1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài tìm hiểu về basel

47 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Về Basel
Tác giả Trần Văn Cảm
Người hướng dẫn PGS. TS Lâm Chí Dũng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản Trị Ngân Hàng Nâng Cao
Thể loại Đề Tài
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 558,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG I: HIỆP ƯỚC VỐN BASEL

    • 1.2.4.2. Về mục đích

    • 2.2.2. Lộ trình ứng dụng Basel II tại một số nước trên thế giới

  • KẾT LUẬN

Nội dung

HIỆP ƯỚC VỐN BASEL

Về mục đích

BASEL I BASEL II BASEL III

- Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế.

-Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.

- Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế.

- Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế.

- Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro

- Tăng cường quản lý rủi ro, đảm bảo ổn định hoạt động ngân hàng.

Các thành viên đã thống nhất thiết lập quy chế giám sát chặt chẽ hơn cùng với nhiều quy định bổ sung, nhằm tăng cường vốn cho các ngân hàng lớn và xây dựng cơ chế giải quyết toàn cầu cho các doanh nghiệp gặp khó khăn.

BASEL I BASEL II BASEL III

- Cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng đầu tiên với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%.

- Phổ biến ở hầu hết các quốc gia.

- Ba cột trụ nhấn mạnh hơn về phương pháp luận nội bộ của ngân hàng, xem xét đánh giá, và quy luật thị trường.

- Linh hoạt hơn, các cách

- Duy trì lượng tài sản có tính thanh khoản cao, duy trì việc tài trợ cho tín dụng trung và dài hạn.

- Đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng khi họ đối mặt tiếp cận, khuyến khích quản lý rủi ro tốt hơn

- Nhạy cảm hơn với rủi ro

- Khắc phục nhược điểm của Basel I với khủng hoảng.

- Có khả năng đối phó với nợ xấu tốt hơn.

Cố gắng khắc phục nhược điểm của Basel II

BASEL I BASEL II BASEL III

- Không phân biệt theo loại rủi ro.

- Không có lợi ích từ việc đa dạng hóa.

- “Có lợi” có tính hệ thống.

- Không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành.

- Khủng hoảng tài chính năm 2008, các ngân hàng phải nhờ đến sự cứu trợ của chính phủ

Hiệp ước Basel III chủ yếu tập trung vào các ngân hàng ở nền kinh tế phát triển, trong khi bỏ qua những yêu cầu cần thiết đối với các thị trường mới nổi Điều này tạo ra hai thách thức chính cho các thị trường mới nổi trong việc tuân thủ các quy định tài chính toàn cầu.

1 Thứ nhất là thời hạn thực hiện

2 Thứ hai là liệu có nên buộc ngân hàng tại các thị trường mới nổi phải có nhiều vốn hơn, tính thanh khoản cao hơn ngân hàng tại các nước giàu hay không.

CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG BASEL II VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP

CẬN BASEL III Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM

2.1 Kinh nghiệm ứng dụng Basel II tại các nước khác

2.2.1 Khảo sát tình hình ứng dụng Basel II tại các nước trên thế giới

Nhằm nghiên cứu ứng dụng và tác động của basel đến các quốc gia, tính đến năm

Vào năm 2005, Ủy ban Basel đã tiến hành năm cuộc khảo sát điều tra, trong đó cuộc khảo sát gần nhất (QIS 5) diễn ra từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2005, nhằm đánh giá tác động của Basel II đối với hơn 350 ngân hàng ở 31 quốc gia Trong cuộc khảo sát QIS 5, các ngân hàng được chia thành hai nhóm: Nhóm 1 bao gồm các ngân hàng có vốn cấp 1 từ 3 tỷ USD trở lên và hoạt động đa ngành, đa quốc gia, trong khi Nhóm 2 là những ngân hàng có vốn dưới 3 tỷ USD.

Theo khảo sát về việc ứng dụng Basel II trong đánh giá rủi ro tín dụng, các ngân hàng G10 chủ yếu áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ, trong đó nhóm ngân hàng hàng đầu sử dụng phương pháp xếp hạng nội bộ nâng cao Ngược lại, các ngân hàng có quy mô vốn nhỏ hơn 3 tỷ không thuộc nhóm G10 chủ yếu áp dụng phương pháp đơn giản (phương pháp chuẩn) của Basel II.

Theo khảo sát QIS 5 của ủy ban Basel về đánh giá rủi ro hoạt động tại các nước G10 (trừ Mỹ), chỉ khoảng 39% ngân hàng thuộc nhóm 1 áp dụng phương pháp nâng cao, trong khi các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn 3 tỷ USD chủ yếu sử dụng phương pháp chuẩn và phương pháp cơ bản.

Theo nghiên cứu của Đại học Sussex, Brighton, khảo sát về việc áp dụng Basel II ở các nước không phải là thành viên của Hội đồng Basel vào năm 2004 và 2006 cho thấy 84% các quốc gia được khảo sát dự định áp dụng Basel II từ năm 2007 đến 2015.

Bảng 2.1: Khảo sát tại các nước dự định ứng dụng basel mà không phải thành viên của hội đồng basel

Số lượng quốc gia được khảo sát

Số lượng quốc gia dự định ứng dụng basel %

Vùng trung đông 8 8 100% Quốc gia châu âu không thuộc basel 36 30 83%

(Nguồn: Review of Basel II Implementation in Low – Income Countries done by Institute of Development Studies University of Sussex, Brighton)

Các cuộc khảo sát từ các tổ chức uy tín toàn cầu cho thấy các quốc gia đang ngày càng áp dụng Basel trong quản trị rủi ro ngân hàng Tuy nhiên, phần lớn các ngân hàng chỉ sử dụng các phương pháp đơn giản, trong khi các phương pháp phức tạp chủ yếu được áp dụng bởi các ngân hàng lớn, đa ngành nghề và hoạt động quốc tế.

Lộ trình ứng dụng Basel II tại một số nước trên thế giới

Hiệp ước Basel đã quy định thời hạn áp dụng các chuẩn mực của nó cho các ngân hàng thuộc 30 quốc gia OECD là vào cuối năm 2006 Tuy nhiên, theo báo cáo của Ngân hàng Trung ương Châu Âu, chỉ khoảng 20% ngân hàng trong toàn hệ thống đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực này vào thời điểm đó, trong khi các ngân hàng còn lại vẫn áp dụng song song giữa phương án cũ và mới cho đến năm 2009 Tại Mỹ, việc áp dụng Basel II có nhiều điểm khác biệt so với các quốc gia khác, với thời điểm áp dụng vào giữa năm 2008 và chỉ giới hạn ở một số tổ chức tài chính Có bốn cơ quan liên quan đến việc thực hiện và áp dụng Basel II.

Cơ quan kiểm soát tiền tệ (OCC), tổ chức hệ thống dự trữ liên bang (Board), tập đoàn bảo hiểm tiền gửi (FDIC) và cơ quan kiểm soát tiền gửi (OTS) đã xác định phân loại ngân hàng thành ba nhóm chính.

CORE Banks là nhóm 8 ngân hàng có tổng tài sản hợp nhất từ 250 tỷ USD trở lên và bảng cân đối tài sản hoạt động chi nhánh nước ngoài từ 10 tỷ USD trở lên Các ngân hàng này bắt buộc phải áp dụng phương pháp nâng cao để đánh giá rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động.

- OPT-In Banks: là các NH được khuyến khích áp dụng phương pháp nâng cao trong đánh giá rủi ro.

Các ngân hàng tổng quát (GENERAL Banks) là những ngân hàng không sử dụng phương pháp nâng cao trong việc đánh giá rủi ro, mà chỉ áp dụng các phương pháp đơn giản Hiện có khoảng 6.500 ngân hàng Mỹ quy mô vừa và nhỏ dự kiến sẽ áp dụng Basel II, đồng thời vẫn duy trì theo Basel I cho đến khi đạt được tiêu chuẩn của Basel II.

Tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc, tất cả các ngân hàng đã áp dụng quy định Basel vào đầu năm 2008 Các phương pháp áp dụng bao gồm phương pháp chuẩn cho rủi ro tín dụng và hoạt động, phương pháp IRB cơ bản và nâng cao, phương pháp chỉ số cơ bản BIA, cùng với phương pháp đo lường nâng cao AMA.

Nhóm các nước phát triển mạnh ở Châu Á như Trung Quốc, Singapore và Đài Loan sẽ áp dụng một số phương pháp mới vào đầu năm.

Năm 2007, phương pháp chuẩn, phương pháp IRB cơ bản và chỉ số cơ bản BIA đã được thiết lập Phương pháp nâng cao dự kiến sẽ được áp dụng vào đầu năm 2008 Đối với các quốc gia như Thái Lan, Indonesia, Philippines và Malaysia, thời hạn áp dụng Basel II là vào cuối năm 2008 Các phương pháp phức tạp và nâng cao có thể được triển khai vào cuối năm 2009 hoặc năm 2010, tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia.

Bảng 2.2: Lộ trình áp dụng Basel II của một số nước Đông Nam Á

Rủi ro tín dụng Rủi ro hoạt động

Phương pháp IRB cơ bản

Phương pháp IRB nâng cao

Phương pháp BIA cơ bản và TSA chuẩn

Phương pháp nâng cao Thái Lan Cuối 2008 cuối 2008 cuối 2009 cuối 2008 chưa xác định

Malaysia đầu 2008 Đầu 2010 chưa xác định đầu 2008 áp dụng BIA chưa xác định

2008 áp dụng BIA và năm

(Nguồn: Basel II and financial stability: Singapore’s Experience done by

Executive Director, Prudential Policy Monetary Authority of Singapore)

Trái ngược với xu thế toàn cầu, Trung Quốc đã quyết định áp dụng chuẩn mực Basel 1.5, kết hợp các quy định của Basel I với quy tắc 2 và 3 trong Basel II Điều này có nghĩa là quốc gia này đã không lựa chọn áp dụng các phương pháp mới trong Basel II để đánh giá rủi ro tín dụng Dự kiến, đến cuối năm 2007, Trung Quốc sẽ hoàn tất việc áp dụng đầy đủ chuẩn mực Basel I trong việc đánh giá rủi ro tín dụng.

2.3 Thực trạng ứng dụng Basel II tại Việt Nam

2.3.1 Về phía cơ quan quản lý nhà nước

NHNN Việt Nam và các TCTD đã nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp lý về tiền tệ và ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, đặc biệt là quản trị rủi ro của các NHTM NHNN đóng vai trò quan trọng trong việc ban hành các văn bản luật cập nhật các điều khoản của Basel phù hợp với tình hình Việt Nam và giám sát việc thực hiện các văn bản này, từ đó điều chỉnh thích hợp.

Mặc dù Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chỉ mới ban hành Luật Ngân hàng và Luật các Tổ chức tín dụng vào năm 1997, nhưng đến năm 1999, NHNN đã nhanh chóng cập nhật các chuẩn mực quốc tế về an toàn vốn thông qua hai Quyết định quan trọng Quyết định số 296/1999 quy định về giới hạn cho vay với một khách hàng, và Quyết định số 297/1999 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng Tuy nhiên, những quy định này vẫn tồn tại hạn chế do sự ra đời của Basel II Đến ngày 23/4/2003, NHNN đã ban hành Quyết định số 381/2003 để sửa đổi các quy định trước đó Năm 2005, NHNN tiếp tục ban hành các quyết định mới nhằm thay thế Quyết định 296 và 297, bao gồm Quyết định số 457/2005 về tỷ lệ an toàn vốn và Quyết định số 493/2005 về phân loại nợ, trong đó nợ được chia thành 5 nhóm với mức trích lập dự phòng khác nhau, từ 0% đến 100%.

Các quy định trong Quyết định 457 và 493 đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến các điều khoản trong hiệp định Basel, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.

Vào tháng 5/2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 13/2010/TT-NHNN, thay thế Quyết định 457 và các sửa đổi liên quan, quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng Thông tư này không chỉ xác định lại Vốn tự có bao gồm vốn cấp I và vốn cấp II, mà còn hướng dẫn cách xác định tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất, đồng thời nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của tổ chức tín dụng lên 9%.

2.3.2 Về phía các tổ chức tín dụng

Các TCTD đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro, tuân thủ quy định của NHNN và tiếp cận các chuẩn mực Basel Ngành ngân hàng đã chuyển từ quản lý rủi ro thụ động sang chủ động, tập trung vào giám sát và phân tích rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh Cụ thể, các NHTM đã thành lập bộ phận quản lý rủi ro tác nghiệp bên cạnh rủi ro tín dụng và thị trường Ví dụ, BIDV đang hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ với ba nhóm khách hàng và phân loại thành 10 loại khác nhau, đi kèm với các chính sách cụ thể cho từng hạng khách hàng Việc thực hiện các văn bản pháp luật về an toàn vốn được chia thành ba giai đoạn rõ ràng.

(1) Giai đoạn thứ nhất (1999-2005): Áp dụng Quyết định 297/1999/QÐ-NHNN quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM Mặc dù, QĐ

457/2005/QĐ-NHNN được ban hành vào ngày 19/04/2005, tuy nhiên,do độ trễ của vấn đề, ta vẫn xem xét đến hết năm 2005.

Giai đoạn hai (2006-2010) đánh dấu việc thực hiện Quyết định 457/2005/QÐ-NHNN Mặc dù Thông Tư số 13/2010/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 01/10/2010, nhưng vẫn tính đến hết năm 2010.

(3) Giai đoạn thứ ba (2011- 2012): Thực hiện đảm bảo an toàn vốn tối thiểu 9% theo tinh thần của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN.

Trong giai đoạn hiện tại, năm ngân hàng thương mại nhà nước (NHTM NN) bao gồm Ngân hàng Thương mại Nhà nước Ngoại Thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Thương mại Nhà nước Công Thương Việt Nam (CTG), và Ngân hàng Thương mại Nhà nước Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đang chiếm lĩnh thị trường.

Ngày đăng: 22/06/2021, 14:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w