Việc nghiên cứu điều trị, phục hồi chức năng sau chấn thương tủy sống đãđược nhiều tác giả trong và ngoài nước nói đến trong thập niên gần đây dựa trên sự ra đời của một số phương pháp,
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Định nghĩa tổn thương tủy sống 4
1.2 Tình hình chấn thương tủy sống 4
1.3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống và các phương pháp đánh giá 5
1.3.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống 5
1.3.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống 5
1.3.3 Các phương pháp đáng giá chất lượng cuộc sống trong bệnh chấn thương tủy sống 6
1.3.4 Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân chấn thương tủy sống 7
1.4 Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống 8
1.5 Các phương pháp điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống 9
1.5.1 Điều trị loét do đè ép 9
1.5.2 Chăm sóc đường hô hấp 9
1.5.3 Chăm sóc đường tiết niệu 9
1.5.4 Chăm sóc đường ruột 9
1.5.5 Điều trị cơn rối loạn phản xạ thực vật 9
1.5.6 Điều trị đau thần kinh bằng các thuốc 9
1.5.7 Phòng ngừa và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu 10
1.5.8 Điều trị co cứng bằng các thuốc giãn cơ và tiêm phong bế điểm vận động bằng phenol hoặc Botulinum toxin nhóm A 10
1.5.9 Tập mạnh cơ và di chuyển bằng dụng cụ trợ giúp 10
1.5.10 Hoạt động trị liệu … 10
1.5.11 Điều trị rối loạn chức năng tình dục 10
Trang 41.6.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 10
1.6.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 14
1.7 Khung lý thuyết 16
1.8 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 18
1.8.1 Lịch sử hình thành đơn vị 18
1.8.2 Các hoạt động chuyên môn 18
1.8.3 Công tác đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.2.2 Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu 20
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 21
2.2.4 Địa điểm nghiên cứu 21
2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin 21
2.3 Xác định chỉ số, biến số nghiên cứu 23
2.3.1 Biến số nghiên cứu về đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 23
2.3.2 Biến số nghiên cứu về khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thương tủy sống 24 2.3.3 Các biến số và chỉ số đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thông qua mức độ đau 26
2.3.4 Biến số về yếu tố liên quan giữa chất lượng sống với yếu tố cá nhân và xã hội 26
2.4 Phân tích số liệu 27
2.4.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định lượng 27
2.4.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định tính 27
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28
Trang 52.6.2 Biện pháp khắc phục 28
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 29
3.1 Thông tin chung của bệnh nhân 29
3.2 Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân 30
3.3 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống 31
3.3 1 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ độc lập SCIM 31
3.3.2 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ đau VAS 33
3.4 Mối liên quan giữa chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống với yếu tố cá nhân và gia đình 33
Chương 4: DỰ KIẾN KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 37
4.1 Dự kiến kết luận 37
4.2 Dự kiến khuyến nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung của bệnh nhân 29
Bảng 3.2 Phân bố theo mức độ tổn thương 30
Bảng 3.3 Phân bố theo vị trí tổn thương 30
Bảng 3.4 Phân bố theo nguyên nhân chấn thương 30
Bảng 3.5 Phân bố theo khả năng tự chăm sóc bản thân 31
Bảng 3.6 Phân bố theo chức năng hô hấp và cơ tròn 31
Bảng 3.7 Phân bố theo khả năng di chuyển trong phòng và ra bồn cầu 32
Bảng 3.8 Phân bố theo khả năng di chuyển trong nhà và bên ngoài 32
Bảng 3.9 Phân bố mức độ đau theo thang điểm VAS 33
Bảng 3.10 Mổi liên quan giữa nhóm tuổi và chất lượng sống của bệnh nhân 33
Bảng 3.11 Mổi liên quan giữa giới và chất lượng sống của bệnh nhân 33
Bảng 3.12 Mổi liên quan giữa phương pháp điều trị và chất lượng sống của bệnh nhân34 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa thời gian điều trị và chất lượng sống của bệnh nhân 34
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa mức độ tổn thương và chất lượng sống của bệnh nhân34 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa vị trí tổn thương và chất lượng sống của bệnh nhân 35
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và chất lượng sống của bệnh nhân 35
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và chất lượng sống của bệnh nhân 35
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và chất lượng sống của bệnh nhân 36 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và chất lượng sống của bệnh nhân .36
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương tủy sống tác động đến hàng nghìn người mỗi năm, gây ảnhhưởng tới sức khỏe, mất chức năng vận động, rối loạn cảm giác và các cơ quan khácnhư bàng quang, đường ruột, hô hấp, tim mạch và loét do tỳ đè dẫn đến giảm chấtlượng sống [21] Nghiêm trọng hơn, tổn thương tủy sống làm người bệnh mất cơhội việc làm, mất khả năng độc lập trong cuộc sống và thay đổi tâm lý sức khỏenặng nề [32] Chất lương cuộc sống của bệnh nhân sau tổn thương tủy sống phụthuộc nhiều vào việc chăm sóc, phục hồi chức năng, định hướng nghề nghiệp và táihội nhập cộng đồng Ngày nay, có nhiều Trung tâm phục hồi chức năng tổn thươngtủy sống ra đời ở các nước phát triển Điều này giúp cho người bệnh có nhiều cơ hộiđược phục hồi chức năng, giảm các thương tật thứ cấp, độc lập trong sinh hoạt vàhội nhập xã hội, từng bước cải thiện chất lượng sống
Số liệu điều tra dịch tễ học cho thấy hàng năm trên thế giới tỷ lệ chấn thươngtủy sống thay đổi theo vùng và có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở các nước có mật độgiao thông đông đúc, ngay cả ở các nước phát triển, với 80% nạn nhân là nam giới,đang trong độ tuổi lao động [38] Điều này cho thấy chấn thương tủy sống ảnhhưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, là gánh nặng cho giađình, xã hội và chất lượng sống của chính người bệnh
Việc nghiên cứu điều trị, phục hồi chức năng sau chấn thương tủy sống đãđược nhiều tác giả trong và ngoài nước nói đến trong thập niên gần đây dựa trên sự
ra đời của một số phương pháp, kỹ thuật mới cũng như tiến bộ công nghệ Các tácgiả Wyndael, Town, Đỗ Đào Vũ, Cầm Bá Thức, Nguyễn Thị Sinh , đã tiến hànhnghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng vận động, cảm giác, rối loạn chức năngbàng quang, rối loạn chức năng tim mạch và hô hấp …trong điều trị phục hồi chứcnăng [46],[40],[7],[4],[3] Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnhnhân sau chấn thương tủy sống chưa được đề cập, còn ít nghiên cứu được công bố.Trong khi kết quả nghiên cứu vấn đề này sẽ cung cấp các thông tin thiết thực để cácnhà chuyên môn có biện pháp cải thiện, nâng cao chất lượng điều trị cho người
Trang 9bệnh Đồng thời đưa ra được các bằng chứng khoa học giúp cho các nhà hoạch địnhchính sách xã hội, xây dựng phát triển các tài liệu đào tạo, hướng dẫn chuyên môn
về chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau tổn thương tủy sống
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Bạch Mai” với hai mục tiêu là khả thi và cần thiết.
Trang 10MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy
sống tại bệnh viện Bạch Mai
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau
chấn thương tủy sống tại bệnh viện Bạch Mai
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Định nghĩa tổn thương tủy sống
Tổn thương tủy sống là tình trạng bệnh lý gây liệt hoặc giảm vận động tứ chihoặc hai chân kèm theo các rối loạn khác như: cảm giác, hô hấp, tim mạch, bàngquang, đường ruột, loét do tì đè v.v do nguyên nhân chấn thương hoặc do cácbệnh lý khác của tủy sống, thường để lại nhiều di chứng nặng nề và dẫn tới tàn tậtnếu không được điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng tốt [16]
1.2 Tình hình chấn thương tủy sống
Trên thế giới cho thấy, năm 2004, Sinha D cho biết tỷ lệ chấn thương tủy sống ở
Ấn độ là 20.000 trường hợp/năm, trong đó 80% bệnh nhân trong độ tuổi lao động [39].Theo Trung tâm thống kê chấn thương tủy sống quốc gia Hoa Kỳ, số bệnh nhânchấn thương tủy sống ở Hoa Kỳ trung bình là 11.000 trường hợp/năm hay khoảng
40 trường hợp mới/triệu dân không bao gồm những người chết tại chỗ do tai nạn.Tuổi trung bình là 32,1; nam gấp 4 lần nữ, gần 60% bệnh nhân tuổi từ 16 đến 59đang có việc làm tại thời điểm bị chấn thương [17] Theo Gwynedd E và cộng sự,Canađa có tỷ lệ chấn thương tủy sống là 42,4 người/triệu dân, tập trung từ độ tuổi
15 đến 64, tai nạn giao thông chiếm 35% [24] Theo số liệu năm 2011, Schoenfeld
và cộng sự cho biết tỷ lệ chấn thương tủy sống trong quân đội Hoa Kỳ là 429 trườnghợp/triệu quân nhân [38] Ở Bắc Mỹ, tỷ lệ chấn thương tủy sống khoảng 12.000trường hợp mới/năm, ước chừng dao động từ 300.000 đến 1.275.000 trường hợp[25] Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu thống kê đầy đủ và đại diện cho cả nước về tỷ
lệ tổn thương tủy sống do các nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, những năm gầnđây, tỷ lệ này ngày một tăng, đặc biệt tại các trung tâm đô thị lớn như Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh, phần lớn do tai nạn giao thông và tai nạn lao động Hậu quả làmgia tăng chi phí điều trị cho ngành y tế, người bệnh mất việc làm, sức khỏe suygiảm, cuộc sống bị thay đổi và giảm chất lượng sống [5] Tại bệnh viện Bạch Mai,theo khảo sát của chúng tôi cho thấy năm 2008 có khoảng 200 bệnh nhân chấnthương tủy sống đến điều trị tại đơn vị tổn thương tủy sống Số lượng bệnh nhân
Trang 12tăng đều những năm sau đó và đến này có đến hơn 1000 bệnh nhân đã được điều trịtại Trung tâm Phục hồi chức năng [3]
1.3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống và các phương pháp đánh giá
1.3.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống
Mặc dù khái niệm chất lượng cuộc sống đã được sử dụng nhiều, tuy nhiêncho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất toàn cầu cho khái niệm này[37] Theo Nhóm nghiên cứu về chất lượng cuộc sống thuộc Tổ chức Y tế Thế giới(WHOQOL-Group) năm 1995 thì Chất lượng cuộc sống là những cảm nhận của các
cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa, các hệ thống giá trị mà họđang sống và liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quantâm của họ [10]
1.3.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống
Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống rất cầnthiết, phản ánh tác động của bệnh đến cuộc sống của bệnh nhân Đối chiếu với địnhnghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới, chất lượng cuộc sống liên quan đếnsức khỏe nói chung được coi là cấu trúc nhiều chiều bao gồm sức khỏe thể lực, sứckhỏe tâm trí, chức năng xã hội và toàn trạng nói chung Nhiều bộ công cụ khác nhau
đã được xây dựng để đánh giá chất lượng cuộc sống và được phân loại là đánh giá
theo bệnh đặc thù (Disease specific QOL measures) hoặc đánh giá chung (Generic
measures).
* Đánh giá chất lượng cuộc sống chung
Các bộ câu hỏi đánh giá chung có thể là những bộ công cụ mô tả về sức khỏehoặc là các đánh giá phụ trợ Các bộ công cụ mô tả về sức khỏe như bộ Đánh giá kếtquả đầu ra về sức khỏe rút gọn 36 câu hỏi (MOS Short Form– 36/SF-36), Đánh giákết quả đầu ra về sức khỏe rút gọn 12 câu hỏi (MOS Short Form–12/SF-12) Những
bộ công cụ này có thể sử dụng để đánh giá ở bệnh nhân chấn thương tủy sống giaiđoạn tại cộng đồng Các đánh giá chung có thể giúp ích trong việc đưa ra các quyếtđịnh định hướng về y tế Tuy nhiên, các đánh giá chung thường không đi sâu vào ảnhhưởng của bệnh nên không thể hiện rõ sự thay đổi theo diễn biến của bệnh
Trang 13* Đánh giá chất lượng cuộc sống theo bệnh đặc thù
Đánh giá chất lượng cuộc sống theo bệnh đặc thù tập trung chủ yếu vào cácmặt chính liên quan đến bệnh đặc thù vì thế có thể đánh giá chính xác hơn tác độngcủa bệnh tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cũng như phản ánh rõ hơn hiệuquả can thiệp
Những người có khả năng trí tuệ bình thường có thể đưa ra những nhận địnhphức tạp mang tính chủ quan về cuộc sống của họ Tuy nhiên các triệu chứng hành
vi hoặc tâm thần không thuộc về nhận thức như trầm cảm, kích động có thể ảnhhưởng tới việc đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Các tác giả đã xemxét điều gì là quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thươngtủy sống để giúp thay đổi hoàn cảnh sống của bệnh nhân Điều quan trọng đối vớichất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống là sự an toàn và độclập, không đau đớn có thể chiếm vị trí quan trọng nhất [44]
Mặc dù các thách thức này, đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân chấnthương tủy sống là cần thiết Thông qua việc đánh giá chất lượng cuộc sống, bệnhnhân được điều trị, can thiệp và hỗ trợ thay đổi môi trường xã hội giúp tạo ra sựkhác biệt quan trọng trong cuộc sống của bệnh nhân Những đánh giá này giúp cácnhà nghiên cứu đưa ra kết luận rõ ràng, những chính sách của nhà quản lý có thểtìm ra những biện pháp can thiệp mới giúp duy trì hoặc tăng cường chất lượng cuộcsống cho họ
1.3.3 Các phương pháp đáng giá chất lượng cuộc sống trong bệnh chấn thương tủy sống
Có nhiều phương pháp để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nhưbệnh nhân tự đánh giá, đánh giá thay thế qua người thân chăm sóc hay quan sát trựctiếp các hành vi và hoạt động liên quan đến chất lượng cuộc sống Với bệnh nhânchấn thương tủy sống sử dụng phương pháp bệnh nhân tự đánh giá giúp bệnh nhân
dễ dàng lựa chọn câu trả lời, ít bị ảnh hưởng bởi các mong muốn, hệ niềm tin củangười khác hoặc không thể chắc chắn rằng các hành vi quan sát được có phải làđiều bệnh nhân cho là quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của họ hay khônghay những sai lệch từ phía người quan sát
Trang 14Bệnh nhân tự đánh giá: phương pháp này yêu cầu bệnh nhân trực tiếp đánhgiá chất lượng cuộc sống bằng những cảm nhận của mình trong bối cảnh của ngườiđược hưởng lợi từ việc điều trị hoặc bị mất nhiều nhất sau chấn thương Cần thiết kếcác bộ công cụ đơn giản, dễ dàng để bệnh nhân có thể tham gia, xây dựng các hướngdẫn rõ ràng, đào tạo kỹ càng cho các điều tra viên phỏng vấn trực tiếp và sử dụng gợi
ý trực quan (ví dụ như thang đo mức độ, thẻ màu) để giúp bệnh nhân dễ dàng lựachọn câu trả lời Ngoài ra, điều tra viên có thể đánh giá sự hiểu của bệnh nhân bằngcách hỏi các câu hỏi làm rõ khi câu trả lời không rõ ràng hoặc không tin cậy
1.3.4 Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân chấn thương tủy sống
Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân chấn thương tủysống có thể rất khác nhau về các lĩnh vực đánh giá Smith và cộng sự (2015) sửdụng công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống (FIQL) để xác định mức độ ảnh hưởngcủa rò rỉ phân ngoài ý muốn đến chất lượng sống của bệnh nhân tổn thương tủysống [36] Bochkezanian và cộng sự (2015) chất lượng sống thông qua đánh giámức độ độc lập của bệnh nhân [41] Daniel M và cộng sự (2015) đã đánh giá cáckhía cạnh trong chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tổn thương tủy sống bao gồmhoạt động giải trí, quan hệ xã hội, hạnh phúc, công việc có ý nghĩa, đời sống tìnhdục và chất lượng sống nói chung [18] David S và cộng sự (2015) đã sửdụng bộ công cụ SCI-QoL trong đánh giá tình trạng sức khỏe, chất lượng sống củabệnh nhân chấn thương tủy sống [20]
Các tiêu chí của bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống cho bệnh nhânchấn thương tủy sống được lựa chọn để phản ánh các lĩnh vực làm ảnh hưởng đếnchất lượng sống của bệnh nhân Có nhiều công cụ đánh giá khách quan chất lượngcuộc sống, tuy nhiên với bệnh nhân tổn thương tủy sống chưa có một bộ công cụnào đánh giá đầy đủ các khía cạnh ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnhnhân Đối với bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện, chúng tôi tập trung đánh giáhai khía cạnh là khả năng độc lập trong sinh hoạt và mức độ đau tác động đến chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân Tương ứng với từng khía cạnh trên chúng tôi sửdụng các bộ công cụ phù hợp để thu thập thông tin bệnh nhân thông qua các thang
Trang 15điểm SCIM, VAS Các bộ công cụ này đã được hiệp hội tổn thương tủy sống thếgiới khuyến cáo sử dụng cho đánh giá trên bệnh nhân chấn thương tủy sống trêntoàn thế giới Các thang điểm này đã được dịch sang nhiều thứ tiếng và áp dụngrộng rãi ở các nước và là bộ công cụ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới đểđánh giá khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thương tủy sống như Hy Lạp [13],Tây Ban Nha [33], Thụy Điển [12], Hoa Kỳ [30], Thổ Nhĩ Kỳ [28], được chứngminh có độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu Ở Việt Nam,
bộ công cụ SCIM đã được dịch ra phiên bản tiếng việt, được thử nghiệm, chỉnh sửa
để phù hợp với văn phong tiếng Việt cho dễ hiểu hơn và đã được sử dụng thườngquy để đánh giá khả năng độc lập của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống tạiTrung tâm Phục hồi chức năng, bệnh viện Bạch Mai từ năm 2008 và đưa vào quytrình kỹ thuật của chuyên ngành Thang điểm đánh giá mức độ đau theo thang điểmnhìn VAS, đã được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực chuyên khoa y học có độtin cậy và tính giá trị cao [1],[2],[15],[23],[27]
1.4 Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống
* Bộ công cụ đánh giá sự độc lập sau tổn thương tủy sống SCIM (Spinal Cord Independence Measure)
Bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và các chuyên gia về tủy sống đã cùngnhau xem xét các tiêu chí này để đảm bảo giá trị và tính chính xác Thang điểmSCIM gồm 16 câu hỏi đánh giá các lĩnh vực: khả năng tự chăm sóc, chức năng hôhấp và kiểm soát cơ tròn, khản năng di chuyển trong phòng và nhà vệ sinh, khả
năng di chuyển ở trong nhà và bên ngoài (chi tiết bộ công cụ xin xem trong phần
phụ lục3).
Câu trả lời dựa trên 2 mức độ của thang điểm (1 = không tốt (0-60 điểm), 2 =tốt, (61-100 điểm)) Tổng điểm SCIM nằm trong khoảng từ 0 đến 100 với điểm sốcao hơn tương ứng với chất lượng cuộc sống tốt hơn
* Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS (Visual Analogue Scale)
Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS là bộ công cụđược sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để đo lường mức độ đau của người bệnh
Bộ công cụ VAS được chứng minh có độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong rất
Trang 16nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước [1],[2],[15],[23],[27] Tương ứng với mứcđiểm càng cao thì chất lượng cuộc sống kém hơn.
1.5 Các phương pháp điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống
1.5.1 Điều trị loét do đè ép [6]
Phòng loét được cho là công việc quan trọng nhất
Rửa vết thương
Loại bỏ tổ chức hoại tử
Phẫu thuật cắt lọc tổ chức hoại tử
1.5.2 Chăm sóc đường hô hấp
Rung kết hợp dẫn lưu tư thế, tập ho để giải phóng đờm dãi ra ngoài; tập thởnhằm tăng cường khả năng hô hấp, trao đổi khí, phòng biến chứng viêm phổi, xẹpphổi và suy hô hấp
1.5.3 Chăm sóc đường tiết niệu [11]
Điều trị không bằng thuốc
Điều trị bằng thuốc
Điều trị bằng phẫu thuật
1.5.4 Chăm sóc đường ruột
Tập luyện đường ruột [6]
Kích thích cơ học [19]
Điều trị bằng thuốc
Thụt tháo
1.5.5 Điều trị cơn rối loạn phản xạ thực vật
Nhanh chóng hạ huyết áp bằng cách dựng bệnh nhân ngồi thả hai chânxuống giường, nếu huyết áp không hạ mới chuyển sang dùng thuốc hạ áp
- Tìm nguyên nhân gây cơn rối loạn phản xạ thực vật để loại bỏ
- Giáo dục bệnh nhân
- Đề phòng tái phát cơn rối loạn phản xạ thực vật
1.5.6 Điều trị đau thần kinh bằng các thuốc: giảm đau thần kinh, kích thích điện
và tâm lý trị liệu
Trang 171.5.7 Phòng ngừa và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu: Bằng cách tập vận động
sớm, sử dụng các dụng cụ tạo áp lực và các thuốc chống đông dự phòng cho nhữngbệnh nhân có nguy cơ cao Khi có huyết khối tính mạch sâu cần điều trị theo bác sỹchuyên khoa tim mạch
1.5.8 Điều trị co cứng bằng các thuốc giãn cơ và tiêm phong bế điểm vận động
bằng phenol hoặc Botulinum toxin nhóm A
1.5.9 Tập mạnh cơ và di chuyển bằng dụng cụ trợ giúp: nạng nẹp, thanh song
song, khung tập đi, xe lăn địa hình
1.5.10 Hoạt động trị liệu: giúp bệnh nhân độc lập trong sinh hoạt như ăn uống,
mặc quần áo, vệ sinh cá nhân như đánh răng, rửa mặt, tắm rửa…
1.5.11 Điều trị rối loạn chức năng tình dục
1.5.12 Tái hội nhập vào cộng đồng và xã hội:
Đây là giai đoạn quan trọng giúp giải quyết được vấn đề tâm lý cho ngườibệnh, mặt khác làm giảm bớt sự phụ thuộc và gia đình, xã hội Hướng nghiệp chongười bệnh để khi về với gia đình và cộng đồng họ tìm được việc làm thích hợp để
tự nuôi sống bản thân
1.6 Các nghiên cứu liên quan
1.6.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
1.6.1.1 Một số nghiên cứu liên quan đến thực trạng chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương cột sống
- PH Smith và RM Decter (2015) sử dụng công cụ đánh giá chất lượng cuộcsống (FIQL) để xác định mức độ ảnh hưởng của rò phân ngoài ý muốn đến chấtlượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống Điểm chất lượng cuộc sống(FIQL) được thể hiện ở 4 lĩnh vực: cách sống, cách ứng phó, sự buồn chán/tự nhậnthức hay sự xấu hổ Bộ câu hỏi được phát trước và sau phẫu thuật Sử dụng T-test
để so sánh trước và sau phẫu thuật Kết quả cho thấy từ 2003-2010, nghiên cứuđược thực hiện trên 17 bệnh nhân TTTS, bao gồm 10 bệnh nhân liệt 2 chân và 7 BNliệt tứ chi có thời gian trung bình là 33 năm sau phẫu thuật [36]
- V Bochkezanian, J Raymond, de Oliveira và cộng sự (2015) dùng kết hợpbài tập aerobic và những bài tập tăng sức mạnh theo vòng tròn đối với bệnh nhân
Trang 18TTTS Chất lượng sống được đánh giá thông qua khả năng độc lập với việc sử dụngthang PEDro; nghiên cứu thực nghiệm bởi hai nhà nghiên cứu khác nhau Kết quả:Nghiên cứu phân tích 7981 bệnh nhân, trong đó 9 thử nghiệm đạt tiêu chuẩn lựachọn Từ 9 thử nghiệm trên, 7 cho kết quả của việc tập aerobic, và 2 trong số đócho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê 5 nghiên cứu cho kết quả tăng sức mạnh
cơ, 4 trong số đó có kết quả có ý nghĩa thống kê 2 nghiên cứu khác xem xét chấtlượng cuộc sống và 1 trong 2 nghiên cứu cho thấy sự khác nhau có ý nghĩa giữa cácnhóm [41]
- D M Cushman, K Thomas, D Mukherjee (2015) đã sử dụng bản câu hỏiđiều tra của các bác sĩ PM&R và EM Người tham gia nghiên cứu là các bác sĩ cóchứng chỉ thuộc Hiệp hội Phục hồi chức năng Mỹ và giảng viên tại các trường đạihọc Y khoa của Mỹ và Canada Nghiên cứu nhằm đánh giá các khía cạnh trong chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân TTTS bao gồm hoạt động giải trí, quan hệ xã hội,hạnh phúc, công việc có ý nghĩa, đời sống tình dục và chất lượng sống nói chung.Kết quả cho thấy trong tổng số 91 bác sĩ cấp cứu và 89 bác sĩ phục hồi chức năngđược hỏi, nhiều bác sĩ phục hồi chức năng hơn so với bác sĩ cấp cứu cho rằng bệnhnhân sẽ có chất lượng cuộc sống tốt hơn không kể đến mức độ chấn thương haykhía cạnh cuộc sống nào được nói đến (P < 01) Bác sĩ nữ, không kể đến chuyênngành, chọn mức thấp hơn cho câu hỏi liệu bệnh nhân có muốn kết thúc cuộc sốngnếu bị chấn thương cột sống không (P = 0.03) Cả hai nhóm bác sĩ đều có xu hướngkhông đồng ý với nhận định mức độ chấn thương thấp hơn thì cho chất lượng cuộcsống cao hơn [18]
- Kelly E Ravenek, Michael J (2012) cho ra một nghiên cứu tổng hợp sửdụng dữ liệu từ PubMed và CINAHL để đánh giá các nghiên cứu sử dụng công cụ
đo chất lượng cuộc sống và đánh giá hiệu quả của hoạt động thể chất hay sử dụnghoạt động thể chất để xác định mối liên hệ giữa hoạt động thể chất và chất lượngcuộc sống Kết quả cho thấy 13 bài báo đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn Trong số đó, 9công cụ đo chất lượng sống được sử dụng: 2 thước đo khách quan là Shlort Form -
36 [SF-36] và QWB ) và 7 thước đo chủ quan (Tự đánh giá chất lượng sống[PQoL], Thang điểm thỏa mãn cuộc sống [SWLS], Chỉ số chất lượng cuộc sống của
Trang 19bệnh nhân TTTS - phiên bản III, Thang thỏa mãn cuộc sống [LISAT], Phản hồi chấtlượng cuộc sống, Hồ sơ chất lượng cuộc sống: Phiên bản cho người khuyết tật thểchất và giác quan [QOLP-PSD] và Chất lượng cuộc sống theo đánh giá chủ quan[SQOL]) Bảng tự đánh giá chất lượng cuộc sống (PQoL) là công cụ được dùng phổbiến nhất (trong 4 nghiên cứu) và được sử dụng ở 2 trong 3 thử nghiệm ngẫu nhiên
có đối chứng 12 trên 13 nghiên cứu đánh giá tích cực ảnh hưởng hoạt động thể chấtvới chất lượng cuộc sống [31]
- Nghiên cứu phân tích các công cụ cho thông tin về chất lượng cuộc sốngliên quan đến sức khỏe (HRQoL), bao gồm Bản điều tra ngắn (Short- form 36 (SF-36)), Bản điều tra ngắn 36 dành cho cựu chiến binh (SF-36V), Bản điều tra ngắn12(SF-12), Bản điều tra ngắn 6 dành cho người khuyết tật (SF-6D), Hồ sơ ảnhhưởng của bệnh thật (SIP-68), Bảng tự đánh giá chất lượng cuộc sống (QWB-SA),Qualiveen và Công cụ bệnh nhân tự đánh giá ảnh hưởng của co cứng (PRISM).Trong số 22 bài báo với 8 công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sứckhỏe của bệnh nhân TTTS cho thấy bệnh nhân TTTS có chất lượng cuộc sống kémhơn nhiều so với dân số nói chung, đặc biệt là về thể chất [45]
1.6.1.2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống
- Akkoc, M Ersoz và N Yıldız (2013) nghiên cứu các bệnh nhân TTTS ítnhất 6 tháng sau chấn thương (n = 195, 74.4% nam) Các bệnh nhân trên được chiavào 5 nhóm: tiểu tiện bình thường, tiểu tiện có hỗ trợ, bệnh nhân tự thông tiểu ngắtquãng , thông tiểu ngắt quãng do người khác trợ giúp và thông tiểu lưu Bảng điềutra câu hỏi King được sử dụng để đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân Kết quả
là các nhóm bệnh nhân quản lý bàng quang giống nhau về tuổi, thời gian sau chấnthương, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và nghề nghiệp Không có sự khácbiệt nào về sức khỏe nói chung, mối quan hệ cá nhân, điểm giấc ngủ/năng lượng.Trong khi nhóm tiểu tiện bình thường có điểm số thấp nhất (nghĩa là chất lượngsống cao nhất), nhóm có người giúp đặt thông tiểu có chất lượng sống tồi nhất Khicác bệnh nhân được phân nhóm theo tần suất rỉ tiểu hay theo Thang điểm khuyết tậtcủa hiệp hội chấn thương tủy sống Mỹ, không có sự khác biệt nào giữa 2 nhóm
Trang 20Nhóm bệnh nhân liệt tứ chi và liệt hai chân không có sự khác biệt theo Bảng điềutra sức khỏe King [29]
- Trong nghiên cứu tổng hợp y văn của van Leeuwen, S Kraaijeveld, ELindeman và cộng sự (2012), một số hệ thống dữ liệu trưc tuyến đã tham khảoPubMed, Embase và PsychInfo Tiêu chuẩn lựa chọn các bài báo là các bài báo phảiphân tích định lượng mối quan hệ giữa các biến độc lập liên quan đến chất lượngsống và các yếu tố tâm lý như các biến phụ thuộc Nghiên cứu tổng hợp này chỉxem xét các thử nghiệm lâm sàng bằng tiếng Anh Chất lượng phương pháp nghiêncứu cũng được đánh giá Kết quả cho thấy có 48 nghiên cứu đáp ứng đủ tiêu chuẩnlựa chọn Chất lượng cuộc sống được cho là liên quan đến mức độ kiểm soát cuộcsống, nhận thức giá trị bản thân, mục đích sống và hy vọng Những tác động tiêucực và nhận thức sau chấn thương liên quan đến chất lượng sống thấp hơn Không
có bằng chứng nào được tìm thấy về mối liên quan giữa phương pháp giải quyết vấn
đề và chất lượng sống [14]
- E Ataoglu, T Tiftik, M Kara, và cộng sự (2013) nghiên cứu tổng cộng 140bệnh nhân TTTS (104 nam và 36 nữ) đã được điều trị nội trú phục hồi chức năng.Một bảng câu hỏi gồm nhiều biến số về y tế đã được phát Điểm số tự chủ vận độngđược dùng để đánh giá hoạt động hàng ngày, Bảng hỏi kết quả y tế dạng ngắn 36mục (SF-36) để đánh giá chất lượng cuộc sống và Bảng liệt kê tình trạng buồn chán(BDI) Bệnh nhân sau đó được chia thành nhóm đau mãn tính (Nhóm 1) và nhómkhông bị đau (Nhóm 2); hai nhóm sẽ được so sánh dựa trên các biến về kinh tế xãhội và y tế Kết quả cho thấy nguyên nhân phổ biến nhất của TTTS là ngã (35.0%)
và tai nạn xe cộ (34.2%) 78% bệnh nhân bị đau mãn tính Bệnh nhân có việc làmtrước khi bị thương và bệnh nhân tổn thương hoàn toàn có điểm xếp hạng thấp hơn(p < 0.05) Bệnh nhân TTTS bị đau mãn tính có tỉ lệ buồn chán và điểm BDI caohơn tương quan với một vài những lĩnh vực trong bảng SF-36 (sức khỏe nói chung,sức sống, hoạt động xã hội và sức khỏe tinh thần) Nhóm 1 có điểm đau thể chất vàhoạt động xã hội thấp hơn nhóm 2 (P < 0.05) [22]
- Trong nghiên cứu của N A Erosa1, J.W Berry, T.R Elliott (2014), mộtkhung lý thuyết được kiểm tra về ảnh hưởng của khuyết tật chức năng, sự hài lòng
Trang 21trong cuộc sống gia đình và tình trạng đau khi tham gia hoạt động đối với chấtlượng sống Kết quả cho thấy khuyết tật chức năng lớn và tình trạng đau làm giảm
sự tham gia hoạt động, sự tham gia hoạt động có giá trị tiên đoán với chất lượngsống Sự hài lòng trong cuộc sống gia đình có ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượngsống [35]
- WB Mortenson, L Noreau và WC Miller (2010) nghiên cứu một nhómbệnh nhân TTTS Số liệu được thu thập thông qua chỉ số chất lượng sống (QLI) 197bệnh nhân được điều tra, nhưng do bỏ nghiên cứu hay không tham gia đầy đủ, chỉcòn lại 93 trường hợp Chất lượng sống được điều tra tại thời điểm 3 và 15 thángsau khi hết điều trị phục hồi chức năng Kết quả là điểm trung bình chất lượng sốngkhông khác nhau ở thời điểm 3 và 15 tháng (p < 0.85) Chỉ số chính dự đoán chấtlượng sống ở thời điểm 3 tháng là tình trạng sức khỏe và trạng thái tâm lý Chỉ sốchính dự đoán chất lượng sống ở thời điểm 15 tháng là mức độ chất lượng sống ởthời ddierm 3 tháng, tình trạng sức khỏe và sự hỗ trợ của gia đình Ở cả 2 thời điểmtrên, những yếu tố cá nhân giải thích được gần hết các kết quả trong khi đó sự thamgia hoạt động và yếu tố môi trường có vai trò ít quan trọng hơn [42]
1.6.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
- Đỗ Đào Vũ (2006) Tiến hành nghiên cứu đánh giá kết quả phục hồi chứcnăng vận động cảm giác theo ASIA ở bệnh nhân chấn thương cột sống cổ và một sốyếu tố ảnh hưởng đến kết quả phục hồi chức năng Phương pháp nghiên cứu: thửnghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng; Kết quả cho thấy: có sự cải thiện bậc cơtheo ASIA sau 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng lần lượt là 39%, 72% và 72% Khả năng
di chuyển tốt và khá là 16,67% và 44,44%, còn lại 38,89% di chuyển kém so vớinhóm chứng di chuyển kém là 50% Kết quả cũng cho thấy nhóm bệnh nhân trẻ tuổiphục hồi chức năng tốt hơn bệnh nhân lớn tuổi, sơ cứu ban đầu đúng tỷ lệ phục hồichức năng tốt hơn sơ cứu sai, tổn thương tủy cổ cao phục hồi kém hơn tổn thươngtủy cổ thấp [7]
- Cầm Bá Thưc (2008) Nghiên cứu thực trạng bệnh nhân liệt hai chi dưới dochấn thương tủy sống tại cộng đồng và đề xuất một số giải pháp can thiệp Nghiêncứu 80 BN liệt 2 chi dưới do chấn thương tủy sống, sống tại cộng đồng Kết quả:
Trang 22liệt tủy hoàn toàn ASIA A là 52,5%; không hoàn toàn ASIA B là 5%; ASIA C là27,5%; ASIA D là 15% Khuyết tật rất nặng 12,5%; nặng 72,5%; trung bình 15%.88,8% không làm được việc gì; 11,2% chỉ làm được việc nhẹ; 77,5% thất nghiệp;12,5% bỏ học; 7,5% phải nghỉ việc; 2,5% đang hưởng lương hưu Trầm cảm 25%,
lo sợ 35%; căng thẳng 37,5% Hiệu quả phục hồi chức năng: cải thiện mức độkhuyết tật theo thang điểm Rankin; cải thiện khả năng tự chăm sóc và di chuyểntheo chỉ số Barthel; cải thiện mức độ tham gia công việc gia đình và cộng đồng theochỉ số Frenchay; cải thiện của các biến chứng và thương tật thứ cấp [4]
- Nguyễn Phương Sinh (2012) Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng hôhấp cho bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tuỷ bằng phương pháp tập thở tựđiều khiển, trên 61 bệnh nhân sau chấn thương tủy sống từ mức D6 trở lên Phươngpháp nghiên cứu cắt ngang mô tả và thử nghiệm lâm sàng so sánh trước sau Kếtquả cho thấy có sự cải thiện đáng kể độ giãn nở lồng ngực, các thông số chức năng
hô hấp sau 3 tháng, 6 tháng có ý nghĩa thống kế (p<0,05) [3]
- Đỗ Đào Vũ (2014) Đánh giá kết quả phục hồi chức năng bàng quang thầnkinh sau chấn thương tủy sống Phương pháp tiến cứu can thiệp ngẫu nhiên có đốichứng trên 68 BN có bàng quang thần kinh tăng hoạt do chấn thương tủy sống Nhữngbệnh nhân này được hỏi bệnh, khám lâm sàng, cận lâm sàng, thăm dò niệu động học đểchẩn đoán xác định và điều trị bằng hai phương pháp: nhóm nghiên cứu tiêm Botox
200 đơn vị vào thành bàng quang, nhóm chứng uống Driptan 20mg/24 giờ Bệnh nhânđược theo dõi sau 4 tuần, 12 tuần và 24 tuần tại Trung tâm Phục hồi chức năng Bệnhviện Bạch Mai Kết quả nghiên cứu cho thấy Chất lượng sống, mức độ hài lòng củabệnh nhân có sự cải thiện tại các thời điểm tái khám so với trước điều trị (p<0,05).Nhóm nghiên cứu cải thiện tốt hơn hẳn so với nhóm chứng (UDI-6 cải thiện 2-3điểm; IqoL cải thiện 20 điểm; VAS cải thiện 1-2 điểm) (p<0,05) [8]
Qua tìm hiểu các nghiên cứu trong nước và ngoài nước, chúng tôi nhận thấyvấn đề chất lượng cuộc sống và nhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhân sauchấn thương tủy sống dần được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, số lượng cácnghiên cứu còn hạn chế, đặc biệt các nghiên cứu trong nước trên đối tượng sau chấnthương tủy sống Hầu hết, các nghiên cứu chỉ mới đánh giá hiệu quả phục hồi chức
Trang 23năng vận động, cảm giác, rối loạn chức năng bàng quang, hô hấp mà chưa tìm hiểunhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhân cũng như thực trạng chất lượng cuộcsống của đối tượng bệnh nhân nhân này như thế nào Đối tượng bệnh nhân sau chấnthương tủy sống có nhiều thay đổi về chức năng vận động, cảm giác, khả năng hộinhập trở lại xã hội và công việc là khó khăn, các biến chứng rất đa dạng, nghiêmtrọng đã tác động rất lớn đến đời sống của họ sau khi bị bệnh Với mong muốn gópphần vào các nghiên cứu về đối tượng bệnh nhân chấn thương tủy sống, chúng tôithực hiện nghiên cứu này để từ đó sử dụng kết quả thu được giúp tìm ra giải pháptăng cường chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống, đánh giá nhucầu thực tế phục hồi chức năng của đối tượng này, cung cấp thêm thông tin và gópphần mô tả bức tranh thực tế của bệnh nhân cũng như các nhà chuyên môn để cảithiện chất lượng sống và đáp ứng nhu cầu phục hồi chức năng cho nhóm đối tượngbệnh nhân chấn thương tủy sống ngày một gia tăng.
1.7 Khung lý thuyết
Trên cơ sở tìm hiểu các nghiên cứu đã làm trong nước và ngoài nước về chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống cũng như tham khảo cácnghiên cứu, tài liệu về chấn thương tủy sống nói chung, chúng tôi tiến hành xâydựng khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu [4],[7],[40]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu thực trạng chất lượngcuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và xác định một số yếu tố liênquan Các yếu tố này được chia ra thành 03 nhóm: nhóm 1 yếu tố cá nhân, nhóm 2môi trường xã hội – gia đình, nhóm 3 gồm dịch vụ điều trị phục hồi chức năng tổnthương tủy sống
Trang 24Nhân khẩu học
-Tuổi, giới, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn
nhân, điệu kiên kinh tế
- Kiến thức về tổn thương tủy sống
- Các hậu quả, biến chứng sau chấn thương tủy
sống
- Khả năng di chuyển trong phòng và ra bồn cầu
- Chức năng hô hấp, tình trạng rối loạn cơ tròn
- Khả năng tự ăn uống và vệ sinh cá nhân trong
sinh hoạt hàng ngày
- Mức độ đau bệnh nhân phải chịu đựng (0-10)
Yếu tố cá nhân
Hỗ trợ gia đình, xã hội
- Hoàn cảnh sống
- Người chăm sóc
- Khả năng di chuyển trong nhà và ra ngoài nhà
- Hỗ trợ của chương trình tổn thương tủy sống
tổ chức phi chính phủ
- Khả năng nhận thức của cộng đồng
Dịch vụ điều trị PHCN tổn thương tủy sống
-Tư vấn điều trị của Cán bộ y tế
- Khả năng tiếp cận khám, điều trị PHCN: hiểu
biết của người bệnh, hoảng cách từ nhà đến
viện, sự hợp tác giữa các chuyên khoa, giữa các
bệnh viện
-Sự hài lòng của bệnh nhân về cơ sở vật chất
của bệnh viện và chuyên môn của cán bộ y tế
-Tinh thần thái độ của cán bộ y tế
Dịch vụ y tế
Yếu tố môi trường
và xã hội
Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau tổn thương tủy sống
Trang 251.8 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
1.8.2 Các hoạt động chuyên môn
Hiện tại trung tâm có 78 giường điều trị nội trú trong đó 28 giường cho bệnhnhân tổn thương tủy sống, 15 giường cho bệnh nhân tai biến mạch máu não, 35giường cho bệnh nhân các loại khác Trung tâm có các đơn vị kỹ thuật chuyênngành gồm: vật lý trị liệu, vận động trị liệu, hoạt động trị liệu, âm ngữ trị liệu,xưởng chỉnh hình, phục hồi chức năng tiết niệu - sinh dục, điều dưỡng phục hồichức năng Trung tâm là cơ sở Phục hồi chức năng duy nhất của Việt Nam hiện nayhoạt động chuyên môn theo nhóm kỹ thuật Phục hồi “Rehabilitation team” với đầy
đủ các thành viên, đó là: Bác sỹ chuyên khoa Phục hồi chức năng, điều dưỡng Phụchồi chức năng, kỹ thuật viên Vật lý trị liệu, kỹ thuật viên Hoạt động trị liệu, kỹ thuậtviên chỉnh hình, kỹ thuật viên Âm ngữ trị liệu Mỗi thành viên có chức năng, nhiệm
vụ và kỹ thuật khác nhau nhưng luôn gắn bó chặt chẽ không thể tách rời trong hoạtđộng phục hổi chức năng nhằm cải thiện các chức năng của nguời bệnh một cáchtoàn diện Tất cả các BN và người nhà đều được hướng dẫn các kỹ năng chăm sóc,tập luyện trong quá trình nằm viện tại Trung tâm và sau khi ra viện để phòng ngừacác thương tật thứ cấp và các biến chứng có thể xảy ra giúp tạo thuận cho quá trìnhtái hòa nhập cuộc sống với cộng đồng
Số bệnh nhân điều trị và Phục hồi chức năng hằng năm theo hướng chuyênkhoa hóa tại Trung tâm luôn đạt và vượt chỉ tiêu: năm 2007 bệnh nhân nội trú đạt
Trang 26181% và bệnh nhân ngoại trú đạt 131% Năm 2008 bệnh nhân nội trú đạt 159% vàbệnh nhân ngoại trú đạt 102% Năm 2009 bệnh nhân nội trú đạt 145% và bệnh nhânngoại trú đạt 105%, công suất sử dụng giường bệnh đạt 145% Năm 2010 bệnhnhân nội trú đạt 105% và bệnh nhân ngoại trú đạt 110% Đặc biệt số lượng bệnhnhân tổn thương tủy sống được phục hồi chức năng tại trung tâm tăng đều qua cácnăm Theo thống kê từ 2008 đến 2010 có trên 550 bệnh nhân sau chấn thương đãđiều trị phục hồi chức năng tại trung tâm [3].
1.8.3 Công tác đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học
Hầu hết các bác sỹ và kỹ thuật viên của trung tâm đã được đào tạo nâng cao,tham quan trao đổi kinh nghiệm ở nước ngoài như Hà Lan, Pháp, Bỉ, Luxembourg,Italya, Úc, Nhật Bản, Israel, Thái Lan, Ấn độ, Malaysia, Nepal Trung tâm đã đăngcai tổ chức hội nghị Quốc tế về chăm sóc và Phục hồi chức năng bệnh nhân Tổnthương tủy sống năm 2008 với hơn 400 đại biểu trong đó có 62 đại biểu nước ngoài
từ 22 quốc gia trên thế giới tham dự Trung tâm là cơ sở thực hành của Đại học Y
Hà Nội, Đại học Y Tế Công cộng, Đại học Kỹ thuật Y Tế Hải Dương Cùng với bộmôn Phục hồi chức năng Đại học Y Hà Nội đào tạo bác sỹ chuyên khoa địnhhướng, chuyên khoa cấp I, cấp II, bác sỹ nội trú, thạc sỹ, tiến sỹ về Phục hồi chứcnăng
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân chấn thương tủy sống đang điều trị tại trung tâm phục hồi chứcnăng bệnh viện Bạch Mai
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân có thể hợp tác được với nhân viên y tế
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những bệnh nhân sau chấn thương tủy sống vào viện điệu trị phục hồi chứcnăng từ lần thứ 2 trở đi
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu địnhlượng và nghiên cứu định tính
2.2.2 Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu
2.2.2.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu cho nghiên cứu được tính dựa theo công thức:
Trang 28Thay các giá trị trên ta tính được cỡ mẫu n = 100 Dự đoán 10% đối tượngnghiên cứu từ chối tham gia ta tính được cỡ mẫu n = 110 người
2.2.2.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
Chọn mẫu có chủ đích phỏng vấn sâu: 01 lãnh đạo trung tâm phụ trách đơn
vị tủy sống, 03 người nhà chăm sóc bệnh nhân
2.2.3 Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2016 đến tháng 07/2016
2.2.4 Địa điểm nghiên cứu
- Trung tâm Phục hồi chức năng bệnh viện Bạch Mai
2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin
Bệnh án nghiên cứu
Thu thập các thông tin chung của bệnh nhân (tuổi, giới tính, trình độ học vấn,nghề nghiệp trước khi bệnh nhân mắc bệnh)
2.2.5.1 Nghiên cứu định lượng
Công cụ thu thập số liệu SCIM
Sử dụng bộ câu hỏi đánh khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thương tủysống (SCIM) đã được đưa vào quy trình của ngành và đang được sử dụng thườngquy tại Trung tâm Phục hồi chức năng, bệnh viện Bạch Mai
Người điều tra là cán bộ y tế (học viên) được tập huấn sử dụng thành thạo bộcông cụ SCIM
Cách tiến hành: Phỏng vấn người bệnh qua 16 câu hỏi liên quan đến khảnăng độc lập Phỏng vấn người bệnh về các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của bệnhnhân theo 4 câu hỏi về các hoạt động tự chăm sóc: ăn uống (0-4 điểm), vệ sinh tắmrửa thân trên và thân dưới (0-3 điểm), mặc quần - áo (0-3 điểm), chăm sóc bản thânnhư vệ sinh vùng đầu mặt (0-4 điểm) Phỏng vấn bệnh nhân 4 câu hỏi liên quan đếnrối loạn chức năng hô hấp, chức năng đại tiểu tiện: hô hấp chia 6 mức độ (0-10điểm), rối loạn tiểu tiện chia làm 5 mức độ (0-15 điểm), rối loạn chức năng đại tiênchia 3 mức (0-5-10 điểm), tự đi vệ sinh được ngoài bồn cầu chia 6 mức (0-5 điểm).Phỏng vấn bệnh nhân về khả năng di chuyển trong phòng và tại bồn cầu: khả năng
di chuyển trên giường để phòng ngừa loét do tỳ đè chia 7 mức độ từ (0-6 điểm), di
Trang 29chuyển từ giường ra xe lăn và ngược lại chia 3 mức độ (0-2 điểm), di chuyển từ xelăn ra bồn cầu, bồn tắm và ngược lại chia làm 3 mức độ (0-2 điểm) Phỏng vấn bệnhnhân về khả năng di chuyển ở trong nhà và ngoài nhà: di chuyển trong nhà chia 9mức độ từ (0-8 điểm), di chuyển với khoảng cách vừa phải 10-100 mét được chialàm 9 mức (0-8 điểm), di chuyển bên ngoài nhà (trên 100 mét) được chia làm 9 mức
độ (từ 0-8 điểm), khả năng đi thang bộ chia làm 4 mức (0-3 điểm), di chuyển từ xelăn vào ô tô (xe máy) và ngược lại được chia làm 4 mức độ (0-3 điểm) Điểm tối đa
là 100 điểm bệnh nhân độc lập tốt Điểm càng thấp tương ứng với khả năng độc lậpcủa bệnh nhân càng thấp và người chăm sóc phải phục vụ bệnh nhân nhiều hơn
Công cụ thu thập số liệu mức độ đau VAS
+ Cấu tạo thước VAS
Một mặt không số dành cho bệnh nhân biểu hiện tình trạng từ không đau đếnđau tồi tệ nhất Một mặt có số dành cho người nghiên cứu đọc gồm các chữ số từ 0đến 10 Thanh trượt có thể di chuyển để chọn mức độ đau
+ Cách đánh giá
Quay mặt không số của thước VAS về phía bệnh nhân; một đầu tương ứngvới mức độ không đau, một đầu tương ứng với mức độ đau tồi tệ nhất bệnh nhân cóthể tưởng tượng được BN sẽ so sánh mức độ đau của mình và kéo thanh trượt từđầu không đau đến vị trí tương ứng với mức độ đau của mình trên băng trống Điểmbệnh nhân đánh dấu sẽ tương ứng với điểm đau trên mặt kia của thước do ngườiđánh giá đọc
Điểm đau VAS được phân loại mức độ theo Salley L Collens và cộng sự [15].+ VAS = 0 điểm: không đau
+ VAS ≤ 5 điểm: Đau nhẹ
+ VAS từ 6- 8 điểm: Đau trung bình
+ VAS ≥ 9 điểm: Đau nhiều
Tương ứng với mức độ đau nhiều thì chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng càng nhiều
2.2.5.2 Nghiên cứu định tính
- Tiến hành phỏng vấn sâu để tìm hiều một số yếu tố liên quan đến chất lươngsống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống
- Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn
Trang 302.3 Xác định chỉ số, biến số nghiên cứu
2.3.1 Biến số nghiên cứu về đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
TT Biến số nghiên
Phương pháp thu thập
A Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
1 Giới tính Là giới nam hay nữ Nhị phân Bộ câu hỏi2
Tuổi Là tuổi dương lịch, tính bằng
năm 2011 trừ đi năm sinh
Liên tục Bộ câu hỏi
3
Tình trạng hôn
nhân
Là tình trạng kết hôn/chưa kếtĐang có vợ hoặc chồng/ hôn /
ly hôn, ly thân, góa bụa hayđộc thân
Định danh Bộ câu hỏi
6
Điều kiện kinh
tế
BN có đủ khả năng chi phícho đợt điều trị tại bệnh viện(khá giả, đủ ăn/cận nghèo vànghèo)
Thứ hạng Bộ câu hỏi8
Vị trí tổn
thương
Liệt tứ chi, liệt hai chân xác địnhtổn thương trên với dưới D1 (liệt
tứ chi/liệt hai chân)
Nhị phân Bộ câu hỏi
TN lao động, TN thể thao,khác)
Định danh Bộ câu hỏi
Định lượng
Phỏng vấnsâu
2.3.2 Biến số nghiên cứu về khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thương tủy sống (SCIM)
Trang 31TT Biến số
Phương pháp thu thập
1 Ăn Là sự cắt, mở hộp, đưa thức ăn lên
miệng, cầm tách có nước Thứ hạng Bộ câu hỏi
2 Tắm Là sự vệ sinh thân thể gồm phân
trên và thân dưới Thứ hạng Bộ câu hỏi
3 Mặc quần áo Là sự chuẩn bị quần áo, mặc vào, cởi
ra gồm phân trên và thân dưới Thứ hạng Bộ câu hỏi
4 Vệ sinh vùng
đầu mặt
Là sự rửa tay và mặt, đánh răng,chải đầu, cạo râu, trang điểm Thứ hạng Bộ câu hỏi
5 Hô hấp Là khả năng tự thở của bệnh nhân
dưới sự hỗ trợ hoặc không cần hỗtrợ của ống nội khí quản
8 Đi vệ sinh Là sự vệ sinh vùng tầng sinh môn,
điều chỉnh quần áo trước/ sau, dùngbăng vệ sinh hoặc tã lót
10 Dịch chuyển:
giường ra xe
lăn, ngược lại
Là cách khóa xe lăn, nâng đồ gácchân, gỡ và điều chỉnh chỗ để tay,dịch chuyển, nhấc chân lên
Thứ hạng Bộ câu hỏi
11 Dịch chuyển:
Xe lăn – bồn
cầu – bồn
Là các cách sử dụng xe lăn: nếu xe lăn
có bô – dịch chuyển ra – vào xe lăn;
nếu xe lăn thường - khóa xe lăn, nâng
Thứ hạng Bộ câu hỏi
Trang 32Là sự đi lại của bệnh nhân dưới sự
hỗ trợ hoặc không có hỗ trợ trongkhoảng từ 10 – 100m
Thứ hạng Bộ câu hỏi
14 Di chuyển
bên ngoài
(hơn 100m)
Là sự đi lại của bệnh nhân dưới sự
hỗ trợ hoặc không có hỗ trợ trongkhoảng hơn 100m
Thứ hạng Bộ câu hỏi
15 Đi thang bộ Là khả năng tự leo lên hoặc xuống
thang được của bệnh nhân Thứ hạng Bộ câu hỏi
16 Dịch chuyển :
xe lăn – xe hơi
(xe máy)
Là sự dịch chuyển đến gần xe hơi,khóa xe lăn, gỡ chỗ để tay và chân,
chuyển vào và ra khỏi xe hơi, đem xelăn vào và ra khỏi xe hơi
Thứ hạng Bộ câu hỏi