Chỉ có thông qua ATP, tế bào mới sử dụng được thế năng hóa học cất giấu trong cấu trúc phân tử hữu cơ.. Cụ thể khi một phân tử glucose phân giải thành CO2 và nước, thì có 686kcal/mol đượ
Trang 1Adenosine triphosphate
ATP là phân tử mang năng lượng, có chức
năng vận chuyển năng lượng đến các nơi cần thiết cho tế bào sử dụng Chỉ có thông qua ATP,
tế bào mới sử dụng được thế năng hóa học cất giấu trong cấu trúc phân tử hữu cơ Cụ thể khi một phân tử glucose phân giải thành CO2 và
nước, thì có 686kcal/mol được giải phóng Ở ống nghiệm, năng lượng đó tỏa đi dưới dạng
nhiệt năng mà chỉ có máy hơi nước mới có khả năng chuyển nhiệt thành công cơ học, còn trong
tế bào thì không có khả năng đó
Trang 2Adenosine triphosphate
Adenosine triphosphate
Tổng quan
Tên hệ thống ?
Tên khác ?
Công thức phân tử ?
SMILES ?
Phân tử gam ?,?? g/mol
Bề ngoài ?
Số CAS [?-?-?]
Thuộc tính
Tỷ trọng và pha ? g/cm³, ?
Độ hòa tan trong nước ? g/100 ml (?°C) Điểm nóng chảy ?°C (? K)
Điểm sôi ?°C (? K)
pKa ?
pKb ?
Độ quay riêng [α]D ?°
Độ nhớt ? cP ở ?°C
Cấu trúc
Hình dạng phân tử ?
Trang 3Tọa độ hình học ?
Cấu trúc tinh thể ?
Mô men lưỡng cực ? D
Nguy hiểm
MSDS MSDS ngoài
Các nguy hiểm chính ?
NFPA 704
Điểm bắt lửa ?°C
Chỉ dẫn R/S R: ?
S: ?
Số RTECS ?
Trang dữ liệu bổ sung
Cấu trúc và
thuộc tính n, εr, v.v
Dữ liệu nhiệt
động lực học
Pha Rắn, lỏng, khí
Dữ liệu phổ UV, IR, NMR, MS
Các hợp chất liên quan
Các anion ?
Các cation ?
Liên quan ? ?
Trang 4Hợp chất liên quan ?
Ngoại trừ có thông báo khác, dữ liệu đưa ra
cho hóa chất ở điều kiện chuẩn (25 °C, 100 kPa)
Tham chiếu và phủ nhận chung
Hóa năng được giải phóng trong tế bào sẽ được một cơ chế chuyển dịch thế năng hóa học,
truyền dần từ phân tử này sang phân tử khác;
nghĩa là năng lượng mà một phân tử mất đi sẽ được chuyển dịch sang cấu trúc hóa học của một phân tử khác do đó không chuyển thành nhiệt
ATP tức adenosin triphosphat Phân tử này có 3 phần: một cấu trúc vòng có các nguyên tử C,H
và N được gọi là adenin; một phân tử đường 5 carbon là ribose và 3 nhóm phosphat kế tiếp
nhau nối vào chất đường Phân tử ATP phân
giải, nhả năng lượng như sau: với sự có mặt của nước, khi gãy liên kết giữa oxy với nguyên tử phospho (P) cuối cùng thì tách ra một phân tử phosphat vô cơ (Pi), còn lại là Adenosin
Diphosphat (ADP) và có 7kcal/mol được giải phóng
Trang 5Quá trình ngược lại tổng hợp ATP từ ADP và Pi cũng phải cung cấp cho ADP một lượng năng lượng 7Kcal/mol
Tính chất vật lý và hóa học
Phân tử ATP gồm adenosine - tạo ra từ một
vòng adenine và một đường ribose - và ba nhóm phosphate (nên gọi là triphosphate) Các nhóm phosphat, bắt đầu từ nhóm gần nhất với nhóm ribose, được gọi lần lượt là alpha (α), beta (β),
và gamma (γ) phosphat ATP tan tốt trong nước
và khá ổn định trong dung dịch có độ pH từ 6.8 đến 7.4, nhưng nhanh chóng bị thủy phân ở pH quá cao hoặc quá thấp Do đó, ATP được dự trữ tốt nhất dưới dạng muối khan
Phân tử ATP không ổn định trong nước không đệm và bị thủy phân thành ADP và phosphate
Lý do là liên kết giữa các phần tử phosphate còn lại trong ATP yếu hơn liên kết hydro giữa ADP
và nước Vì vậy, nếu ATP và ADP ở trong cân bằng hóa học trong nước, gần như toàn bộ ATP
sẽ dần chuyển thành ADP Một hệ thống hóa
Trang 6học ở xa khỏi cân bằng có chứa năng lượng tự
do Gibbs, và có khả năng sinh công Tế bào
sống giữ tỉ lệ ATP trên ADP ở mức 1010 lần
mức cân bằng, với nồng độ ATP cao gấp một nghìn lần nồng độ ADP Ở mức xa cân bằng như trên, khi bị thủy phân ATP giải phóng một lượng lớn năng lượng
ATP thường được gọi là "phân tử năng lượng cao" Tuy nhiên, cách gọi này dễ đánh lạc
hướng Như tất cả phản ứng hóa học đã đạt đến cân bằng, một hỗn hợp ATP và ADP đã đạt đến cân bằng ổn định trong nước sẽ không dẫn đến thêm thủy phân tịnh của ATP Nói chính xác hơn, ATP và nước giống như một hỗn hợp các chất phản ứng như xăng và chất oxi-hóa: cả hai phải có mặt mới có sự giải phóng năng lượng