiên tai gây ra và tạo sinh kế bền vững cho người dân trong vùng Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà nhận định: NQ ra đời rất kịp thời nhằm định hướng chiến lược cho phát triển của ĐBSCL trước bối cảnh nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức và xu thế ngày càng gia tăng tác động của BĐKH Nhiều địa phương đã chủ động triển khai một số mô hình kinh tế phù hợp với tự nhiên, thích ứng với BĐKH như: mô hình nuôi tôm bền

Trang 35

27

vững; chọn tạo, phát triển các giống cây trồng, vật nuôi và giống thủy sản

có tiềm năng, lợi thế của vùng; nâng cao chất lượng giống, đầu tư hạ tầng, xây dựng hệ thống ngăn mặn…

1.2.2 Đối với tỉnh Vĩnh Long

+Ngày 16/9/2013, Tỉnh ủy Vĩnh Long ban hành Chương trình hành động số 18-CTr/TU về thực hiện Nghị quyết số24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với BĐKH, đẩy mạnh quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

+ Ngày 9/7/2014, UBND tỉnh ban hành Quyết định số UBND về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện chương trình hành động số 18-Ctr/TU ngày16/9/2013 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnhquản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh

1031/QĐ-+ Ngày 12/7/2019, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Nghị quyết Số 186/2019/NQ-HĐND về việc ban hành quy định một số mức chi thực hiện các nhiệm vụ chi sự nghiệp của chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

1.2.3 Đối với TP Cần Thơ

Ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, mọi người dân và cần được tiến hành với sự đồng thuận và quyết tâm cao, từ phạm vi địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu Các nhiệm vụ ứng phó với BĐKH phải được thể hiện trong các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các địa phương, được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật và được quán triệt trong tổ chức thực hiện

Trang 36

28

UBND TP Cần Thơ chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng trên địa bàn đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH cũng như các giải pháp thích ứng và ứng phó Nhận thức được các nguy cơ, thách thức của BÐKH, TP Cần Thơ đã chủ động ban hành các chủ trương, chính sách nhằm ứng phó có hiệu quả

+ Thành ủy Cần Thơ ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày

6-2-2012 chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH

+ Thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Thành ủy Cần Thơ đã ban hành Chương trình số 39-CTr/TU ngày 25-7-2013 thực hiện Nghị quyết số 24; UBND TP Cẩn Thơ phê duyệt Quyết định số 3604/QĐ-UBND ngày 14-11-

2013 ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình số 39

+ Tháng 5-2015, UBND TP Cần Thơ có Quyết định 1334/QĐ-UBND

về phê duyệt "Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH TP Cần Thơ giai đoạn 2015-2030" với nội dung “Để TP Cần Thơ mạnh mẽ và thích ứng hơn” + Tháng 5-2015, UBND TP Cần Thơ có Quyết định 3135/QĐ-UBND

về việc thành lập Văn phòng công tác BĐKH TP Cần Thơ

+ Tháng 11-2017, UBND TP Cần Thơ ban hành Kế hoạch UBND triển khai thực hiện Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28-10-2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris

170/KH-về BĐKH tại TP Cần Thơ

+ UBND thành phố đã ban hành các Kế hoạch hành động về phát triển bền vững của thành phố năm 2015, 2016 tại Kế hoạch số 61/KH-UBND ngày 26-5-2015, Kế hoạch số 83/KH-UBND ngày 28-6-2016 và Kế hoạch 93/KH-UBND ngày 14-6-2017 hành động về phát triển bền vững thành phố giai đoạn 2017-2020

Trang 37

29

+ UBND thành phố đã xây dựng Kế hoạch số 84/KH-UBND ngày 5-2018 thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17-11-2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH; Kế hoạch số 131/KH-UBND ngày 29-8-2018 thực hiện Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 18-6-2018 của Chính phủ về công tác phòng chống thiên tai

9-1.2.3 Đối với tỉnh Bến Tre

Bến Tre là 1 trong 13 tỉnh- thành của ĐBSCL Thực tiễn thời gian qua cho thấy xâm nhập mặn càng sâu vào đất liền, sạt lở bờ biển diễn ra càng nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh Bên cạnh đó, các hiện tượng cực đoan như bão, áp thấp, hạn hán, triều cường, mưa trái mùa xuất hiện nhiều hơn

và diễn biến bất thường Thời điểm cuối năm 2015, đầu năm 2016 do tác động của hiện tượng El Nino kết hợp khan hiếm nguồn nước sông Mê Kông đổ về và biến đổi khí hậu, nước biển dâng nên tỉnh phải hứng chịu lần khô hạn kéo dài và xâm nhập mặn gây thiệt hại trầm trọng nhất trong

90 năm qua Tuy nhiên, công tác cảnh báo chưa kịp thời, nhiều công trình trọng điểm ứng phó với biến đổi khí hậu chưa được đầu tư; nguồn lực tài chính đầu tư còn hạn hẹp

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa X nhiệm kỳ 2015 - 2020 thể hiện chủ trương, chính sách, nỗ lực và quyết tâm của tỉnh trong ứng phó với BĐKH Trên cơ sở các chiến lược, chương trình, hướng dẫn của Trung ương; kết quả thực hiện ứng phó BĐKH giai đoạn 2010- 2015; Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre (cập nhật theo Kịch bản của Bộ TN&MT) và thực tế tác động của biến đổi khí hậu, tỉnh Bến Tre xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH và nước biển dâng giai đoạn 2016 - 2020

Sở TN&MT được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp cùng Văn phòng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó BĐKH; các sở, ban, ngành; đoàn

Trang 38

30

thể; UBND các huyện và chuyên gia đến từ Trung tâm quản lý nước và BĐKH (Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) xây dựng dự thảo kế hoạch hành động trình UBND tỉnh phê duyệt

Được sự hỗ trợ của dự án AMD (Thích ứng BĐKH vùng ĐBSCL ở hai tỉnh Bến Tre và Trà Vinh), ngày 4/8/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội thảo góp ý Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH và nước biển dâng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 – 2020

1.3 Sự cần thiết phát huy vai trò của báo in đối với vấn đề biến đổi khí hậu

1.3.1 Tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật về biến đổi khí hậu

BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại thế kỷ XXI, đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện, sâu sắc các hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu Do đó, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nhất là trong gần 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng và quan tâm chỉ đạo công tác ứng phó với BĐKH Quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đảng đã được quán triệt, thể chế hóa,

tổ chức thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã đánh giá vấn đề BĐKH là thách thức mang tính toàn cầu, có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của đất nước, xác định rõ định hướng mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để đẩy mạnh công tác chủ động ứng phó với BĐKH Cương lĩnh nhận định “nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách

có liên quan đến vận mệnh loài người Đó là giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy

cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi

Trang 39

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 khẳng định phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược Chiến lược đã chỉ

rõ, để đảm bảo phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững thì trong

“phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với BĐKH”, xác định mục tiêu “chủ động ứng phó có hiệu quả với BĐKH, nhất là nước biển dâng”, và đưa ra định hướng phát triển “đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng thủy văn, BĐKH và đánh giá tác động để chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên tai và Chương trình quốc gia về ứng phó với BĐKH, nhất là nước biển dâng Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế”

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với mục tiêu “nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, hoàn chỉnh hệ thống đê sông, đê biển và rừng phòng hộ ven biển, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, cụm dân cư đáp ứng yêu cầu phòng chống bão, lũ, ngăn mặn và chống nước biển dâng; tạo điều kiện sống an toàn cho nhân dân

Trang 40

32

đồng ĐBSCL, miền Trung và các vùng thường xuyên bị bão, lũ, thiên tai; chủ động triển khai một bước các biện pháp thích ứng và đối phó với BĐKH toàn cầu Ngăn chặn, xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường nông thôn” Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại với quan điểm phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải gắn với “tiết kiệm đất canh tác, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu”

Đứng trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để đồng bộ với chủ trương chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, phát triển nhanh, bền vững đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; cùng với xu thế mới của thời đại, mang tính toàn cầu và xuất phát từ những tồn tại, yếu kém trong ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như những thách thức đặt ra, Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Nghị quyết này được xác định là văn bản quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, ứng phó với BĐKH nói riêng, được cấp ủy, chính quyền các cấp cấp đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện trong những năm vừa qua

Xác định rõ Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH; BĐKH sẽ tác động ngay hôm nay và cả hàng chục năm sau, do đó Đảng, Chính phủ đã nhanh chóng xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động ứng phó với BĐKH Hệ thống văn bản pháp luật về BĐKH được xây dựng với tốc độ nhanh, với hàng trăm văn bản ra đời từ năm 2008 đến nay

Ngày đăng: 02/03/2021, 22:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thế Biên (2015), Thông tin, tuyên truyền về biến đổi khí hậu trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Giang, Luận văn Thạc sĩ báo chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin, tuyên truyền về biến đổi khí hậu trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Giang
Tác giả: Lê Thế Biên
Năm: 2015
2. PGS.TS Lê Thanh Bình, Th.s Phí Thị Thanh Tâm (2009), Quản lý nhà nước về pháp luật và báo chí, NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về pháp luật và báo chí
Tác giả: PGS.TS Lê Thanh Bình, Th.s Phí Thị Thanh Tâm
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2009
3. Trần Thị Thùy Dương (2016), Đổi mới nội dung và hình thức truyền thông về biến đổi khí hậu trên kênh VTC16 hiện nay, Luận văn Thạc sĩ báo chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và hình thức truyền thông về biến đổi khí hậu trên kênh VTC16 hiện nay
Tác giả: Trần Thị Thùy Dương
Năm: 2016
4. PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn (tập hai), NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn (tập hai)
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
5. PGS.TS Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2011
6. Hà Minh Đức chủ biên (1994), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1994
7. Quách Thị Hà (2016), Báo in của Bộ Tài nguyên và Môi trường với vấn đề BĐKH hiện nay, Luận văn Thạc sĩ báo chí Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo in của Bộ Tài nguyên và Môi trường với vấn đề BĐKH hiện nay
Tác giả: Quách Thị Hà
Năm: 2016
8. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2010), Vấn đề tuyên truyền biến đổi khí hậu trên báo in Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ báo chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tuyên truyền biến đổi khí hậu trên báo in Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Năm: 2010
9. PGS.TS Vũ Quang Hào (2001), Ngôn ngữ báo chí, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: PGS.TS Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
10. Lê Kim Hậu (2015), Tuyên truyền về biến đổi khí hậu của các đài truyền thanh cấp huyện ở Cà Mau hiện nay, Luận văn Thạc sĩ báo chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên truyền về biến đổi khí hậu của các đài truyền thanh cấp huyện ở Cà Mau hiện nay
Tác giả: Lê Kim Hậu
Năm: 2015
12. Đinh Văn Hường, Nguyễn Minh Trường (2016), Báo chí với vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Người làm báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đinh Văn Hường, Nguyễn Minh Trường
Năm: 2016
16. PGS.TS Phạm Huy Kỳ (2016), Báo cáo đề dẫn Hội thảo quốc tế “Truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu
Tác giả: PGS.TS Phạm Huy Kỳ
Năm: 2016
19. TS Đỗ Chí Nghĩa (2014), Tham luận tại Hội thảo quốc tế về “Truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu
Tác giả: TS Đỗ Chí Nghĩa
Năm: 2014
21. Dương Xuân Sơn (2013), Xu hướng phát triển của báo chí, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng phát triển của báo chí
Tác giả: Dương Xuân Sơn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2013
24. Tạ Ngọc Tấn (1992), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 1992
25. Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
27. Nguyễn Thị Huyền Trang (2015), Báo mạng điện tử với vấn đề biến đổi khí hậu tại Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ báo chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo mạng điện tử với vấn đề biến đổi khí hậu tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Huyền Trang
Năm: 2015
28. Nguyễn Lê Vân (2016), Vấn đề về chất lượng thông tin về biến đổi khí hậu của VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ báo chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề về chất lượng thông tin về biến đổi khí hậu của VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Lê Vân
Năm: 2016
11. Đặng Thị Thu Hương (2010), Một số vấn đề truyền thông đại chúng trong thời đại internet, báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn Khác
13. Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w