1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật tiểu thuyết vũ trọng phụng

173 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Tiểu Thuyết Vũ Trọng Phụng
Tác giả Đinh Lưu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2002
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI CAM ĐOAN

  • MỤC LỤC

  • MỞ ĐẦU

    • 1. Lý do chọn đề tài

    • 2. Lịch sử vấn đề

    • 3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

    • 4. Đóng góp của luận án

    • 5. Bố cục của luận án

  • CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG

    • 1.1. Hoàn cảnh xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt giai đoạn 1930 - 1945

    • 1.2. Tình hình văn học giai đoạn 1930 -1945

    • 1.3. Tình hình tiểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945

    • 1.4. Trường phái văn học tả chân

    • 1.5. Vị trí, vai trò của Vũ Trọng Phụng trong trường phái tả chân

    • 1.6. Sáng tác của Vũ Trọng Phụng

  • CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT, QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, MÔ HÌNH TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG

    • 2.1. Tư tưởng nghệ thuật

      • 2.1.1. Tư tưởng nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng

      • 2.1.2. Diễn biến tư tưởng nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trong tiểu thuyết

    • 2.2. Quan niệm nghệ thuật

      • 2.2.1. Quan niệm của Vũ Trọng Phụng về sáng tác

      • 2.2.2. Quan niệm của Vũ Trọng Phụng về tiểu thuyết

    • 2.3. Mô hình tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

      • 2.3.1. Tiểu thuyết tả chân xã hội

      • 2.3.2. Tiểu thuyết phanh phui cái xấu, cái ác

      • 2.3.3. Tiểu thuyết của nỗi đau đời và lòng xót thương

      • 2.3.4. Tiểu thuyết trào phúng châm biếm, đả kích

  • CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN, TÌNH TIẾT TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG

    • 3.1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện

      • 3.1.1 Khái niệm cốt truyện

      • 3.1.2. Các loại hình cốt truyện

        • 3.1.2.1. Cốt truyện sự kiện

        • 3.1.2.2. Cốt truyện tâm lý

      • 3.1.3. Các mô típ cốt truyện

        • 3.1.3.1. Mô típ tình huống

        • 3.1.3.2. Mô típ tai biến

        • 3.1.3.3. Mô típ xì - căng – đan

    • 3.2. Nghệ thuật xây dựng tình tiết

      • 3.2.1. Các kiểu nghệ thuật xây dựng tình tiết

        • 3.2.1.1. Nghệ thuật tỉnh lược

        • 3.2.1.2. Nghệ thuật phóng đại

        • 3.2.1.3. Những tình tiết được khái quát hóa thành tiêu đề đặt ngay mỗi đầu chương sách

        • 3.2.1.4. Xây dựng tình tiết bằng cách dùng những chi tiết “đắt” để khắc họa những tính cách, hoàn cảnh

      • 3.2.2. Hệ thông tình tiết

      • 3.2.3. Mạch truyện và các đường dây nối kết

  • CHƯƠNG 4 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG

    • 4.1. Vị trí nhân vật trong tiểu thuyết

    • 4.2. Thế gioi nhân vật và các cách tiếp cận nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

      • 4.2.1. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

      • 4.2.2. Các cách tiếp cận nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

    • 4.3. Các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật

      • 4.3.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình

      • 4.3.2. Xây dựng nhân vật qua miêu tả nội tâm

      • 4.3.3. Xây dựng nhân vật qua miêu tả tính cách

      • 4.3.4. Xây dựng nhân vật qua miêu tả hành động

  • CHƯƠNG 5: KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG

    • 5.1. Không gian - thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

      • 5.1.1. Không gian – thời gian nghệ thuật

      • 5.1.2. Trục di động của tọa độ không - thời gian trong nghệ thuật kể chuyện của Vũ Trọng Phụng

    • 5.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

      • 5.2.1. Ngôn ngữ kể

        • 5.2.1.1. Kể sơ lược, tóm tắt, khái quát

        • 5.2.1.2. Kể chi tiết, cụ thể

        • 5.2.1.3. Xen kẽ lời người kể chuyện với lời độc thoại nội tâm của nhân vật

        • 5.2.1.4. Đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật và phương thức đảo tuyến thời gian

      • 5.2.2. Ngôn ngữ tả

        • 5.2.2.1. Miêu tả sự kiện

        • 5.2.2.2. Miêu tả thiên nhiên, cảnh vật

      • 5.2.3. Ngôn ngữ đối thoại

        • 5.2.3.1. Ngôn ngữ đối thoại mang tính cá thể hóa sâu sắc

        • 5.2.3.2. Ngôn ngữ đôi thoại gần với ngôn ngữ kịch

        • 5.2.3.3. Đối thoại liên hệ

        • 5.2.3.4. Đối thoại biết trước

        • 5.2.3.5. Mô phỏng lời thoại

      • 5.2.4. Một số đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

        • 5.2.4.1. Sử dụng điệp ngữ, thành ngữ, câu treo

        • 5.2.4.2. Đặc điểm cú pháp

        • 5.2.4.3. Giọng điệu trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

        • 5.2.4.4. Ngôn ngữ trào phúng, châm biếm, giễu nhại

  • KẾT LUẬN

  • DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC MĐ.1

  • PHỤ LỤC 4.1

Nội dung

Lý do ch ọn đề tài

Vũ Trọng Phụng, với 27 năm tuổi đời và 9 năm cầm bút, đã để lại một di sản văn học phong phú với 71 tác phẩm đa dạng, bao gồm 8 tiểu thuyết, 1 truyện vừa, 41 truyện ngắn, 4 di cảo truyện ngắn, 8 phóng sự, 1 ký sự, 7 vở kịch và 1 tác phẩm dịch.

Vũ Trọng Phụng bắt đầu sự nghiệp văn chương ở tuổi 18 với truyện ngắn "Chống nạng lên đường" vào năm 1930, và ở tuổi 22, ông ra mắt tiểu thuyết đầu tay mang tên "Dứt tình" vào năm 1934 Hai năm sau, ông tiếp tục phát triển sự nghiệp viết lách của mình.

Phụng đã gặt hái thành công rực rỡ với nhiều tác phẩm nổi bật như Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ, và Cơm thay cơm cô, khẳng định tài năng và vị thế đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam.

Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng từ khi mới ra đời đã từng làm xôn xao dư luận: “Vũ

Vũ Trọng Phụng đã gây ra nhiều tranh cãi ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn Nhiều người đã nỗ lực để bảo vệ ông khỏi những chỉ trích và định kiến Nguyễn Đăng Mạnh đã so sánh dư luận văn học với một dòng nước, trong đó Vũ Trọng Phụng giống như một vật nổi, có lúc chìm xuống nhưng vẫn luôn thu hút sự chú ý.

Những gì viết về Vũ Trọng Phụng có khi dày hơn nhiều so với những trang Vũ Trọng

Phần lớn các đánh giá về Vũ Trọng Phụng tập trung vào khía cạnh chính trị hơn là văn học, chú trọng vào nội dung tư tưởng mà không đi sâu vào nghệ thuật Khi Vũ Trọng Phụng bị chỉ trích vì những vấn đề như văn chương dâm uế và việc xây dựng hình ảnh tiêu cực về người cộng sản, việc định giá tác phẩm văn học và nghệ thuật sẽ gặp phải những hạn chế nhất định.

Nguyễn Hoành Khung trong phần kết luận bài viết của mình cho rằng việc giải quyết vấn đề thái độ chính trị của nhà văn đã giúp gỡ bỏ những khúc mắc gây ra sóng gió lâu nay Nhận định này tương đồng với quan điểm của Nguyễn Đăng Mạnh.

Vật nổi này cuối cùng đã xuất hiện theo đúng quy luật Ácsimét, cho thấy rằng những vấn đề gây sóng gió trước đây đã được giải quyết Cả hai ông đều đồng ý rằng cái vòng dây oan nghiệt kéo dài hàng chục năm với Vũ Trọng Phụng đã được tháo gỡ.

Trong số hơn 200 bài viết và sách về Vũ Trọng Phụng, phần lớn tác giả ít đề cập đến khía cạnh nghệ thuật của ông Chỉ một số ít như Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Thiếu Sơn, Nguyễn Duy Diễn, Đỗ Long Vân và Đỗ Đức Hiểu mới có những nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này Điều này cho thấy nghệ thuật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng chưa nhận được sự quan tâm đầy đủ từ các nhà nghiên cứu, không tương xứng với những đóng góp nổi bật mà nó đã mang lại cho văn học.

Vũ Trọng Phụng là một tiểu thuyết gia nổi bật trong văn học Việt Nam Văn Tâm, bên cạnh Nguyễn Đăng Mạnh, là người nghiên cứu Vũ Trọng Phụng một cách sâu sắc và có hệ thống Tiểu luận của ông về Vũ Trọng Phụng đã đóng góp quan trọng vào việc hiểu rõ hơn về tác phẩm và tư tưởng của nhà văn này.

Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, với độ dài 236 trang, có một chương riêng biệt đề cập đến đặc tính nghệ thuật Những năm 80 đánh dấu sự khởi đầu của các luận văn cao học nghiên cứu nghệ thuật trong tác phẩm của ông, nhưng chỉ mới ở giai đoạn sơ khai Đến những năm 90, nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng trở nên sôi nổi hơn với hàng chục luận văn, thạc sĩ và luận án PTS tìm hiểu các ẩn số nghệ thuật trong các tác phẩm nổi bật như Giông tố, Vỡ đê và Số đỏ Các tác giả chú trọng vào những vấn đề như nhân vật, ngôn ngữ, trào phúng và thời gian nghệ thuật.

Đã đến lúc cần nhìn nhận Vũ Trọng Phụng như một nhà văn đúng nghĩa, như Phong Lê đã chỉ ra Để có đánh giá toàn diện và hệ thống về tác phẩm của ông, cần xem xét các tiểu thuyết ở cấp độ tổng thể và phân tích mọi khía cạnh nghệ thuật Chỉ khi đó mới tránh được cái nhìn phiến diện, từ đó thấu hiểu sâu sắc tư tưởng và nghệ thuật sáng tạo của Vũ Trọng Phụng.

Sẽ là rất nặng nề và không ít khó khăn, phức tạp khi nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết

Văn chương của Vũ Trọng Phụng chứa đựng nhiều ẩn số và mang dấu ấn đặc trưng, thể hiện sự “khả giải và bất khả giải” Việc giải mã nghệ thuật của ông không thể hoàn thành nhanh chóng mà đòi hỏi thời gian và công sức từ nhiều người cùng hợp tác.

Văn tài Vũ Trọng Phụng đã được đánh giá qua nhiều bài viết và nhận xét xác thực từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, người đọc có thể cảm thấy như mình chỉ nhìn thấy bức tranh từ phía sau, không thể cảm nhận hết giá trị nghệ thuật mà tác giả muốn truyền đạt.

Dẫu vậy, với nhiệt tình mong muốn chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu:

Ngh ệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

L ịch sử vấn đề

Vũ Trọng Phụng đã có mặt trên văn đàn gần 2/3 thế kỷ (1930 - 2002), với nhiều hội thảo và lễ kỷ niệm diễn ra tại Hà Nội và Hồ Chí Minh Hơn 200 bài viết về ông đã được đăng tải trên các báo và tạp chí, cùng với gần vài chục luận án thạc sĩ và tiến sĩ nghiên cứu về đề tài Vũ Trọng Phụng.

Trọng Phụng Đặc biệt Lan Khai [60], Đinh Hùng [53], Văn Tâm [145], và nhóm Nhân Văn

Nhiều nhà nghiên cứu và phê bình như Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, và Hoàng Cầm đã có những tác phẩm riêng biệt về Vũ Trọng Phụng Văn Tâm, mặc dù viết cách đây hơn 40 năm, nhưng công trình nghiên cứu của ông vẫn mang giá trị quan trọng đến ngày nay Điều này cho thấy sự quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu và sáng tác đối với văn phẩm và con người Vũ Trọng Phụng, vượt trội hơn so với nhiều tác giả cùng thời.

Lịch sử vấn đề xét trên 2 góc độ: góc độ thời gian và góc độ nghệ thuật

Sở dĩ chúng tôi nghiên cứu trên hai góc độ ấy bởi các lý do sau:

- Xét ở góc độ thời gian: dựa trên những mốc lớn của lịch sử để thấy không khí chính trị

Xã hội có vai trò quan trọng trong việc định hình cách đọc các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng Thời gian là yếu tố then chốt trong việc đánh giá giá trị thực sự của văn học, đặc biệt là với các tác phẩm của ông Nhiều nhà phê bình như Phan Cự Đệ đã phải xem xét lại "Số đỏ", trong khi Nguyễn Tuân, Nguyễn Đăng Mạnh và Hiên Chung cũng đã tái khám phá "Giông tố" Điều này cho thấy sự cần thiết của việc đọc lại các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, điều ít xảy ra với các tác giả và tác phẩm khác.

Truyện Kiều, tác phẩm của Nguyễn Du, cần được đọc lại nhiều lần để hiểu sâu sắc hơn về giá trị nghệ thuật và nhân văn của nó Việc xem xét tác phẩm từ góc độ thời gian giúp loại bỏ yếu tố phi lịch sử, từ đó tạo điều kiện cho việc đánh giá công bằng và gần gũi với thực tế hơn Điều này cũng là cơ sở quan trọng để tiếp cận và cảm nhận nghệ thuật trong Truyện Kiều.

Xét về nghệ thuật, các bài viết nghiên cứu tiểu thuyết về Vũ Trọng Phụng vẫn chiếm tỷ lệ khiêm tốn so với các đánh giá về con người chính trị của ông Mặc dù số lượng ít, nhưng những trang viết này lại thể hiện sự nhạy bén và khả năng khám phá những khía cạnh sâu sắc của nghệ thuật Tuy nhiên, các cảm nhận nghệ thuật thường chỉ dừng lại ở một phương diện hoặc một số tác phẩm nhất định, thiếu sự nghiên cứu toàn diện.

Nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng cần thiết phải xem xét các đánh giá nghệ thuật đã được đề cập trước đó, vì chúng đóng vai trò quan trọng trong việc khai phá và mở đường cho những phân tích sâu hơn Việc này không chỉ mang tính hệ thống mà còn giúp có cái nhìn tổng thể hơn về tác phẩm của ông.

2.1 Xét ở góc độ thời gian

Có nhiều cách phân chia thời gian để làm cơ sở xem xét những nhận định đánh giá về Vũ

Vũ Trọng Phụng thường được nghiên cứu dựa trên các mốc lịch sử quan trọng thay vì thời gian cá nhân của tác giả Thời gian sự cố liên quan đến ông có thể chia thành ba giai đoạn: Năm 1958, Nhân Văn Giải Phẩm đã tôn vinh Vũ Trọng Phụng, nhưng cũng dẫn đến việc "vạch lá trong khu vườn sai quả" của ông Năm 1960, bài viết của Hoàng Văn Hoan về tác phẩm của Vũ Trọng Phụng không được đăng, gây ra hậu quả nghiêm trọng khi tác phẩm của ông không được in lại và giảng dạy trong gần 25 năm Đến năm 1986, trong bối cảnh đổi mới, những giá trị của Vũ Trọng Phụng dần được khôi phục và được nhìn nhận đúng mức Để hiểu rõ hơn về ông, cần xem xét nghiên cứu theo từng giai đoạn lịch sử.

2.1.1 Trước cách mạng tháng Tám 1945

Khi Vũ Trọng Phụng ra mắt tiểu thuyết đầu tay "Dứt tình" năm 1934, tác phẩm đã thu hút sự chú ý lớn từ dư luận với nhiều ý kiến trái chiều Đến năm 1936, nhiều tiểu thuyết nổi bật như "Giông tố", "Vỡ đê", "Số đỏ", "Làm đĩ" đã làm nóng không khí phê bình, chia thành hai luồng ý kiến rõ rệt Phê phán tác phẩm của ông, các nhà phê bình như Nhất Chí Mai, Thái Phỉ, và Lê Thanh cho rằng văn chương của Vũ Trọng Phụng thiếu tính lạc quan, khiến người đọc cảm thấy nhân gian như một địa ngục đầy tội ác và bất hạnh Họ cho rằng đây là hình ảnh phản chiếu tâm tư của nhà văn, người nhìn thế giới qua lăng kính u ám và bi quan.

Bốn văn sĩ tả chân nhận thấy sự ưa chuộng của công chúng đối với cái dâm uế, dẫn đến việc họ hoặc cố tình nhồi nhét yếu tố này vào tác phẩm của mình, hoặc sử dụng chủ nghĩa tả chân để miêu tả cái dâm uế một cách táo bạo Hậu quả là tác phẩm trở nên sống sượng và khó coi, mục tiêu chính là đánh thức giác quan của người đọc hơn là chú trọng đến giá trị nghệ thuật.

Tất cả những người vợ hiền, những bậc cha mẹ luôn quan tâm đến hạnh phúc của con cái, cùng với những cô cậu còn ngây thơ trong sáng, hãy tránh xa cuốn sách "Làm đĩ."

Ta thấy gì qua những ý kiến trên ?

Phải chăng đằng sau chiêu bài “chống văn chương dâm uế, chống tư tưởng hắc ám của

Vũ Trọng Phụng thể hiện sự va chạm giữa hai xu hướng sáng tác khác nhau: lãng mạn trữ tình của nhóm Tự Lực Văn Đoàn và tả chân xã hội, trong đó Vũ Trọng Phụng là đại diện tiêu biểu cho phong cách tả chân.

Trong các tác phẩm như Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ và Làm đĩ, nhân vật và xã hội được khắc họa một cách mạnh mẽ, nhưng lại mang tính phi thực và không tưởng Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã không ngần ngại chỉ trích Vũ Trọng Phụng, cho thấy sự châm biếm sắc bén đối với thực trạng xã hội Việc này nhấn mạnh sự cần thiết phải nhìn nhận và phản ánh đúng bản chất của cuộc sống trong văn học.

Phụng đã viết nhiều bài luận trên các báo để phản bác từng điểm một của những kẻ giả danh, đồng thời thể hiện quan điểm sáng tác rõ ràng, giúp độc giả tránh được những hiểu lầm.

Mặc dù nhóm Tự Lực Văn Đoàn có những phê bình mang tính định kiến đối với Vũ Trọng Phụng, nhưng đa số các nhà văn cùng chí hướng đã dành cho ông những đánh giá chân thành và khách quan Trước khi ông qua đời, nhiều tác giả như Xuân Sa và Trương Chính đã viết về tác phẩm "Giông tố", trong khi Nguyễn Thanh và Phùng Tất Đắc cũng có những bài viết đáng chú ý về "Kỹ nghệ lấy Tây" Sự công nhận này cho thấy tầm ảnh hưởng và giá trị của Vũ Trọng Phụng trong nền văn học Việt Nam.

Phụng mất hai tháng trong Tao Đàn số đặc biệt tháng 12/1939 đã có đến 9 bài viết về Vũ

Trọng Phụng, tác giả nổi bật trong nền văn học Việt Nam, được đề cao qua những bài viết của Ngô Tất Tố, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Vỹ, Tam Lang, Thanh Châu, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Trần Triệu Luật và Trương Tửu Các tác phẩm này không chỉ tôn vinh tài năng và nhân cách sống của ông mà còn nhấn mạnh những quan điểm và đạo đức của Vũ Trọng Phụng Những nhận định này mang tính khái quát, thể hiện sự kính trọng và đánh giá cao đối với những đóng góp của ông cho văn học.

Ph ạm vi và phương pháp nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu "Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng", nhằm khám phá những yếu tố nội tại cơ bản cấu thành nên diện mạo của tiểu thuyết Luận án sẽ đi sâu vào việc xác định các yếu tố quyết định làm nên sự độc đáo và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

Nguyễn Xuân Nam định nghĩa tiểu thuyết là thể loại nghệ thuật có khả năng phản ánh các cuộc đấu tranh giai cấp và mối quan hệ xã hội phức tạp, với cốt truyện đa tuyến và nhiều nhân vật được mô tả chi tiết từ ngoại hình đến nội tâm Kết cấu tiểu thuyết rất đa dạng, thường kết hợp nhiều kiểu kết cấu khác nhau Ngôn ngữ trong tiểu thuyết phong phú, bao gồm ngôn ngữ người kể chuyện, đối thoại, độc thoại nội tâm và các đoạn trữ tình Tiểu thuyết còn có khả năng tích hợp nhiều đặc điểm và biện pháp nghệ thuật của các thể loại nghệ thuật khác Nguyễn Thị Dư Khánh nhấn mạnh rằng các yếu tố nghệ thuật như ngôn ngữ, nhân vật, kết cấu, không gian, thời gian, giọng văn và giọng thơ là những thành phần cấu thành tác phẩm.

Quốc Sỹ chỉ ra ba yếu tố chính mà bất kỳ nhà phê bình nào, từ cổ chí kim, Đông sang Tây, đều công nhận trong việc xây dựng tiểu thuyết: cốt truyện, nhân vật và bối cảnh.

Trong các cuốn sách về lý luận văn học, khi đề cập đến tiểu thuyết, các tác giả như Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Thị Dư Khánh và Doãn đã chỉ ra những vấn đề quan trọng cần lưu ý Những phân tích này giúp làm rõ hơn về thể loại tiểu thuyết và các khía cạnh lý thuyết liên quan đến nó.

Trong nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, chúng tôi sẽ phân tích các yếu tố như cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian và ngôn ngữ Tuy nhiên, để có cái nhìn đầy đủ, cần xem xét bối cảnh lịch sử xã hội, tình hình văn học khi tác phẩm ra đời, tư tưởng nghệ thuật của tác giả, cũng như so sánh với các xu hướng sáng tác đương thời Luận án sẽ đề cập đến những vấn đề này trong một chương riêng Chúng tôi khảo sát toàn bộ 7 tác phẩm tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, bao gồm: Dứt tình, Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ, Lấy nhau vì tình, và Trúng số độc đắc, trong khi tác phẩm Người tù được tha được xếp vào loại truyện vừa Tác phẩm Quý phái đang dang dở trên Đông Dương tạp chí không được đưa vào nghiên cứu do chỉ xuất hiện trong 5 số Để thuận tiện cho việc theo dõi, chúng tôi sử dụng phụ lục MĐ để ghi tên nhân vật mà không kèm theo tên tác phẩm.

Khi nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết, việc áp dụng nhiều phương pháp tổng hợp là rất quan trọng để khai thác sâu sắc nội dung Chúng tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản nhằm đạt được hiệu quả tối ưu trong quá trình nghiên cứu.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nghệ thuật phản ánh mối quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực, vì vậy việc nghiên cứu tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng cần gắn liền với bối cảnh lịch sử của nó Nếu tách rời khỏi hoàn cảnh lịch sử và điều kiện xã hội khi tiểu thuyết ra đời, việc phân tích sẽ thiếu tính khách quan và trung thực Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Hyppolyte Taine.

Sản phẩm của trí tuệ con người và thiên nhiên chỉ có thể hiểu rõ trong bối cảnh lịch sử và xã hội Để nắm bắt một tác phẩm nghệ thuật hay nghệ sĩ, cần khảo sát kỹ lưỡng tình hình tri thức và phong tục của thời đại mà chúng xuất hiện Chỉ khi đó, ta mới nhận ra nguyên nhân sâu xa quyết định mọi yếu tố khác.

Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cấu trúc độc đáo, và tất cả các tác phẩm đều nằm trong một hệ thống cấu trúc tổng thể Khi nghiên cứu, cần xem xét mối quan hệ giữa các bộ phận và cá thể với hệ thống tổng thể để hiểu rõ hơn về sự liên kết và chỉnh thể của chúng.

Hệ thống nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng không thể tách rời khỏi các bộ phận riêng lẻ, mà phải dựa vào mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng Việc xem xét chỉnh thể này giúp rút ra cái nhìn tổng quát về chất lượng nghệ thuật cao, từ đó làm nổi bật giá trị và ý nghĩa của tác phẩm Phương pháp hệ thống là công cụ hữu hiệu để khám phá thế giới nghệ thuật phong phú trong các tác phẩm của ông.

Sử dụng phương pháp so sánh nhằm mục đích làm nổi rõ nghệ thuật tiểu thuyết Vũ

Vũ Trọng Phụng, trong quá trình nghiên cứu, chú trọng so sánh với các tác giả và tác phẩm cùng thời, đồng thời mở rộng tiếp cận với văn học thế giới Phương pháp sáng tác của ông, tập trung vào việc tả chân xã hội, có sự khác biệt rõ rệt so với phương pháp lãng mạn của Tự Lực Văn Đoàn, nhưng không hoàn toàn giống với các phong cách tả chân khác.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi áp dụng các thao tác thống kê, phân loại, phân tích và tổng hợp Đ.X Likhachôp nhấn mạnh rằng nghiên cứu văn học cần phải chính xác và các kết luận phải được chứng minh, do đó, việc sử dụng thống kê để hỗ trợ các luận điểm là rất quan trọng.

Đóng góp của luận án

Nghiên cứu tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng mang lại những nhận định sâu sắc và mới mẻ, dựa trên kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu trước đó, nhằm đánh giá toàn diện về văn tài của ông.

Tiểu tuyết Vũ Trọng Phụng mang đến cái nhìn tổng quan về các khía cạnh đa dạng của đời sống xã hội, văn hóa và con người Việt Nam Mỗi khía cạnh được đề cập và xem xét với mức độ khác nhau, tùy thuộc vào vị trí và tầm quan trọng của nó trong quá trình khai thác nội dung.

Bài viết cung cấp một cái nhìn tổng quan về nghiên cứu các vấn đề liên quan đến xã hội, văn học và tư tưởng trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng Từ bối cảnh xã hội và quan niệm nghệ thuật, bài viết phân tích cách xây dựng tình tiết, cốt truyện, nhân vật, không gian - thời gian và ngôn ngữ nghệ thuật trong các tiểu thuyết của ông.

4.3 Đóng góp cách tiếp cận mới trên lĩnh vực nghiên cứu, phân tích tác phẩm văn học

Để phân tích nhân vật một cách hiệu quả, cần xem xét các yếu tố cơ bản như ngoại hình, nội tâm, tính cách và hành động Đồng thời, việc đánh giá ngôn ngữ từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm cách kể chuyện, mô tả và đối thoại, sẽ giúp giải quyết các vấn đề cốt lõi một cách toàn diện và sâu sắc.

Vũ Trọng Phụng đã đạt được những thành công mới mẻ, đóng góp quan trọng vào quá trình hiện đại hóa nền tiểu thuyết Việt Nam Ông nổi bật với việc sử dụng thành ngữ, điệp ngữ và giọng điệu một cách điêu luyện, tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo riêng biệt.

B ố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung luận án gồm 5 chương: Chương 1: Khái quát chung

Chương 2 khám phá tư tưởng và quan niệm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng, nhấn mạnh sự độc đáo trong mô hình tiểu thuyết của ông Chương 3 phân tích nghệ thuật xây dựng cốt truyện và tình tiết, cho thấy cách mà Vũ Trọng Phụng tạo nên những diễn biến hấp dẫn và kịch tính Cuối cùng, Chương 4 tập trung vào nghệ thuật xây dựng nhân vật, làm nổi bật sự sâu sắc và đa dạng trong các nhân vật của tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng.

Chương 5: Không gian, thời gian nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ

KHÁI QUÁT CHUNG

Hoàn c ảnh xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt giai đoạn 1930 - 1945 23 1.2 Tình hình văn học giai đoạn 1930 -1945

Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX chứng kiến sự chuyển mình từ xã hội phong kiến sang xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, với hai mâu thuẫn chính ngày càng sâu sắc: mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa đế quốc và mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến Chính quyền triều Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, dẫn đến việc Pháp áp đặt chính sách độc quyền kinh tế và chế độ chuyên chế chính trị Bộ máy cai trị hoàn toàn nằm trong tay Pháp, từ thống sứ đến giám ngục, khiến người dân chịu đựng chính sách cai trị hà khắc Giai cấp phong kiến và tư sản mại bản trở thành tay sai cho thực dân, tạo ra nhiều bi kịch cho mọi tầng lớp xã hội Tại nông thôn, nông dân sống trong cảnh đói rét, bệnh tật và sự nhũng nhiễu của quan lại, trong khi tại thành phố, lối sống "âu hóa" đang dần thay thế văn hóa truyền thống.

“vui vẻ trẻ trung” đã thâm nhập vào từng người, gõ cửa từng gia đình tạo sự nhốn nháo, lộn tùng phèo về lối sống và đạo đức

Hiệp ước 1884 đã kết thúc chế độ phong kiến Việt Nam và mở đường cho sự đô hộ của thực dân Pháp Đến đầu thế kỷ XX, sự đô hộ này đã được thiết lập một cách chặt chẽ và qui củ.

Chính sách khai thác thuộc địa của Paul Doumer và Albert Sarraut đã tác động mạnh mẽ đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội Việt Nam.

Cơ cấu kinh tế, giai cấp xã hội, văn hóa, giáo dục, tư tưởng, tâm lý, nghệ thuật và văn chương đều đang trải qua những thay đổi lớn Tuy nhiên, những sự thay đổi này chủ yếu chỉ mang lại lợi ích cho “chính quốc”, phục vụ cho thực dân và biến mọi thứ thành công cụ để bóc lột và trấn áp.

Rượu cồn, thuốc phiện và báo chí phản động của chính quyền góp phần vào công cuộc ngu dân của chính phủ, trong khi máy chém và nhà tù hoàn tất công việc Giai đoạn 1930 - 1945 đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930), một sự kiện lịch sử quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội Tác động chính trị - xã hội đến văn nghệ sĩ là yếu tố khách quan, vì vậy cần chú ý đến các thời điểm và mốc lịch sử quan trọng trong nửa đầu thế kỷ.

1930 - 1931 : Cao trào cách mạng đang lên

1932 - 1934 : Cách mạng ở giai đoạn thoái trào

1936 - 1938 : Mặt trận dân chủ Đông Dương, Hội truyền bá quốc ngữ (theo sáng kiến của Đảng), báo chí công khai của Đảng và Mặt trận dân chủ ra đời

19 / 8 / 1945 : Cách mạng tháng tám thành công

2 / 9 / 1945 : Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoa

19 / 2 / 1946 : Hồ Chủ Tịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến

7 / 5 /1954 : Chiến thắng Điện Biên Phủ

20 / 7 / 1954 : Hội nghị Giơ - ne - vơ, ta giành được độc lập, chủ quyền Riêng với Vũ

Trọng Phụng, một nhà văn tài năng, đã sống một cuộc đời ngắn ngủi chỉ hơn 25 năm (1912 - 1939) Sinh ra trong bối cảnh "nước đã mất, dân đã làm nô lệ", ông đã chứng kiến nhiều biến động chính trị quan trọng, bao gồm sự thay đổi của ba đời vua: Duy Tân (1907 - 1916), Khải Định (1916 - 1925) và Bảo Đại (1926 - 1945).

1945), bốn cuộc khởi nghĩa chống Pháp (Yên Thế: 1887 - 1913, Thái Nguyên của đội Cấn:

Từ năm 1917 đến 1918, Lạng Sơn chứng kiến sự hoạt động mạnh mẽ của đội Ấn, trong khi Yên Bái cũng ghi dấu ấn vào năm 1912 và 1930 Đặc biệt, cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp vào năm 1932 đã tạo ra một bầu không khí xã hội ngột ngạt và buồn chán hơn bao giờ hết.

Trong bối cảnh xã hội và chính trị phức tạp của nửa đầu thế kỷ, tình hình văn học và tiểu thuyết đã chịu ảnh hưởng đáng kể.

1.2 Tình hình văn học giai đoạn 1930 -1945

Văn chương cổ điển Việt Nam đã trải qua mười thế kỷ, và bước sang thế kỷ XX đánh dấu sự khởi đầu của nền văn chương hiện đại Trong ba mươi năm đầu của thế kỷ XX (1900 - 1930), các thể loại thơ, văn xuôi, kịch đã xuất hiện nhiều trên sách báo Đặc biệt, sự ra đời của nhiều tờ báo như Đông Dương tạp chí, Trung Bắc Tân văn (năm 1913) và Nam Trung nhật báo, Nam Phong tạp chí (năm 1917) đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của văn học.

Báo chí đã trở thành một trường rèn luyện quốc văn quan trọng Trong giai đoạn này, sự cách tân thể loại văn học được thể hiện qua những tác phẩm nổi bật như thơ của Tản Đà và Phan Khôi, tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách và Hồ Biểu Chánh, cùng với kịch của Vũ Đình Long và Nam Xương Tuy nhiên, giai đoạn 1900 - 1930 mới thực sự đánh dấu sự chuyển mình, và sự hiện đại của văn chương Việt Nam chỉ thật sự bùng nổ từ những năm 1930 đến 1945.

Giai đoạn 1930 - 1945 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam với những đổi mới về nội dung, hình thức, tư tưởng và nghệ thuật Thời kỳ này chứng kiến sự xuất hiện của nhiều tác phẩm mang tính hiện đại, phản ánh sâu sắc tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và bối cảnh xã hội đầy biến động Các nhà văn đã không ngừng sáng tạo, tìm kiếm những hình thức biểu đạt mới, góp phần làm phong phú thêm nền văn học dân tộc.

Trong những năm 1930, nhiều hiện tượng văn học nổi bật đã xuất hiện, đặc biệt là tờ Nam Phong, tạp chí do Phạm Quỳnh chủ nhiệm từ năm 1913 đến 1932 Theo Thanh Lãng, Nam Phong là nguồn tài liệu quan trọng để hiểu văn học Việt Nam giai đoạn này, và nếu không có nó, nền văn học sẽ trở nên trống rỗng Trong thời kỳ này, những tác giả như Nguyễn Bá Ngọc, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Ngọc Phách, và Nguyễn Trọng Thuật đã dần rút lui vào hậu trường, đánh dấu sự chuyển mình của văn học Việt Nam.

Thế hệ nhà văn mới trong văn học đã từ bỏ những tư tưởng lỗi thời để hoài nghi và đặt lại các giá trị xã hội, gia đình, cá nhân Họ không chỉ phản đối những tàn dư của chế độ cũ mà còn đấu tranh mạnh mẽ chống lại chế độ thuộc địa và nửa phong kiến, thể hiện qua hình ảnh của các nhân vật như Nghị Quế, Nghị Lại, và Nghị Đà Trước năm 1930, các nhà văn chủ yếu viết cho báo chí, nhưng sự ra đời của nhà xuất bản đã làm bùng nổ hoạt động văn học với nhiều thể loại phát triển mạnh mẽ Kịch đã thoát khỏi sự đơn điệu của loại hình cổ điển, trong khi tác phẩm "Lòng rỗng không" của Đoàn Phú Tứ đã khắc họa sâu sắc tâm lý nhân vật Thơ ca cũng trải qua cuộc cách mạng lớn, với sự gia tăng về số lượng và chất lượng, đưa ra những ý tưởng mới, hình thức mới và làm nổi bật cái "tôi" cá nhân.

Xuân Diệu, Huy Cận, và Lưu Trọng Lư là những nhà thơ tiêu biểu, bên cạnh các tác giả tả chân như Bàng Bá Lân, Tế Hanh, và Anh Thơ Đặc biệt, từ sau năm 1930, thơ ca cách mạng đã phát triển mạnh mẽ với sự góp mặt của nhiều tác giả nổi tiếng như Tố Hữu và Sóng Hồng.

Hoạt động phê bình văn học trong giai đoạn này đã tạo ra sự khác biệt rõ rệt, không chỉ đơn thuần là những ý kiến cá nhân mà còn hình thành các nhóm phê bình mạnh mẽ, bảo vệ cho những quan điểm và giá trị văn học.

Tình hình ti ểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945

Trước năm 1930, sự phát triển của tiểu thuyết diễn ra khá chậm chạp, với chỉ một số ít tác phẩm được xuất bản từ quyển tiểu thuyết đầu tiên vào năm 1887 (Thầy Laiarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản) cho đến năm 1930, tức là gần nửa thế kỷ.

Từ những tác giả quen thuộc như Nguyễn Chánh Sắt, Trương Duy Toan, Lê Hoang Mưu, đến Hồ Biểu Chánh, hầu hết đều chỉ có dưới mười tác phẩm Tuy nhiên, từ sau năm 1930, thể loại tiểu thuyết đã có sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.

Trong vòng chưa đầy mười năm, Lê Văn Trương và Lan Khai đã cho ra mắt gần một trăm tiểu thuyết, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của thể loại này Theo Thanh Lãng, có lý do chính đáng khi cho rằng "Lịch sử văn học Việt Nam của thời kỳ này là lịch sử tiểu thuyết".

Sự phát triển mạnh mẽ của thể loại tiểu thuyết đã dẫn đến sự ra đời của nhiều khuynh hướng khác nhau, bao gồm tiểu thuyết lãng mạn, hiện thực phê phán và hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Từ 1930 đến 1945, tiểu thuyết lãng mạn đã phát triển mạnh mẽ và để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam Giai đoạn đầu (1930 - 1935), các tác phẩm như "Nửa chừng xuân" của Khái Hưng và "Đoạn tuyệt" của Nhất Linh đã phê phán mạnh mẽ lễ giáo phong kiến, kêu gọi sự từ bỏ những quan niệm lỗi thời về tình yêu, hôn nhân và gia đình Mặc dù còn nhiều hạn chế, thể loại tiểu thuyết này đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi những hủ tục, mở đường cho những giá trị mới.

Trong giai đoạn 1936 - 1939, các tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo tiếp tục theo đuổi cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân, nhưng dần bộc lộ bản chất tư sản với những tác phẩm thể hiện lối sống hưởng lạc và phóng đãng Đến giai đoạn 1940 - 1945, tiểu thuyết lãng mạn nhanh chóng rơi vào khủng hoảng, khi chủ nghĩa cá nhân và tư sản trở nên thoái hóa, gây ra những tác động tiêu cực Tuy nhiên, một số tác giả tiểu tư sản như Lan Khai và Thạch Lam đã tạo ra những tác phẩm mang giá trị hiện thực, hướng đến cuộc sống của người nghèo khổ, thể hiện qua các tác phẩm như Lầm than, Gió đầu mùa và Con trâu.

Tiểu thuyết hiện thực phê phán có khuynh hướng miêu tả cuộc sống một cách chân thực

Sự miêu tả chân thực trong tiểu thuyết hiện thực phê phán không chỉ phản ánh những bất công xã hội mà còn là tiếng nói mạnh mẽ chống lại những điều ô trọc của đời sống Mặc dù tiểu thuyết hiện thực phê phán xuất hiện cùng với tiểu thuyết lãng mạn, nhưng đến giai đoạn 1935 - 1939, nó đã phát triển mạnh mẽ và cho ra đời nhiều tác phẩm đỉnh cao, đánh dấu sự trưởng thành của các nhà văn hiện thực.

Các tác phẩm như Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng; Bước đường cùng, Ông chủ của Nguyễn Công Hoan; Tắt đèn của Ngô Tất Tố; và Bỉ vỏ của Nguyên Hồng đã khắc họa một bức tranh xã hội phong phú, phản ánh chân thực các thành phần xã hội từ địa chủ, cường hào đến những người dân nghèo Những tác phẩm này không chỉ mô tả cuộc sống đa dạng mà còn thể hiện sức mạnh tố cáo mạnh mẽ đối với giai cấp thống trị trong thời kỳ đó.

1945, sức công phá không còn nữa, tiểu thuyết hiện thực phê phán không trực diện đấu tranh

Ngoài tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao, nhiều tác phẩm khác như "Sống mòn" (Nam Cao), "Giăng thề" (Tô Hoài), "Ngoại ô", "Ngõ hẻm" (Nguyễn Đình Lạp), "Quê người" (Tô Hoài) và "Nằm vạ" (Bùi Hiển) đều phản ánh cuộc sống bế tắc của người tiểu tư sản, dân nghèo thành phố và nông dân Ở giai đoạn cuối của văn học lãng mạn, thể loại này rơi vào ngõ cụt và suy đồi, trong khi văn học hiện thực phê phán lại phát triển mạnh mẽ, tiến gần đến văn học cách mạng.

Trong khoảng thời gian ngắn từ 1930 đến 1945, tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc với hàng ngàn tác phẩm ra đời, đánh dấu giai đoạn cực thịnh trong lịch sử văn học Thời kỳ này chứng kiến sự giao thoa giữa tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực, mỗi loại hình đều mang lại những giá trị nghệ thuật riêng biệt Tiểu thuyết lãng mạn từ 1930 đến 1935 và tiểu thuyết hiện thực từ 1930 đến 1940 đã thể hiện những giá trị đích thực, trong khi giai đoạn 1935 đến 1945 của tiểu thuyết lãng mạn lại có những tác động tiêu cực đến văn học.

Trường phái văn học tả chân

Tả thực hay tả chân là một khuynh hướng nghệ thuật nhằm ghi lại sự thật một cách khách quan, tránh mọi hình thức nghệ thuật như sửa đổi hay lý tưởng hóa Phái tả thực muốn phản ánh cuộc sống và sự vật như chúng tồn tại trong xã hội, không tập trung vào một ý tưởng hay chủ đề cụ thể mà là một diễn tiến liên tục, như một cuốn phim ghi lại một cảnh ngoài phố mà không qua chỉnh sửa Mục tiêu của tả thực là sao chép cuộc sống một cách nguyên vẹn và toàn diện.

Trào lưu văn học hình thành và phát triển trên văn đàn hợp pháp Việt Nam từ những năm

Trước cách mạng Tháng Tám, có một xu hướng rõ rệt trong văn học miêu tả chân thực cuộc sống, nhằm lên án trật tự thực dân nửa phong kiến bất công và thối nát Những tác phẩm này phơi bày hình ảnh khốn khổ của quần chúng bị áp bức và bóc lột.

Nhận định của Thanh Lãng cho thấy rằng nghệ thuật tả chân còn ở giai đoạn sơ khai, mang tính công thức và máy móc Trong khi đó, định nghĩa của Nguyễn Hoành Khung lại cho rằng tả chân chỉ là một tên gọi khác của hiện thực phê phán.

Nhà văn thế hệ 1930 - 1945 như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, và Nguyên Hồng không thành lập văn đàn hay tuyên ngôn, nhưng họ thể hiện tấm lòng bao dung, nhân hậu, và sự thấu hiểu sâu sắc về đời sống con người.

Trọng Lang, Tam Lang, Ngô Tất Tố và Tô Hoài là những tác giả nổi bật của trường phái tả chân, họ đã sử dụng ngòi bút để phê phán những khía cạnh thối tha, bỉ ổi của cuộc sống Các tác phẩm của họ không chỉ mang giá trị hiện thực sâu sắc mà còn góp phần vạch tội và phơi bày những bất công trong xã hội.

Một số tác phẩm tiêu biểu của trường phái tiểu thuyết tả chân bao gồm "Giông tố," "Vỡ đê," "Cơm thầy cơm cô," "Lục xì," và "Làm đĩ" của Vũ Trọng Phụng; "Việc làng" của Ngô Tất Tố; "Ồ chuột" của Tô Hoài; "Đêm sông Hương" của Tam Lang; "Đời bí mật của sư vãi" của Trọng Lang; "Bỉ vổ," "Những ngày thơ ấu" của Nguyên Hồng; "Thằng ăn cắp," "Lò gạch bí mật" của Nguyễn Công Hoan; và "Một mình trong đêm tối" của Vũ Bằng Những tiểu thuyết tả chân này xuất hiện đồng thời với các tác phẩm lãng mạn như "Nửa chừng xuân," "Đoạn tuyệt," "Lạnh lùng," và "Đời mưa gió" của nhóm Tự lực văn đoàn, phản ánh sự phản kháng đối với khuynh hướng lãng mạn Đặc biệt, tiểu thuyết tả chân Việt Nam có nguồn gốc từ phóng sự, với Tam Lang và phóng sự "Tôi kéo xe," cùng các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng như "Cơm thầy cơm cô," "Lục xì," và "Kỹ nghệ lấy Tây," cho thấy sự chuyển mình từ phóng sự sang tiểu thuyết tả chân với những điển hình xuất sắc.

V ị trí, vai trò của Vũ Trọng Phụng trong trường phái tả chân

Vũ Trọng Phụng trải qua nhiều thua thiệt từ thuở nhỏ đến khi trưởng thành, khi cái đói, cái nghèo và bệnh tật luôn bám theo ông Cuộc sống xung quanh ông không hề tươi sáng, với những điều xấu xa, bất công và thối nát gây ra nhiều cú sốc tinh thần Để phản ánh thực trạng xã hội, ông đã sử dụng ngòi bút của mình để vạch trần và chỉ ra những vấn đề nhức nhối, bắt đầu bằng hàng loạt phóng sự sắc bén.

30 con bạc, đầy tớ, gái điếm, me Tây (Cạm bẩy người, Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Kỹ nghệ lấy

Vũ Trọng Phụng đã chuyển sang viết tiểu thuyết với mục đích phanh phui và tố giác những điều ma quái, giả dối đang tồn tại trong xã hội Tác phẩm của ông không chỉ phản ánh thực trạng mà còn thể hiện sự quyết liệt trong việc đánh bại những điều xấu xa Tam Lang đã ghi lại những kỷ niệm khi ông đảm nhận vai trò chủ trương bộ biên tập Ngọ Báo.

Vài ngày sau, tôi nhận được thêm một số bài viết cẩn thận từ ông Vũ Trọng Phụng mà tôi chưa từng gặp Những bài viết này chủ yếu mô tả các câu chuyện dâm đãng, với tiêu đề đã gây sốc và lối viết tả chân mạnh mẽ, thậm chí còn táo bạo hơn nội dung.

Thật sự, văn tả chân lúc bấy giờ còn hiếm trong văn học Tôi rất thích lối tả chân của những tác phẩm này và quyết định đăng một bài viết về chuyện dâm đãng lên tờ Ngọ Báo Tuy nhiên, ông Bùi Xuân Học, chủ tờ báo, đã phản đối kịch liệt quyết định của tôi.

Con người có “con mắt xanh” ấy sau này trở thành người cùng chí hướng với Vũ Trọng

Phụng trong trường phái tả chân và viết phóng sự

Vũ Trọng Phụng, với ngòi bút tả chân sắc sảo, đã chỉ ra những điều không nên tin và cảnh báo về những "mốt", "phong trào" đang nổi lên thời bấy giờ Ông không ngừng nghỉ từ phóng sự đến tiểu thuyết, thể hiện sự kiên định và năng động trong việc phê phán những nét giả dối của nhân loại Trương Tửu đánh giá ông là "đứa con trực tiếp của cuộc đời", với tài năng xuất phát từ kinh nghiệm và nỗ lực cá nhân, không phải từ sự bắt chước Trong văn học Việt Nam hiện đại, Vũ Trọng Phụng đã tạo dựng một vị trí độc đáo, là một phần tử tiên phong và can đảm trong nghệ thuật tả chân.

Nguyễn Duy Diễn và Đỗ Long Vân đã dành nhiều trang viết để phân tích nghệ thuật tả chân của Vũ Trọng Phụng, một nhà văn nổi tiếng với phong cách tả chân độc đáo Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của kỹ thuật tả chân trong các tác phẩm của ông, qua đó khẳng định vị thế của Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam.

Phụng trong Số đỏ [178, tr.80 - 94]

Không cứ là truyện ngắn, kịch, phóng sự hay tiểu thuyết v.v tất cả những tác phẩm Vũ

Trọng Phụng đều in đậm dấu ấn hiện thực tả chân sắc sảo, ngoại trừ Dứt tình - quyển tiểu thuyết đầu tay, viết theo bút pháp lãng mạn

Sáng tác c ủa Vũ Trọng Phụng

Trong sự nghiệp văn chương chưa có một ai sáng tác nhiều thể loại như Vũ Trọng

Vũ Trọng Phụng, với tài năng và cái nhìn sâu sắc, đã để lại dấu ấn trong nhiều lĩnh vực văn học Ông bắt đầu sự nghiệp viết lách với truyện ngắn đầu tay "Chống nạng lên đường" vào năm 1930, và cho đến khi qua đời, đã sáng tác 41 truyện ngắn cùng 4 di cảo Tuy nhiên, vào năm 1934, không có thêm truyện ngắn nào được công bố Gần đây, TS Peter Zinoman đã phát hiện thêm 9 truyện ngắn của ông tại Thư viện Quốc gia Pháp, mở ra những khám phá mới về di sản văn học của Vũ Trọng Phụng.

Tất cả các truyện ngắn được viết vào năm 1934, không đề cập đến những vấn đề lớn như phóng sự hay tiểu thuyết Thay vào đó, truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng tập trung vào những chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, nhưng chính những câu chuyện ấy lại chạm đến trái tim của tất cả chúng ta.

Vũ Trọng Phụng mang đến giá trị thực tiễn và kêu gọi lòng yêu thương giữa con người, nhấn mạnh rằng không nên để hoàn cảnh làm cho chúng ta trở nên xa lạ và nhẫn tâm, ngay cả với những người thân yêu Mỗi số phận trong tác phẩm đều chứa đựng sự đồng cảm và nỗi lòng của tác giả, đồng thời một số câu chuyện khác cũng khai thác sâu về tâm lý con người Đây chính là đóng góp mới mẻ của Vũ Trọng Phụng trong việc hiện đại hóa thể loại truyện ngắn.

Vũ Trọng Phụng thể hiện phong cách riêng biệt trong truyện ngắn của mình, tập trung vào việc gợi cảm xúc hơn là chỉ tả thực Sau khi đọc, độc giả không chỉ cảm nhận nỗi buồn mà còn bị ám ảnh và thúc giục suy nghĩ về những điều sâu xa hơn.

Vũ Trọng Phụng là một tác giả nổi bật trong thể loại phóng sự, với 8 tác phẩm đáng chú ý, trong đó có tác phẩm "Hải Phòng" được phát hiện gần đây và viết vào năm 1934 Những tác phẩm này để lại ấn tượng sâu sắc, phản ánh hiện thực và thời sự của xã hội, dù đã trải qua gần 75 năm Chúng không chỉ là câu chuyện của một thời kỳ cụ thể mà còn mang tính chất phổ quát, gợi nhớ về con người và sự việc trong đời sống hiện tại.

Vũ Trọng Phụng, được mệnh danh là “ông vua phóng sự”, đã khéo léo khắc họa những khía cạnh tinh tế của xã hội qua các tác phẩm như "Cạm bẫy người", "Cơm thầy cơm cơ" và "Một huyện ăn tết" Những tác phẩm này không chỉ phản ánh nguyên mẫu của con người mà còn mang đến cái nhìn sâu sắc về những vấn đề xã hội, thể hiện tài năng xuất sắc của ông trong lĩnh vực phóng sự.

Cây bút phóng sự lão luyện đã giúp ông gặt hái thành công trong lĩnh vực tiểu thuyết, với 8 quyển được xuất bản trong vòng 4 năm (1934, 1936 - 1938) Mặc dù số lượng không nhiều so với một đời văn, nhưng thành công của một tác phẩm như Số đỏ hay Giông tố có thể đủ để khẳng định giá trị của một nhà văn Tiểu thuyết đầu tay của ông, Dứt tình, đã đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Vào năm 1934, nhiều người nhận định rằng Vũ Trọng Phụng chủ yếu viết tiểu thuyết lãng mạn Tuy nhiên, đến năm 1936, ông đã cho ra mắt hàng loạt tiểu thuyết hiện thực nổi bật như Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, và Làm đĩ "Trúng số độc đắc" là tác phẩm cuối cùng của ông, được viết trong thời gian ông lâm bệnh, với những bản thảo được sử dụng để lót đầu khi ông qua đời.

Phóng sự đã đưa ông lên vị trí hàng đầu, nhưng tiểu thuyết cũng không kém phần nổi bật Cuộc sống được khắc họa rõ nét, tinh tế và hấp dẫn trên trang giấy, khiến người đọc không thể rời mắt Mặc dù có nhiều ý kiến chỉ trích, nhưng khi xem xét kỹ lưỡng, những phê phán đó dường như vội vàng Điều này lý giải vì sao độc giả lại muốn đọc đi đọc lại tiểu thuyết này.

Vũ Trọng Phụng Thường cái gì sắc sảo quá đều phải vậy !

Vũ Trọng Phụng bắt đầu viết kịch từ rất sớm, với tác phẩm đầu tay "Không một tiếng vang" ra mắt vào năm 1931 Tổng cộng, ông có bảy vở kịch, bao gồm cả di cảo Kịch của Vũ Trọng Phụng không khác gì tiểu thuyết và phóng sự, thể hiện sâu sắc những vấn đề xã hội của thời đại.

Vũ Trọng Phụng khéo léo khai thác những khía cạnh thực tế của đời sống con người, phản ánh những điều bình thường mà ai cũng quen thuộc Ông tài tình trong việc lựa chọn và xây dựng các tình huống, xung đột, và khi vở kịch kết thúc, mọi vấn đề đều được giải quyết một cách hợp lý và thỏa đáng.

Với thể loại ký sự, tác phẩm dịch, đóng góp của Vũ Trọng Phụng không nhiều (1 ký sự,

Vở kịch "Giết mẹ" là một tác phẩm dịch, phản ánh nội dung tương tự như tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng, với những bi kịch đan xen, tạo nên một bức tranh sâu sắc về cuộc sống.

Vũ Trọng Phụng, dù chỉ cầm bút trong chín năm, đã để lại một di sản văn chương phong phú với 71 tác phẩm đa dạng, bao gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, kịch, và ký sự Ở tuổi 24, ông đã xuất bản năm tác phẩm nổi bật như Giông tố, Vỡ đê, Làm đĩ, Số đỏ, và Cơm thầy cơm cô, cùng với năm truyện ngắn, cho thấy tài năng xuất chúng của mình trong lĩnh vực phóng sự và tiểu thuyết.

Văn chính luận, báo chí, tài liệu hiện không còn nhiều Theo thống kê của Nguyễn Đăng

Mạnh có 13 bài Bài đầu tiên Một người công dân, in trên Hà Nội báo năm 1936 Vũ Trọng

Phụng, giống như nhiều nhà văn cùng thời, thường bắt đầu sự nghiệp bằng việc viết báo Mặc dù không có tác phẩm nào được thống kê trong năm 1934, nhưng sau này đã phát hiện ra 9 truyện ngắn của ông.

Theo Đỗ Tất Lợi, Vũ Trọng Phụng đã viết nhiều bài báo ca ngợi những người yêu nước trong thời kỳ đó, và nội dung của những bài viết này có thể khiến họ bị Pháp bắt giam, tương tự như những bài viết về Nguyễn Ái Quốc, Ký Con và Đoàn Trần Nghiệp.

TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT, QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, MÔ HÌNH TI ỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN, TÌNH TIẾT

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG

KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT NGÔN NGỮ

Ngày đăng: 19/06/2021, 14:16

w