1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lục bát và biến thể lục bát trong ca dao nam bộ

221 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu các phương diện hình thức thi luật của thể lục bát trong ca dao Nam Bộ, đặc biệt phần biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ, là một đề tài hứa hẹn nhiều phát hiện lý thú về sán

Trang 1

Phan Thị Thu Thảo

LỤC BÁT VÀ BIẾN THỂ LỤC BÁT

TRONG CA DAO NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI

Thành phố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 2

Phan Thị Thu Thảo

LỤC BÁT VÀ BIẾN THỂ LỤC BÁT

TRONG CA DAO NAM BỘ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 60 22 02 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THẾ TRUYỀN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Kết quả số liệu thống kê và nội dung trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong bất kì công trình nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

Người thực hiện Phan Thị Thu Thảo

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Luận văn được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân, còn có sự giúp

đỡ của quý thầy cô, anh chị đồng nghiệp và các bạn cùng khóa

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Nguyễn Thế Truyền, người đã hướng dẫn tôi trong nghiên cứu khoa học

Xin chân thành cám ơn quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và chỉ dẫn cho tôi ở lớp Cao học Ngôn ngữ Khóa 25, cám ơn Phòng Sau đại học và Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi thực hiện và bảo vệ luận văn

Sau cùng tôi cũng xin chân thành cám ơn gia đình đã động viên và cổ vũ cho tôi trong thời gian qua

Một lần nữa, tôi xin gởi tới tất cả quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và những người thân lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2016

Phan Thị Thu Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13

1.1 Lục bát và biến thể lục bát 13

1.1.1 Lục bát 13

1.1.2 Biến thể lục bát 21

1.2 Ca dao Nam Bộ 31

1.2.1 Khái niệm 31

1.2.2 Các kiểu loại ca dao Nam Bộ 32

1.2.3 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của ca dao Nam Bộ 33

1.2.4 Đóng góp của ca dao Nam Bộ trong kho tàng VHDG Việt Nam 35

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA THỂ LỤC BÁT TRONG CA DAO NAM BỘ 39

2.1 Khái quát về thể lục bát trong ca dao Nam Bộ 39

2.1.1 Vị trí của thể lục bát trong ca dao Nam Bộ 39

2.1.2 Quy mô tác phẩm 40

2.1.3 Mức độ phổ biến của biến thể lục bát 42

2.2 Vần trong lục bát ca dao Nam Bộ 44

2.2.1 Khái niệm vần chính, vần thông, vần ép, vần lặp và vần sai (lạc vận) 44

2.2.2 Việc sử dụng các loại vần trong lục bát ca dao Nam Bộ 48

2.3 Luật bằng trắc trong lục bát ca dao Nam Bộ 51

2.3.1 Đặc điểm chung 51

Trang 6

2.3.2 Phối thanh của lục bát Nam Bộ 52

2.4 Nhịp điệu của lục bát ca dao Nam Bộ 55

2.4.1 Khái niệm nhịp điệu 55

2.4.2 Các kiểu nhịp điệu của lục bát ca dao Nam Bộ 57

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CỦA BIẾN THỂ LỤC BÁT TRONG CA DAO NAM BỘ 69

3.1 Nhận xét chung về biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ 69

3.1.1 Biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ rất phong phú về số lượng và khá đa dạng về kiểu loại 69

3.1.2 Biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ thiên về biến thể số tiếng 71

3.1.3 Biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ thể hiện một giai đoạn biến chuyển đáng chú ý của thể lục bát trong thơ ca dân gian Việt Nam 72

3.2 Các kiểu biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ 73

3.2.1 Biến thể thanh điệu (luật bằng trắc) 73

3.2.2 Biến thể vần 75

3.2.3 Biến thể số tiếng 78

3.3 Nguyên nhân hình thành biến thể lục bát 84

3.3.1 Nguyên nhân về lịch sử 84

3.3.2 Nguyên nhân về khuynh hướng thẩm mỹ 85

3.3.3 Nguyên nhân về môi trường diễn xướng 87

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 7

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

2 ĐBCL Văn học dân gian Đồng bằng Cửu Long

3 NKLT Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh

4 NTB Ca dao Nam Trung Bộ

5 VNP Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam

6 16a Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tập 16

7 STT Số thứ tự

8 % Phần trăm

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.a Tỷ lệ thơ lục bát trong ca dao Nam Bộ 39 

Bảng 2.1.b Tỷ lệ thơ lục bát trong ca dao Nam Trung Bộ 39 

Bảng 2.1.c Tỷ lệ thơ lục bát trong ca dao Bắc Bộ (VNP) 39 

Bảng 2.1.d Tỷ lệ thơ lục bát trong ca dao Việt Nam 39 

Bảng 2.2.a Thống kê số lượng bài thơ theo độ dài trong lục bát ca dao Nam Bộ 41 

Bảng 2.2.b Thống kê số lượng bài thơ theo độ dài trong lục bát ca dao Nam Trung Bộ 41 

Bảng 2.2.c Thống kê số lượng bài thơ theo độ dài trong lục bát ca dao Bắc Bộ (VNP) 41 

Bảng 2.2.d Thống kê số lượng bài thơ theo độ dài trong lục bát ca dao Việt Nam 41 Bảng 2.3.a Tỷ lệ lục bát biến thể trong ca dao Nam Bộ 43 

Bảng 2.3.b Tỷ lệ lục bát biến thể trong ca dao Nam Trung Bộ 43 

Bảng 2.3.c Tỷ lệ lục bát biến thể trong ca dao Bắc Bộ (VNP) 43 

Bảng 2.3.d Tỷ lệ lục bát biến thể trong ca dao Việt Nam 43 

Bảng 2.4.a Phân tích các loại vần của lục bát ca dao Nam Bộ 49 

Bảng 2.4.b Phân tích các loại vần của lục bát ca dao Nam Trung Bộ 49 

Bảng 2.4.c Phân tích các loại vần của lục bát ca dao Bắc Bộ (VNP) 49 

Bảng 2.4.d Phân tích các loại vần của lục bát ca dao Việt Nam 49 

Bảng 2.5 Luật bằng trắc của thể lục bát 51 

Bảng 2.6 Mô hình lý tưởng về luật bằng trắc 52 

Bảng 2.7.a Phối thanh lý tưởng trong lục bát ca dao Nam Bộ 53 

Bảng 2.7.b Phối thanh lý tưởng trong lục bát ca dao Nam Trung Bộ 53 

Bảng 2.7.c Phối thanh lý tưởng trong lục bát ca dao Bắc Bộ (VNP) 53 

Bảng 2.7.d Phối thanh lý tưởng trong lục bát ca dao Việt Nam 53 

Bảng 2.8.a Phân tích nhịp của lục bát trong ca dao Nam Bộ 57 

Bảng 2.8.b Phân tích nhịp của lục bát trong ca dao Nam Trung Bộ 58 

Trang 9

Bảng 2.8.c Phân tích nhịp của lục bát trong ca dao Bắc Bộ (VNP) 58 

Bảng 2.8.d Phân tích nhịp của lục bát trong ca dao Việt Nam 58 

Bảng 3.1.a Số liệu thống kê biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ 70 

Bảng 3.1.b Số liệu thống kê biến thể lục bát trong ca dao Nam Trung Bộ 70 

Bảng 3.1.c Số liệu thống kê biến thể lục bát trong ca dao Bắc Bộ (VNP) 70 

Bảng 3.1.d Số liệu thống kê biến thể lục bát trong ca dao Việt Nam 71 

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình vần và luật bằng trắc của thể lục bát 14

Hình 1.2 Mô hình phối thanh lý tưởng của thể lục bát 17

Hình 1.3 Sơ đồ các loại biến thể lục bát 27

Hình 1.4 Ba bộ phận ca dao Nam Bộ 35

Hình 2.1 Biểu đồ so sánh tỷ lệ thơ lục bát trong ca dao 4 khu vực 40

Hình 2.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lục bát biến thể của ca dao 4 khu vực 44

Hình 2.3 Biểu đồ so sánh cơ cấu các loại vần của ca dao 4 khu vực 50

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ca dao là ngọn nguồn của thơ ca một nền văn học dân tộc Lục bát là thể thơ truyền thống đặc sắc của người Việt Theo Nguyễn Xuân Kính [33, tr.64] thì 95% ca dao Việt Nam được sáng tác theo thể lục bát Tìm hiểu về lục bát và biến thể lục bát trong ca dao là tìm hiểu một thể thơ căn bản nhất của thơ ca Việt Nam trong cái nôi ban đầu của nó Hướng nghiên cứu này giúp chúng ta phát hiện ra các đặc trưng thẩm mỹ của thể lục bát trong ca dao từ góc độ loại hình cũng như từ góc độ so sánh Từ trước đến nay, ở Việt Nam đã có một số bài viết

đi theo hướng nghiên cứu này nhưng chưa có công trình như chuyên luận hay luận văn, luận án thạc sĩ, tiến sĩ về nó

Nam Bộ là vùng đất mới về phía Nam của Tổ quốc có bề dày văn hóa 300 năm lịch sử với nhiều sắc thái riêng về thiên nhiên, phong tục, tập quán, tính cách con người, Ca dao và cùng với nó là thể lục bát trong ca dao Nam Bộ chắc chắn hứa hẹn nhiều sắc thái riêng về thi luật, phản ánh thế giới tâm hồn tình cảm phóng khoáng, bộc trực, ưa tự do, chuộng tình nghĩa, của người dân Nam Bộ Nghiên cứu các phương diện hình thức thi luật của thể lục bát trong ca dao Nam Bộ, đặc biệt phần biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ, là một đề tài hứa hẹn nhiều phát hiện lý thú về sáng tác thơ ca cũng như những vấn đề về văn hoá, thẩm mỹ

Về mặt ứng dụng dạy học, đề tài nghiên cứu này giúp giáo viên và học sinh ở trường PTTH nắm chắc các đặc điểm thi luật của thể lục bát và biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ Từ đó giúp họ có cách hiểu, cách nhận thức đúng đắn về hình thức và nội dung các phần dạy học liên quan trong nhà trường

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này để góp phần làm rõ những vấn đề chưa được nghiên cứu đầy đủ về lục bát và biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ cũng như nhằm nâng cao chất lượng của việc dạy học đề tài này trong trường PTTH

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nhằm tới ba mục đích nghiên cứu cơ bản sau đây:

2.1 Góp phần làm rõ khái niệm “biến thể lục bát” (hay còn gọi là “lục bát biến thể”) của thơ Việt Nam qua phân tích tư liệu thực tiễn phong phú, sinh động của ca dao Nam Bộ đối chiếu với ca dao Nam Trung Bộ, ca dao Bắc Bộ và

ca dao Việt Nam

2.2 Miêu tả các đặc điểm của lục bát chính thể và lục bát biến thể trong

ca dao Nam Bộ, từ đó giúp tìm hiểu các đặc trưng về văn hóa, văn học, thẩm

mỹ, thi luật, của người miền Nam

2.3 So sánh các đặc điểm của lục bát chính thể và lục bát biến thể trong

ca dao Nam Bộ với ca dao Nam Trung Bộ, ca dao Bắc Bộ và ca dao Việt Nam

để thấy nét riêng biệt, đặc sắc của thi ca dân gian miền Nam

3 Đối tượng nghiên cứu

Các đặc điểm thi luật của thể lục bát và biến thể lục bát trong ca dao Nam

Bộ

4 Phạm vi nghiên cứu

Do giới hạn thời gian, nên các phương diện thi luật được nghiên cứu trong

đề tài này chỉ trong phạm vi 5 vấn đề sau:

 Quy mô bài thơ

 Vần

 Luật bằng trắc

 Nhịp điệu

 Số tiếng (âm tiết) của dòng thơ

Những phương diện thi luật khác của thể lục bát như: bước thơ, cấu trúc câu thơ, kết cấu bài thơ, cấu tứ, … do khó khăn về tiêu chuẩn khảo sát hoặc về cách xử lý, nên chúng tôi đành phải gác lại

Trang 13

5 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay, ở Việt Nam đã có khá nhiều bài viết và một ít luận văn, luận án bàn về ngôn ngữ ca dao, về lục bát, biến thể lục bát nói chung và về lục bát, biến thể lục bát trong ca dao nói riêng Những công trình đó có thể phân thành 4 nhóm sau đây:

5.1.Những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và thi pháp ca dao

Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao; Bùi Mạnh Nhị (1999),

“Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao – dân ca trữ tình”; Trịnh Sâm (1999b), “Phương ngữ và ca dao dân ca Việt Nam”, Mai Ngọc Chừ (2009a), “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”

Đây là những công trình nghiên cứu có tính chất lý luận chung của đề tài này

Trong mảng nội dung này, bài viết của tác giả Mai Ngọc Chừ tuy ngắn nhưng liên quan nhiều nhất đến đề tài mà chúng tôi đang thực hiện Trong bài viết này, những đặc điểm cơ bản nhất của ngôn ngữ ca dao đã được tác giả vạch

ra như: “tính chất khẩu ngữ” (thêm bớt âm tiết ở những thể thơ truyền thống để diễn đạt đúng với lời nói thường ngày, dùng lớp đại từ nhân xưng khẩu ngữ) [7, tr.415], kết hợp nhuần nhuyễn “ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ hội thoại” [7, tr.416], ngôn ngữ ca dao là một thứ ngôn ngữ “truyền miệng bằng thơ” [7, tr.416]

Nhận xét về các kiểu vần trong ca dao, tác giả Mai Ngọc Chừ [7] nêu ra

một nhận định đáng chú ý: “Khác với thơ nói chung, vần trong ca dao chặt chẽ

đến mức tối đa Ở đó vần chính được thống trị gần như toàn bộ, do đó hiệu quả hòa âm của vần đạt đến mức lý tưởng” [7, tr.414] Tác giả đưa ra một con số

thống kê cụ thể (tuy ông không nói rõ phân tích trên nguồn tư liệu nào) về tỷ lệ vần chính trong ca dao: vần chính: 78%, vần thông: 21%, vần ép: 1% Trong khi tác giả văn học viết dùng vần chính nhiều nhất (trong 4 tác giả văn học viết mà ông thống kê) là Tố Hữu có tỷ lệ như sau: vần chính: 75%, vần thông: 23%, vần ép: 2%

Trang 14

5.2 Những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong ca dao Nam Bộ Gồm những tác giả sau: Bảo Định Giang [16], “Ca dao – dân ca Nam Bộ, những biểu hiện sắc thái địa phương”, Bùi Mạnh Nhị [42], “Một số đặc điểm của ca dao – dân ca Nam Bộ”; Nguyễn Thế Truyền [71] “Ngôn ngữ của người Nam Bộ trong ca dao dân ca”, Trần Minh Thương [69], “Cách nói của người miền Tây Nam Bộ qua ca dao”,…

Về mảng nội dung này, bài viết của tác giả Bùi Mạnh Nhị [43] là bài viết đưa ra những nhận định khái quát nhất, có tính chất định hướng suy nghĩ về hai vấn đề liên quan đến đề tài này là hình ảnh và ngôn ngữ của ca dao – dân ca Nam Bộ

Theo tác giả Bùi Mạnh Nhị thì “ca dao – dân ca Nam Bộ luôn tràn đầy

hình ảnh của thiên nhiên” [43, tr.78] và “hình ảnh ghe xuồng, kinh rạch xuất hiện với tần số rất cao”1 [43, tr.80] Hình ảnh trong ca dao – dân ca Nam Bộ, ngoài những hình ảnh cổ điển, mang đặc trưng thẩm mỹ truyền thống, còn có

khá nhiều hình ảnh “còn nguyên chất sống tươi rói, mới mẻ” [43, tr.81]

Về ngôn ngữ, ca dao – dân ca Nam Bộ mang đặc trưng của “ngôn ngữ sinh hoạt” và “rất đậm đặc những đặc điểm của phương ngữ” [43, tr.84], “Nhiều câu ca dao Nam Bộ lấy thẳng từ khẩu ngữ sinh hoạt hằng ngày, thứ tiếng nói cụ thể, thẳng đuột, phóng túng, trẻ trung, dí dỏm và chân thực” [43, tr.88] Ngôn ngữ, cách nói ca dao – dân ca Nam Bộ biểu hiện ở hai đặc tính: (i) “nhỏ nhẹ, hiền lành, ngộ nghĩnh, dễ thương” (ii) “chất xông xáo, phóng túng, tự do”, “phù hợp với tính cách con người và phong cách sinh hoạt xã hội ở Nam Bộ” [43, tr.87-88] “Ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ đầy sức sống, tươi rói, đập mạnh vào giác quan” [43, tr.89] và “vì chưa bị gò bó nhiều vào khuôn mẫu của ngôn ngữ truyền thống” [43, tr.89] nên ca dao Nam Bộ “tạo nên những từ ngữ rất sáng tạo” [43, tr.89]

Tác giả Bảo Định Giang [16] bổ sung thêm ảnh hưởng của văn học viết

1 Cũng như “Câu hát miền Trung trùng điệp hình ảnh của núi rừng” [43, tr.80]

Trang 15

với ca dao Nam Bộ Theo ông, ca dao – dân ca Nam Bộ “chịu ảnh hưởng Lục

Vân Tiên của Đồ Chiểu Trong ca dao, có nhiều câu mượn sự tích và nhân vật

trong Lục Vân Tiên để thể hiện tình cảm” [16, tr.110], nhiều câu của Đồ Chiểu

“đã mặc nhiên biến thành ca dao” “ngay từ khi sinh thời Đồ Chiểu, Trương Vĩnh

Ký đã sưu tầm xem là ca dao, in trong tập Miscellanées (Thông loại khóa trình)”

[16, tr.111]

5.3 Những công trình nghiên cứu chung về lục bát

Gồm các tác giả: Võ Bình (1985), “Vần trong thơ lục bát”, Nguyễn Tài Cẩn – Võ Bình (2001), “Thử bàn về thể thơ lục bát”, Nguyễn Xuân Kính (1990),

“Những đóng góp mới trong việc nghiên cứu thể thơ lục bát”, Phan Diễm Phương (1998), Lục bát và song thất lục bát (Lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại), Đào Thản (1998), “Nhịp chẵn, nhịp lẻ trong thơ lục bát”, Nguyễn Thị Thanh Xuân (2013), “Haiku – lục bát, một vài ghi nhận”, Hồ Văn Hải (2014), Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại (trên ngữ liệu của một

số nhà thơ), Lý Toàn Thắng (2015), Thi luật thơ lục bát trong trong Truyện Kiều,

Trong mảng đề tài này, công trình của Phan Diễm Phương (1998), Lục bát

và song thất lục bát (Lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại), Nxb Khoa học Xã hội, có lẽ là công trình nghiên cứu bao quát nhất theo tiến trình lịch sử về thể lục bát từ trước đến nay Công trình này có 4 chương:

Chương 1: Sự phát triển về cấu trúc âm luật của hai thể thơ trong thơ ca Việt Nam thời kỳ trung đại và cận đại

Chương 2: Ngọn nguồn dân tộc của hai thể thơ

Chương 3: Sự phát triển về chức năng biểu đạt của hai thể thơ trong thơ

ca Việt Nam thời kỳ trung đại và cận đại

Chương 4: Lục bát và song thất lục bát trong thơ ca Việt Nam hiện đại Trong cuốn sách này, “Thông qua khảo sát, phân tích và so sánh hàng loạt tác phẩm lục bát và song thất tiêu biểu xuất hiện trên thi đàn Việt Nam trong

Trang 16

suốt 5 thế kỷ, từ trung đại đến hiện đại, tác giả đã khái quát những chặng đường phát triển và các đặc trưng thể loại trong mối liên quan mật thiết giữa thi luật dân tộc và nội dung thi ca của hai thể thơ đặc sắc này” (Lời giới thiệu ở bìa sách)

Tuy nhiên, trọng tâm của sách này là khảo sát lục bát và song thất lục bát trong văn học thành văn, chủ yếu là những tác phẩm văn học bằng chữ Nôm,

như chính tác giả đã nói trong Lời mở đầu: “Lục bát và song thất lục bát trong

thơ ca dân gian chỉ được nói đến trong trường hợp cần có sự liên hệ, chứ không phải là đối tượng nghiên cứu của cuốn sách” [48, tr.12]

Từ góc nhìn đối chiếu với thể thơ Haiku, tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân [76] đã đưa ra nhiều nhận xét lý thú về thể lục bát trong quan hệ giống nhau và khác nhau về mỹ cảm giữa hai dân tộc Nhật – Việt Theo tác giả, “Haiku và lục bát như hai đôi mắt trên hai khuôn mặt văn chương Nhật – Việt” [76, tr.269] Haiku và lục bát đều là hai thể thơ ‘tinh gọn” [76, tr.269], song, “Haiku chỉ tựa trên một thanh duy nhất (thanh ngang), khước từ thủ pháp (không đối, không vần…)” nên “Là cấu trúc âm thanh, Haiku như một tiếng vang trong, ngân dài” còn “Lục bát là đại tiệc của âm thanh (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng); là kết hợp của nhiều thủ pháp tu từ” “Là cấu trúc âm thanh, lục bát như một lời ca, dạt dào âm điệu, luyến láy, lả lướt trong nhịp lướt của sóng và gió” [76, tr.270]

“Ngôn từ trong Haiku và lục bát, hầu hết là thuần phác, giản dị” [76, tr.271] Haiku “thường để cho sự vật tự lên tiếng, với những đường nét tối giản Cái tôi của người sáng tạo náu mình sau những ghi nhận đã tỉnh lược đi cảm xúc Không tả, không kể, không so sánh, không liên kết” Haiku là “thể thơ của danh từ” còn lục bát “Nhà thơ xuất hiện trong tác phẩm như nhân vật chính” “luôn khao khát bộc lộ tâm trạng” [76, tr.271], không gian của lục bát là “không gian

tự sự và là không gian sân khấu” [76, tr.272] Về âm thanh, “lục bát luôn tràn đầy thanh bằng” “thể hiện sự uốn lượn của âm thanh nhịp điệu”, sự biến hóa đa dạng của lục bát “làm cho nó có thể chuyên chở được nhiều sắc thái khác nhau

Trang 17

của đời sống” [76, tr.275] Về nhịp câu thơ, “Với Haiku, nguyên tắc lẻ là điều kiện lý tưởng để tạo ra vẻ đẹp không đối xứng, vẻ đẹp lệch, vẻ u huyền”, còn lục bát theo “nguyên tắc chẵn” bắt nguồn từ tâm lý dân tộc Việt “yêu thích sự vuông tròn trọn vẹn; sợ và ghét sự đơn lẻ, tan vỡ, tách biệt” [76, tr.275], v.v

Tác giả Hồ Văn Hải trong luận án Tiến sĩ “Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ) đã nghiên cứu một số vấn đề chung về ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thơ lục bát, biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật, phương thức, phương tiện tạo nghĩa đặc trưng trong thơ lục bát hiện đại

Về phương diện thi luật thơ lục bát, công trình của Lý Toàn Thắng 2015,

“Thi luật thơ lục bát trong Truyện Kiều” là tác phẩm đồ sộ (1035 trang, gồm 417 trang chính văn) về khảo sát thi luật chuyên sâu trong một tác phẩm Công trình này hướng tới ba mục tiêu: (i) Thử nghiệm nghiên cứu thơ lục bát Truyện Kiều

từ góc độ thi học và thi luật, (ii) Khảo sát định lượng tổ chức ngữ âm (vần, nhịp,

sự tổ hợp âm thanh) của toàn bộ các dòng thơ của Truyện Kiều; (iii) Khảo sát sự tri giác nhịp điệu của 3254 câu thơ Truyện Kiều qua 9 nghiệm viên (Lời mở đầu, tr.4) Công trình này có 5 chương sau:

Chương 1: Lục bát Truyện Kiều từ góc nhìn thi học và thi luật

Chương 2: Thi vận – Vần điệu thơ lục bát trong Truyện Kiều

Chương 3: Thi tiết – Tiết điệu thơ lục bát trong Truyện Kiều

Chương 4: Thi điệu – Nhịp điệu thơ lục bát trong Truyện Kiều

Chương 5: Thi âm – Kết hợp âm thanh trong Truyện Kiều

Đây là một công trình nghiên cứu công phu dựa trên nền tảng lý luận sâu rộng về thơ ca, có đối chiếu với thơ ca tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Anh

5.4 Những công trình nghiên cứu về lục bát và biến thể lục bát trong ca dao

Gồm các tác giả: Trần Đức Các (1999), “Tục ngữ với câu thơ lục bát trong ca dao dân ca”, Nguyễn Văn Hoàn (1999), “Thể lục bát, từ ca dao đến

Trang 18

Truyện Kiều”; Nguyễn Xuân Kính (1999), “Hình thức lục bát bất biến thể từ ca dao qua thơ Tản Đà đến sáng tác Hồ Chí Minh và Tố Hữu”, Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên) (2002), Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Mai Ngọc Chừ (2009), “Vần, nhịp, thanh điệu và sức mạnh biểu hiện của lục bát biến thể (Khảo sát trên ca dao Việt Nam)”

(2) Ai làm miếu nọ xa đình (6)

Hạc xa hương án, đôi lứa mình đừng xa (9)

Em trồng tre, anh chớ bẻ mầm (7)

Yêu em, anh chớ âm thầm cùng ai (8)

Ba lời thề khở (gỡ) núi lấp sông (7)

Em quyết theo anh đi cho trọn đạo kẻo luống công anh đợi chờ (14)”

[10, tr.438]

Như vậy, theo tác giả, lục bát biến thể chỉ có một loại là biến thể số tiếng (thêm hoặc bớt) Loại lục bát gieo vần ở tiếng thứ 4 được Mai Ngọc Chừ coi là lục bát chính thể hay lục bát điển thể (tác giả Mai Ngọc Chừ gọi là “lục bát chân chính”) Ví dụ:

(1) Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

[10, tr.439]

Tác giả Nguyễn Xuân Kính (2002a) theo quan điểm của Mai Ngọc Chừ

Trang 19

về biến thể lục bát (chỉ có biến thể số tiếng) nhưng có nói rõ hơn bằng thuật ngữ

“khuôn hình về vần”:

“Ở ca dao, dân ca có một số lời lục bát biến thể, trong đó khuôn hình về vần vẫn được giữ, còn số tiếng trong mỗi dòng thơ có thể thay đổi” [32, tr.68] Liên quan đến biến thể lục bát, tác giả Phan Diễm Phương phân biệt 2 loại khác nhau: biến thể lục bát và biến dạng lục bát [48, tr.52]

Biến thể lục bát gồm có 6 loại: 2 biến thể vần (vần trắc, vần ở tiếng thứ 4 câu bát), 3 biến thể phối điệu (tiếng thứ 2 câu lục từ B->T, tiếng thứ 4 câu lục từ T->B, tiếng thứ 2 câu bát từ B->T) 1 biến thể về nhịp (nhịp 2 chuyển thành nhịp 3) (tr.2-53)

Còn biến dạng lục bát là loại lục bát thêm bớt số tiếng [48, tr.53]

Tác giả Phan Diễm Phương cho rằng tổ hợp các dòng ở thể lục bát có thể

có nhiều thay đổi theo 4 khả năng:

(i) dòng lục co lại, dòng bát giữ nguyên

(ii) dòng lục giữ nguyên dòng bát dãn ra

(iii) dòng lục dãn ra, dòng bát giữ nguyên

(iv) cả hai dòng đều dãn ra

Theo tác giả, những trường hợp như thế này là “lục bát chưa hoàn chỉnh” [48, tr.37-38]

Sự phân biệt giữa biến dạng lục bát và biến thể lục bát của tác giả Phan Diễm Phương là một điều cần ghi nhận vì mức độ “biến” của hai loại này có khác nhau so với chính thể Tuy nhiên, quan niệm về biến thể nhịp (nhịp 3) của tác giả là chưa hợp lý, vì không có tài liệu khẳng định nhịp của thơ lục bát phải theo nhịp 2 Vả lại theo tác giả thì các nhịp lẻ khác như: 1/5, 7/1, 5/3,… và kể cả các nhịp chẵn khác như: 4/2, 6/2, 4/4,… thì lục bát chính thể hay biến thể? Và nếu căn cứ theo tác giả thì Truyện Kiều của Nguyễn Du rất nhiều câu là biến thể lục bát (vì dùng nhịp lẻ)

Phan Diễm Phương còn cho rằng “Lục bát và song thất lục bát đều có 6

Trang 20

biến thể.” [48, tr.217] “Song, do tần số xuất hiện biến thể ở song thất lục bát ít hơn nhiều so với lục bát nên nó vẫn tạo ấn tượng là thể thơ đạt tính quy phạm cao hơn thể lục bát” [48, tr.217]

Như vậy, cho đến nay, số công trình nghiên cứu về thể lục bát và biến thể lục bát trong ca dao còn rất ít (5 công trình) Đặc biệt là, theo tìm hiểu của chúng tôi, chưa có công trình nào nghiên cứu về thể lục bát cũng như biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này để góp phần hoàn thiện công việc nghiên cứu thi luật của lục bát trong thơ ca Việt Nam từ một phạm vi tư liệu phong phú, đa dạng và mang nhiều đặc trưng vùng miền

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

6.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi dùng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp miêu tả của ngôn ngữ học (với các thủ pháp như phân tích, phân loại, giải thích) Trong quá trình sử dụng phương pháp miêu tả, để khẳng định các nhận định đưa ra, chúng tôi quán triệt việc dùng hai thủ pháp thống kê

và so sánh Các kết quả thống kê và so sánh của đề tài được công bố trong các bảng số liệu trình bày trong phân nội dung của đề tài

Phương pháp thứ hai được vận dụng khá nhiều trong luận văn này là phương pháp thực nghiệm phong cách học (thử nghiệm – đối chiếu) nhằm kiểm chứng xem lời thơ, câu thơ trong trường hợp đang xem xét đã hoàn hảo hay chưa (so với những khả năng có thể khác), từ đó đưa kết luận về thi luật và tính thẩm mỹ của tác phẩm Ta có thể thấy rõ qua những thử nghiệm trong phần biến thể số tiếng [tr.81] để thấy được cái hay cái đẹp của ca dao Nam Bộ đứng ở góc

độ là phong cách mang đặc trưng vùng miền hay ở khía cạnh thi luật chẳng hạn

6.2 Nguồn tư liệu

Cho đến nay, ca dao Nam Bộ nói chung (không tính ca dao từng tỉnh) được ghi lại trong ba tuyển tập sau:

(1) Ca dao dân ca Nam Bộ, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn

Trang 21

Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, Nxb TP Hồ Chí Minh, 19842

(2) Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Thắng, Nguyễn

Hoa Bằng, Nguyễn Lâm Điền (Chủ biên), Nxb Giáo dục, 20023

(3) Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh, Huỳnh Ngọc Trảng, Nxb Đồng Nai,

19984

Vì giới hạn thời gian nghiên cứu, nên chúng tôi chỉ chọn phần ca dao

“Tình yêu nam nữ” (gồm 2030 bài, từ trang 154 đến 241) in trong quyển Ca dao

dân ca Nam Bộ làm mẫu đại diện của ca dao Nam Bộ để khảo sát, phân tích

Tư liệu để đối chiếu gồm:

(i) Ca dao Nam Trung Bộ, Thạch Phương, Ngô Quang Hiển, Nxb Khoa

học Xã hội, 1994, gồm 30 trang đầu của phần “Tình yêu lứa đôi và khát vọng hạnh phúc”, từ trang 115 đến trang 145

Ca dao trong quyển này đại diện cho mẫu ca dao Nam Trung Bộ và ca dao

Trung Bộ nói chung

(ii) “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (In lần thứ 12), Vũ Ngọc Phan, Nxb Khoa học Xã hội, 1999, gồm 54 trang đầu của ca dao “Vũ trụ, con người

và xã hội”, từ trang 93 đến trang 147

Ca dao trong tuyển tập Vũ Ngọc Phan đại đa số (khoảng 80%) sưu tầm ở Bắc Bộ Trong khi hiện nay chưa có một quyển ca dao nào riêng của ca dao

Bắc Bộ, chúng tôi tạm lấy ca dao trong tuyển tập này đại diện cho mẫu ca dao

Bắc Bộ, và gọi tắt với tên gọi là ca dao Bắc Bộ (VNP)

2 Phần tư liệu ca dao trong quyển này in từ trang 126 đến trang 505, gồm 479 trang Ngữ liệu trong tuyển tập này “tuyệt đại bộ phận là nguồn ghi chép từ thực tế” (Lời giới thiệu của Nxb TP Hồ Chí Minh, in trong sách này, tr.4) Tư liệu trong sách được chọn lọc công phu, khoa học, có độ tin cậy cao

3 Phần ca dao trong quyển này in từ trang 315 đến trang 486, gồm 171 trang, có tất cả là 1031 bài ca dao Ngữ liệu trong sách này “về cơ bản được biên soạn trên cơ sở những tài liệu sưu tầm điền dã” “trọng điểm thuộc 12 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long” “từ 1977 đến 1987” (Lời giới thiệu của PGS Chu Xuân Diên, in trong sách này, tr.3) Tuy nhiên sách này đưa vào “cả những tác phẩm không phải do chính tập thể của mình đã sưu tầm được trên thực địa” (Lời giới thiệu của PGS Chu Xuân Diên, in trong sách này, tr.4)

4 Tư liệu trong sách này là tư liệu dẫn lại từ 6 quyển sách sưu tầm ca dao dân ca ở miền Nam từ 1967 trở về trước:

Tư liệu trong Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh thiên về dân ca, chỉ có phần Câu hát góp gồm 952 câu do Huỳnh Tịnh Của sưu tầm là ca dao thực sự

Trang 22

(iii) Tổng tập văn học dân gian người Việt – Tập 16: Ca dao tình yêu đôi lứa, Quyển thượng, Nguyễn Xuân Kính chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, 2002 Ngữ liệu ca dao trong quyển này được chúng tôi lấy 45 trang đầu, từ trang 13 đến trang 58

Ca dao trong tuyển tập này đại diện cho mẫu ca dao Việt Nam

7 Đóng góp của luận văn

Nếu được thực hiện thành công, đề tài này sẽ có những đóng góp sau đây về lý luận và thực hành:

 Góp phần hoàn thiện quan niệm về biến thể của lục bát trong ca dao và trong thơ Việt Nam nói chung

 Miêu tả và phân tích các đặc điểm của lục bát trong ca dao Nam Bộ từ ba phương diện là kiểu vần, luật bằng trắc, nhịp điệu, giúp soi sáng rõ hơn các đặc trưng thi luật của thể thơ này trong thơ ca dân gian của người miền Nam

 Phân loại và giải thích các kiểu biến thể lục bát ca dao Nam Bộ để làm rõ

sự biến đổi của thể loại lục bát trong một khu vực văn học, từ đó khám phá các đặc trưng về văn hóa, thẩm mỹ và tính cách con người miền Nam

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Phụ lục và Danh mục TLTK, luận văn được trình bày trong 3 chương sau:

 Chương I: Những vấn đề chung

 Chương II: Đặc điểm của thể lục bát trong ca dao Nam Bộ

 Chương III: Đặc điểm của biến thể lục bát trong ca dao Nam Bộ

Trang 23

Thơ lục bát gieo vần lưng và vần chân: tiếng 6 của câu lục gieo vần lưng với tiếng 6 của câu bát và tiếng 8 của câu bát gieo vần chân với tiếng 6 của câu lục kế tiếp Tiếng thứ 6 và tiếng thứ 8 của câu bát phải khác nhau về âm vực (một tiếng ở âm vực cao thì tiếng còn lại ở âm vực thấp và ngược lại)

Tác giả Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu” (bản in 1968) đã đưa ra mô hình đầy đủ về luật bằng trắc của thể lục bát như sau:

Về cách hiệp vần, lục bát dùng vần chân (cước vận) ở chữ cuối câu lục và vần lưng (yêu vận) ở chữ thứ sáu của câu bát và vần chân ở chữ cuối câu bát Và chữ cuối câu bát phải hiệp vần (vần chân) với chữ cuối câu lục tiếp theo nếu bài thơ nhiều hơn hai câu Vần trong thơ lục bát (chính thể) là vần bằng

Thí dụ: (yv = yêu vận – vần lưng; cv = cước vận – vần chân)

(1) “Thành tây có cảnh Bích-câu,

Cỏ hoa họp lại một bầu (yv) xinh sao (cv)!

Trang 24

Đua chen thu cúc, xuân đào,

Lựu phun lửa hạ, mai chào (yv) gió đông!

 B (in đậm) tiếng gieo vần

 : hai tiếng phải khác nhau về âm vực (cao, thấp)

Ví dụ:

(2) Đói lòng ăn trái khổ qua,

Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười

+ – (ĐBCL 480)

Theo Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức [41], thì thể lục bát là thể thơ

5 Dương Quảng Hàm 1968 tr.150

Trang 25

phối hợp giữa lục ngôn và bát ngôn [41, tr.219] Niêm luật của thể lục bát “khá giản dị, có thể tóm tắt trong hai hệ thống” là “hệ thống phổ biến” và “hệ thống đặc biệt”

(a) Hệ thống phổ biến: vần bằng, gieo ở tiếng thứ 6 câu bát; niêm ở giữa câu lục và câu bát theo từng cặp: /bằng/ trắc/ bằng/ Các tiếng thứ 4, thứ 6, thứ 8 nhất thiết phải theo bằng trắc cố định, riêng tiếng thứ 2 có thể linh động thay bằng trắc Ví dụ:

(3) Có oản anh tình phụ xôi,

Có cam phụ quýt, có người phụ ta

(5) Nước ngược ta bỏ sào ngược,

Ta chống chẳng được ta bỏ sào xuôi

(Ca dao)

(6) Núi cao chi lắm núi ơi,

Núi che mặt trời chẳng thấy người thương

(Ca dao) [41, tr.221]

Ngoài ra, trong thể lục bát, theo hai tác giả này, cần chú ý thêm nhịp và

đối

(a) Về nhịp: Cả cặp lục bát mười bốn tiếng là một đơn vị nhịp điệu6, trong

đó có thể ngắt thành từng tiết tấu thường gọi là nhịp 2, nhịp 3, nhịp 4,… và

6 Thực ra từng dòng thơ là một đơn vị nhịp điệu nữa, và đò là nhịp chẵn bắt buộc (6/8)

Trang 26

“cách ngắt nhịp trong câu thơ lục bát rất uyển chuyển” [41, tr.222], “Rất ít có những câu lục bát thuần nhất là nhịp hai, ba hoặc bốn… mà thường có lối ngắt nhịp xen kẽ, hỗn hợp” [41, tr.222]

(b) Về đối: “Thơ lục bát không bó buộc phải đối, nhưng thỉnh thoảng cũng có tiểu đối trong từng câu lục và câu bát để làm nổi bật một ý nào đó” [41, tr.222]

Về tính cân xứng thanh âm, ngoài sự hài hòa giữa tiếng thứ 6 và tiếng thứ

8 trong câu bát, thì ở mức tiêu chuẩn, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 trong câu lục và câu bát phải khác nhau về bậc (gam, âm vực): hai tiếng cùng thanh Bằng nhưng phải một cao (thanh ngang), một thấp (thanh huyền) Ví dụ:

(7) Bầu ơi thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Câu thơ này đạt tính cân xứng về thanh Còn câu lục bát sau của Nguyễn Du:

(8) Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

chữ thứ 2 và chữ thứ 6 “trùng bậc, thanh không cân xứng, nên nhạc điệu kém đi” [41, tr.225-226]

So sánh nhịp điệu thơ lục bát với thơ Đường luật, Nguyễn Đình Thi có một nhận xét rất tinh tế: “Thể thơ Đường luật thì cân đối như “tinh thể”, thể thơ lục bát thì “cân đối” như nhịp hơi thở của con người” [55]

Nhịp thơ lục bát gồm một nhịp ngắn một nhịp dài, như động tác hít vào thở ra của con người

Ca dao lục bát Bắc Bộ thường dùng nhịp chẵn, nhưng thơ lục bát Nguyễn Bính lại hay dùng nhịp lẻ

(9) Anh đi đấy/ anh về đâu? (3/3)

Cánh buồm nâu/…cánh buồm nâu/… cánh buồm… (3/3/2)

(Nguyễn Bính, Cánh buồm nâu)

Trang 27

(10) Từ ngày/ cô đi lấy chồng, (2/4)

Gớm/ sao có một cánh đồng mà xa (1/5)

Bờ vào/ cây bưởi không hoa, (2/4)

Qua bên nhà/ thấy bên nhà/ vắng teo (3/3/2)

+ B (in đậm) tiếng gieo vần

+ : hai tiếng phải khác nhau về âm vực (cao, thấp)

Ví dụ:

(11) Yêu nhau cởi áo cho nhau,

Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay

– + (Ca dao)

Trang 28

(12) Người sao một hẹn thì nên,

Người sao chín hẹn thì quên cả mười

+ – (Ca dao)

1.1.1.2 Lịch sử hình thành

Theo Nguyễn Xuân Kính thì: “Ở Trung Quốc không có thể lục bát, trong khi ở một số nước ở Đông Nam Á tồn tại thể thơ này Trong lịch sử văn học Việt Nam, thể lục bát có vai trò đặc biệt và sức sống mạnh mẽ” [32, tr.61]

Cũng theo Nguyễn Xuân Kính, “Căn cứ vào các tài liệu hiện có, chúng ta biết rằng “thể lục bát, sớm nhất, cũng chỉ xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XV”

Từ đó đến nay, thể thơ này đã phát triển qua các giai đoạn:

(1) Lục bát cuối thế kỷ XV đến trước Truyện Kiều [trước thế kỷ XIX] (2) Lục bát trong Truyện Kiều

(3) Lục bát trong phong trào Thơ Mới (1930 – 1945)

(4) Lục bát đương đại” [32, tr.62]

Theo “Từ điển văn học (Bộ mới)” thì: “Các nhà nghiên cứu cũng cho biết,

ở thơ ca dân gian Mường, Chăm cũng có thể lục bát, thường là dạng gieo vần ở tiếng thứ tư câu bát, nhưng không phát triển như ở người Việt Như vậy, trong quá trình hình thành thể lục bát, có thể đã diễn ra sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người ở vùng Đông Nam Á, nhưng cũng có thể khẳng định rằng, thể loại thơ

ca độc đáo này chỉ thực sự phát triển đến đỉnh cao, trở thành một thể thơ dân tộc thông dụng trong nền văn học của người Việt” [21, tr.881]

1.1.1.3.Vai trò, ý nghĩa của thể lục bát trong thơ ca Việt Nam

Theo nhiều tác giả, thể lục bát có những sở trường sau đây:

(a) Nhịp điệu thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt

(b) Không bị hạn chế về độ dài ngắn của tác phẩm

(c) Thơ lục bát rất có thế mạnh trong việc diễn đạt các cảm xúc vốn rất phong phú, thể hiện các nội dung hết sức đa dạng của hiện thực

(d) “Dùng một hình ảnh, ta có thể ví lối thơ Đường luật như một chiếc

Trang 29

bình pha lê kết tinh trong suốt nhưng không đủ sức lôi cuốn của một dòng sông Thơ lục bát, trái lại, vì hợp với tiếng nói nước ta hơn nên có thể dung được nguồn cảm hứng tràn lan, đó là thể thơ ca hát, kể chuyện của dân chúng” (Nguyễn Đình Thi, Sức sống dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích, dẫn theo [27, tr.367-368])

“Ở thất ngôn [thơ Đường luật] thì có hình đối lập với nhau, ở lục bát thì

có vẻ quanh co, lưu chuyển, đó là chỗ khác nhau vậy (…) thể thơ lục bát đâu cũng quen thuộc không hẹn mà giống nhau, tao nhân mặc khách mở miệng nên thơ, gái dệt trai cày nói lời hợp điệu, cho đến câu hát của xóm làng, lời đùa của

con trẻ, cũng không gì là không nhịp nhàng hợp vần.” (Phạm Đình Toái, Quốc

âm từ điệu, dẫn theo [32, tr.64-65])

Thể lục bát có vị trí đặc biệt quan trọng trong ca dao Theo Hoàng Tiến Tựu và nhiều tác giả khác thì thể thơ chủ yếu, đặc trưng trong ca dao là thể lục bát Theo thống kê của Nguyễn Xuân Kính, “trong số 1015 lời của cuốn Ca dao Việt Nam, có 937 lời được sáng tác theo thể lục bát, chiếm 95%, các thể còn lại (song thất, song thất lục bát, hỗn hợp, bốn tiếng…) chiếm 5%” [32, tr.64]

Lục bát có khả năng to lớn “trong việc diễn tả những sự kiện lịch sử hoành tráng của dân tộc, cũng như khả năng tự sự lớn lao của nó” [21, tr.882]

“Ở thể lục bát hoàn chỉnh, lối gieo vần bằng và nhịp điệu uyển chuyển của câu thơ có khả năng diễn đạt được nhiều loại và sắc thái tình cảm, từ những cảm xúc trong sáng, vui tươi, những tình cảm thắm thiết, đến những nỗi buồn man mác” [27, tr.306-307] So với các thể thơ Camphuchia có tính chất “chức năng hóa” (chuyên chức năng) [73] thì thể lục bát, về phương diện này, có tính chất

đa chức năng

Trong cái nhìn so sánh với thể song thất lục bát, tác giả Phan Diễm Phương nhận định thể lục bát phù hợp với loại truyện thơ (còn song thất lục bát thích hợp với các khúc ngâm) có cấu trúc đồ sộ như Truyện Kiều chẳng hạn:

“Thể lục bát có cấu trúc nhẹ nhàng, đơn giản, có thể kéo dài bao nhiêu khổ cũng

Trang 30

được, lại mềm mỏng uyển chuyển, tốc độ lưu chuyển nhanh – nó được lựa chọn cho thể loại truyện” [48, tr.220]

Xét về quy mô tác phẩm, thì so sánh lục bát trong ca dao với lục bát trong văn học viết thì lục bát trong ca dao ngắn gọn hơn, thường chỉ gồm hai câu

Theo Hoàng Tiến Tựu trong bài viết “Bước đầu tìm hiểu sự khác nhau giữa ca

dao và thơ lục bát”, phần lớn các bài ca dao không quá 20 dòng (10 cặp lục bát)

Hoàng Tiến Tựu cho biết trong tổng số 1295 bài của cuốn Ca dao Việt Nam trước cách mạng, số bài hai dòng là 635 (50%), số bài bốn dòng là 360 (25%),

số bài sáu dòng là 121 (10%), số bài tám dòng là 56 (khoảng 5%), số bài mười dòng là 59 (khoảng 5%), gộp các bài từ 12 dòng trở lên chỉ khoảng 5% (64 bài); trong khi thơ lục bát của Nguyễn Bính đều dài trên 20 dòng, có bài dài tới 220

dòng như Lỡ bước sang ngang”; thơ lục bát của Tố Hữu cũng tương đối dài:

Đêm giao thừa 24 dòng, Bà má Hậu Giang 196 dòng; Bầm ơi 80 dòng, Việt Bắc

296 dòng (Dẫn theo [32, tr.65])

Cũng theo Nguyễn Xuân Kính thì “số lời ca dao gồm hai dòng thơ (một cặp lục bát) chiếm từ 50% trở lên, trong khi đó ở dòng văn học viết các giai đoạn trung đại, cận đại, không có sáng tác nào có độ dài như vậy; trong những sáng tác khoảng ba chục năm gần đây, có một ít bài thơ lục bát hai dòng không gây được tiếng vang, chủ yếu thể hiện sự tìm tòi về hình thức” [32, tr.66]

Tính chất ngắn ngọn của ca dao nói chung, của lục bát nói riêng, theo

Nguyễn Xuân Kính, “là một đặc điểm chứ không phải là một ưu điểm Hiện thực

thì phong phú, đa dạng, nhiều khi phức tạp, tâm hồn, cảm xúc của con người cũng rất lắm cung bậc, trong khi đó dung lượng một lời ca dao rất hạn chế, số lời

có từ hai cặp lục bát trở lên không nhiều Mỗi lời chỉ phản ánh được một khía cạnh của hiện thực” [32, tr.66]

Theo suy nghĩ của chúng tôi, lục bát hai dòng muốn được lưu truyền phải hàm súc, nhiều thông tin, giàu tính thẩm mỹ như danh ngôn, cách ngôn

Trang 31

1.1.2 Biến thể lục bát

1.1.2.1 Khái niệm

Trong luận văn này, chúng tôi hiểu khái niệm biến thể lục bát như sau:

Biến thể lục bát (lục bát biến thể) là kiểu thơ làm theo khuôn mẫu của thơ lục bát (chính thể) nhưng có sai khác về vần, về số tiếng, hoặc về luật bằng trắc

Ví dụ:

(13) Trời mưa thì mặc trời mưa,

Chồng tôi đi bừa đã có áo tơi

(NTB 286; gieo vần ở tiếng thứ 4)

(14) Chim khôn lựa nhành mà đậu,

Gái khôn kiếm nơi nhân hậu mà nhờ

(NTB 253; gieo vần trắc)

(15) Bậu chê qua ở rẫy ăn còng,

Bậu về ở chợ ăn ròng mắm tôm

(VNP 123; câu lục có 7 tiếng)

(16) Ở hiền thì gặp lành,

Những người nhân đức trời dành phúc cho

(VNP 107; câu lục chỉ có 5 tiếng)

(17) Người xấu duyên lặn vào trong,

Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài

(VNP 129; tiếng thứ 2 của câu lục là thanh trắc)

(18) Con ong làm mật yêu hoa

Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời

(Tố Hữu, Tiếng ru; câu bát gồm 10 tiếng)

Lục bát biến thể xuất hiện cả trong ca dao và văn học viết, nhưng phổ biến nhất là trong ca dao

Lục bát biến thể phải giữ nguyên 4 đặc trưng sau đây về vần và về cấu trúc của thơ lục bát:

Trang 32

 Vần phải là vần bằng (hoặc vần trắc), gồm hai loại cơ bản là vần

chính và vần thông

 Câu lục phải gieo vần chân, câu bát phải gieo vần lưng (giữa câu

hoặc khoảng gần cuối câu) Nếu làm tiếp thêm một câu lục nữa, thì câu lục này phải gieo vần chân với câu bát ở trên Nếu bài thơ triển khai dài hơn nữa thì cách gieo vần phải tuân theo những điều vừa nói

 Nhịp điệu phải có sự luân phiên bằng trắc theo thể thức nhất định

 Cấu trúc tối thiểu của bài thơ phải gồm hai dòng thơ, mở đầu bằng

câu lục, kết thúc bằng câu bát Nếu bài thơ gồm nhiều câu thì có thể kết thúc bằng câu bát (bài thơ sẽ số câu chẵn) hoặc câu lục (bài thơ sẽ có câu lẻ)

a1) Biến thể vị trí gieo vần

Khi vần gieo ở tiếng thứ tư (vần bằng) thì tiếng thứ 2 và tiếng thứ 6 của câu bát thay đối thanh điệu (B -> T) theo thế bù trừ

Ví dụ:

(19) Vợ chồng là nghĩa phu thê

Tay ấp, má kề sinh tử có nhau

Tuy nhiên không phải khi nào thề bù trù đó cũng được thể hiện

Ví dụ:

Trang 33

(20) Chị em thì thật là hiền,

Chỉ vì đồng tiền mà mất lòng nhau

(VNP 134) a2) Biến thể về âm sắc của vần

Trong loại biến thể này, vần được gieo là vần trắc (có thể gieo ở tiếng thứ

6 hoặc tiếng thứ 4 của câu bát)

Ví dụ:

(21) Có tiền thì tiên hay múa,

Không tiền thì ông táo chúa ra sân

(VNP 133)

(22) Nam mô một bồ lấy bốn,

Người ta đã khốn lại còn nam mô

(VNP 141) Khi vần trắc gieo ở tiếng thứ 6 thì thanh điệu của tiếng thứ 4 phải thay đổi bù trừ (T -> B)

Tuy nhiên không phải khi nào thế bù trù đó cũng được thể hiện

(23) Tò vò mày nuôi con nhện,

Đến khi nó lớn nó quện nhau đi

(VNP 114) a3) Biến thể về hòa âm vần

Biến thể này xảy ra khi vần lặp lại hoàn toàn (giống cả phụ âm đầu và thanh điệu), hoặc dùng vần ép (áp vận), hoặc giữa các câu thơ lạc vận (vần gieo hoàn toàn khác nhau) Đây thực chất là ba lỗi về gieo vần

Trang 34

+ Vần ép (áp vận)

(25) Ai đưa con kéc vô vườn,

Để cho con kéc ăn buồng chuối tiêu

(ĐBCL 326) + Lạc vận

(26) Ruộng đồng mặc sức chim bay,

Biển hồ lai láng mặc tình cá đua

(ĐBCL 319) b) Biến thể về luật bằng trắc (biến thể thanh điệu)

Loại biến thể này gặp khi cách gieo vần như bình thường (vần bằng, tiếng thứ 6) nhưng tiếng thứ 2 của câu lục hoặc câu bát, hoặc tiếng thứ 4 của câu lục mang thanh điệu không đúng với luật

Ví dụ:

+ Tiếng thứ 2 của câu lục từ B -> T

(27) Cá không ăn muối cá ươn,

Con cưỡng cha mẹ, trăm đường con hư

(NTB 291) + Tiếng thứ 2 của câu bát từ B -> T

(28) Chị kia có quan tiền dài,

Có bị gạo nặng, coi ai ra gì!

(VNP 133) + Tiếng thứ 4 của câu lục từ T -> B

(29) Tối trăng còn hơn sáng sao,

Dẫu rằng núi lở còn cao hơn đồi

(VNP 139) Riêng tiếng thứ 4 và tiếng thứ 6 của câu bát thì không có biến thể bằng trắc loại này vì đây là hai tiếng có thể gieo vần của câu bát nên:

 Khi tiếng thứ 4 từ T -> B thì tiếng thứ 6 theo luật bù trừ sẽ biến

Trang 35

thành T, khi đó sẽ không gieo vần bằng được, trừ khi gieo vần ở tiếng thứ 4, hoặc gieo vần trắc ở tiếng thứ 6 (cả hai loại này đã tính ở phần biến thể vần nên không xét thêm một lần nữa)

 Khi tiếng thứ 6 từ B -> T thì như trên đã nói, không thể gieo vần bằng được, mà chỉ gieo được vần trắc (đã tính ở phần biến thể vần nên không xét thêm một lần nữa)

c) Biến thể về số tiếng

Loại biến thể này có 2 dạng là giảm số tiếng và tăng số tiếng Trong mỗi loại biến thể giảm số tiếng hay tăng số tiếng lại có 3 kiểu nhỏ là giảm (hoặc) thêm số tiếng ở câu lục, giảm (hoặc thêm) số tiếng ở câu bát, giảm (hoặc thêm) tiếng cả ở câu lục và câu bát Tuy nhiên trên thực tế không thấy xuất hiện biến thể giảm số tiếng ở cả hai câu

Ví dụ:

+ Giảm số tiếng ở câu lục:

(30) Mèo khen mèo dài đuôi, (5)

Chuột khen chuột nhỏ dễ chui dễ trèo (8)

(VNP 123) + Giảm số tiếng ở câu bát:

(31) Có tiền, vợ vợ chồng chồng, (6)

Không tiền, chồng Đông vợ Đoài (6)

(VNP 134) + Thêm số tiếng ở câu lục

(32) Lửa gần rơm không cháy cũng tròm trèm, (8)

Đi ngang quán rượu hơi hèm muốn say (8)

(NTB 277) + Thêm số tiếng ở câu bát

(33) Bạc tình chi lắm hỡi ai, (6)

Trang 36

Lên non cao trở mặt, xuống dốc dài quay lưng (10)

(NTB 258)

(34) Trách anh sao bạc nghĩa vô nghì, (7)

Bây giờ có đôi có bạn, không nói gì với em (11)

(NTB 284) Các kiểu biến thể trên có thể phối hợp nhau trong một cặp câu lục bát Đây là loại biến thể phối hợp biển thể vần với biến thể bằng trắc hoặc biến thể

số tiếng phối hợp biến thể vần,

Ví dụ:

+ Biển thể vần kết hợp với biến thể bằng trắc

(35) Chớ thấy áo rách mà cười,

Những giống gà nòi, lông nó lơ thơ

(VNP 113) + Biến thể số tiếng phối hợp biến thể vần

(36) Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi, (7)

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê (8)

(ĐBCL 321)

(37) Ai làm con Ba nọ thất tình, (7)

Ăn cơm chẳng đặng, ăn trầu giải khuây (8)

(ĐBCL 326) Trong phân tích tư liệu, chúng tôi không xem biến thể hỗn hợp là một loại riêng, mà tính số liệu theo từng loại biến thể đơn

Như vậy, biến thể lục bát có 3 loại gồm 12 kiểu như sau:

Trang 37

Hình 1.3 Sơ đồ các loại biến thể lục bát

1.1.2.3 Vai trò của biến thể lục bát

Nói về tác dụng của biến thể lục bát, hai tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên cho biết: “Các thể thơ lục bát và song thất lục bát biến thể cũng hay được dùng trong ca dao, dân ca Đó là hình thức quá độ giữa lời nói có vần và lời thơ trau chuốt, rất tiện cho việc diễn tả được dễ dàng nhanh chóng và không

gò bó nhiều tư tưởng tình cảm của nhân dân Ở những câu ca dao đã thành cổ truyền thì thơ lục bát và song thất lục bát biến thể lại thường có dụng ý rõ rệt về mặt nghệ thuật, làm tăng sức mạnh thể hiện của nội dung lên Trong thí dụ sau đây, những câu thơ, nhất là hai câu sau, dài quá khổ, có tác dụng thể hiện được

rõ hơn một lời than da diết, đay nghiến:

(38) Nghĩ rằng em đã có chồng rồi,

Sao em chưa có đứng ngồi vân vi,

Ới thầy mẹ ơi! Cấm đoán em chi!

Mười lăm, mười tám sao chả cho đi lấy chồng!

Trong một thí dụ khác sau đây, câu thơ dài quá khổ lại có tác dụng nêu lên những khó khăn trùng điệp trong tình yêu mà “chàng trai” cương quyết vượt

Trang 38

qua:

(39) Yêu em tam tứ núi cũng trèo,

Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua” [27, tr.369]

Tác giả Mai Ngọc Chừ cũng có ý kiến tương tự về tác dụng của lục bát biến thể:

“Trong LBBT, số lượng âm tiết được tăng thêm (hoặc giảm đi – nhưng cực kỳ hiếm), đó là một điều kiện đóng vai trò quyết định để nhịp thơ thay đổi và nâng cao giá trị biểu đạt ngữ nghĩa Khi số lượng âm tiết thay đổi, phá vỡ cái nhịp hai phẳng lặng, LBBT thường tạo nên một cách khác thường nếu như không nói là khó khăn, trong cách phát âm

Chính tiền đề cấu âm ấy đã là cơ sở để nó có ưu thế hơn trong việc diễn đạt những hoàn cảnh, điều kiện khó khăn không bình thường, không thuận lợi và

sự khắc phục những trở ngại ấy Ý nghĩa này được thể hiện khá rõ trong các câu

ca dao về tình yêu đôi lứa (…) Phản ánh những mối tình không “suôn sẻ”, những hoàn cảnh éo le, những khúc mắc, trở ngại trong tình yêu, các tác giả vô danh phần nhiều đã tạo những câu ca dao có hình thức LBBT” [7, tr.441]

Theo Nguyễn Xuân Kính, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hình thức lục bát biến thể có bốn chức năng trong việc thể hiện nội dung: “chì chiết, đay nghiến; bộc lộ khó khăn và lòng quyết tâm vượt qua trở ngại; châm biếm, trào phúng; tranh luận, đấu lý” [32, tr.71]

Với cách hiểu hẹp (chỉ có biến thể số tiếng), Nguyễn Xuân Kính cho rằng hình thức lục bát biến thể là “đặc sản” của ca dao, là nét riêng của thơ ca dân gian, không có trong truyện thơ, cũng không được sử dụng trong thơ trữ tình bác học [32, tr.71] Và với một số người “lục bát biến thể không phải là một hình thức thơ sang trọng”, nhưng với Hồ Chủ tịch và Tố Hữu, hình thức bát biến thể

“đã trở nên bình đẳng với các hình thức khác của thơ, đã góp phần tạo nên những hiệu quả thẩm mỹ mới” [32, tr.72]

Còn tác giả Phan Diễm Phương thì cho rằng biến thể (và biến dạng) lục bát tạo sức sống hiện đại cho thơ lục bát Theo tác giả thì bước sang giai đoạn

Trang 39

thơ ca hiện đại, lục bát và song thất lục bát không còn thế song hành vốn có như trong văn học thời trung đại và cận đại nữa Song thất lục bát mất vị trí nổi bật trên thi đàn vì cấu trúc quá chặt chẽ, ít sử dụng biến thể, biến dạng, ít biến động [48, tr.221] Trái lại, lục bát vẫn được sử dụng với (những tác phẩm có quy mô nhỏ), “lục bát tỏ ra linh hoạt, có thể đi vào thơ ca hiện đại với những khả năng biến đổi, hòa nhập phong phú” [48, tr.221] Nguyên nhân của hiện tượng này là

do lục bát: “Có thể xuất hiện ở dạng nguyên thể, cũng có thể phối hợp, xen kẽ các thể thơ khác; có thể duy trì hình thức chuẩn mực cổ điển, cũng có thể trở về dân gian hoặc “tiến lên” theo thi pháp thơ hiện đại, lục bát luôn tìm cách để tăng cường khả năng được vận dụng (…) Sự linh hoạt, sáng tạo này khiến cho thể thơ luôn mang một sức sống dồi dào” [48, tr.221-222]

1.1.2.4 Nguyên nhân hình thành biến thể lục bát

Để giải thích sự có mặt của lục bát biến thể, Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình dựa vào ba nguyên nhân:

(a) Có thể có những biến thể cổ xuất hiện vào lúc mô hình lục bát chưa thật định hình;

(b) Có thể có những biến thể nảy sinh do việc đem thể lục bát phục vụ cho việc diễn xướng;

(c) Có thể có những biến thể hình thành do sự linh động của nhà thơ, nhằm phục vụ yêu cầu diễn đạt một nội dung nào đó

(Dẫn theo [32, tr.69]) Nguyễn Xuân Kính cũng giải thích thêm nguyên nhân (b) và (c) trong ý kiến của Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình: “sự có mặt của những lời dân ca, ca dao lục bát biến thể chủ yếu là do làn điệu của việc ca hát quy định (đối với dân ca),

do yêu cầu việc thể hiện một số nội dung nhất định (đối với ca dao)” [32, 70]

tr.69-Hát xẩm là thể hiện điển hình nhất của lục bát biến thể (biến thể số tiếng)

Ví dụ:

Trang 40

(40) Lúc đêm khuya, sương lạnh, trăng mờ (7)

Canh tàn rượu tỉnh lúc bấy giờ em nghĩ thương thân (11)

Em tiếc thay trong giá trắng ngần, (7)

Nỡ gieo mình vào đám phong trần làng chơi (9)

Chốn hang sâu lẩn quất hương trời, (7)

Non xanh nước biếc để ai người biết cho? (9)

(Hát xẩm) Bài hát xẩm này chúng ta dễ dàng tái hiện dạng lục bát chính thể tiền thân của nó như sau đây:

(41) Đêm khuya, sương lạnh, trăng mờ

Canh tàn rượu tỉnh bấy giờ thương thân

Tiếc thay trong giá trắng ngần,

Gieo mình vào đám phong trần làng chơi

Hang sâu lẩn quất hương trời,

Non xanh nước biếc ai người biết cho?

Đối chiếu với bài lục bát chính thể này, chúng ta thấy bài hát xẩm (lục bát biến thể) đã thêm những chữ sau đây:

(42) Lúc đêm khuya, sương lạnh, trăng mờ

Canh tàn rượu tỉnh lúc bấy giờ em nghĩ thương thân

Em tiếc thay trong giá trắng ngần,

Nỡ gieo mình vào đám phong trần làng chơi

Chốn hang sâu lẩn quất hương trời,

Non xanh nước biếc để ai người biết cho?

Những tiếng thêm vào có tác dụng cụ thể hóa hoàn cảnh không gian thời

gian (lúc, chốn), cụ thể hóa chủ thể của tâm trạng (em), nói rõ tình thái của sự việc (nỡ, để) Chúng hoặc là hư từ hoặc là từ chỉ chủ từ của mệnh đề - những từ

rất hiếm khi xuất hiện trong thơ trữ tình cổ điển vì giảm tính hàm súc của ngôn ngữ thơ, nhưng lại có tác dụng nhấn nhá, đưa đẩy, bộc lộ tâm trạng Nhận xét về

Ngày đăng: 19/06/2021, 14:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w