Kết quả đạt được của đề tài: - Đề tài đã vận dụng cơ sở khoa học về dân cư và chất lượng cuộc sống vào địa bàn tỉnh Đắk Lắk để phân tích các nhân tố ảnh hưởng và làm sáng tỏ thực trạng c[r]
Trang 1MỤC LỤC
Phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6
3 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài 7
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc đề tài 10
NỘI DUNG 11
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 11
1.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống 11
1.2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư 13
1.2.1 HDI - một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống 13
1.2.2 Chỉ số GDP 14
1.2.3 Chỉ số về giáo dục 16
1.2.4 Chỉ số tuổi thọ 18
1.2.5 Các tiêu chí khác 19
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của dân cư 20
1.3.1 Vị trí địa lí 20
1.3.2 Các nhân tố tự nhiên 20
1.3.3 Các nhân tố kinh tế xã hội 20
1.4 Chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam 21
1.4.1 GDP và GDP bình quân đầu người 21
1.4.2 Tuổi thọ bình quân và sức khỏe 23
1.4.3 Giáo dục 24
1.4.4 Các điều kiện về sử dụng điện, nước sinh hoạt và nhà ở 25
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA DÂN CƯ TỈNH ĐẮK LẮK 27
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk 27
2.1.1 Các nhân tố tự nhiên 27
2.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội 31
Trang 22.2.1 Đánh giá chung 35
2.2.2 Các tiêu chí cụ thể 37
2.2.2.1 Thu nhập bình quân đầu người 37
2.2.2.2 Tiêu chí về giáo dục 42
2.2.2.3 Y tế và chăm sóc sức khỏe 46
2.2.2.4 Tình hình sử dụng điện, nước sinh hoạt và nhà ở 51
2.3 Đánh giá tổng hợp về chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk 58
2.3.1 Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp CLCS của dân cư tỉnh Đắk Lắk .58 2.3.2 Đánh giá tổng hợp CLCS dân cư tỉnh Đắk Lắk 60
2.4 Nguyên nhân của thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư ở Đắk Lắk 61
2.4.1 Nguyên nhân từ phía các yếu tố mang tính cá nhân 61
2.4.2 Nguyên nhân từ phía xã hội 62
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA DÂN CƯ TỈNH ĐẮK LẮK 64
3.1 Căn cứ xây dựng 64
3.2 Các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 66
3.2.1 Mục tiêu kinh tế 66
3.2.2 Mục tiêu xã hội 67
3.3 Định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội với vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk 68
3.3.1 Về giáo dục đào tạo 68
3.3.2 Y tế và chăm sóc sức khỏe 70
3.3.3 Dân số, lao động, việc làm và xóa đói giảm nghèo 70
3.3.3.1 Dân số 70
3.3.3.2 Định hướng bố trí sử dụng lao động 71
3.3.3.3 Công tác định canh định cư cho đồng bào các dân tộc và nâng cao
chất lượng công tác xóa đói giảm nghèo 72
3.3.4 Phát triển văn hóa thông tin, thể dục thể thao 72
3.3.4.1 Văn hóa thông tin 72
3.3.4.2 Thể dục - thể thao 72
3.4 Một số giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk .72 3.4.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 72
3.4.2 Nhóm giải pháp về phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe 78
3.4.3 Nhóm giải pháp về giáo dục và đào tạo 80
3.4.4 Các giải pháp khác 81
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CLCS : Chất lượng cuộc sống
DTTS : Dân tộc thiểu số
GD-ĐT : Giáo dục - đào tạo
GDP : Tổng thu nhập quốc nội
HDI : Chỉ số phát triển con người
HPI : Chỉ số nghèo đói tổng hợp
HS THPT : Học sinh Trung học phổ thông
KTXH : Kinh tế - xã hội
LĐ-TB-XH : Lao động - Thương binh và xã hội
THPT : Trung học phổ thông
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Chỉ số phát triển con người của một số nước năm 2004 22
Bảng 1.2 Chỉ số phát triển con người của các nước có cùng thu nhập 22
Bảng 2.1 Trữ lượng khai thác tiềm năng nước trong tỉnh Đắk Lắk 29
Bảng 2.2 Diễn biến diện tích rừng 1995-2004 31
Bảng 2.3 Diện tích, dân số và mật độ dân số của huyện, TP của tỉnh Đắk Lắk 32
Bảng 2.4 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của Đắk Lắk 33
Bảng 2.5 Tổng thu nhập và thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Đắk Lắk 37
Bảng 2.6 Thu nhập bình quân/người/ tháng của hộ gia đình phân theo nguồn thu 38
Bảng 2.7 Thu nhập bình quân/người/tháng của nhóm cao nhất và nhóm thấp nhất 38
Bảng 2.8 Chi tiêu bình quân/người/tháng ở Đắk Lắk trong năm 2002, 2006 39
Bảng 2.9 Bảng tổng hợp hộ nghèo năm 2005 và 2006 theo chuẩn mới trên
địa bàn các huyện của tỉnh Đắk Lắk 40
Bảng 2.10 Số trường, lớp, giáo viên, học sinh của tỉnh Đắk Lắk 2000-2006 43
Bảng 2.11 Số học sinh mẫu giáo của tỉnh Đắk Lắk qua các năm học 43
Bảng 2.12 Số giáo viên, học sinh và tỷ lệ HS THPT/số HS trên địa bàn
các huyện năm 2006 45
Bảng 2.13 Ngân sách đầu tư cho giáo dục tỉnh Đắk Lắk 46
Bảng 2.14 Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế của tỉnh Đắk Lắk 2000-2006 47
Bảng 2.15 Số cán bộ y tế, số CBYT/10.000 dân, số giường bệnh/10.000 dân
trên địa bàn các huyện năm 2006 48
Bảng 2.16 Các bệnh mắc cao nhất của tỉnh Đắk Lắk năm 2006 49
Bảng 2.17 Ngân sách đầu tư cho y tế tỉnh Đắk Lắk 2000-2006 50
Bảng 2.18 Số hộ dân được dùng nước sạch của các huyện trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk năm 2003-2006 52
Bảng 2.19 Số hộ dùng điện, sản lượng điện tiêu thụ bình quân qua các năm của
các huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 55
Bảng 2.20 Số máy điện thoại phân theo huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
thời kì 2000-2006 58
Bảng 2.21 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống của dân cư 59
Bảng 2.22 Bảng đánh giá tổng hợp CLCS của dân cư tỉnh Đắk Lắk 60
Bảng 3.1 Mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Đắk Lắk đến 2020 67
Bảng 3.2 Lao động tham gia trong các ngành kinh tế quốc dân đến năm 2020 71
Biểu đồ 1 Mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu người qua các năm
của Việt Nam và một số nền kinh tế châu Á 25
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu kinh tế theo ngành của tỉnh Đắk Lắk năm 2000 và 2006 34
Biểu đồ 2.2 GDP và GDP bình quân đầu người của tỉnh Đắk Lắk 37
Biểu đồ 2.3 Số học sinh phổ thsông các cấp của tỉnh Đắk Lắk từ năm 2000-2006 43
Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch tại các huyện của
tỉnh Đắk Lắk năm 2006 53
Biểu đồ 2.5 Tỉ lệ hộ được sử dụng điện của các huyện trên địa bàn
tỉnh Đắk Lắk năm 2006 56
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại nền kinh tếphát triển nhanh chưa từng có, nhiều quốc gia đạt được tỉ lệ tăng trưởng thần kỳ vàđời sống nhân dân đang được nâng cao rõ rệt Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước trở thànhmột chủ đề tranh cãi quan trọng trên thế giới Theo báo cáo phát triển con người củaLiên Hiệp Quốc, sự phân hóa giàu nghèo trên thế giới đang ở mức khó có thể chấpnhận: 20% dân số thế giới thuộc nhóm giàu nhất chiếm giữ 86% GDP toàn thế giới,trong khi đó 20% thuộc nhóm nước nghèo nhất chỉ có 1%; tài sản của 3 nhà tỉ phúgiàu nhất thế giới còn hơn cả GDP của các nước nghèo nhất với số dân hơn 600triệu người cộng lại [7] Trên thực tế, trong khi một số nước có nền kinh tế pháttriển có chất lượng cuộc sống dân cư rất cao thì một bộ phận dân cư còn lại đang cónguy cơ bị suy giảm và luôn luôn đối mặt với cảnh đói nghèo
Con người là vốn quý nhất, là chủ nhân của thế giới, là động lực để phát triển
xã hội và cũng là mục tiêu để mọi hoạt động kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũngnhư cả thế giới hướng tới Việc nâng cao chất lượng cuộc sống (CLCS) của conngười đã và đang là mối quan tâm đặc biệt của hầu hết các nước Chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội của nước ta thời kỳ 2001 - 2010 đã khẳng định: “Phát triển conngười phải được coi là chiến lược trung tâm của Việt Nam” Chương trình phát triểncủa Liên hiệp quốc đưa ra các chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển con người đềunhằm vào chất lượng cuộc sống dân cư Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượngcuộc sống cho người dân và tạo điều kiện để mọi người đều được sống trong tìnhthương và trách nhiệm? Đó là những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi phảigiải quyết Mỗi quốc gia đều phải xây dựng chương trình nâng cao chất lượng cuộcsống người dân trên cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định
Ở Việt Nam, vấn đề chất lượng cuộc sống của người dân đã được Đảng vàNhà nước quan tâm từ lâu Trong quá trình đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt đượcmột số thành tựu trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc
sống cộng đồng Tuy nhiên: “Cho đến nay, xét theo các quan điểm lý thuyết và chỉ
số phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, nông nghiệp - nông thôn Việt Nam đều có
Trang 7đặc điểm chung là nghèo và kém phát triển Việt Nam thuộc nhóm nước (trên dưới
50 nước) nghèo và kém phát triển nhất thế giới Trong nhóm nước dưới đáy củaphân tầng xã hội loài người toàn cầu, xét về chỉ số nghèo thì Việt Nam đứng ởkhoảng giữa nhóm nước nghèo, còn xét về chỉ số phát triển tổng hợp kinh tế - xãhội thì Việt Nam ở gần về phía đỉnh phân tầng, nghĩa là gần về phía nhóm nướctrung bình thế giới” [18]
Đắk Lắk là một tỉnh miền núi biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc, có vị tríchiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng của cảnước, đặc biệt đây là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thiểu số Trong những nămqua, cùng với sự chuyển đổi chung của nền kinh tế cả nước, Đắk Lắk đã có nhữngthay đổi đáng kể về mặt kinh tế cũng như xã hội, nhìn chung đời sống của nhân dânđang từng bước được nâng lên Tuy nhiên, nếu so sánh với các địa phương kháctrong cả nước và với các nước khác trong khu vực thì mức sống của người dân tỉnhĐắk Lắk còn thấp Đặc biệt là ở một số bản, làng vùng sâu, rẻo cao cuộc sống dân
cư còn quá thấp Do đó, nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư vàtìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống đối với địa phương là vấn đề
cấp bách được đặt ra Với ý nghĩa đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk” để nghiên cứu với mong
muốn góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề CLCS ở tỉnhĐắk Lắk
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu của đề tài
Đề tài vận dụng cơ sở khoa học về dân cư và chất lượng cuộc sống vào địa bàntỉnh Đắk Lắk để làm sáng tỏ thực trạng chất lượng cuộc sống và tìm ra các giải phápnhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về chất lượng cuộc sống
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đắk Lắk
- Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đắk Lắk thời kì 2003-2006
Trang 8- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa dân cư tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020.
3 Phạm vi nghiên cứu
Chất lượng cuộc sống là vấn đề phức tạp đa dạng và thường xuyên thay đổinhưng thời gian thực hiện đề tài có hạn, điều kiện làm việc còn hạn chế nên đề tàinghiên cứu của chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát, nghiên cứu một số tiêu chí cơ bản củachất lượng cuộc sống là: tiêu chí về kinh tế, giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe
Đề tài chỉ nghiên cứu trên phạm vi tỉnh Đắk Lắk từ năm 2003 đến nay Đềxuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư trên địa bànnghiên cứu đến năm 2020
4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, vấn đề CLCS và các tiêu chí đo CLCS đã được cácnhà khoa học trong và nước đặc biệt quan tâm nghiên cứu
- Trên thế giới: đã có nhiều nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu về
CLCS Vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, một nhà dân số học
người Ấn Độ (R.C Sharma) đề cập đến CLCS trong tác phẩm “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” (Population, resources, environment and quality of life), ông nghiên cứu mối tương tác giữa chất lượng cuộc sống dân cư với
quá trình phát triển dân cư, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Theo ông,CLCS là sự đáp ứng đầy đủ về các yếu tố vật chất và tinh thần cho người dân Năm
1990, UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc) đã đưa ra hệ thống các chỉ
tiêu đánh giá về phát triển con người - HDI (Human Development Index) Hệ thống
các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp cận mới, có tính hệ thống về phát triển conngười, coi phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người đểđạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với conngười [1]
- Ở Việt Nam: nhiều tác giả đã đề cập tới vấn đề này một cách khái quát.
Được sự quan tâm của thế giới, một dự án của UNDP đã được triển khai và đã phântích quan hệ giữa dân số, tài nguyên, môi trường với phát triển trên phạm vi toàn
Trang 9quốc Đây là những tiền đề lí luận và thực tiễn của nhiều công trình nghiên cứu vềCLCS có liên quan với nhau Các công trình liên quan đến CLCS đã được công bố:
Nguyễn Quán: “Các chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người” (1995).
Đỗ Thiên Kính: “Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam” (2003).
PGS.TS Đặng Quốc Bảo, TS Trương Thị Thúy Hằng: “Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI, cách tiếp cận và một số kết qủa nghiên cứu” (2005).
PGS.TS Đặng Quốc Bảo, TS Trương Thị Thúy Hằng: “Chỉ số tuổi thọ trong HDI, một số vấn đề thực tiễn Việt Nam” (2005)
PGS.TS Nguyễn Thị Cành: “Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” (2001).
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả như ĐỗThiên Kính, Phùng Đức Tùng, Hồ Sĩ Cúc, Nguyễn Bùi Linh, Lê Thị Phương Loan,
Nguyễn Phong :“ Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1992-1993”, “Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 199 -1998”, “Mức sống trong thời kì bùng nổ kinh tế Việt Nam 2001” đã điều tra và phân tích các vấn đề có liên quan đến mức sống
của dân cư như thu nhập của người dân, trình độ dân trí, chất lượng y tế, giáo dục qua đó đã chứng minh bằng số liệu về sự cải thiện mức sống của các hộ gia đìnhViệt Nam giữa các năm 1993 và 1998
Đặc biệt là báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2001, đây là một côngtrình quan trọng được nhóm các nhà nghiên cứu Việt Nam tổng hợp từ nhiều côngtrình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc chuyên ngành khác nhau về lĩnh vựcphát triển con người ở Việt Nam Như vậy, đã cho thấy sự quan tâm ở tầm vĩ môcủa Nhà nước về các khía cạnh khác nhau có liên quan đến CLCS của dân cư, trong
đó đặc biệt lưu tâm đến HDI Tuy nhiên, HDI không bao quát được tính phong phú,nhiều mặt của sự phát triển con người Mặt khác, vấn đề CLCS ở cấp tỉnh cụ thể ítđược nghiên cứu, đặc biệt là ở tỉnh Đắk Lắk
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Trang 105.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
CLCS của dân cư ở từng tỉnh, thành phố trong mỗi quốc gia cần phải được đặttrong mối quan hệ cụ thể với toàn bộ hệ thống lãnh thổ quốc gia Đó là cơ sở đầutiên giúp cho việc tiếp cận và phân tích vấn đề một cách có hệ thống Vì vậy, việcnghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk phải được đặt trong mốiliên hệ với vùng Tây Nguyên và cả nước Bản thân CLCS của dân cư tỉnh Đắk Lắkcũng là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ qua lại
- Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ
CLCS không chỉ là cuộc sống vật chất mà còn tập hợp nhiều yếu tố như dântrí, văn hóa, giáo dục Do vậy, nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh ĐắkLắk cần phải dựa trên phân tích, đánh giá tổng hợp của nhiều yếu tố liên quan
Các yếu tố về tự nhiên và kinh tế xã hội của từng khu vực, từng huyện, quận
có bản sắc riêng Vì vậy, nghiên cứu CLCS của dân cư tỉnh Đắk Lắk phải tìm hiểutrên quan điểm tổng hợp - lãnh thổ, qua đó làm rõ nguyên nhân của sự khác biệt đểphân tích và đánh giá thực trạng của người dân ở tỉnh Đắk Lắk đúng đắn hơn Mặtkhác, cũng cần phải thấy được khả năng phát triển kinh tế của từng huyện, thànhphố mà đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội mộtcách có hiệu quả trong thời kì tới vì nó gắn liền với CLCS của dân cư
- Quan điểm sinh thái - phát triển bền vững
Môi trường sống và CLCS của dân cư có mối quan hệ mật thiết và hữu cơvới nhau Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến CLCS của dân cư, đặc biệt làsức khỏe và tuổi thọ của người dân Vì vậy, khi nghiên cứu chúng ta cần xem môitrường như là một bộ phận của CLCS dân cư
Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người phải đảm bảo sự phát triển bềnvững của môi trường sinh thái Việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm nângcao CLCS phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững mới đảm bảo tính ổn địnhlâu dài Vì vậy, mối quan hệ giữa tự nhiên và sự phát triển xã hội là vấn đề cần giảiquyết của bất kì một đề tài nghiên cứu nào
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp lí thuyết
Trang 11Đây là phương pháp quan trọng, xuyên suốt cả quá trình nghiên cứu đề tài,phương pháp được sử dụng để hệ thống lại các tri thức về bức tranh chung của đốitượng và khách thể nghiên cứu Quá trình làm đề tài cần tiến hành thu thập, phântích và tổng hợp tài liệu, số liệu thống kê của các cơ quan, qua sách, báo, tạp chí,các nghiên cứu đã được công bố của các cơ quan, ban ngành của tỉnh.
- Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lí kết quả nghiên cứu, tổng hợp cáctiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống của dân cư
- Phương pháp chuyên gia
Trao đổi với các chuyên gia thuộc các chuyên ngành có liên quan như xã hộihọc, dân tộc học, kinh tế học, các nhà lãnh đạo, quản lí kinh tế - chính trị - xã hội của tỉnh về vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và về việc nâng cao CLCS của dân cư
- Phương pháp bản đồ
Kết hợp với bản đồ và các tài liệu thu thập được cùng với những hiểu biết vềthực tế địa phương để có cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu chất lượng cuộc sống
ở tỉnh Đắk Lắk Để phản ánh một cách trực quan, sinh động các kết quả nghiên cứu,
đề tài đã xây dựng một số bản đồ liên quan đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnhĐắk Lắk trên cơ sở sử dụng phần mềm Mapinfo
Chương 1 Cơ sở khoa học về chất lượng cuộc sống dân cư.
Chương 2 Thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk Chương 3 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk.
Trang 12NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 1.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống (Quality of life) là một khái niệm rộng, đã từng được
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và được đo bằng nhiều tiêu chí khác nhau Chấtlượng cuộc sống thường được lưu ý phân biệt với mức sống Mức sống là thước đo
về phúc lợi vật chất còn chất lượng cuộc sống là thước đo cả về phúc lợi vật chất vàgiá trị tinh thần
Trong các tác phẩm của C.Mác hay của các nhà kinh tế chính trị cổ điển khácnhư A.Smith, D.Ricardo, R.Malthus, J.S.Mill đã có tư tưởng mở rộng và đề caocác giá trị về CLCS của con người CLCS như là mục đích trong việc tạo điều kiệnthuận lợi giúp con người có một cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú
Theo R.C.Sharma thì CLCS là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏamãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ
bản của chính bản thân xã hội Trong tác phẩm nổi tiếng “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống”, ông đã định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự
cảm giác được hài lòng (hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộcsống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một conngười Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà conngười có được Nó như là cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống”[29] Theo R.C.Sharma thì mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hộiđược coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS
Trong xã hội hiện đại, khái niệm chất lượng cuộc sống thường được đồng nhất
với khái niệm thoải mái tối ưu Trong đó, mối quan tâm chính của việc nâng cao
chất lượng cuộc sống là tạo ra một trạng thái thoải mái về vật chất và tinh thần, làtăng cường thời gian nghỉ ngơi Sự tối ưu hóa mức độ thoải mái được thể hiện trong
sự đa dạng hóa các sản phẩm tiêu dùng mà mỗi cộng đồng xã hội, mỗi gia đình haymỗi cá nhân có được
Nội dung khái niệm CLCS đã được Wiliam Bell mở rộng toàn diện hơn Theoông, CLCS thể hiện ở 12 đặc trưng:
Trang 13(1) An toàn thể chất cá nhân(2) Sung túc về kinh tế(3) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật(4) An ninh quốc gia được đảm bảo(5) Bảo hiểm lúc già yếu và ốm đau(6) Hạnh phúc về mặt tinh thần(7) Sự tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống xã hội(8) Bình đẳng về giáo dục, y tế
(9) Chất lượng đời sống văn hóa(10) Quyền tự do công dân(11) Chất lượng môi trường kỹ thuật(12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễmTrong đó, ông nhấn mạnh nội dung “An toàn” và đã khẳng định CLCS đượcđặc trưng bằng sự an toàn trong một môi trường tự nhiên trong lành và môi trường
Từ những phân tích trên, chúng tôi có thể quan niệm về chất lượng cuộc sốngnhư sau: CLCS là một chỉ số tổng hợp thể hiện về trí tuệ, tinh thần và vật chất củacon người, là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triển bền vững của mọi quốc
Trang 14gia CLCS càng cao thì con người càng có nhiều khả năng lựa chọn trong việc pháttriển cá nhân và trong hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần mà xã hội đã tạo ra.
1.2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư
1.2.1 HDI - một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống
Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu phải hướng tới của mọi hoạt động kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia và thế giới Việc lựa chọn các tiêu chí phản ánh sự pháttriển con người có ý nghĩa rất quan trọng Từ những năm 1990, Chương trình Phát
triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đưa ra chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index) HDI phản ánh các thành tựu phát triển con người trong ba lĩnh
vực cơ bản: [4]
- Sức khỏe được đo bằng tuổi thọ trung bình (năm)
- Học vấn được đo bằng tỉ lệ biết chữ của người lớn từ 15 tuổi trở lên (%) vớiquyền số (trọng số) 2/3 và tỉ lệ nhập học của các cấp giáo dục tiểu học, trung học vàđại học trong nhóm dân cư từ 6-24 tuổi so với dân số độ tuổi (%) với quyền số(trọng số) 1/3
- Mức sống kinh tế được đo bằng GDP bình quân đầu người được điều chỉnh
theo PPP (Purchasing Power Parity) tính bằng USD.
HDI = 1/3 (chỉ số tuổi thọ bình quân + chỉ số giáo dục + chỉ số GDP bìnhquân đầu người)
Chỉ số giáo dục = 2/3 chỉ số người lớn biết chữ + 1/3 chỉ số đi học trong độtuổi từ 6 đến 24
Chỉ số người lớn biết chữ = x i − 0
100 −0, xi: tỉ lệ người biết chữ thực tếChỉ số đi học trong độ tuổi = y i −0
100 −0, yi: tỉ lệ đi học trong độ tuổi từ 6 - 24 Chỉ số tuổi thọ = z i −25
85 −25, zi: tuổi thọ thực tếChỉ số GDP = lg( λi lg(40000)− lg (100))− lg(100) (tính theo sức mua tương đương)
Giá trị xi thực tế - Giá trị xi tối thiểu
Chỉ số thành phần =
Giá trị xi tối đa - Giá trị xi tối thiểu
Trang 15Mức sống Sức khỏe
Học vấn
λ i là GDP bình quân đầu người của nước i đã được điều chỉnh theo phương
pháp tính tỉ giá sức mua tương đương
Về mặt trị số: 0 ≤ HDI≤ 1
Các chỉ số tuổi thọ, giáo dục, GDP và HDI đều nhận giá trị từ 0 đến 1 Giá trịcủa các chỉ số này càng gần tới 1 có nghĩa là trình độ phát triển và xếp hạng càngcao (với 1 là thứ hạng cao nhất), trái lại, các chỉ số càng gần 0 có nghĩa là trình độphát triển và xếp hạng càng thấp
GDP Tuổi bình thọ
quân trung
đầu bình người
Tỉ lệ Tỉ lệ người nhập
biết chữ học các cấp
Hình 1 Sơ đồ cấu trúc của HDI [3]
1.2.2 Chỉ số GDP
* GDP và GDP bình quân đầu người
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ tiêudùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bởi cả dân sự và phi dân sự, không phânbiệt do người trong nước hay người nước ngoài tạo ra GDP không bao gồm phầnkhấu trừ đối với khoản khấu hao vốn vật chất hay sự suy giảm và xuống cấp của tàinguyên thiên nhiên
GDP bình quân đầu người được tính bằng USD/người, ở Việt Nam được tínhbằng USD/người hoặc bằng Việt Nam đồng/người Thông qua tiêu chí này chúng ta
có thể đánh giá được trình độ kinh tế, mức sống của mỗi người dân trong từng nướchoặc so sánh giữa các địa phương
* Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình
Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là toàn bộ tiền và hiện vật mà
hộ và thành viên của hộ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là
H DI
Trang 16- Thu từ tiền công, tiền lương.
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
- Thu từ sản xuất ngành nghề
- Thu khác
* Chỉ số nghèo đói
Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, thiếu thốn về thu nhập, về
cơ hội, về tài sản vật chất, thể chất cũng như tinh thần gây cản trở cho sự pháttriển một cách đầy đủ mọi tiềm năng của con người [6]
Nghèo đói là một khái niệm đã được sử dụng từ rất lâu trên thế giới để chỉmức sống của một nhóm dân cư, một cộng đồng, một nhóm quốc gia so với mứcsống của cộng đồng hay các quốc gia khác
Nghèo đói là không có khả năng đảm bảo được sức khỏe và cuộc sống, không
có khả năng có thể tiếp cận đến các nguồn tri thức, thu nhập thấp không được đảmbảo các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như sử dụng nước sạch, không được tiếpcận dịch vụ khám chữa bệnh, không được đảm bảo mức dinh dưỡng Theo quanniệm trên, để đo lường một cách tổng hợp tình trạng đói nghèo hiện nay người ta sử
dụng chỉ số nghèo đói tổng hợp HPI (Human Poverty Index) Chỉ số HPI được phân
thành hai loại: HPI-2 dùng cho các nước công nghiệp hóa và HPI-1 dùng cho cácnước đang phát triển Chỉ số HPI-1 được tính dựa vào ba thước đo cơ bản là:
- Tính dễ tổn thương dẫn đến cái chết ở độ tuổi tương đối trẻ được đo bằngxác suất không thọ quá 40 tuổi (P1)
- Sự bị loại trừ ra khỏi thế giới của những người biết chữ và có khả năng giaotiếp, được đo bằng tỉ lệ người lớn mù chữ (P2)
- Sự thiếu khả năng tiếp cận với những thành quả kinh tế chung (P3) được đolường bằng ba biến số: tỉ lệ người dân không có khả năng tiếp cận với nguồn nướcsạch (P31), tỉ số người dân không có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế (P32) và tỉ
lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân và suy dinh dưỡng (P33) Giá trị biến P3 được tính là:
P3=P31+P32+P33
3
Chỉ số nghèo đói HPI-1 được tính theo công thức: HPI −1=[ (P13+P23+P33)
1 3
3 ][7]
Trang 17Về cơ bản, đói nghèo được xác định trong mối tương quan xã hội Có hai dạngđói nghèo: nghèo về thu nhập (nghèo tuyệt đối) và nghèo về con người (nghèotương đối) Nghèo về con người được xác định bằng mức thu nhập để chi hàng hóa,dịch vụ theo mức nghèo lương thực, thực phẩm và cả những chi tiêu cho các nhucầu thiết yếu ngoài lương thực, thực phẩm.
Chuẩn nghèo tương đối đề cập đến sự thiếu hụt của cá nhân (hộ gia đình) so vớimức sống trung bình đạt được Chuẩn này cũng không có sự thống nhất giữa cácquốc gia Nhìn chung trên thế giới các nước phát triển xác định chuẩn nghèo dựa trên1/2 thu nhập bình quân còn các nước đang phát triển là 1/3 thu nhập bình quân [2]Chuẩn nghèo tuyệt đối tức là chuẩn nghèo 1-2 USD/ngày/người Chuẩn nghèoquốc tế do Liên hiệp quốc công bố và quy định 2 USD/ngày/người cho các nướcphát triển, 1 USD/ngày/người cho các nước đang phát triển Tuy nhiên, hiện naynhiều nước đang phát triển cũng nâng dần chuẩn lên 2 USD/ngày/người
Việc tồn tại đồng thời hai chuẩn nghèo với phương pháp tiếp cận và nội dungtính toán khác nhau dẫn đến có sự khác biệt lớn về tỉ lệ đói nghèo trong một quốcgia Vì vậy, việc xây dựng chuẩn nghèo mới là có tính cấp thiết cần được thực hiện
Bộ LĐ-TB-XH, Tổng cục thông kê và các cơ quan liên quan đã nghiên cứu đưa rachuẩn nghèo thống nhất cho cả nước Ngày 8/7/2005 Chính phủ đã kí quyết định170/2005/QĐ-TTg ban hành chuẩn nghèo mới giai đoạn 2006-2010 như sau:
Nông thôn 200 ngàn đồng/người/tháng, thành thị 260 ngàn đồng/người/tháng.Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn hoặc bằng chuẩnnghèo được xác định là hộ nghèo
1.2.3 Chỉ số về giáo dục
Chỉ số về giáo dục được dùng làm thước đo trình độ dân trí làm nên CLCS củadân cư bao gồm các chỉ tiêu về tỷ lệ người lớn biết chữ, trình độ văn hóa và taynghề, số năm đến trường, tỷ lệ người mù chữ
Trang 18* Trình độ văn hóa và tay nghề
Trình độ văn hóa hay trình độ học vấn nói lên khả năng tích lũy kiến thức củakhối dân cư và được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ người lớn biết chữ, số ngườitốt nghiệp các cấp học từ thấp đến cao Trình độ tay nghề là trình độ chuyên môn kỹthuật của lực lượng lao động chính trong khối dân cư được thể hiện qua các chỉ tiêunhư tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn (sơ cấp, công nhân kỹ thuật,trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) trong tổng số lao độngđang hoạt động trong các ngành kinh tế của đất nước
Trình độ văn hóa và trình độ tay nghề luôn có mối quan hệ khăng khít vớinhau đồng thời có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập của từng quốc gia Các nước
có nền kinh tế phát triển thì các chỉ số phản ánh về trình độ văn hóa và trình độ taynghề trong khối dân cư thường rất cao, ngược lại ở các nước chậm phát triển thì cácchỉ số này thường rất thấp
Hiện nay, trình độ văn hóa và tay nghề của lực lượng lao động đang có sựchuyển biến theo hướng tích cực, chất lượng cuộc sống của dân cư ngày càng đượccải thiện, tỷ lệ người biết chữ và tốt nghiệp các cấp học theo hướng tăng dần cáccấp học ngày càng cao Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, số lao động có tay nghềngày càng tăng và họ đang là những lực lượng lao động mang lại chất lượng hiệuquả cao trong các ngành kinh tế Tuy nhiên, ở các nước có nền kinh tế đang pháttriển việc sử dụng lao động không có tay nghề trong các ngành kinh tế vẫn cònchiếm tỷ lệ cao
* Số năm đến trường
Cùng với chỉ số tỷ lệ người lớn biết chữ thì số năm đến trường cũng là một chỉ
số quan trọng để đánh giá chất lượng học vấn của dân cư ở mỗi quốc gia Số năm đếntrường là số năm bình quân đã được học ở trường của những người từ 15 tuổi trở lên.Tiêu chí số năm đến trường có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập ở mỗi quốcgia Các nước có thu nhập thấp thường có số năm đi học thấp (trung bình 3-4 năm,thậm chí ở Châu Phi có một số nước chỉ có số năm đi học trung bình là 1,6 năm).Các nước có thu nhập trung bình có số năm đi học trung bình thường là 5,3 năm.Các nước có thu nhập cao chỉ số này rất cao, thường là 10,6 năm (Bắc Mỹ: 12,4năm, Châu Âu: 11,1 năm ) Nhìn chung, ở hầu hết các nước đều có số năm đi học
Trang 19của nam giới thường cao hơn nữ giới Chỉ số số năm đến trường là một trong cácchỉ số phản ánh trung thực CLCS của từng nước.
1.2.4 Chỉ số tuổi thọ
Sức khỏe là vốn quý và là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗicon người Sức khỏe toàn dân là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu pháttriển của mỗi quốc gia, là tương lai của dân tộc Sức khỏe là yếu tố cơ bản của chấtlượng cuộc sống dân cư Sức khỏe vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự pháttriển Việc chăm sóc tốt sức khỏe sẽ làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng nhờkéo dài tuổi thọ Các quốc gia trên toàn thế giới không chỉ quan tâm về mặt sốlượng mà còn chú ý đến chất lượng dân số, chất lượng nòi giống, trong đó có mụctiêu nâng cao thể lực cho con người
Để đánh giá trạng thái sức khỏe và mức độ bảo đảm y tế cho dân cư của mộtquốc gia, người ta thường sử dụng các tiêu chí như tỉ lệ người chết, tuổi thọ bình quân,tình trạng dinh dưỡng, tỉ lệ người có bệnh, số bác sĩ, y tá - y sĩ trên 1 vạn dân, sốgiường bệnh trên 1 vạn dân, ngân sách đầu tư cho y tế (% GDP và bình quân đầungười)
* Tuổi thọ bình quân là số năm trung bình của một người có khả năng sốngđược Chỉ số tuổi thọ bình quân có liên quan chặt chẽ với tỉ lệ tử vong, đặc biệt là tửvong ở trẻ em Các phương pháp tính tuổi thọ trung bình:
- Phương pháp lập bảng sống và tính tuổi thọ trung bình dựa trên số liệu vềngười chết và dân số chia theo độ tuổi (tỉ suất chết đặc trưng theo độ tuổi)
- Phương pháp hệ số sống giữa hai cuộc điều tra (sử dụng dân số chia theo độtuổi của hai cuộc Tổng điều tra dân số)
- Phương pháp ước lượng qua số liệu về tỉ suất chết của trẻ sơ sinh và bảngsống mẫu Mức độ chính xác của tuổi thọ tính theo phương pháp này phụ thuộc vàomức độ chính xác của tỉ suất chết của trẻ sơ sinh và phải chọn được bảng sống mẫuphù hợp Tuy nhiên, do số trẻ chết dưới 1 tuổi và số trẻ sinh trong năm thường dễthu thập nên tỉ suất chết của trẻ sơ sinh có thể xác định tương đối chính xác Vì vậy,phương pháp này được các nước đang phát triển có trình độ thống kê yếu sử dụngmột cách phổ biến
Trang 20Nhìn chung, khi thu nhập bình quân theo đầu người càng cao thì tuổi thọ trungbình càng tăng Trong những năm gần đây tuổi thọ đã tăng cao ở một số nước,nhưng đặc biệt lại giảm mạnh ở một số nước mà nguyên nhân không chỉ do mức thunhập thấp mà còn do ảnh hưởng nặng nề bởi các bệnh tật gây tử vong, trong đó nơiảnh hưởng nặng nề nhất vẫn là các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia
ở châu Phi
* Các dịch vụ y tế: Các dịch vụ y tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con
người và CLCS Các dịch vụ y tế làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả tronghiện tại lẫn tương lai Các tiêu chí phản ánh mức độ được đáp ứng về dịch vụ y tếnhư: số bệnh viện, trạm xá, số giường bệnh, số cán bộ y tế/10.000 dân
1.2.5 Các tiêu chí khác
* Tiêu chí số calo bình quân đầu người: Trong quá trình sống và lao động, cơ
thể con người phải thường xuyên tiêu hao năng lượng Năng lượng tiêu hao của conngười do thức ăn cung cấp nhằm tái sản xuất sức lao động, người ta quy ước dùngđơn vị calo để đo nhu cầu năng lượng cơ thể Số calo tiêu dùng hằng ngày cho mộtngười được coi là chỉ số tốt nhất về trình độ cung ứng các nhu cầu thiết yếu Để cóđược số calo bình quân đầu người, FAO dựa vào tình hình sản xuất lương thực vàthực phẩm Nhu cầu năng lượng thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, mức độtính chất lao động và thể trạng cơ thể
* Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt: vấn đề sử dụng điện trong sinh hoạt cũng
là yếu tố quan trọng phản ánh CLCS của dân cư Điều kiện sử dụng điện được phảnánh qua các tiêu chí: tỉ lệ số hộ dùng điện, số KWh tiêu thụ tính bình quân đầungười/tháng
* Sử dụng nước sạch: sử dụng nước sạch luôn là nhu cầu cơ bản và cấp thiết
của con người Đây là yếu tố quan trọng để xem xét CLCS của dân cư
Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện sử dụng nước sạch của dân cư là tỉ lệ ngườidân được sử dụng nguồn nước sạch (nước máy, nước ngầm, nước khai thác từnguồn lộ thiên đã qua xử lí )
Trang 21* Điều kiện nhà ở: có hai tiêu chí để đánh giá điều kiện nhà ở là diện tích nhà ở
và chất lượng nhà ở Diện tích nhà ở thường được diễn đạt bằng chỉ số m2/người Chấtlượng nhà ở thường chia làm ba loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà tạm
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của dân cư
1.3.1 Vị trí địa lí
- Vị trí địa lí tự nhiên thuận lợi có thể tạo điều kiện cho quốc gia đó phát triểnkinh tế, đặc biệt là các ngành công nghiệp thế mạnh qua đó góp phần tăng thu nhậpcho người dân và cải thiện CLCS dân cư
- Vị trí địa lí kinh tế - xã hội cũng có vai trò rất quan trọng đối với CLCS dân
cư Nếu một quốc gia có vị trí trong vùng kinh tế trọng điểm sẽ có điều kiện thuậnlợi để phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế
1.3.2 Các nhân tố tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng đến CLCS như điều kiện cư trú của dân
cư, chất lượng môi trường sống và khả năng khai thác trực tiếp các tài nguyên làmnguồn sống cho dân cư (đất đai, khí hậu, nguồn nước )
1.3.3 Các nhân tố kinh tế xã hội
* Các nhân tố dân số học
- Quy mô dân số: Dân số quá đông sẽ gây khó khăn cho việc đáp ứng các nhucầu vật chất và tinh thần vốn hạn chế của xã hội Dân số quá ít sẽ tạo ra sự khanhiếm nguồn lực về con người vốn là động lực chính để tạo ra CLCS
- Gia tăng dân số: bao gồm gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học Trong phạm
vi của một quốc gia, nếu tỉ lệ này vượt quá mức 3%/năm thì sẽ ảnh hưởng nghiêmtrọng đến việc nâng cao CLCS do khối lượng của cải vật chất làm ra hàng nămkhông đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng Tốc độ gia tăng dân số quá cao hoặc quá thấpđều làm nảy sinh nhiều vấn đề về nâng cao CLCS
Di dân, đặc biệt là di dân tự do thường đặt ra những thách thức lớn đối vớichính quyền các nước, các địa phương có người nhập dân Do vậy, CLCS chỉ thực
sự được đảm bảo khi quá trình di dân được đặt dưới sự tổ chức hướng dẫn của các
cơ quan đại diện cho chủ thể quản lí của cộng đồng hay quốc gia
- Cơ cấu độ tuổi: Cơ cấu dân số trẻ sẽ dễ nảy sinh tình trạng thiếu việc làm,
Trang 22tế, nạn thất học do thiếu điều kiện giáo dục Ngược lại, dân số già sẽ dẫn tới tìnhtrạng thiếu nguồn nhân lực và tăng nhu cầu dịch vụ chăm sóc người già.
* Các nhân tố kinh tế
Chính sách của quốc gia và địa phương có ảnh hưởng đáng kể đến CLCS dân
cư Những thay đổi về chất trong chính sách vĩ mô như:
- Chính sách xóa đói, giảm nghèo thể hiện ở sự mở rộng cơ hội việc làm và tạothu nhập cho nhóm người nghèo; làm giảm bớt nguy cơ và tăng khả năng ứng phóvới những rủi ro cho người nghèo; bảo vệ, hỗ trợ những nhóm người dễ bị tổnthương; tạo việc làm và giảm thất nghiệp
- Xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách giữacác địa phương
- Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với người nghèo thông qua việc tạo lập môitrường thông thoáng, cũng như hỗ trợ trực tiếp trong việc tiếp cận các cơ hội việclàm, tạo điều kiện vay vốn, đất đai, nâng cao tay nghề
- Chính sách mở cửa và hội nhập đã giúp người dân có cơ hội tiếp cận dễ dàngcác vật tư, thiết bị máy móc nông nghiệp và công nghệ và mở rộng thị trường, tăngthêm thu nhập cho người dân
1.4 Chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam
1.4.1 GDP và GDP bình quân đầu người
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, CLCS của người dân cũng đượccải thiện rõ rệt trên tất cả các lĩnh vực: thu nhập, giáo dục, y tế và các vấn đề anninh xã hội khác
Tăng trưởng kinh tế sẽ không bền vững nếu không gắn với phát triển xã hội, bởiphát triển xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự tăng trưởng kinh tế Hơn nữa,đường lối kinh tế mà Việt Nam lựa chọn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Biểu hiện tổng hợp nhất của tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là chỉ sốphát triển con người (HDI) Kể từ năm 1990 chỉ số HDI ở Việt Nam theo cách tínhcủa UNDP đã liên tục được cải thiện Năm 1992 chỉ số HDI đạt 0,539 (120/174) tăng lên 0,682 (101/162) vào năm 2001 và đạt 0,704 (108/177) vào năm 2005
Thực tế trên cho thấy HDI của nước ta đang ở tình trạng thiểu phát, các chỉ sốthành phần phát triển không đều
Trang 23So với các nước trên thế giới Việt Nam xếp ở khoảng giữa của nhóm “mức độphát triển con người trung bình” (từ số 56-141)
Bảng 1.1 Chỉ số phát triển con người của một số nước năm 2004
Quốc gia,
lãnh thổ
Tuổi thọ bình quân (năm)
Tỉ lệ người lớn biết chữ (%)
Tỉ lệ đi học các cấp (%)
GDP đầu người (USD - PPP)
Chỉ số tuổi thọ
Chỉ số học vấn
Chỉ số thu nhập
HDI
Xếp hạng HDI thế giới
Xếp hạng GDP
Thụy Điển 80,0 99,0 114,0 26.050 0,92 0,99 0,93 0,946 2 21Xingapo 78,0 92,5 87,0 24.040 0,88 0,95 0,87 0,902 25 30Brunei 76,2 93,9 73,0 19.120 0,85 0,87 0,88 0,867 33 28Malaixia 73,0 88,7 70,0 9.120 0,80 0,83 0,75 0,793 59 57Thái Lan 69,1 92,6 73,0 7.010 0,74 0,86 0,71 0,768 76 67Philippin 69,8 92,6 81,0 4.170 1,75 0,89 0,62 0,753 83 105Trung Quốc 70,9 90,9 68,0 4.580 0,76 0,83 0,64 0,745 94 99Inđônêxia 66,6 87,9 65,0 3.230 0,69 0,80 0,58 0,692 111 113Việt Nam 69,0 90,3 64,0 2.300 0,73 0,82 0,52 0,691 112 114
Ấn Độ 63,7 61,3 55,0 2.670 0,54 0,66 0,50 0,595 127 117Campuchia 57,4 69,4 59,0 2.060 0,54 0,66 0,50 0,568 130 131Mianma 57,2 85,3 48,0 1.027 0,54 0,73 0,39 0,551 132 158Lào 54,3 66,4 59,0 1.720 0,49 0,64 0,47 0,534 135 137Zimbabve 33,9 90,0 - 2.400 0,15 0,79 0,53 0,491 147 -Ni-giê 46,0 17,1 19,0 800 0,35 0,18 0,35 0,292 176 168Xiê-ralêôn 34,3 36,0 45,0 520 0,16 0,39 0,28 0,273 177 176
Nguồn [7]
Có nhiều nước thu nhập bình quân đầu người như nhau song lại có giá trị HDIkhác nhau như Việt Nam và Gambia
Bảng 1.2 Chỉ số phát triển con người của các nước có cùng thu nhập
Tên nước GDP/người theo PPP Giá trị HDI
Nguồn [34]
Trang 24Ở nước ta, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách quan tâm tới phát triển conngười nên các chỉ số phát triển con người có sự tiến bộ rõ rệt, với đặc điểm nổi bật
là các chỉ số về mặt xã hội cao hơn chỉ số phát triển kinh tế
Theo kết quả điều tra mức sống dân cư của Tổng cục thống kê, thu nhập bìnhquân 1 nhân khẩu/tháng của khu vực nông thôn năm 2001-2002 là 275,13 nghìnđồng, năm 2003-2004 tăng lên 378,09 nghìn đồng, tăng 37,42% (mức tăng của khuvực thành thị là 31,09%) và đại bộ phận người dân bắt đầu có tích lũy Mức chênhlệch thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn được người dân chấp nhận và
đồng thuận, chưa trở thành vấn đề xã hội bức xúc, gây mất ổn định xã hội (mức chênh lệch năm 1993 là 1,96 lần, năm 1998 là 3,66 lần, năm 2002 là 2,26 lần và giảm xuống 2,16 lần vào năm 2004) Tuy nhiên, các chỉ số thống kê cho thấy, hệ số
chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo qua các năm ở nước ta tăng lên: năm
1990 là 4,1 lần, năm 1994 là 6,5 lần, năm 1999 là 7,6 lần, năm 2002 là 8,1 lần vànăm 2004 là 8,4 lần Hệ số chênh lệch ở khu vực thành thị cao hơn ở nông thôn.Theo các vùng lãnh thổ chênh lệch cao nhất là ở Đông Nam Bộ (8,7 lần), tiếp đến làTây Nguyên (7,6 lần), Đông Bắc (7 lần)
1.4.2 Tuổi thọ bình quân và sức khỏe
Ở nước ta, do những thành tựu về phát triển kinh tế, nên các chương trình
quốc gia về xã hội đã được triển khai rộng rãi và có tác động sâu sắc tới cả nôngthôn và thành thị Hầu hết các chỉ số về sức khỏe của nhân dân đã được cải thiện.Chính phủ đã có chủ trương cơ bản và lâu dài là phát triển các dịch vụ y tế, đặc biệt
là các dịch vụ khám và chăm sóc sức khỏe ban đầu
Tuổi thọ trung bình của cả nước đạt mức cao đáng kể so với điều kiện kinh tế
và mức sống hiện tại Tuổi thọ trung bình của nước ta tăng lên khá nhanh trong thời gian gần đây, từ 65,3 tuổi (năm 1989) lên 68,6 tuổi (năm 1999) và 69 tuổi (2004).Hằng năm số người mắc và chết vì bệnh sốt rét giảm đáng kể, chỉ còn 0,06%năm 2002 Trên 90% dân cư đã được tiếp cận với các dịch vụ y tế, chỉ số tuổi thọ củanước ta liên tục tăng lên Đặc biệt người dân ở nông thôn đã được chăm sóc tốt hơn
về sức khỏe nhờ củng cố và phát triển được mạng lưới y tế rộng khắp trong cả nước.Đến nay hầu hết các xã đã có trạm y tế, cả nước có 96.604/116.359 thôn, bản có nhân
Trang 25viên y tế hoạt động (đạt 83%), 61,4% số xã có bác sỹ Bảo hiểm y tế không ngừng
mở rộng, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ người nghèo trong khám chữa bệnh, nhất làcấp thẻ, sổ khám chữa bệnh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo Từ năm 2002đến nay, đã có 14 triệu lượt người được khám chữa bệnh miễn phí (3,5 triệu lượtngười/năm)
Nước ta là một nước có thu nhập thấp so với các nước trong khu vực và trên thếgiới, tuy nhiên chỉ số tuổi thọ của nước ta cao hơn một số nước có cùng thu nhập và
có xu hướng tăng lên Số bác sĩ và số bác sĩ bình quân trên 1 vạn dân không ngừngtăng: số bác sĩ tăng từ 30,6 nghìn người (1995) lên 52,8 nghìn người (2006), số bácsĩ/1 vạn dân tăng từ 4,3 năm 1995 lên 6,3 vào năm 2006 [38]
1.4.3 Giáo dục
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống lâu đời về giáo dục Truyền thống
đó ngày nay càng được phát huy dưới chế độ mới, điều đó được phản ánh qua tỉ lệngười biết chữ và trình độ học vấn của người dân
Trong thập kỉ qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việcphổ cập giáo dục, đã thành lập được một mạng lưới toàn diện các cơ sở giáo dụctrong cả nước và đặt nền móng cho việc phổ cập giáo dục bậc Tiểu học, THCStrong cả nước bằng việc mở trường tiểu học, THCS ở tất cả các xã Do vậy, nước ta
đã có tỉ lệ người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học cao so với GDP bình quân đầu người.Năm 2004, tỉ lệ người biết chữ từ 10 tuổi trở lên ở nông thôn là 91,85%, tỉ lệ ngườibiết chữ ở thành thị là 96,34%, vượt xa các nước Lào, Campuchia và Trung Quốc.Tuy nhiên, số năm đi học bình quân ở nước ta lại thấp, mới đạt 6,2 năm
Ngân sách đầu tư cho giáo dục ở Việt Nam ngày càng tăng nhưng chưa đápứng được yêu cầu và còn thấp so với nhiều nước trên thế giới Mức chi tiêu cho giáodục - đào tạo bình quân trên một người đi học năm 2004 ở khu vực thành thị là1.537 nghìn đồng, ở nông thôn là 591,2 nghìn đồng Song do quy mô dân số nước talớn và ngày càng tăng đang và sẽ là cản trở lớn đối với việc phát triển của đất nước,trong đó có giáo dục Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và tay nghề còn thấp,
cơ cấu giáo dục và đào tạo mất cân đối cùng với sự chênh lệch giữa nam và nữ, giữathành thị và nông thôn dẫn tới chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo ở các cấphọc, bậc học còn nhiều hạn chế
Trang 261.4.4 Các điều kiện về sử dụng điện, nước sinh hoạt và nhà ở
Nhà ở và việc sử dụng điện, nước sạch là nhu cầu thiết thực trong đời sốngđang phát triển
Ở Việt Nam, trong thời gian qua các điều kiện về nhà ở, cấp nước sạch, điện sinhhoạt, vệ sinh môi trường đã được cải thiện đáng kể Theo kết quả điều tra mức sống hộgia đình năm 2004 do Tổng cục thống kê tiến hành thì 20,77% số hộ có nhà kiên cố,58,78% số hộ có nhà bán kiên cố và còn 20,45% số hộ có nhà tạm và các loại khác
Khả năng cung cấp điện sinh hoạt cho các hộ gia đình của nước ta chưa thậtcao, nhất là vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu và xa Tỉ lệ hộ được sử dụng điện
cả nước là 79%, trong đó ở thành thị là 99% và ở nông thôn là 74% Tỉ lệ hộ dùngđiện cao nhất là vùng đồng bằng sông Hồng (99,5%) và thấp nhất là vùng Tây Bắc(49,2%) và vùng Tây Nguyên (55,3%) [40]
Nhu cầu và khả năng sử dụng điện, nước phản ánh trình độ phát triển kinh tế
xã hội, mức sống của người dân ở mỗi quốc gia Điều kiện sử dụng điện cũng có sựphân hóa rõ giữa các nước Các nước có nền kinh tế phát triển thường có mức tiêuthụ điện năng bình quân đầu người cao hơn các nước đang phát triển
Biểu đồ 1 Mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu người qua các năm của Việt
Nam và một số nền kinh tế châu Á [12].
Trang 27Qua biểu đồ 1, cho thấy mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu người qua cácnăm ở Việt Nam chỉ đạt 454 Kwh/người (năm 2003), thấp hơn nhiều so với cácnước trong khu vực và trên thế giới Nếu lấy mức tiêu của Việt Nam là 1 và so sánhvới các nền kinh tế trên ta sẽ thấy rõ hơn sự chênh lệch Mức tiêu thụ điện bìnhquân đầu người của Hồng Kông gấp 12 lần của Việt Nam, Hàn Quốc gấp 14 lần,Malaixia gấp 6,6 lần, Thái Lan 3,8 lần, Nhật Bản 16,3 lần, Singapo 16 lần, ĐàiLoan 15,1 lần, Trung Quốc 2,8 lần [12]
Nước sinh hoạt của người dân Việt Nam được sử dụng từ các nguồn nước máy(13,1%), nước mưa (10,1%), nước giếng khơi và giếng khoan (55%) và các nguồnkhác (21,8%) Tỉ lệ hộ được dùng nước sạch của cả nước đạt 78%, trong đó caonhất ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng (91,9%) và Đông Nam Bộ (92%), Đồngbằng sông Cửu Long có tỉ lệ hộ được sử dụng nước sạch rất thấp (45,4%)
Ngoài ra, người dân nông thôn được tiếp cận tốt hơn với hệ thống chính sách
an ninh xã hội Trong hệ thống chính sách an ninh xã hội, ngoại trừ chính sách bảohiểm xã hội người dân nông thôn đến nay chưa được tham gia, còn lại các chínhsách khác có liên quan đến bảo trợ xã hội chủ yếu đều đã đến với các đối tượng xãhội ở nông thôn Với sự quan tâm của Nhà nước và của cộng đồng trong chủ động
dự phòng cứu trợ khẩn cấp với phương châm 4 tại chỗ, hàng năm đã cứu trợ độtxuất cho 1-1,5 triệu người ổn định cuộc sống do thiên tai, bão lụt, mất mùa, giảmthiểu thiệt hại về người và của Số đối tượng được trợ cấp xã hội ngày càng tăng, từ205.314 người (năm 2001) lên 300.000 người (năm 2004) và 360.000 (năm 2005).Trong 5 năm qua đã cai nghiện cho 184.277 lượt người, giáo dục chữa trị, phục hồichức năng cho 25.420 đối tượng mại dâm; dạy nghề cho 10.000 đối tượng và 3.468đối tượng được tạo việc làm, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng Trong tổng số đốitượng được hưởng trợ cấp xã hội, 80% là ở nông thôn [40, 42]
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA DÂN CƯ TỈNH ĐẮK LẮK 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk
2.1.1 Các nhân tố tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Tỉnh Đắk Lắk mới được thành lập là một trong 5 tỉnh nằm trong vùng TâyNguyên Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Namgiáp tỉnh Đắk Nông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Tây giápVương quốc Campuchia
Tỉnh Đắk Lắk bao gồm thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh lỵ của tỉnh và 12huyện Diện tích tự nhiên của tỉnh là 13.125,37 km2, dân số 1.737.376 người (năm2006) Đắk Lắk có nhiều mạng lưới giao thông nối liền tỉnh với các tỉnh trong vùngTây Nguyên và Duyên hải miền Trung Đắk Lắk có sân bay Buôn Ma Thuột, mộtsân bay lớn của vùng Tây Nguyên và cả nước Những mạng giao thông liên vùng đó
là điều kiện cho Đắk Lắk mở rộng giao lưu với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên vàDuyên hải miền Trung, tăng cường liên kết về mở rộng thị trường các sản phẩm có
ưu thế cạnh tranh cao của mỗi nơi
Mặt khác, Đắk Lắk nằm trong vùng được Nhà nước quan tâm thông qua cácQuyết định 135, Quyết định 168 và các quyết định ưu đãi đối với khu vực miền núikhó khăn Yếu tố này tạo cho Đắk Lắk có điều kiện khai thác và vận dụng các chínhsách ưu đãi phát triển của quốc gia vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, có điềukiện để nâng cao mức sống cho người dân
Ngoài vị trí giao lưu kinh tế, Đắk Lắk còn có vị trí quan trọng trong bảo vệmôi trường và giữ gìn an ninh quốc phòng Vì vậy, yếu tố này cần tính đến trongquy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để đảm bảo sự phát triển bền vững và gắn vớibảo vệ an ninh quốc phòng
2.1.1.2 Địa hình
Địa hình của tỉnh Đắk Lắk có sự xen kẽ giữa các địa hình thung lũng, caonguyên, núi cao và núi trung bình, có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc.Địa hình cao phân bố ở phía Nam, có độ cao từ 1000 - 1500m, chiếm 35%diện tích toàn tỉnh Cao nguyên Buôn Ma Thuột có địa hình thấp hơn, nằm ở trungtâm tỉnh, độ cao trung bình 550 - 750m chiếm khoảng 2,84% diện tích toàn tỉnh
Trang 29Trên địa hình này phần lớn đã được khai thác và đưa vào sản xuất Địa hình trũngthấp chiếm 12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, xen kẽ giữa các cao nguyên và các dãynúi cao tạo ra những cánh đồng tương đối bằng phẳng thuận lợi để phát triển câylương thực và thực phẩm.
Địa hình phức tạp và đa dạng cùng với khác biệt về khí hậu tạo ra ở Đắk Lắk
có nhiều vùng sinh thái khác nhau là điều kiện để đa dạng hóa nông nghiệp và lâmnghiệp, song cũng đặt ra nhiều vấn đề trong khai thác tài nguyên thiên nhiên phảichú ý đến các hiện tượng tự nhiên bất lợi như xói mòn đất, rửa trôi, sụt lở đất đá
Độ ẩm không khí trung bình 84% Độ bốc hơi mùa khô 14,6-15,7mm/ngày,mùa mưa 1,5-1,7mm/ngày Hướng gió thịnh hành trong mùa mưa là gió Tây Nam,mùa khô là gió Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 2,4-5,4 m/s, hầu như không có bão nênkhông gây ảnh hưởng đối với các cây trồng dễ gãy như cà phê, cao su, tiêu
Khí hậu Đắk Lắk có nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ mặt trời và tổng nhiệt độ cao phùhợp với sản xuất nông nghiệp đa dạng, cho phép hình thành và phát triển một nềnnông nghiệp với năng suất và chất lượng cao với các sản phẩm đặc trưng như càphê, cao su, hồ tiêu, bông và nhiều cây lương thực, thực phẩm có giá trị khác
2.1.1.4 Thủy văn và tiềm năng thủy điện
Hệ thống sông suối của Đắk Lắk khá phong phú, mật độ sông suối 0,8km/km2,nếu tính các con sông suối có chiều dài từ 10 km thì trên lãnh thổ Đắk Lắk có tới
Trang 30833 suối Đắk Lắk có hai hệ thống sông chính là Sêrêpok và sông Ba.
Ngoài hệ thống sông chảy qua lãnh thổ Đắk Lắk, do đặc điểm địa hình, sự ưuđãi thiên nhiên và bàn tay con người Tây Nguyên đã hình thành 403 hồ tự nhiên vànhân tạo Tổng dung tích các hồ chứa 200-450 triệu m3 nước Đây có thể coi là cáckhu vực chứa nước trên cao nguyên Đắk Lắk phục vụ cho các nhu cầu dân sinh kinhtế: tưới tiêu, du lịch tham quan, nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường
Tài nguyên nước ngầm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tương đối phong phú nhưng chỉtập trung ở khối bazan Buôn Ma Thuột - Krông Buk Ngoài ra ở một số khối bazankhác có trữ lượng nước ngầm nhỏ hơn Tại những khu vực này có thể khai thác nước
để phục vụ sinh hoạt, kinh tế vườn và tưới cho cây trồng qua giếng đào, giếng khoan
Bảng 2.1 Trữ lượng khai thác tiềm năng nước trong tỉnh Đắk Lắk
Trữ lượng tỉnh tự nhiên (triệu m 3 )
Trữ lượng động tự nhiên (nghìn m 3 )
Trữ lượng khai thác tiềm năng (nghìn
m 3 /ngày)
[Nguồn 38]
Các sông suối của Đắk Lắk có trữ lượng thủy điện lớn, riêng hệ thống Sêrêpôk
có trữ năng kinh tế khoảng 2636 triệu KW Tổng công suất lắp đặt thủy điện củatỉnh là 14.280 KW, sản lượng điện từ nguồn thủy điện chiếm 61,85% sản lượngđiện thương phẩm
Từ đặc điểm thủy văn và sự phân bố mưa trên lãnh thổ sẽ hình thành các vùng
có khả năng cung cấp nguồn nước phục vụ nhu cầu dân sinh kinh tế
- Vùng có nguồn nước thuận lợi: Tập trung dọc theo hai bên sông Krông Anathuộc các huyện: Krông Ana, Krông Păk, Lăk
- Vùng có nguồn nước tương đối khó khăn là vùng nằm ở lưu vực các nhánhsuối cấp III Đây là vùng có hệ số sử dụng đất cao Vùng này tập trung lớn nhất ởBuôn Ma Thuột, CưM’Gar, Krông Buk, Krông Năng
- Vùng có nguồn nước đặc biệt khó khăn là vùng đất bazan có độ dốc lớnthuộc địa bàn huyện EaHLeo, Ea Súp, Buôn Đôn
Trang 312.1.1.5 Đất đai
Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Đắk Lắk, đó làtài nguyên đất Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.125,37 km2, bao gồm các nhómđất chính:
- Nhóm đất phù sa (Fuvisols): Có diện tích 15.037 ha, được hình thành và
phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh Tính chất của loại đất này phụ thuộcvào sản phẩm phong hoá của mẫu chất
- Nhóm đất Gley (Gleysols): Có diện tích 30.005 ha Phân bố tập trung ở các
khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lăk, Krông Ana và Krông Bông
- Nhóm đất xám (Acrisols): Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt
tại Đắk Lắk, với diện tích 763.458 ha, phân bố ở hầu hết các huyện, chiếm 39,01%diện tích tự nhiên toàn tỉnh
- Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan) Là nhóm đất
chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) với 704.494 ha, tương đương 36,02% diệntích tự nhiên toàn tỉnh và chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên Đấtnày rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè,
hồ tiêu và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác Đây là một lợi thếrất quan trọng về điều kiện phát triển nông - lâm nghiệp của tỉnh Đắk Lắk
Tóm lại, đất đai ở Đắk Lắk khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt
là phát triển cây công nghiệp dài ngày trên diện tích đất đỏ Ngoài ra, trên diện tíchđất xám, đất nâu đỏ thích nghi với nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây ănquả Đây là điều kiện khá thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp đa dạnggóp phần nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho người dân
2.1.1.6 Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên rừng
Năm 2005, diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Đắk Lắk có 618,2 nghìn ha Tổngtrữ lượng rừng khoảng 59-60 triệu m3 Rừng Đắk Lắk có nhiều loại gỗ, cây dượcliệu trong đó có một số loại gỗ quý như Cẩm Lai, Trắc, Lim, Sến, Tấu ngoài racòn nhiều lâm sản khác, nhiều động vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ của nước ta
Trang 32Nam Kar, Cư Yang Sin Rừng Đắk Lắk nằm ở thượng lưu các sông suối lớn nên
có vai trò quan trọng phòng hộ và bảo vệ nguồn sinh thủy không những cho tỉnh màcòn cho cả khu vực
Diện tích rừng đang có xu thế giảm mạnh cả về số lượng và chất lượng Trongvòng 9 năm diện tích rừng giảm 77,9 nghìn ha, trung bình mỗi năm giảm 8,7 nghìn
ha Diện tích rừng giảm, chức năng bảo vệ đất, phòng hộ, điều hòa khí hậu, tính đadạng sinh học và môi trường sinh thái cũng giảm theo
* Tài nguyên khoáng sản
Đắk Lắk là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, nhất là khoáng sảnphục vụ cho phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng Các loại khoáng sản chủ yếu:Caolin được dùng trong nguyên liệu gốm sứ có trữ lượng là 36,9 triệu tấn,phân bố chủ yếu ở M’Đrăk, Ea Kar
Fenspat có 2 mỏ với tổng trữ lượng 2,74 triệu tấn Fenspat được khai thác vàcung cấp cho các cơ sở sản xuất gốm sứ ở Đồng Nai
Cát, cuội sỏi xây dựng phân bố ở các thềm sông suối, các vùng trũng với trữlượng khoảng 8 triệu m3 cát sỏi
Đá granit khai thác phục vụ cho xây dựng có trữ lượng khoảng 1 tỷ m3, đá bazanhiện đang được khai thác, tuy nhiên mức độ khai thác chưa hợp lí và rất lãng phí
2.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số và nguồn lao động
Tổng dân số toàn tỉnh năm 2006 là 1.737.376 người, trong đó dân số thành thịchiếm 22,31%, còn lại chủ yếu là dân số nông thôn chiếm 77,69% Cộng đồng dân
cư gồm nhiều dân tộc cùng chung sống, trong đó người Kinh chiếm 72%; các dântộc ít người như Ê đê, Mnông, Thái, Tày, Nùng chiếm 28% dân số toàn tỉnh.Ngoài các dân tộc ít người tại chỗ còn có số đông khác di cư từ phía Bắc và miềnTrung đến Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 132 người/km2 Dân số phân bố
Trang 33không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột,thị trấn huyện lỵ, ven các trục quốc lộ 14, 26, 27
Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống Mỗi dân tộc có những nétvăn hóa và truyền thống văn hóa riêng, đó là những tiềm năng cho phát triển du lịchvăn hóa nhân văn của tỉnh
Tỉ lệ gia tăng dân số trung bình hàng năm là 1820 00 Trong những năm gầnđây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là do di dân tự dotạo sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết các vấn đề đời sống xã hội, chính trị và môitrường sinh thái, đây cũng là một khó khăn và thách thức đối với việc nâng cao mứcsống cho dân cư trong thời gian tới của tỉnh
Bảng 2.3 Diện tích, dân số và mật độ dân số của các huyện, thành phố của tỉnh Đắk Lắk
[8]
Tên huyện
Số phường, thị trấn
Số xã Diện tích (km 2 ) (người) Dân số Mật độ dân số
(người/km 2 )
Dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh với mức tăng 3,42% trong thời kì
2001-2005, từ 803.000 người (năm 2000) lên 950.000 người (năm 2005), chiếm 55,33% dân
số toàn tỉnh Số lao động cần bố trí việc làm của tỉnh 730.500 người (năm 2000) tănglên 827.000 người (năm 2005), chiếm 87% số lao động trong độ tuổi lao động Nguồnnhân lực trẻ và chiếm tỉ trọng cao, một mặt là lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh, mặt khác cũng tạo sức ép lên hệ thống giáo dục đào tạo và giải quyết việc làm
Trang 34Cơ cấu sử dụng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân đã có sự chuyểnđổi: Tỉ lệ lao động trong ngành nông lâm nghiệp giảm xuống, tỉ lệ lao động trongngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên.
Chất lượng lao động của nguồn nhân lực được thể hiện chủ yếu qua trình độhọc vấn và đặc biệt là trình độ chuyên môn kỹ thuật Theo số liệu thống kê, ĐắkLắk có 14.845 cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên; trong đó Cao đẳng có 6.041người, Đại học có 8.521 người, Thạc sĩ có 220 người, 52 Tiến sĩ và 5 Phó Giáo sư.Đây là nguồn lao động kỹ thuật của tỉnh cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụnghiên cứu, đào tạo, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất vàđời sống của nhân dân địa phương Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động khôngđồng đều giữa các vùng trong tỉnh, các khu vực và các ngành kinh tế, nhất là khuvực nông thôn, vùng sâu, vùng xa có số lao động kỹ thuật còn rất ít
Các khu vực kinh tế của tỉnh đều đạt tốc độ tăng trưởng, đặc biệt là sự tăngtrưởng của khu vực sản xuất và dịch vụ Thời kì 2001-2005, tốc độ tăng trưởngcủa khu vực dịch vụ đạt 17,09%, khu vực sản xuất vật chất đạt 6,07%, tức là khuvực sản xuất vật chất tăng 1% thì khu vực dịch vụ tăng 2,81%
Cơ cấu kinh tế từng bước được chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỉ trọng cácngành phi nông nông nghiệp và giảm tỉ trọng các ngành nông nghiệp
Bảng 2.4 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của Đắk Lắk [8]
Trang 35Nông-Lâm-Ngư nghiệp 2.384.024 59,63 3.104.470 58,19 5.612.175 53,9Công nghiệp
-xây dựng 559.925 13,9 904.705 14,95 1.949.244 18,73Dịch vụ 1.086.412 26,47 1.536.244 26,86 2.850.047 27,37
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu kinh tế theo ngành của tỉnh Đắk Lắk năm 2000 và 2006
Trong nông nghiệp chú ý phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi Tỉ
trọng giá trị ngành chăn nuôi có xu hướng tăng trong giai đoạn 2000-2004 (tăng từ 9,1% năm 2000 lên 12,5% vào năm 2004), đồng thời tỉ trọng của ngành trồng trọt
có xu hướng giảm xuống (từ 86,2% vào năm 2000 xuống còn 85,2% vào năm 2004) Dịch vụ trong nông nghiệp năm 2004 chiếm 2,3%.
Trong 3 khu vực kinh tế ngành, ngành công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăngcao nhất, tới 21,3% trong thời kì 2001-2005 Ngành công nghiệp của tỉnh có chuyểnbiến mới, từng bước được củng cố, sắp xếp các doanh nghiệp, gắn xây dựng côngnghiệp chế biến với phát triển vùng nguyên liệu nhằm đảm bảo giữa cung ứngnguyên liệu của vùng chuyên canh và sản xuất ổn định của cơ sở chế biến Đặc biệt
tỉ trọng của ngành công nghiệp khai thác và công nghiệp phân phối điện nước tăngnhanh trong thời gian gần đây và tỉ trọng của nhóm ngành công nghiệp chế biến có
xu hướng giảm (giảm từ 86,7% năm 2000 xuống 83,8% vào năm 2005) Tỉnh Đắk
Lắk đã quy hoạch được các khu, cụm công nghiệp như: khu công nghiệp Hòa Phú,cụm tiểu thủ công nghiệp Buôn Ma Thuột, Eadar - EaKar, Buôn Hồ - Krông Buk
Tỉ trọng ngành dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng tăng chậm Trong ngànhdịch vụ ngành thương mại luôn chiếm ưu thế cả về tỉ trọng và cả về giá trị sản xuất
(chiếm khoảng 94% giá trị sản xuất của ngành) Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
thời kì 2001-2003 đạt 578,1 triệu USD, năm 2004 đạt 285,8 triệu USD và năm 2005
Trang 36đạt 301 triệu USD Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có thêm nhiều mặt hàng mới, ngoài
cà phê (chiếm 80%) còn có hạt tiêu, cao su, mật ong Doanh thu du lịch tăng lên
đáng kể, bình quân mỗi năm doanh thu được tăng lên 5-6 tỷ đồng Hệ thống dịch vụnhà nghỉ, dịch vụ khách sạn phát triển mạnh
2.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk
2.2.1 Nhận định chung
Trong những năm gần đây, tỉnh Đắk Lắk duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh
tế khá cao, các ngành sản xuất phát triển, đời sống nhân dân đang từng bước đượccải thiện
Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt 8,05%/năm (trong đó nông-lâm nghiệp tăng 4,1%, công nghiệp-xây dựng tăng 21,3%, thương mại-dịch vụ tăng 17,07%).
Quy mô, chất lượng của nền kinh tế tiếp tục được nâng lên Năm 2005 GDP đạt hơn8.290 tỷ đồng, năm 2006 đạt 10.412 tỷ đồng, bình quân đầu người tính theo giá hiệnhành tăng đáng kể, thu nhập bình quân đầu người năm 2003 đạt 277.093đồng/người/tháng và tăng lên 499.387 đồng/người/tháng vào năm 2006
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỉ trọng của
ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ (bảng 2.4) Cơ cấu lao động, cơ cấu đầu tư
cũng chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Tỷ lệ lao động phinông nghiệp tăng từ 17% lên hơn 20% vào năm 2006 Tổng vốn đầu tư toàn xã hộinăm 2006 là 3.285.223 triệu đồng, tăng gấp gần 2 lần so với năm 2000 Đầu tư pháttriển có trọng tâm, cơ cấu đầu tư có sự điều chỉnh theo hướng tập trung vào các mụctiêu phát triển nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nông thôn, xóa đói giảm nghèo và pháttriển nguồn nhân lực
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội đã thu được những thành tựu quan trọng, đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục chuyển biến, đáp ứng ngày càng tốt hơnnhu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Các huyện vàthành phố đã hoàn thành chương trình xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, có108/175 số xã, phường đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ
sở (đạt 61,7%), vượt chỉ tiêu Đại hội XIII đề ra Công tác xã hội hóa giáo dục có
Trang 37chuyển biến, số học sinh các cấp ngoài quốc lập, chất lượng giáo dục tại các trườngngoài quốc lập từng bước được tăng lên.
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng và dân số kế hoạch hóa gia đìnhđạt kết quả Thực hiện xã hội hóa về y tế có nhiều tiến bộ, đáp ứng một phần nhu cầukhám chữa bệnh của nhân dân Y tế tư nhân đã góp phần giải quyết chữa trị cho hơn50% các bệnh thông thường và làm giảm tình trạng quá tải ở các cơ sở y tế nhà nước.Thực hiện chính sách dân tộc và chính sách xã hội đạt nhiều kết quả Quyếtđịnh 168 của Thủ tướng chính phủ và các chương trình khác đã thực sự đi vào cuộcsống mang lại hiệu quả thiết thực Thực hiện chương trình giải quyết việc làm, xóađói giảm nghèo khá đồng bộ, đã giải quyết việc làm cho 32,32 ngàn lao động và đưa
tỷ lệ hộ đói nghèo từ 27% (theo chuẩn cũ) năm 2000 xuống còn 11,07% vào năm
2004 và từ 27,55% năm 2005 (theo chuẩn mới) xuống còn 23,28% năm 2006 Đến
nay đã giải quyết được hơn 51% nhu cầu đất ở, đất sản xuất, nhu cầu về nhà ở, nướcsinh hoạt cho các đối tượng, từng bước được giải quyết nhằm ổn định đời sốngvùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, giữ vững an ninh chính trị Đời sống nhândân của các dân tộc trong tỉnh tiếp tục ổn định và từng bước được cải thiện, nhất là
về ăn, ở, mặc, đi lại, học hành và hưởng thụ phúc lợi xã hội
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhìn nhận vào thực tế hiện nay kinh tế
- xã hội còn bộc lộ những tồn tại và yếu kém
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt được mục tiêu 9 - 10% đề ra, chưa tươngxứng với tiềm năng, lợi thế phát triển của địa phương, chất lượng của sản phẩm, sứccạnh tranh chưa cao
Bệnh thành tích, tiêu cực trong thi cử còn diễn ra ở một số trường Nhiều trườngTHPT quá tải so với quy mô xây dựng trường do số lượng học sinh tăng quá nhanh
Số trường đạt chuẩn quốc gia còn thấp, bậc THPT chưa có trường đạt chuẩn
Mạng lưới y tế còn chậm đổi mới, thiếu các chuyên khoa sâu Hệ thống bệnhviện tuyến huyện chưa đủ sức xử lý một số dịch bệnh mới phát sinh, chất lượngdịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân Hoạt động y tế dựphòng còn nhiều bất cập, vệ sinh môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm chưađược kiểm soát chặt chẽ Tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ người bệnh ở một
số cơ sở y tế còn nhiều việc cần phải chấn chỉnh
Trang 38Công tác xóa đói giảm nghèo ở một số địa bàn chưa thật sự vững chắc,nguy cơtái nghèo còn cao Cơ sở vật chất hạ tầng, giao thông, điện, nước sạch, phúc lợi vănhóa ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người chậm được cải thiện.
Tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông tuy có cố gắng kiềm chếnhưng vẫn gia tăng Tình hình an ninh chính trị vẫn còn tiềm ẩn mất ổn định
Những hạn chế trên ảnh hưởng rất lớn đến mức sống người dân, tạo bất bìnhđẳng về kinh tế - xã hội giữa các vùng, các dân tộc trong tỉnh Điều đó cần đưa ranhững biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư
2.2.2 Các tiêu chí cụ thể
2.2.2.1 Thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập bình quân đầu người được coi là một tiêu chí quan trọng nhất để đánhgiá mức sống dân cư, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi khu vực.Tuy có những tăng trưởng kinh tế đáng kể nhưng nền kinh tế vẫn chủ yếu là
sản xuất nông nghiệp, hơn nữa mức tăng dân số của tỉnh còn cao (cả tăng tự nhiên lẫn tăng cơ học) đã làm cho GDP bình quân đầu người tăng chậm, có nguy cơ kéo
dài khoảng cách so với bình quân chung cả nước
Bảng 2.5 Tổng thu nhập và thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Đắk Lắk
Tổng GDP (triệu đồng) 5.545.419 6.765.462 8.293.202 10.411.466
Cả nước GDP/người (1000đ) 7.176 8.700 9.920 10.800
[Tính toán từ số liệu của Cục thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2006]
Biểu đồ 2.2 GDP và GDP bình quân đầu người của tỉnh Đắk Lắk
Trang 390 2,000,000 4,000,000 6,000,000 8,000,000 10,000,000 12,000,000
2003 2004 2005 2006
triệu đồng
0 1,000 2,000 3,000 4,000 5,000 6,000
7,000
ngàn đồng
Tổng GDP GDP/người
Qua bảng trên ta thấy GDP/người qua các năm đều tăng Năm 2003 là 3.325
ngàn đồng và tăng lên 5.993 ngàn đồng vào năm 2006 (gấp 1,8 lần), tăng chậm hơn
so với trung bình cả nước Trong cơ cấu thu nhập bình quân/người/tháng, tỉ trọng
thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp là chủ yếu (chiếm hơn 50% tổng thu nhập), trong
khi đó, thu nhập từ sản xuất công nghiệp - xây dựng và các hoạt động dịch vụ rấtkhiêm tốn Điều đó chứng tỏ nền sản xuất chưa phát triển cân đối, hợp lí
Bảng 2.6 Thu nhập bình quân/người/ tháng của hộ gia đình phân theo nguồn thu [8]
Sự phân hóa thu nhập còn thể hiện rõ ở nhóm có thu nhập cao nhất (chủ yếu ở thành thị) và nhóm có thu nhập thấp nhất (chủ yếu ở nông thôn, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống) Năm 2002 nhóm có thu nhập cao nhất gấp 6,9 lần so
với nhóm có thu nhập thấp nhất và sự chênh lệch này tăng lên 9,2 lần vào năm
Trang 40nhập thấp nhất dẫn tới sự phân tầng sâu sắc mức sống của các bộ phận dân cư ởtrong tỉnh Phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội đã và đang diễn ra gay gắt
và trở thành vấn đề bức xúc cần giải quyết
Bảng 2.7 Thu nhập bình quân/người/tháng của nhóm cao nhất và nhóm thấp nhất [8]
Năm Nhóm thu nhậpcao nhất (đồng) thấp nhất Nhóm thu nhập(đồng) Chênh lệch giữa2 nhóm (lần)
Để nâng cao mức thu nhập và cải thiện cơ cấu thu, một mặt phải nâng cao chấtlượng hiệu quả sản xuất hàng hóa nông, lâm nghiệp; mặt khác cần nâng dần tỉ trọngnguồn thu từ công nghiệp - xây dựng, từ hoạt động dịch vụ thông qua mở rộng vàphát triển mạnh ngành nghề và giao lưu buôn bán
Nếu thu nhập bình quân là đánh giá “đầu vào” thì chi tiêu lại đánh giá “đầu ra” Mức chi tiêu và cơ cấu chi tiêu góp phần làm sáng tỏ hơn thực trạng CLCS của
dân cư tỉnh Đắk Lắk Trong cơ cấu chi tiêu cho đời sống, chi tiêu cho ăn uống, hútkhá cao, chiếm 57,6% năm 2002 và giảm xuống còn 46,7% vào năm 2006 Biểuhiện của mức sống cao thì tỉ lệ chi cho ăn uống không vượt quá 40% tổng chi chođời sống Điều đó chứng tỏ rằng, mức sống của người dân ở tỉnh Đắk Lắk còn thấp
Tỉ lệ chi tiêu đối với đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khókhăn tỉ lệ chi cho ăn uống vượt trên 90% Thậm chí những hộ đói chi cho đời sốngđồng nghĩa với chi cho ăn uống Trong cơ cấu chi tiêu cho ăn uống, chi tiêu chothực phẩm lớn hơn chi tiêu cho lương thực Như vậy, mức sống của người dân đangphấn đấu đạt về cả lượng và chất Tuy nhiên, chi tiêu dành cho giáo dục, y tế, vănhóa xã hội chiếm tỉ lệ rất thấp, chiếm khoảng 10% tổng thu nhập
Bảng 2.8 Chi tiêu bình quân/người/tháng ở Đắk Lắk trong năm 2002, 2006
Năm
Tổng chi tiêu (đồng)
Tỷ lệ (%)
Tổng chi tiêu
(đồng)
Tỷ lệ (%)