1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ

87 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 112,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài luận văn Dân tộc Việt Nam có một kho tàng ca dao vô cùng phong phú, đa dạng. Nó là nơi thể hiện rõ nhất điệu tâm hồn dân tộc (Tố Hữu), phô diễn trực tiếp thế giới tâm hồn của con người, biểu đạt những tình cảm, cảm xúc đa dạng của nhân dânNó rất gần gũi với suy nghĩ, tâm hồn của nhân dân, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người lao động. Bởi vậy, ca dao có một sức lôi cuốn hết sức mạnh mẽ đối với con người Việt Nam. Nó là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam qua bao thế hệ. Từ cái thủa vẫn còn nằm nôi, chúng ta đã được nghe những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm qua lời ru của bà, của mẹ. Tuy vậy, ca dao có sự khác biệt giữa vùng miền, cụ thể là sự khác biệt giữa ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ. Ca dao Bắc Bộ đã khá quen thuộc với chúng ta còn ca dao Nam Bộ đang trong quá trình khảo cứu. Đó là bởi vì ca dao Nam Bộ ra đời muộn. Nam Bộ là một mảnh đất được khai sinh trong hành trình lịch sử Nam tiến của dân tộc. Đây là vùng đất “sinh sau đẻ muộn” , nhưng đây thường được gọi là vùng đất nhiều tài nguyên và mang nét văn hóa đặc sắc. Và trong tiến trình lịch sử, mảnh đất này cũng đã để lại những dấu ấn văn hóa riêng. Đáng chú ý là ca dao bởi nó được xem là thể loại ổn định, phản ánh rõ nét đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc con người nơi đây. Ca dao miền Nam vẫn có sức sống mãnh liệt. Nó còn được phát triển mạnh và là một sinh hoạt tiềm tàng trong cuộc sống của người bình dân, cho dù chúng ta không còn thấy những màn hò đối đáp trong công việc hàng ngày ở trên đồng ruộng, sân lúa hay trên sông rạch như tiểu thuyết đã mô tả. Nó nằm ngay trên cửa miệng người bình dân, họ đọc ra như một phản xạ tự nhiên phù hạp với hoàn cảnh đang xảy ra không chê được. Tuy vậy, từ trước đến nay, ca dao Nam Bộ chưa có chỗ đứng dúng đắn trong văn học sử của Việt Nam, cũng chưa được đề cập một cách đầy đủ trong chương trình học ngày trước. Chúng ta có thể có nhiều cách giải thích. Có lẽ do người viết chương trình của bộ giáo dục trong những năm đầu chuyển tiếp từ chương trình Pháp sang chương trình Việt không có tài liệu nhiều về văn học trong Nam; hay người viết chương trình không biết gì về văn học trong Nam; hay người viết chương trình cho rằng văn học trong Nam quá nôm na, không có vẻ bác học; hay đơn giản hơn hết là văn học trong Nam chưa có đủ chiều dài về thời gian để có chỗ đứng trong văn học sử... Chương trình văn học có sự mất cân đối, nghiêng nặng về những tác giả tác phẩm ở ngoài Bắc và đã bỏ quên những sinh hoạt văn học trong Nam. Trong mọi lãnh vực về văn học ở chương trình trung học, miền Nam đã bị bỏ quên, khiến cho sau bao nhiêu năm, sự lãnh hội về kiến thức trong chúng ta về văn học đã bị thiếu sót. Ca dao miền Nam cũng chịu chung số phận như thế. Sự mất cân đối trong chương trình học đã làm học sinh Nam Bộ trở thành xa lạ với môi trường họ đang sống, trở thành vong thân với chính xã hội của họ. Chúng ta cần dành một chỗ đứng thích đáng cho ca dao miền Nam. Trả lại cho văn chương và ca dao miền Nam chỗ đứng đúng đắn trong văn học sử là việc nên làm, phải làm. Công việc đó qui mô và cần công sức của nhiều người. Hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông đã bổ dung thiếu sót này bằng việc yêu cầu giảng dạy phần văn học địa phương. Do vậy, nghiên cứu về ca dao Nam Bộ cũng là điều cần thiết và bổ ích trong quá trình giảng dạy của mình. Trong ca dao Nam Bộ có những hình ảnh thường gặp phản ánh rõ nét thiên nhiên, đời sống con người Nam Bộ. Những hình ảnh ấy đơn giản mộc mạc như chính vùng đất non trẻ này của đât nước. Chất nôm na, chất phác của lớp người bình dân đã thấm đẫm trong cái nhìn về cuộc sống, vạn vật. Qua cái nhìn của người dân Nam Bộ, ta thấy vẻ hoang vu của thiên nhiên một dấu ấn trong những bài ca của thiên nhiên đất nước. Ta còn thấy những sự vật đặc trưng của Nam Bộ như cái cầu khỉ, bông điên điển, trái bần,…hay con sấu, con rắn,… Nét hoang dã của đất nước Nam Bộ còn thể hiện gián tiếp qua tâm trạng lo sợ của người đi khai hoang, cảnh vật lạ lùng khiến cho người ta sợ mọi thứ:“Tới đây sứ sở lạ lùngChim kêu cũng sợ ,cá vùng cũng ghꔓ Chèo ghe sợ sấu ăn chưngXuống bưng sợ đỉa , lên rừng sợ ma”. Cùng với đó là hình ảnh con người Nam Bộ chất phác. Tinh thần phóng khoáng và lòng mến khách của người Việt Nam giúp họ gắn bó với mảnh đất này. Họ đã bám đất bằng tất cả sức mạnh của đôi bàn tay, của ý chí vươn tới, của năng lực tổ chức, của tình đoàn kết chung lưng đấu cật. Ca dao Nam bộ đã ghi lại những hình ảnh cụ thể:Chiều chiều ông Ngữ thả câu Sấu lôi ông Ngữ cắm đầu xuống sông (sưu tầm ở Phú TânAn Giang) Đem đối sánh với ca dao Bắc Bộ, ta sẽ có những phát hiện thú vị. Nếu ca dao Bắc Bộ ngọt ngào thì Nam Bộ chân chất. Nếu Bắc Bộ giàu hình ảnh miền Bắc thì Nam Bộ mang hình ảnh của một thiên nhiên mới khai phá, cùng nếp sống đậm chất miền Nam. Nếu con người Bắc Bộ nhẹ nhàng, trừ tình thì con người Nam Bộ mang nét đẹp khỏe khắn của người mở cõi.Vì vậy, chúng tôi chọn khảo cứu những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ là đối tượng nghiên cứu cho đề tài này. Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với ca dao Bắc Bộ dựa trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm. Từ đó, chúng tôi mong đóng góp một tiếng nói để ca dao miền Nam có chỗ đứng trong kho tàng ca dao Việt Nam nói riêng và trong lòng người dân Việt Nam nói chung.2. Lịch sử nghiên cứu Từ trước đến nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận văn. Đầu tiên là các công trình về ca dao Nam Bộ. Tiêu biểu là công trình “Ca dao dân ca Nam Bộ”(1984) của nhóm tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, NXB Thành phố Hồ Chí Minh. Công trình này có những bài nghiên cứu chung về ca dao Nam Bộ. Tiếp theo là công trình “Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long” (1999) của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Cần Thơ, NXB Giáo Dục. Công trình này chủ yếu công bố những tư liệu đã sưu tầm được về các thể loại văn xuôi dân gian và các thể loại văn vần dân gian ở đồng bằng sông Cửu Long. “Ca dao Đồng Tháp Mười” của Đỗ Văn Tân chủ biên, Sở VHTT Đồng Tháp xuất bản, 1984 cũng là cuốn sách có nhiều tư liệu để nghiên cứui đối chiếu. Ngoài ra, có nhiều công trình lẻ tẻ nói về ca dao từng tỉnh Nam Bộ, như công trình “Văn học dân gian Bến Tre” (1988) của Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bạch Liên, NXB Hà Nội. Trong công trình này, tác giả đã chú ý nét riêng và nhấn mạnh một hiện tượng phải lưu ý khi xem xét ca dao Bến Tre về mặt hình thức là hiện tượng là những bài ca có ba dòng lời . Tác giảcó nêu sốliệu khảo sát nhưng không lý giải. Về ngôn ngữ ca dao, tác giả khái quát mang đặc điểm của phương ngữ, nhất là phương ngữ Nam bộ, ngôn ngữ đầy sức sống, tươi rói, tác động mạnh vào cách nhìn, cách nghe của con người . Đối với vấn đề này, tác giả chỉ dừng lại bằng việc nêu ví dụ. Tuy nhiên, đây là những gợi ý quý báu mà trong luận văn này chúng tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn. Phần sau là công bốnhững tư liệu đã sưu tầm về các thể loại. Trong đó ca dao là 88 trang (với 900 bài). Tiếp đó là công trình nghiên cứu “Văn học dân gian Bạc Liêu” do Chu Xuân Diên chủ biên, NXB Văn nghệ TP HCM, 2005. Khi đối chiếu, chúng tôi chọn chủ đề tình yêu lứa đôi gồm 354 bài ca dao. Để đối chiếu, so sánh, chúng tôi có nghiên cứu bổ sung về ca dao Bắc Bộ. Ca dao Bắc Bộ phong phú hơn và được nghiên cứu từ rất lâu. Ở đây, để lấy được các hình ảnh trong ca dao Bắc Bộ mà so sánh với Nam Bộ, chúng tôi đã xem xét các tài liệu như: “Ca dao ngạn ngữ Hà Nội” 20 và Tục ngữ ca dao dân ca Vĩnh Phú 119 , Dân ca quan họBắc Ninh 113, song tài liệu 20 và tài liệu 119 có số lượng bài ít.Như vậy, qua những công trình giới thiệu trên đây chúng tôi không thấy công trình nghiên cứu riêng về hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ chưa có. Phần lớn những nghiên cứu về hình ảnh ca dao Nam Bộ được viết chung trong phần nghiên cứu về ca dao Nam Bộ. Việc khảo sát những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ vẫn chưa trở thành đề tài nghiên cứu trọn vẹn. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sẽ khảo sát những hình ảnh xuất hiện trong ca dao Nam Bộ một cách có hệ thống.3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Đề tài nhằm góp phần vào việc tìm hiểu diện mạo chung của ca dao Nam Bộ. Làm rõ những hình ảnh thường gặp của ca dao Nam Bộ trong sự đối sánh với ca dao Bắc Bộ và qua đó hiểu thêm đời sống văn hoá tinh thần của con người Bến Tre. Đề tài cũng khẳng định những giá trị đã tạo nên vẻ đẹp, sức sống của ca dao Nam Bộ. Từ đó phát huy những vẻ đẹp đó để giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần bảo tồn ca dao Nam Bộ.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu: chúng tôi chọn nghiên cứu những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ. Phạm vi nghiên cứu:Trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát ca dao Nam Bộ về hình ảnh quen thuộc trong so sánh với ca dao Bắc Bộ. Theo định hướng đã đề ra như trên, đối tượng mà người viết khảo sát là những bài ca dao trữ tình của dân tộc Việt ở đất Nam Bộ, không khảo sát ca dao lao động và nghi lễ. Việc gọi câu hát dân gian, bài hát dân gian, bài ca, lời thơ dân gian, đơn vị tác phẩm trong luận văn này đều là một, chỉ bài ca dao. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận vănTrong quá trình thực hiện đềtài luận văn, chúng tôi sửdụng một sốphương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp sưu tầm: Văn học dân gian ra đời sớm và được lưu lại trong trí nhớcủa nhân dân bằng con đường truyền miệng. Trước đây, việc sưu tầm ca dao đã được tiến hành nhưng chưa thể nào tập hợp hết những bài ca dao tồn tại trong trí nhớ của nhân dân. Để có thêm tư liệu trong quá trình khảo sát, cũng như góp phần nhỏ trong công tác sưu tầm tập hợp, chúng tôi sử dụng phương pháp sưu tầm. Phương pháp thống kê: Việc sửdụng phương pháp thống kê giúp chúng tôi tính toán được sốlượng nhiều hay ít của các từngữ, công thức, hình ảnh… trong ca dao. Phương pháp này giúp đưa ra được những số liệu cụ thể, chính xác về vấn đề cần khảo sát. Từ đó dẫn đến những kết luận khách quan. Phương pháp hệ thống: Phương pháp hệthống là cách đặt những bài ca dao Nam Bộ trong cùng một hệthống như hệthống ca dao cả nước để thấy được nét chung cũng như nét riêng của nó. Phương pháp phân tích, so sánh: Tìm ra những điểm giống và điểm khác của ca dao Nam Bộ với ca dao của Bắc Bộ, người viết phải phân tích, đối chiếu những bài ca dao Nam Bộ với những bài ca dao Bắc Bộ. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này dùng để lý giải cho những hình ảnh ca dao Nam Bộ. Kiến thức của nhiều ngành khác nhau như: lịch sử, địa lí,dân tộc học, văn hóa học… sẽrất hữu ích trong việc nghiên cứu. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Ý nghĩa lí luận:Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với ca dao Bắc Bộ dựa trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm. Từ đó, chúng tôi mong đóng góp một tiếng nói để ca dao miền Nam có chỗ đứng trong kho tàng ca dao Việt Nam nói riêng và trong lòng người dân Việt Nam nói chung. Ý nghĩa thực tiễn: Hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông yêu cầu giảng dạy phần văn học địa phương, đặc biệt ở miền Trung và Nam. Do vậy, nghiên cứu về ca dao Nam Bộ nói chung và hình ảnh trong ca dao Nam Bộ nói riêng là điều cần thiết và bổ ích. Nó sẽ là tư liệu bổ sung cho việc giảng dạy kiến thức địa phương ở các trường THPT miền Nam. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung gồm 3chương: Chương I: Nhìn chung về ca dao Nam Bộ. Chương II: Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong sự đối sánh với ca dao Bắc Bộ Chương III: Đặc điểm nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ.

Trang 1

Chương 1 Nhìn chung về ca dao Nam Bộ

1.1 Nhìn chung về ca dao

1.1.1 Định nghĩa ca dao

Theo” Lịch sử văn học Việt Nam” của Bùi Văn Nguyên: ca dao là những bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát), để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm

Trong ca dao, đại đa số là tác phẩm trữ tình Ðối tượng của nó là những sáng tác phản ánh hiện thực đời sống không phải thông qua cốt truyện, sự xung đột của hành động nhân vật màì thông qua sự thể hiện tâm trạng các nhân vật trữ tình Ví dụ:

“Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta…”

“Bướm vàng đậu đọt mù u

Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn.”

“Còn duyên kẻ đón người đưa

Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng.”

“Thân cò lặn lội bờ song

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non ”

1.1.2 Nội dung ca dao

Ca dao là những bài ca về lịch sử Tác giả dân gian đã có sự gắn kết các câu ca dao vào từng thời kỳ, sự kiện, nhân vật lịch sử Chẳng hạn:

“Tưởng là chị ngã em nâng

Trang 2

“Ru con con ngủ cho lành

Ðể mẹ gánh nước rửa bành cho voi

Muốn con lên núi mà coi,

Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.”

Hay: “Vạn Niên là Vạn Niên nào,

Thành xây xương lính, hào đào máu dân.”

Câu ca dao là lời ta thán của nhân dân khi phải chịu cảnh phu phen tạp dịch nặng nề để xây lăng Vạn Niên cho vua Tự Ðức

Ca dao còn phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống Những phong tục, tập quán truyền thống trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân được thể hiện rất phong phú trong ca dao Ðây

là những tập quán trong lao động nông nghiệp, ngư nghiệp:

“Người ta đi cấy lấy công,

Còn tôi đi cấy còn trông nhiều bề,

Trông trời, trông đất, trông mây,

Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

Trang 3

Trông cho chân cứng, đá mềm,

Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng

Nhưng đại đa số các bài ca dao phản ánh đời sống tình cảm nhân dân

Ca dao trước hết là tiếng hát về tình yêu đất nước Những thắng cảnh thiên nhiên mọi miền đất nước, những công trình văn hóa từ bao đời được khắc họa như một bức tranh rộng lớn trong ca dao, thể hiện sự nhận thức về cương vực tổ quốc, lòng yêu mến, tự hào về đất nước, con người

“Nhất cao là núi Ba Vì,

Thứ ba Tam Ðảo, thứ nhì Ðộc Tôn.”

“Rủ nhau chơi khắp Long Thành,

Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai

Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.”

Tiếp theo, ca dao trữ tình còn nói về tình yêu nam nữ Nó phản ánh mọi biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng đường của nó: giai đoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao gửi những lời thề

nguyền, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ

nhung hoặc nỗi đau khổ với những lời than thở, oán trách

“Hôm qua tát nước đầu đình,

Trang 4

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà

Giúp em qua tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau”

Một bộ phận bài ca này còn mang thêm ý nghĩa xã hội, những bài ca nói đến sự trắc trở trong tình yêu đôi lứa:

“Hai ta là bạn thong dong,

Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng

Bởi chưng thầy mẹ nói ngang,

Cho nên đũa ngọc, mâm vàng xa nhau.”

Ca dao trữ tình thể hiện rất phong phú những biểu hiện của tình cảm gia đình: tình cảm vợ chồng, tình cảm cha mẹ và con cái, tinh cảm anh

em phản ánh nhiều mặt đời sống tình cảm của nhân dân

“Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay,

Ðạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay,

Dẫu có làm nên danh vọng, rủi có ăn mày ta cũng theo nhau.”

Xét bề rộng, ca dao còn phản ánh đời sống xã hội cũ với những tâm trạng đau khổ, chua xót, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân chống ách thống trị phong kiến

“Gánh cực mà đổ lên non,

Trang 5

Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo.”

“Con vua thì lại làm vua,

Con sãi ở chùa lại quét lá đa,

Bao giờ dân nổi can qua,

Con vua thất thế lại ra quét chùa.”

Ca dao phản ánh khá nổi bật đời sống, tâm trạng người phụ nữ trong xã hội cũ Ðây cũng là những tâm trạng uất ức, đau khổ trước những bất công

xã hội áp đặt đối với người phụ nữ

“Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.”

Những bài ca về người lính và người vợ lính phản ánh sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân trước những cuộc chiến tranh phong kiến xảy ra liên miên suốt bốn thế kỷ từ đầu thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX Ðây là bài ca về người lính thú với tâm trạng u uất, buồn khổ:

“Ba năm trấn thủ lưu đồn,

Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan

Chém tre đẵn gỗ trên ngàn

, Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai !

Miệng ăn măng trúc, măng mai,

Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng ?”

Ca dao còn chứa đựng tiếng cười trào phúng Các hiện tượng trái tự nhiên, không bình thường có thể trở thành đối tượng của nó

Trang 6

“Chồng còng mà lấy vợ còng,

Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.”

Bằng tiếng cười trào phúng, nhân dân phê phán, đả kích giai cấp thống trị, những hiện tượng không bình thường, phi lý, những tệ trạng thể hiện khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn Những bài thách cưới có tính chất trào phúng phê phán những tục lệ thách cưới, nộp cheo, là những hủ tục trong chế độ hôn nhân xưa:

“Em về thưa với mẹ cha,

Bắt lợn đi cưới bắt gà đi cheo

Ðầu lợn lớn hơn đầu mèo,

Làng ăn không hết làng treo cột đình

“Anh nói với em,

Như dao chém xuống đá,

Như nhựa chém xuống đất,

Như mật rót vào tay

Trang 7

Bây chừ anh đã nghe ai,

Bỏ em giữa chốn thuyền chài rứa ri.”

Về cấu tứ, ca dao khá phong phú song cấu tứ theo lối đối thoại khá phổ biến trong ca dao

“Bây giờ mận mới hỏi đào,

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?

Mận hỏi thì đào xin thưa,

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.”

Cấu tứ theo lối phô diễn về thiên nhiên là một kiểu cấu tứ quen thuộc trong ca dao

“Một đàn cò trắng bay tung,

Bên nam bên nữ ta cùng hát lên.”

Về ngôn ngữ, ca dao ưa sự giản dị, cụ thể

“Nước ròng bỏ bãi xa cừ,

Gặp em hỏi thử sao từ ngỡi nhân ?”

“Em ơi chua ngọt đã từng,

Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.”

Thứ 4, ta xét tới thời gian và không gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại

“Bây giờ ta gặp nhau đây,

Như con cá cạn gặp ngày trời mưa.”

Trang 8

Không gian nghệ thuật trong ca dao là không gian có tính hiện thực, xác định.

“Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp,

Em qua không kịp tội lắm anh ơi,

Bấy lâu ni mang tiếng chịu lời,

Dẫu xa nhau chăng nữa cũng tại trời mà xa”

Thứ năm, ta xét tới biện pháp tu từ So sánh, ẩn dụ, nhân hóa, chơi chữ, ngoa dụ là những biện pháp nghệ thuật rất tiêu biểu trong ca dao

“Thân em như hạt mưa rào,

Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa.”

“Thuyền ơi có nhớ bến chăng,

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.”

1.2 Nhìn chung ca dao Nam Bộ

1.2.1 Vài nét về mảnh đất Nam Bộ

1.2.1.1 Thiên nhiên

Nam Bộ là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một chế độ nhiệt độ cao quanh năm ít biến động Có hai mùa: mùa mưa và mùa nắng Sự phân hóa các mùa khí hậu thể hiện sự tương phản của hai mùa gió Mùa mưa trùng với gió mùa Tây Nam, mùa khô trùng với gió mùa Đông Bắc Thời tiết nói chung rất thuận lợi cho việc sản xuất, ít có diễn biến đột ngột thất thường

Các sông lớn và hệthống sông rạch chằng chịt tạo cho vùng có một nguồn nước dồi dào quanh năm phục vụsản xuất nông nghiệp Nó cung cấp cho một nguồn thủy sản phong phú Với hệ thống sông dày đặc, Nam Bộ

Trang 9

thuận lợi trong việc phát triển giao thông đường thủy nhất là khi hệthống giao thông đường bộchưa được mở mang

Thảm thực vật ở Nam Bộ rất phong phú và đa dạng, gồm có quần thể thực vật trên các bãi lầy ven biển (với các cây mắm trắng, bần đắng, vẹt, đước, sú, cóc kèn, ô rô…), quần thể thực vật ven sông rạch (với các loài cây nhưdừa nước, bần chua, mướp xác, quao nước, trâm bầu, cà na,

lau, sậy, dây lùn…);…Loài động vật sống trên không như chim thì khá phong phú về chủng loại Nam Bộ có sân chim Vàm Hồ, Cồn Đất,… Nhóm động vật sống dưới nước ở Nam Bộ rất phong phú do sự chi phối của sông

và biển Đáng chú ý nhất là các loài cá Điều kiện tự nhiên như trên tạo điều kiện thuận lợi cho người dân Nam Bộ làm ăn sinh sống Nam Bộ có đồng bằng song Cửu Long, là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiều nhất Đông Nam Á và thế giới, là vùng sản xuất, xuất khẩu lương thực, vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất Việt Nam Tuy nhiên, chúng cũng tạo ra những bất lợi, nhất là sự hạn chế trong giao thông đường bộ do sự

1.2.1.2 Con người

Người miền Nam sống với thiên nhiên bao la, lại giàu có song đó là thiên nhiên còn mang tính hoang dã Do chịu tác động của điều kiện tự nhiên và môi trường sống nên con người nơi đây rất chân chất, bộc trực, cởi mở và hào hiệp Họ là những con người tự lực, tự cường, thông minh vượt khó, chinh phục miền đất hoang vu từ buổi đầu khai thiên lập địa Hơn nữa đây là vùng khai phá muộn, lại trải qua nhiều biến đổi Tuy các vua Nguyễn muốn xây dựng thành vùng dân trí cao như ngoài Bắc song vấp phải sự xâm lược của thực dân Pháp, nền học cũ bị bỏ, trong khi cái mới thì còn khá nhập nhèm và chỉ phát triển ở Hà Nội Vì vậy, đại đa số người dân miền Nam thiếu học, lại mất đi nguồn bổ sung nhân lực chính là các binh lính từ các phiên trấn thuộc chính quyền trung ương, sinh hoạt văn

Trang 10

hóa thông thường và dễ dãi của người bình dân là hát hò với nhau Với sự hình thành cư dân như vậy, ta có thể giải thích được tại sao văn hóa miền Nam không bị gò bó vào khuôn mẫu và có tính cách thuần nhất như ở miền Bắc Người bình dân, lính thú thiếu học, đơn giản, sống tương đối rải rác

sẽ khó có thể có những sinh hoạt văn hóa dựa trên chữ viết, sân khấu mà sinh hoạt truyền miệng, phóng khoáng hơn, dễ dãi hơn được phát tirển mạnh Họ không có khả năng ngâm vịnh, sáng tác Tinh thần văn hóa ở phần đất này có những độc đáo, tự nhiên, bình dị và đôi khi đi đến sỗ sàng, trong khi tinh thần văn hóa ở phần đất thuộc Đàng Ngoài (thuộc chúa

Trịnh) đã đạt đến mức tinh luyện, khuôn mẫu, nghiêm túc

1.2.2 Đặc điểm ca dao Nam Bộ

1.2.2.1 Nội dung ca dao Nam Bộ

Là một bộ phận ca dao cả nước, ca dao Nam Bộ phản ánh cuộc sống, sinh hoạt và cả tập quán của nhân dân Nam Bộ trong hàng trăm năm Nó là những suy nghĩ, mơ ước về tình bạn, tình yêu, tình vợ chồng, là nhận thức

về thế giới xung quanh như cỏ cây, sông núi, đất trời Chính yếu tố bình

dị, nghĩ sao nói vậy, mộc mạc, dễ hiểu đã làm cho ca dao miền Nam có sức sống rất mạnh, được quần chúng chấp nhận dễ dàng và do đó làm ảnh hưởng đến sự sinh hoạt và tư tưởng của quần chúng

Đầu tiên, ca dao Nam Bộ phản ánh sinh động cảnh quan thiên nhiên

Nó là tấm gương phản ánh chân thật, sinh động nhất về vùng đất và con người nơi đây

“ Quê em ba dãy cù lao

Có dừa ăn trái, có cau ăn trầu”

“ Bến Tre ba đảo dừa xanh

Quê hương Đồng Khởi mát lành phù sa”

Trang 11

Thiên nhiên ấy còn là thiên nhiên mang đầy nét vẻ hoang sơ Nét hoang sơ của thiên nhiên Nam Bộ buổi đầu khai phá thể hiện ở môi trường khắc nghiệt “rừng thiêng nước độc”::

“Rừng thiêng nước độc thú bầy

Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh”

-“Tháp Mười nước mặn, đồng chua

Nửa mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng”

Nổi bật hơn hết ở nội dung ca dao Nam Bộ là sự phản ánh về về con người, về những sự kiện lịch sử, sự kiện trong đời sống thường ngày Đầu tiên, đó là tâm trạng, suy nghĩ của những nhười đi khai hoang Trụ lại ở vùng đất mới,lưu dân bắt đầu cuộc sống mới :

Trai tứ chiếng, gái giang hồ

Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên.

Những con người của “tứ chiếng giang hồ” nghĩa là của mọi miền quê

tụ về đây Câu ca dao trên là một lời nhận định, một kết luận khái quát, xác lập với lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ ca dao Nam bộ đã ghi lại được hình ảnh của người đi khai phá đất mới Đôi khi họ như những người lính

ra đi không trở lạivì “Rừng thiêng nước độc, thú bầy “ Nhưng nét nổi bật của họ không phải là nỗi buồn nhớ mang mác mà là ý chí vượt gian nan, dũng cảm, gan góc với biết bao nhiêu cực nhọc nguy hiểm để làm công việc “khai son phá thạch:, biến mảnh đất này từ hoang sơ trở thành nơi trù phú

Con người Nam Bộ mang nét tính cách riêng Đó là sự trọng nghĩa

Họ mang tinh thần của những con người nghĩa khí, những con người sẵn sàng xả thân mình để cứu người, để làm những việc mà họ cho là hợp với đạo lý và lòng trung thành Tác giả ca dao Nam Bộ thường xuyên nói về chữ nghĩa cũng trên tinh thần đó Trọng nghĩa gắn với khinh tài Nếu người

Trang 12

xưa đã từng cay đắng nhận rằng "nén bạc đâm toạc tờ giấy" hoặc chua chát

"có tiền mua tiên cũng được" thì tác giả ca dao Nam Bộ khẳng định:

Tiền tài như phấn thổ, Nghĩa trọng tợ thiên kim Con le le mấy thuở chết chìm Người bạc tình bạc nghĩa kiếm tìm làm chi.

Lối sống ngang tàng là hệ quả của tinh thần nghĩa khí hào hiệp trong con người Nam Bộ Những con người tứ chiếng từ những huyện phủ khác nhau về vùng đất mới mang trong mình nhiều chất phản kháng, ít chịu sự ràng buộc của lễ giáo, không bao giờ bị khuất phục Họ chấp nhận mọi hiểm nguy, mọi thử thách (nắng mai - mưa chiều) thậm chí trong những hoàn cảnh nhất định, họ đã phải liều:

Ra đi là sự đánh liều, Nắng mai không biết, mưa chiều không hay.

Hình ảnh con người Nam Bộ còn thể hiện ở tình yêu nam nữ Ta ít gặp cái e dè, ý nhị như ở Bắc Những người con gái, con trai Nam Bộ bạo dạn hơn rất nhiều trong lời tỏ tình, đùa vui:

“ Hủ qua (khổ qua) xanh, hủ qua trắng

Hủ qua mắc nắng hủ qua đèo

Thương em, thì anh làm giấy giao kèo

Lăn tay điểm chỉ mới thiệt con mèo của em”

“Thấy em gò má hồng hồng

Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hun”

Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

Trang 13

“Thương em nên mới đi đêm

Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau

May đất mềm nên mới hổng đau

Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này”

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’ Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

“Vắng cơm ba bữa còn no

Vắng em một bữa giở giò không lên”

1.2.2.2 Nghệ thuật ca dao Nam Bộ

Về thể thơ, ca dao Nam Bộ sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc như thể lục bát và song thất lục bát nhưng mức độ ít hơn so với ca dao Bắc

bộ Xu hướng mà ca dao Nam Bộ chiếm lĩnh là các biến thể của lục bát và song thất lục bát Nhưvậy, dù có ý thức sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc nhưng do nhu cầu giãi bày nỗi lòng nên người lao động không rập khuôn theo những quy tắc Thể hỗn hợp có nhưng số lượng không nhiều Ngôn ngữ ca dao Nam Bộ là ngôn ngữ đời thường, đậm nét phương ngữ Chất đời thường thể hiện qua văn phong nói hằng ngày như dùng khẩu ngữ, kiểu nói tách tư, dùng phương ngữ Nam bộ, đặc biệt là sử dụng đại từ xưng hô "tui" Chất phóng túng biểu hiện ở cách dùng hình ảnh có sức gợi

tả và cách dùng tính từ, trong đó mỗi một tính từ đều nói lên một mức độ

cụ thể hiện tượng

Về kết cấu, ca dao Nam Bộ cũng có hai kiểu nổi bật: kết cấu đối thoại

và kết cấu miêu tả thiên nhiên ở phần đầu Cả hai kết cấu này đều là kết cấu phổ biến của các bài hát dân gian Kết cấu đối thoại là sản phẩm của hình thức trao gởi tình cảm của nam và nữtừlúc gặp gỡ đến khi thành vợchồng

Trang 14

Họ đối đáp với nhau hay có khi chỉ là hát đơn phương để bộc lộ nỗi lòng Kết cấu miêu tả thiên nhiên ởphần mở đầu cũng đáng chú ý Việc thiên nhiên xuất hiện ởphần mở đầu của bài hát dân gian làmcho bài hát trở nên giàu hình ảnh, phản ánh sự gắn bó của người lao động với thiên nhiên vì đây là môi trường họ giao tiếp nhiều hơn giao tiếp với xã hội.

TIỂU KẾT

Trong chương 1, chúng ta đi tìm hiểu chung về ca dao cả nước, đặc biệt ca dao Nam Bộ Ta nhận thấy, bằng các biện pháp nghệ thuật giản dị

mà tinh tế, ca dao đại đa số phản ánh đời sống tình cảm nhân dân Đầu tiên

là tiếng hát về tình yêu đất nước Những thắng cảnh thiên nhiên mọi miền đất nước, những công trình văn hóa từ bao đời được khắc họa như một bức tranh rộng lớn trong ca dao, thể hiện sự nhận thức về cương vực tổ quốc, lòng yêu mến, tự hào về đất nước, con người Sau đó, ca dao còn phản ánh mọi biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng đường của nó: giai đoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao gửi những lời thề nguyền, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ

Cùng trong dòng chảy của ca dao, tuy vậy, ca dao Nam Bộ mang một

số nét riêng biệt Vì sinh thành trong thời kì, người dân Nam Bộ còn đang phải khai phá thiên nhiên, điều kiện học hành ít nên lời ca không mang tình bác học khuôn mẫu Người dân có gì nói nấy, thậm chí có chỗ còn bả lả, sống sượng mà ngoài Bắc chưa bao giờ gặp Song trên hết, ta vẫn thấy lời

ca của họ cất lên những suy nghĩ, mơ ước về tình bạn, tình yêu, tình vợ chồng, là nhận thức về thế giới xung quanh như cỏ cây, sông núi, đất trời

Trang 15

Về nghệ thuật, ca dao Nam Bộ cũng phóng túng như nội dung Dù có

ý thức sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc nhưng do nhu cầu giãi bày nỗi lòng nên người lao động không rập khuôn theo những quy tắc Xu hướng mà ca dao Nam Bộ chiếm lĩnh là các biến thể của lục bát và song thất lục bát Ngôn ngữ ca dao Nam Bộ là ngôn ngữ đời thường, đậm nét phương ngữ Người bình dân dùng nhiều khẩu ngữ, kiểu nói tách tư, dùng phương ngữ Nam bộ như chính lời nói hàng ngày Chính yếu tố bình dị, nghĩ sao nói vậy, mộc mạc, dễ hiểu đã làm cho ca dao miền Nam có sức sống rất mạnh, được quần chúng chấp nhận dễ dàng và do đó làm ảnh hưởng đến sự sinh hoạt và tư tưởng của quần chúng

Chương 2 Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong sự đối sánh với

ca dao Bắc Bộ2.1 Hình ảnh về thiên nhiên, sự vật

2.1.1 Hình ảnh một vùng sông nước

Nam Bộ là một vùng sông nước có hệ thống sông ngòi chằng chịt Ở Nam Bộ, sông là đặc điểm nổi bậc của môi trường thiên nhiên Trong sách

“Gia Định thành công chí” (Nhà văn hoá xuất bản 1972), Trịnh Hoài Đức

đã miêu tả: “Ở Gia Định, sông suối dọc ngang chằng chịt”, “Đất Gia Định nhiều sông, kênh, cù lao và bãi cát ”, “Ở Gia Định, chỗ nào cũng có ghe

Trang 16

thuyền hoặc dùng thuyền làm nhà ở, hoặc để đi chơi, đi thăm người thân, chở gạo củi, buôn bán, ” Theo một số tài liệu xưa, những kênh đào Nam

Bộ có tổng chiều dài khoảng 2500 km và các sông rạch tự nhiên khoảng

2400 km Trong quyển “Thiên nhiên Việt Nam”(NXB KHKT 1989) của Lê

Bá Thảo cũng ghi nhận có 4900km kênh đào Như vậy, chỉ với khoảng 40.000km2, Nam Bộ có tổng chiều dài kênh rạch đến gần 5000km Kênh rạch chằng chịt, cắt xẻ ăn sâu khắp bề mặt vùng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và giao thông đường thuỷ Làng xóm Nam

Bộ thường lấy sông ngòi làm ranh giới địa phương, bên này sông là một địa phương và bên kia sông là một địa phương khác Từ nhỏ, họ đã được tắm mình giữa trời nước bao la rồi khi lớn lên họ phải đi qua những chiếc cầu tre nối nhịp đôi bờ, những khi buông câu, thả lưới, những lúc chở hàng bông ra chợ họ cũng gắn chặt cuộc đời mình với dòng nước bao la Dòng sông dọc ngang chằng chịt như những mạch máu lớn nhỏ trong “cơ thể Nam Bộ” Người Nam Bộ ví sông ngòi như máu nuôi cơ thể mình

Cho nên từ lâu hình ảnh chiếc ghe, con đò, dòng sông, chiếc cầu là hình ảnh hết sức quen thuộc với người dân nơi đây Không phải ngẫu nhiên

mà hình ảnh thuyền (ghe, tàu, đò, xuồng) xuất hiện với tần số dày đặc trong

ca dao Nam bộ Sự xuất hiện của chúng bắt nguồn từ thực tế ứng xử của người Việt Nam bộ với môi trường sông nước Nói khác đi, đó là chứng tích của một nền văn minh sông nước trong ca dao, bởi vì con thuyền, chiếc ghe, chiếc xuồng… từ bao đời nay đã gắn chặt với đời sống miền sông nước, chúng đi vào tiềm thức con người và xuất hiện trở lại trong ca dao Tương tự như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ cũng là biểu hiện của nền văn minh kinh rạch Ngay cả hình ảnh phổ biến trong lời của những điệu hò chèo ghe nói chung vẫn là cảnh trăng sao, mây nước, con thuyền, dòng sông, mái chèo,…:

Trang 17

-Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.

-Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi

Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm.

-Sông bến tre nhiều hang cá ngát.

Đường kho bạc lắm cát dễ đi.

-Tây ninh có núi điện bà

Có sông Vàm Cỏ có toà Cao Sơn.

-Rạch gầm soài mút tăm tăm

Xê xuống chút nữa tới vàm Mỹ Tho…

Nếu so sánh với Bắc Bộ ta sẽ thấy rõ điểm chung và sự khác biệt Ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ giống nhau cùng phản ánh thiên nhiên tươi đẹp, môi trường lao động cũng là môi trường nảy sinh, nuôi dưỡng tình yêu của các chàng trai, cô gái mang sắc thái địa phương riêng Nhưng hình ảnh thiên nhiên không giống nhau Cùng nằm trong cái nôi văn hóa của quê hương, ca dao dân ca Nam bộ đã mang đến cho kho tàng văn học dân gian những hình ảnh thiên nhiên khác hẳn Bắc Bộ Ca dao đồng bằng Bắc Bộ xuất hiện nhiều hình ảnh nằm trong tổng thể hình ảnh làng xã như giếng nước, cây đa, lũy tre, sân đình…, thiên nhiên trong ca dao Nam Bộ hiện lên đậm đặc hình ảnh của miệt vườn, sông nước, tôm cá… Hình ảnh sông nước trong ca dao Bắc Bộ thường nhỏ bé, yên bình gắn với làng quê cụ thể như bến nước, ao làng, giếng khơi trong khi ca dao Nam Bộ lại mênh mông, chằng chịt kênh rạch, với sự trù phú của các sản vật sông nước Ca dao miền Bắc hay có hình ảnh về cái ao nhỏ nhỏ trước nhà, cái ao thả cá trong khi miền Nam hoàn toàn không có:

“ Tiếc công anh đào ao nuôi cá,

Năm bảy tháng trời, người lạ tới câu”

Trang 18

Đặc biệt, vì địa hình đại đa số bằng phẳng nên hình ảnh núi ở Nam Bộ cũng không thấy xuất hiện, trong khi miền Bắc lại rất nhiều:

“ Núi cao chi lắm núi ơi,

Che khuất mặt trời, không thấy người yêu.”

Ca dao Nam Bộ đã hóa thành những bức tranh chân thực về thiên nhiên vùng sông nước mà không nơi nào trên nước ta có, đặc biệt là của nguời dân vùng đồng bằng Nam Bộ Từ đó, nó góp phần làm phong phú bức tranh thiên nhiên phong phú, tươi đẹp của Tổ quốc

Ở đây, chúng tôi xin thống kê một số hình ảnh thiên nhiên, sự vật tiêu biểu thường xuất hiện trong ca dao Nam Bộ

Chiếc ghe đầu tiên là hình ảnh gắn liền với vẻ đẹp mênh mang vời vợi của một vùng sông nước Nói tới vẻ đẹp của thiên nhiên Nam Bộ phải nói tới vẻ đẹp của những ghe thuyền lướt trên dòng sông

Chiếc ghe cũng là hình ảnh của cuộc sống buôn bán khá vất vả trên sông nước Đôi khi thuyền có chức năng như một ngôi nhà di động, chứa bao nhiêu nông sản và con người Cứ thế, chiếc ghe vào từng con kinh, con rạch, hết nơi này đến nơi khác Có lúc những chiếc ghe họp thành một chợ nổi, sầm uất, náo nhiệt mà ai đã tới một lần không thể quên

“ Dời chưn bước xuống ghe buôn,

Sóng bao nhiêu gợn dạ buồn bấy nhiêu.”

Trang 19

Bước xuống ghe buồn cũng đồng nghĩa với việc xa nhà, phải đối mặt với cuộc sống cô đơn, một mình mình đối diện với sông nước đêm đen Ngoài ra trong chuyến đi này, không biết buôn bán ra sao, lời lãi thế nào Nhưng trên hết là nỗi nhớ nhà da diết, nhớ vợ, nhớ con còn buồn nào hơn nỗi buồn chia ly Ở đây tác giả so sánh nỗi lòng của mình với sóng nước Sóng có bao nhiêu gợn thì lòng mình cũng buồn bấy nhiêu, nhưng gợn sóng là vô vàn, không sao đếm được Cho nên tấm lòng của họ nhớ nhà, đau đáu chờ mong, buồn man mác cũng bấy nhiêu, không sao nói hết được Rồi chẳng mấy chốc, chiếc ghe thành biểu tượng cho con người Con người cũng sống trôi nổi cùng chiếc ghe Ghe vất vả hay chính con người vất vả Ghe trông ngóng hay chính con người cũng đang trong trạng thái chờ đợi

Người Nam bộ đã mượn hình ảnh chiếc ghe để nói lên nỗi lòng của mình, nói lên sự trông ngóng, khấp khởi chờ mong người yêu đến thăm mình:

Ghe ai đỏ mũi xanh lườn,

Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em

Ở đây người con gái nhận dạng chiếc ghe của người yêu mình Chiếc ghe của người yêu cô có đặc điểm: "đỏ mũi, xanh lườn" nên khi thấy chiếc ghe có đặc điểm này thì cô gái mừng thầm, đinh ninh là ghe của người yêu xuống thăm mình “Nhưng cô gái ở đây vẫn cẩn trọng, không hấp tấp vội

vã Vì cả vùng sông nước này có biết bao chiếc ghe có cùng đặc điểm đó, không khéo sẽ bị hớ Nên cô gái mới đặt lời ướm hỏi Từ "phải" là một từ

để hỏi nhưng ở đây là dạng hỏi tu từ Không cần người đáp Hỏi để rào trước đón sau mà thôi Có phải thì hãy đến nơi hẹn, hãy thẳng nơi mà đến Còn không phải thì chỉ việc đi ngang qua.” []

Trang 20

Chiếc ghe còn thể hiện cho nỗi nhớ của con người, nhất là người vợ có chồng đi xa Vì cuộc sống mưu sinh mà vợ chồng phải xa cách, vắng nhau bao ngày là bao nỗi lòng nhung nhớ Về nhà chưa được bao lâu, lửa nồng chưa ấm anh đã vội ra đi Người chồng đi buôn bán xa, vài ba ngày mới về một lần Cho nên trông chồng cũng là hình ảnh chiếc ghe và nhớ chiếc ghe cũng là nhớ chồng:

Ghe lui khỏi vịnh, em thọ bịnh liền,

Không tin anh hỏi xóm giềng mà coi

Chiếc ghe ấy còn là chứng nhân cho những lời tỏ tình yêu thương của con người Nam Bộ Và có khi họ nên duyên cũng từ đó:

“Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi

Qua khỏi chỗ này lùm bụi tối tăm.”

“Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi,

Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm”

Giữa một đêm trăng thanh gió mát, chàng trai Nam Bộ bắt gặp chiếc ghe của cô gái chở hàng bông ra chợ đang chèo tới ở phía sau anh ta liền buông mấy lời chọc ghẹo Song đó không phải lời bỡn cợt mà là cách thể hiện sự quan tâm lo lắng của chàng trai với cô gái Giữa trời nước bao la

mà chỉ có một mình cô gái chèo ghe chở hàng ra chợ Anh lo lắng cho cô gái bảo cô chèo mau lên nếu không giông đến thổi tắt đèn mà cô thì có môt mình biết phải làm sao Cô gái cũng cảm thấy ấm lòng khi giữa đêm khuya thanh vắng mà lại có người quan tâm đến mình, nên cô cũng hò đáp lại:

“Nhứt nhựt tiểu thân chứ nhà của anh đâu mà em không biết,

Chứ gặp anh giữa đường, cái quyết chí mà thương anh.”

Chiếc ghe, chiếc xuồng, dòng sông cũng là những hình ảnh được người

dân Nam bộ gởi gắm vào đó những nỗi niềm tâm sự, những cảm nhận của cuộc đời, than thân trách phận, nói lên cuộc sống nghèo khó của mình:

Trang 21

“Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi !

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.”

“ Không xuồng nên phải lội sông,

Đói lòng nên phải ăn ròng bè môn”

Câu đầu tiên là lời than, than cho việc buôn bán ế ẩm Sự ngao ngán của

cô gái đến vì không có người mua nên phải chèo mãi, chèo đến mỏi mêt mà vẫn không bán được hàng Bìm bịp là loài chim rất quen thuộc ởNam bộ,

hễ nó kêu là nước lớn, cho nên tiếng bìm bịp kêu cũng là lời dự báo cho con nước sắp lên Lời than của cô gái ở đây phải chăng ngụ ý trong từng tiếng kêu của con bìm bịp Bìm bịp kêu nước lớn rồi nước ròng, rồi bìm bịp kêu : nước lớn cứ thế hết ngày mà bán buôn chẳng được gì

Tác giả của câu ca dao thứ hai thì có lẽ do quá nghèo túng, nghèo đến nỗi không có chiếc xuồng để đi, mọi việc di chuyển chỉ bằng cách lội sông

Mà không có xuồng cũng có nghĩa là thiếu phương tiện đánh bắt nên phải

ăn " ròng bè môn"

So sánh với ca dao Bắc Bộ, ta thấy ca dao hai miền đều có hình ảnh phương tiện trên sông nước song ca dao Nam Bộ nhiều hơn cả Bắc Bộ ít hơn và thường mang tính biểu tượng cao cho anh và em, cho mình và ta, cho người chờ đợi - người ra đi trong mối duyên tình Hơn nữa, trong ca dao Bắc Bộ, phương tiện ấy được định danh là chiếc thuyền.Ví như:

“Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.”

Thường là chiếc “thuyền câu bé tẻo teo” cho phù hợp với cái diện tích

“xinh xắn của ao làng”

2.1.1.2 Hình ảnh cái cầu

Vì sông ngòi chằng chịt, văn hóa sông nước in đậm vào tư duy và sản phẩm nghệ thuật của người dân Nam Bộ nên chiếc cầu là hình ảnh thân

Trang 22

thuộc, gần gũi trong đời sống sinh hoạt, lao động, tình cảm Ở ca dao Bắc

Bộ, hình ảnh chiếc cầu cũng xuất hiện nhiều Đây là giao điểm chung trong

ca dao hai miền song ca dao miền Bắc thích hình ảnh lãng mạn, tinh tế như cầu cành hồng, cầu dải yếm còn ca dao Nam Bộ thì hay lấy cầu khỉ, cầu tre Chiếc cầu khỉ, cầu tre đã thành hình ảnh đẹp của quê hương Nghe điệu hát ru nói về cầu khỉ, cầu tre lắc lẻo mà ta bồi hồi nhớ về hình ảnh quê hương – hình ảnh đã in đậm trong tâm trí bao người:

“Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó qua.”

Bên cạnh đó hình ảnh của cầu ván, cầu tre, các phương tiện đánh bắt cũng được người dân ở đây mượn làm phương tiện để nói nên nỗi lòng của mình:

“Ví dầu cầu ván đóng đinh,

Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.

Ví dầu mẹ chẳng có chi,

Chỉ con với mẹ chẳng khi nào mòn.”

Cầu tre, cầu ván là hai hình ảnh rất quen thuộc đối với người

dân Nam bộ Nó thường được bắc qua những con kinh, con rạch, sông nhỏ

Ở đây, người phụ nữ mở đầu bằng một hình ảnh rất quen thuộc này như là một lời tâm sự của mình đối với con về tình mẫu tử thiêng liêng Có thể người phụ nữ này đã bị chồng phụ bạc nên cô rất đau buồn, coi như là mất tất cả, cô chẳng còn thiết sống nữa nhưng may còn được đứa con, nó là nguồn an ủi vô giá đối với cô, níu chân cô lại trên cõi đời này Vì vậy, mọi tình yêu cô đều dành cho nó, xem như là nguồn an ủi duy nhất trong cuôc đời mình

“Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi

Trang 23

- Cầu cao ván yếu,

Con ngựa nhỏ xíu nó kiệu tứ linh

Em đi đâu tăm tối một mình

Hay là em có tư tình với ai?”

Đã từ lâu, cây cầu là sợi dây tình cảm xóa đi sự xa cách giữa nhà

"bậu", nhà "qua", giữa "mình" và "ta" Và nơi đây đã sản sinh biết bao câu

ca dao, dân ca mang hình bóng cây cầu theo các điệu hò Cần Thơ, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Kiên Giang, Cà Mau.” [] Hãy nghe lời một người mẹ ru con:

Ví dầu cầu ván đóng đinh,

Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.

Nhưng người mẹ vẫn dặn con:

Khó đi mẹ dắt con đi,

Con đi trường học mẹ đi trường đời.

hoặc:

Khó đi bậu vẫn cứ đi,

Mượn ly uống rượu, mượn đờn đánh chơi.

Chiếc cầu ấy còn nói lên tình cảm chân chất, mộc mạc của con người nơi đây Nó bắc qua con mương, cái lạch, dòng sông, nối liền đôi bờ, thành nơi gặp gỡ, hò hẹn, đón đưa Bên cạnh chiếc cầu bình thường đó còn

có chiếc cầu trừu tượng nối những tấm lòng, những trái tim Từ chiếc cầu thực, tác giả dân gian sử dụng phương thức ẩn dụ, mượn chiếc cầu trừu tượng để giãi bày tình cảm của mình Qua đó ta thấy quan niệm của người bình dân xưa: Tình yêu gắn với hôn nhân Và đây là lời một cô gái chủ động bắc một cây cầu có mười hai tấm ván thật chắc để đợi người yêu Con

số 12 cũng là biểu trưng mười hai bến nước cuộc đời mà cô gái sẽ chọn một bến nước trong, bến có anh:

Trang 24

Bên này sông em bắc cầu mười hai tấm ván.

Bên kia sông em lập cái quán hai tầng,

Ba nơi đi nói, không ưng,

Bán buôn nuôi mẹ, cầm chừng đợi anh.

(hò Sóc Trăng)

Thì ta chẳng còn thấy cái khó, cái khổ đâu nữa mà chỉ thấy cái chí, cái tình, cái vui Đó chỉ là "ví dầu" thôi, chứ thực ra chẳng có cầu nào ngăn được lòng người Cũng vì chiếc cầu tre "lắc lẻo" mà chàng trai bộc lộ một nỗi lo:

Cầu tre lắc lẻo anh thắt thẻo ruột gan.

Sợ em đi chửa quen đàng,

Rủi em có mạnh hệ, lỡ làng duyên anh

(hò Cần Thơ)

Cầu tre đã yếu, đã khó đi còn những cầu ván mỏng, ván yếu, ván oằn thì sao? Ta hãy lắng nghe ước mơ của một cô gái:

Anh về xẻ ván cho dày,

Bắc cầu sông cái cho thầy mẹ sang.

Các cô gái đôi khi mượn cớ cầu chênh vênh để được người yêu dắt

qua:Cầu cao ván yếu gió rung,

Em không đi được cậy cùng có anh.

(hò Trà Vinh)

Một chàng trai bộc lộ nỗi ngờ vực đối với bạn tình:

Cầu cao ván yếu, con ngựa nhỏ xíu, nó chạy tứ linh.

Em đi đâu tăm tối một mình,

Hay là em có tư tình với ai?

(hò Kiên Giang)

Trang 25

Chàng trai trong điệu hò Cần Thơ lại liên tưởng giữa "miếng ván con

vòng" và tính "ham mê cờ bạc" của em để có một lời khuyên:

Bước lên cầu ván mỏng, miếng ván cong vòng,

Thấy em mê cờ bạc, trong lòng hết thương.

Nhưng nếu em là người anh ưng, anh cất công tìm kiếm, thì cầu gì anh cũng chẳng ngại:

Xa nhau anh muốn lại gần,

Cầu không tay vịn, anh lần anh qua.

(hò Bạc Liêu)

Cho dù "cầu ván đóng đinh" thật vững, nhưng nỗi đau, nỗi bực dọc của chàng trai nghèo xa xứ không tiền cưới vợ cứ ám ảnh:

Bước xuống cầu, cầu oằn, cầu oại,

Bước xuống tàu, tàu chạy, tàu nghiêng.

Em thương anh bóp bụng đừng phiền,

Đợi anh về xứ kiếm tiền cưới em.

(hò Long An)

Hai câu đầu của giọng hò đối nhau chan chát với cách ngắt nhịp ngắn 3/2/2 diễn tả một tâm trạng, một chí hướng của chàng trai Thế mới biết sức mạnh của tình yêu!

Có khi lời nói của chàng mộc mạc thẳng thắn, tuy có pha chút dỗi hờn:

Cầu cao ván yếu, gió rung,

Em thương anh thì thương đại, ngại ngùng thì đừng thương.

(hò Cà Mau)

Điệu "Lý qua cầu" cứ văng vẳng khắp miền sông nước, trên ghe, trên xuồng Các chàng trai cô gái tỏ tình, giận hờn, nguyện ước, chia tay bên những cây cầu Con người Nam Bộ luôn mang trong mình chất "dõng dã",

Trang 26

"trọng nghĩa khinh tài" vì thế trong điệu hò, họ khuyên nhau đừng vì "cầu danh vọng" mà "tham đó bỏ đăng":

Cầu nào cao bằng cầu danh vọng,

Nghĩa nào trọng bằng nghĩa tao khang.

(hò Đồng Tháp)

Nếu tình duyên trục trặc thì dù có đi qua cầu sắt vững chắc đến đâu họ vẫn thấy không vững:

Anh đi qua cầu sắt,

Anh nắm tay em thật chắc, miệng hỏi gắt chung tình.

Bướm xa bông tại nhụy, anh xa mình tại ai?

(hò Sóc Trăng)

So sánh với ca dao Bắc Bộ, ta cũng thấy ca dao Nam Bộ xuất hiện một số hình ảnh cầu ẩn ý tinh tế tuy không nhiều, như người con gái bắc cầu sợi chỉ giúp người yêu “giảm mối sầu tương tư”:

Sông cách sông, thủy cách thủy,

Em xe sợi chỉ, em bắc cây cầu,

Để cho anh sang mà giảm mối sầu tương tư

Sợi chỉ là vật dụng thân quen gắn liền với đức tính chăm chỉ, khéo tay của người con gái Cô ấy mượn sợi chỉ để bắc chiếc cầu tình cảm đáp lại tình yêu của chàng trai Đó là tín hiệu yêu đương rất tinh tế của người con gái thuỳ mị nết na

Hình ảnh cầu sợi chỉ quả là đẹp, làm ta gợi nhớ tới hình ảnh những cây cầu ở ca dao Bắc Bộ Đây là chiếc cầu cô gái đứng chờ mong người thương về:

“Thương thương, nhớ nhớ, sầu sầu

Một ngày ba bận ra cầu đứng trông

Trang 27

Thấy người nam, bắc, tây, đông

Thấy người thiên hạ mà không thấy chàng.”

Có khi chiếc cầu được bắc bởi cành trầm

“Cách nhau có một con đầm,

Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang

Cành trầm lá dọc, lá ngang,

Đố người bên ấy bước sang cành trầm”

Một cách tỏ tình, tán tỉnh khác cũng dễ thương không kém, nhưng tinh nghịch hơn Chàng trai bắc chiếc cầu “cành trầm lá dọc, lá ngang” để thử thách cô gái Chàng trai mong đợi người con gái có bản lĩnh, mong đợi tấm chân tình bền vững

Hay: “Hai ta cách một con sông,

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang

Hay là:

Cô kia cắt cỏ bên sông,

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang

Chiếc cầu cành hồng chỉ có trong trí tưởng tượng, mang tính ước lệ Chiếc cầu nên thơ này là sản phẩm của tư duy sáng tạo thẩm mỹ, giúp chàng trai

tỏ tình, tán tỉnh cô gái

Tóm lại, những cây cầu đã trở thành hình ảnh gắn bó thân thương với đời sống lam lũ của người dân lao động và là một biểu tượng trong ca dao Nam Bộ “Nó ẩn hiện lung linh trong tâm hồn của họ qua mỗi điệu hò, điệu

lý, nó vang ngân mãi với sóng nước mênh mang và với muôn vạn nỗi

lòng ” []

2.1.1.3 Hình ảnh con sông

Trang 28

Nếu hình ảnh quen thuộc trong ca dao Bắc Bộ là cây đa, mái

đình, gợi rõ nét văn hoá cổ truyền của nông thôn Bắc Bộ thì trong ca dao dân ca Bắc Bộ, sông thường được nhắc đến như một đặc trưng cho quê hương, cho miền quê, Không ở đâu hình ảnh sông được lặp đi lặp lại nhiều lần với những giá trị thẩm mỹ sâu sắc, phong phú như trong ca dao Nam Bộ Con sông đã gắn với tâm thức của người dân nơi đây từ buổi đầu tiên bởi nó là nguồn sống cho con người Trên mảnh đất miền Nam Bộ, tuy quá trình lịch sử chưa diễn ra dài nhưng dấu ấn về"sông" đã đậm nét Sông

có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá vật chất ở Nam Bộ Dòng sông là đường giao thông huyết mạch, của ngõ sông là nơi lập chợ, nhiều

cư dân sinh sống trên sông, cất nhà ven sông Sông chở nặng phù sa, mang nước tưới tiêu cho ruộng vườn và mang lại nhiều sản vật đặc biệt là tôm

cá Đối với văn hoá tinh thần, nhiều tín ngưỡng, lễ hội dân gian và một số loại hình nghệ thuật dân gian hình thành từ môi trường sông nước Môi trường đó trong nhiều trường hợp cũng chính là môi trường diễn xướng dân

ca (ví dụ hò chèo ghe) Sông nước là một đặc trưng không thể thiếu của Nam bộ, mà gắn liền với sông nước là ghe, xuồng, lưới, câu, hò, cầu tre, cầu ván tất cả đã trở thành rất quen thuôc với người dân Nam bộ Cho nên trong ca dao dân ca Nam bộ, để bộc lộ tâm trạng của mình thì người dân nơi đây thường mượn các hình ảnh quen thuộc này để ví von, nhằm bộc lộ những gì mình muốn nói, bởi tất cả đó đã trở thành thị hiếu của người dân nơi đây

Khảo sát trong quyển “Ca dao dân ca Nam Bộ” của Bảo Định

Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị - Nxb TPHCM,

1994 (ký hiệu TL 1), chúng tôi nhận thấy hình tượng sông có tần số xuất hiện rất cao Bên cạnh những con sông cụ thể như Sài Gòn, Sông Tiền,

Trang 29

Sông nhà Bè, sông Vàm Cỏ… còn có những con sông điển tích như “sông Ngân”, “sông Tương”, “sông Giang Hà”…

"Sông" ở ca dao Nam Bộ hiện lên với các dạng như"con sông",

"vùng sông", "khúc sông", "bãi sông"… và gắn với các tính chất: "sông dài", "sông sâu", "sông rộng", "sông đầy", "sông bên lở bên bồi"…."Sông" được nhắc tới là những con sông cụ thể ở vùng đất này như sông Tiền,sông Cửa Đại , sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Hậu, sông Cửu Long, Người dân Nam Bộ phải thường xuyên tiếp xúc với sông nên họ có

sự hiểu biết sâu sắc và tường tận Mỗi con sông được nhắc trong ca dao Nam Bộ với đặc điểm riêng Sông Tiền có lượng nước dồi dào, có sóng mạnh:

“ Bước xuống "bắc" MỹTho thấy sóng xô nước đẩy

Bước lên bờ Rạch Miễu thấy nước chảy cây xanh…”

Sông Ba Lai với đặc điểm sóng ngược, nhiều nước:

"Sông Ba Lai sóng ngược

Chẳng bao nhiêu nước cho vừa

Sông Ba Lai sóng đánh tối ngày…"

Sông là hiện thân của dòng chảy lớn, dài, mênh mông, sâu và vô tận Những đặc điểm này khiến người ta dễ hình dung nó như một thực thể sống động, có khả năng diễn đạt nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống con người Việc sử dụng hình tượng sông nước ở đây trở thành một biểu tượng nghệ thuật cho tâm lí của con người, nhất là trong đề tài: “Tình yêu hôn nhân – gia đình”

Đầu tiên, sông cũng trở thành phương tiện thể hiện những ý niệm trừu tượng về đời người, nhất là những cảnh đời như “gạo chợ nước sông” trôi nổi:

-Gío thổi lao xao khúc sông nào sóng nấy

Trang 30

Thuyền em đi giữa dòng anh thấy anh thương

-Khúc sông chật hẹp khôn tuỳ

Lo cho thân bậu sá gì thân qua

-Đạo nào bằng đạo đi buôn,

Xuống biển lên nguồn gạo chợ nước sông

Có lúc, sông được làm cơ sở chứng minh cho sự bền vững:

“Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên”

“Sông dài cá lội biệt tăm

Thấy anh người nghĩa, mấy năm em cũng chờ”

“Sông dài cá lội biệt tăm

Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ

Sông sâu cá lội vào bờ,

Phải duyên thì lấy, đợi chờ nhau chi”

Song cũng chính “khúc sông” ,”sông dài” , “sông sâu”, “sông cạn” lại thành những biểu trưng nghệ thuật miêu tả những ngăn cách , hoàn cảnh éo

le, sự thử thách của cuộc đời:

-Sông sâu cá lội ngù ngờ

Biết em có đợi mà chờ uổng công

-Sông dài cá lội biệt tăm

Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ.

-Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

Núi lở non mòn,ngỡi bạn không quên.

Trong nhiều bài ca dao than thân, tình nghĩa, con sông trở thành biểu tượng cho sự ngang trái trong tình yêu, cho lòng người khó dò:

-Chết đi thôi bớ vợ chồng đời

Sông sâu anh không dọ để giữa vời hụt chân

Trang 31

-Sông sâu sào vắn khó dò

Kia kìa con tạo đưa đò âm cung

-Sông sâu biết bắc mấy cầu

Khi thương thì anh thương vội

Khi sầu anh để lại cho em

-Sông dài được mấy đò ngang

Ai nhiều nhơn ngãi chỉ mang oán thù.

-Bơ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi

Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm

-Sông sâu vực thẳm hỡi chàng

Đâu đâu cũng vậy anh phụ phàng làm chi.

-Sông sâu sóng bủa láng cò

Thương em vì bởi câu hò có duyên.

Hình tượng sông còn khơi dậy ý niệm một cái gì đó mênh mông vô tận

nên xu hướng phổ biến nhất là lấy đặc điểm hình thể: dài, rộng, sâu, bao la của sông để gợi liên tưởng về sự xa cách, sự bền vững, về cái lớn lao, vô tận:

-Ơn hoài thai như biển

Ngãi dưỡng dục tợ sông

Em nguyền ở vậy không chồng

Lo nuôi cha mẹ hết lòng đạo con

-Ơn cha rộng thênh thênh tựa biển

Nghĩa mẹ dài dằng dặc tựa sông

Việc sang sông được xem là sang một vùng sống khác của cuộc đời, một ngã rẽ của cuộc đời:

-Ai đem con sáo sang sông,

Để cho con sáo sổ lồng sáo bay

Trang 32

-Vai mang khăn gói sang sông

Mẹ kêu em dạ, thương chồng phải theo

Những sự vật có liên quan với sông cũng gợi những liên tưởng khác nhau về thân phận con người, về đời người: Cánh bào gắn bó với dòng sông, trôi dạt lênh đênh trên dòng sông không biết đâu là phương hướng, không biết đâu là bến bờ Trong ca dao, hình ảnh cánh bèo trên sông được dùng để biểu đạt ý niệm thân phận, số phận con người

“Thiếp than cha mẹ thiếp nghèo

Thiếp than phận thiếp như bèo trôi sông”

Khi sông cùng xuất hiện với một yếu tố thiên nhiên khác, trong những mối quan hệ nhất định, nó đạt tới những ý nghĩa thẩm mỹ đa dạng hơn Hiện tượng sóng hợp này cũng thường phổ biến trong ca dao dân ca trữ tình nói chung, tạo nên những mô típ có tính truyền thống Ví dụ:

* Sông – Cá đặt trong tương quan trai gái:

-Chim buồn tình, chim bay về núi

Cá buồn tình, cá lủi xuống sông

Anh buồn tình, anh dạo chốn non bồng

Dạo miền sơn nước, xuống chốn ruộng đồng mới gặp em

* Sông - Nước đặt trong tương quan vợ chồng:

-Sông bao nhiêu nước cũng vừa

Trai bao nhiêu vợ cũng chưa thoả lòng

*Sông – vòi- vịnh đặt trong tương quan so sánh hơn kém:

-Sông bên voi bỏ vòi bên vịnh

Hai đứa mình trời định đã lâu

Nhìn chung, hình ảnh con sông trong ca dao Nam Bộ được xây dựng thành những bức tranh nghệ thuật khá đa dạng, phản ánh nhận thức và thái

độ thẩm mỹ của người Nam Bộ, cụ thể là nông dân Nam Bộ Đặc điểm này

Trang 33

tạo nên tính địa phương của ca dao dân ca Nam Bộ, góp phần làm phong phú thêm tiến trình phát triển chung của ca dao dân ca Việt Nam.

So sánh với ca dao Bắc Bộ, ta cũng gặp điểm chung khi ca dao hai miền đều sử dụng nhiều lần hình ảnh dòng sông Con sông nào cũng đẹp và trữ tình Hơn nữa dòng sông còn được đem làm hình ảnh biểu tượng cho đời người, cho tình yêu và các triết lí nhân sinh Tuy vậy, hình ảnh sông xuất hiện nhiều hơn ở ca dao miền Nam đồng thời sông hai miền cũng có nét khác nhau Ở Bắc Bộ, hình ảnh sông mang trọn sự gắn bó với nét thanh bình của làng quê Mỗi tỉnh một dòng sông – một dòng quê lai láng tình yêu quê hương Sông Bắc Bộ có tên tuổi rõ ràng, có nét đẹp riêng biệt gắn với quê hương của nó Vì thế, tôi thấy điểm khác biệt lớn giữa sông Nam

Bộ và Bắc Bộ là một cái mênh mông tượng trưng cho kiếp người còn một bên lại như cố thu nhỏ vào, tạo thành quần thể làng xã đầm ấm nhằm nói lên tình yêu quê hương sâu sắc

Sông Hồng được miêu tả nhiều hơn cả:

“Ai về Hà Nội, ngược nước Hồng Hà

Buồm giong ba ngọn, vui đà nên vui! ”

Hay sông Tô Lịch – một dòng sông chảy xuyên Hà Nội:

“Làng tôi có lũy tre xanh

Có sông Tô Lịch chảy quanh xóm làng.”

2.1.1.4 Hình ảnh con cá

Vì địa hình sông nước vả lại phần đông người cư dân Nam Bộ làm nông nghiệp Chính vì vậy mà con cá có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống người Nam Bộ Xem hình ảnh cá như một hình ảnh nghệ thuật, tác giả dân gian Nam Bộ đã tiến tới miêu tả đặc điểm của cá nói chung, từng loại

cá nói riêng để nói về con người:

Trang 34

“Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng,

Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi.”

Quá trình biểu trưng hóa để hình ảnh con cá biểu trưng cho nhân vật

trữ tình trong ca dao là một quá trình liên tưởng, so sánh Đặc điểm chung nhất của các loài cá là sống trong nước Nước trong một không gian cụ thể

là biển, sông, kinh, đìa, ao Cá trong nước ( hoặc trong chậu, lờ, lưới ) dễ dàng được hình dung như con người trong cuộc đời với những hoàn cảnh

cụ thể khác nhau:

“Bể sâu con cá vẫy vùng,

Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng cao bay.

Đôi ta như con cá ở đìa,

Ngày ăn tán lạc, tối về đủ đôi.”

Với cặp biểu trưng câu – cá thì cá luôn luôn đại diện cho cô gái, còn câu đại diện chàng trai – hoặc là thái độ tình cảm của chàng trai:

-Cá không ăn câu chê rằng con cá dại

Cá mắc câu rồi nói tại cá tham ăn

-Cá không ăn câu thật là con cá dại

Vác cần câu về nghĩ lại con cá khôn.

Rồi cũng có lúc cá cắn câu Nó là hàm ý về mối nhân duyên của cô gái

và chàng trai:

-Con cá tróc vi hiềm vì cá nhảy

Cần câu gãy vì bụi gốc vướng rong.

Bởi vì mai mối không xong

Nên duyên đôi ta trắc trở chớ tấm lòng không quên.

- Con cá vô lờ đụng vỉ thối nan

Em chê anh nghèo khổ kiếm chỗ giàu sang mà nhờ.

Trang 35

"Cá" còn là hình ảnh gần gũi với cuộc đời lao động của người nông dân "Cá", "tép" được ví như người lao động chất phác nhưng sốphận bất hạnh:

- Thân em như cá rô thia

Ra sông mắc lưới vào đìa mắc câu

- Anh về cưới vợ cho xong

Em như con tép lộn rong khó tìm

Có khi "cá" là biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi dù chỉ là ngắn ngủi:

- Hai đứa mình như cặp cá ở đìa

Ngày ngao du giỡn bóng, tối lại lìa, hỡi ôi!

Về hình ảnh con cá, ca dao Bắc Bộ tuy không nhắc tới nhiều song ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh này thì cả hai nơi đều giống nhau Nó tạo thành biểu tượng thống nhất trong ca dao Việt Nam Ở ca dao Bắc Bộ, ta cũng gặp những câu có hình ảnh ấy nhằm nói đến tâm trạng của nhân vật trữ tình:

“Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ”

Con cá lặn hay ngóng tin vẫn chưa thấy, chờ mong khắc khoải không thôi mà chẳng thấy người thương đâu Thật thú vị khi hình ảnh con cá lại gắn bó như thành tiềm thức trong lòng người dân lao động xưa!

2.1.1.5 Hình ảnh cây dừa, cây bần

Theo số lần xuất hiện ở ca dao Nam Bộ phải kể đến hình ảnh cây dừa

Trang 36

Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười

- Thấy dừa thì nhớ Bến Tre

Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang

"Dừa" được nhắc đến như là sự giới thiệu về đặc sản của vùng đất:

- Quê anh ba dải cù lao

Có dừa ăn trái có cau ăn trầu

- Ai về xứ bến quê tôi

Núi đồi không có nhiều xôi lắm dừa

"Dừa" còn là nơi hò hẹn, là khung nền để những người yêu nhau bộc lộ tình cảm thương nhớ của mình:

- Giả ơn ai có cây dừa

Cho tôi nghỉ mát đợi chờngười thương

"Dầu dừa" được nhắc đến nhưmột phương pháp cổtruyền dùng đểlàm đẹp tóc Ngày trước, người ta dùng dầu dừa thoa lên tóc cho tóc bóng mượt

và giữ nếp:

- Mài dừa đạp bã cho nhanh

Nấu dầu mà chải tóc anh tóc nàng

- Mài dừa dưới ánh trăng vàng

Ép dầu mà chải tóc nàng tóc anh

Cây dừa không chỉ là niềm tự hào của người dân mà nó luôn chiếm vị trí quan

trọng trong tâm thức các thế hệ người Bến Tre

Tiếp theo là cây bần – loài cây gắn đời sống người dân vùng sông nước:

- Mồ cha ai đốn cây bần

Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm

Trang 37

- Cây bần soi bóng ghe nghèo

Qua sông gặp gió em chèo dùm anh

Cây bần là một loại cây rất gần gũi với bà con Nam bộ Ngày nay, cây bần vẫn còn chiếm vị trí khá lớn bên dòng sông nước Nam bộ Nó có một ý nghĩa lớn trong tâm hồn của người dân nơi đây Trải bao thăng trầm của thiên nhiên, nhu cầu kinh tế, và cả tác động của con người, cây bần vẫn sừng sững trong tâm thức của người dân, gợi nhớ về một thời khai hoang vùng đất “vượn hú chim kêu” của ông cha – giúp chúng ta hiểu thêm về nền văn minh miệt vườn, nền văn hóa sông nước trù phú và ngọt ngào như lời ru từ lòng mẹ, để chúng ta sẽ thấy mình có trách nhiệm hơn với quê hương

Cây bần là loại cây đặc thù ở vùng đất bồi lắng phù sa này Cây bần còn gọi là cây thủy liễu, thường mọc ven các kênh rạch hay xen lẫn trong những đám lá dừa nước Là loại cây sống trong môi trường bùn nước, bần

có rễ phụ mọc nhô lên khỏi mặt bùn Cây bần có chức năng giữ đất rất tốt,

gỗ chủ yếu dùng làm chất đốt Hoa bần màu trắng pha chút hồng phấn, rất đẹp, cho trái Trái bần có vị chua của phần thịt, chát của phần hạt rất thú vị Đây cũng là món ăn “độc quyền” của bà con Nam Bộ:

“Muốn ăn mắm sặc bần chua

Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm”

Nếu như hình ảnh "dừa" xuất hiện ở ca dao theo nghĩa đen thì hình ảnh "bần" ngoài nghĩa đen còn xuất hiện với nghĩa bóng Dựa vào trường liên tưởng sự vật, người dân Nam bộ đã thổi vào cây bần một luồng sinh khí có sức sống đến kỳ lạ, nó hiển hiện dạt dào trong lòng người đọc tạo nên giá trị biểu đạt phong phú Từ đó nó tạo nên cảm hứng thẩm mỹ cho người thưởng thức

Trang 38

"Bần" dùng để so sánh trực tiếp hoặc gián tiếp để thể hiện phẩm chất, tính cách con người:

- MỹAn bần chát mà chua

Chẳng hay người ấy có chua như bần

Hoặc dựa vào thực tế, bần sống ven sông, trái rụng trôi theo dòng nước khiến ta có thể liên tưởng thân phận bấp bênh của con người, đặc biệt là người phụnữ:

- Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?

Hình ảnh “sóng dập gió dồi” thật hay vì cây bần cho trái chín vào mùa nước nổi Vì vậy nước tràn ngập lung bàu làm cho trái bần trôi dạt theo dòng nước mà không biết sẽ về đâu Là thế đấy, cây bần mang số kiếp thật hẩm hiu, bị phũ phàng:

-Cây bần kia hỡi cây bần

Lá xanh bông trắng lại gần không thơm

Nhiều lúc cây bần trở nên mạt hạn, tầm thường trong thể hiện của người bình dân:

-Cảm thương ô dước, bời lời

Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần

Cây bần còn là cái để người ta so sánh sự sang hèn:

Không thương em hổng có cần

Trầm hương khó kiếm chớ đước bần thiếu chi

"Bần" còn là hình ảnh gợi hứng, đưa đẩy, bắt vần:

- Cây bần gie con đóm đậu một mình…

- Bướm vàng đậu ngọn cây bần…

- Các thứ hoa anh chỉ chuộng hoa bần…

Trang 39

- Bần gie đóm đậu chòm nhom…

- Bần gie đóm đậu sáng trời…

- Trèo lên chót vót ngọn bần…

Tuy nhiên, người Nam bộ không chỉ nhìn cây bần dưới con mắt bi quan như thế Bằng cái nhìn hào sảng và lối sống phóng khoáng, lạc quan, cây bần còn là điểm tựa cho tình yêu đôi lứa:

“Làm thơ anh dán đọt bần

Dán cho hai họ Nguyễn Trần gặp nhau”

Hy vọng để rồi khi tình duyên bị ngăn trở, bần lại là nơi cha mẹ phạt

vạ con cái:

“Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại,

Đem anh treo tại nhánh bần

Rũi đứt dây mà rớt xuống,

Anh cũng lần mò kiếm em.”

Cái tình của người dân Nam bộ là thế, yêu “xả láng”, đánh chết cũng thương Cây bần còn là biểu vật của sự nhớ thương, là mật hiệu của tình yêu:

“Chiều chiều xuống bến ba lần

Trông em không thấy thấy bần xơ rơ”

Hay

“Lẻ đôi em chịu lẻ đôi

Hoa tàn em cũng đợi, bần trôi em cũng chờ”

Nhưng nhiều lúc những cô Hai, anh Sáu lại nghi ngại, đặt vấn đề về chuyện cưới xin:

“Neo ghe vô dựa gốc bần

Em thương anh nói vậy chớ biết mình đặng gần hay không”

Hay khi đã không thành duyên nợ thì:

Trang 40

“Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi

Anh với em duyên nợ hết rồi

Đi tìm chỗ khác đừng ngồi kế em”

Bắc Bộ không có bần, dừa thì lưa thưa, do vậy ca dao chỉ hay nhắc đến hình ảnh cây chanh hay khế với nhiều dạng như "hoa chanh", "trồng

chanh", "vườn chanh", "khế chua”… Nói đến "chanh", người đọc nghĩ đến tính chất của nó là "chua" nên chanh thường gợi tới nỗi lòng chua xót:

“Trèo lên cây khế nửa ngày

Ai làm chua xót lòng này khế ơi”

Ngoài ra, ca dao Bắc Bộ hay nói tới trầu cau Có lẽ vì đây là loại cây truyền thống gắn với văn hóa ăn trầu của người dân, hơn nữa cây trầu, cau còn tượng trưng cho tình nghĩa gắn bó khăng khít của con người Trầu cau

có mặt trong các chặng đường của tình yêu, từ lúc làm quen tỏ tình đến thách cưới, sum họp hay chia ly Hãy lắng nghe lời đối đáp giữa hai anh chàng đi câu và cô gái hái dâu:

“Sáng ngày em đi hái dâu

Em gặp anh ấy ngồi câu thạch bàn

Hai anh đứng dậy hỏi han

Hỏi rằng cô đã vội vàng đi đâu?

- Thưa rằng em đi hái dâu

Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn

Thưa rằng bác mẹ em răn

Làm thân con gái chớ ăn trầu người”

Hai anh được dịp giới thiệu miếng trầu "đặc biệt" của mình để nài nỉ cô gái:

“Trầu này trầu quế trầu hồi

Trầu loan trầu phượng, trầu tôi trầu mình

Trầu này trầu tĩnh, trầu tình

Ngày đăng: 16/01/2016, 23:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w