Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng có lịch sử nghiên cứu phong phú đòi hỏi phải có một cái nhìn bao quát về lịch sử tiếp nhận, thấy được các hướng tiếp cận, những thành công và hạn chế trong việ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VŨ TRỌNG PHỤNG Ở VIỆT NAM
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguy ễn Thị Quỳnh Loan
VŨ TRỌNG PHỤNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HOÀI THANH
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Quỳnh Loan
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô, gia đình, bạn bè
Đầu tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Hoài Thanh - người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn những thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, truyền thụ
kiến thức chuyên ngành Lý luận văn học cho tôi; các thầy cô trong khoa Ngữ văn; các thầy cô ở Phòng sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
Tổ thông tin Thư viện Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn, Thư viện Khoa học Tổng hợp đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong
việc tìm kiếm thông tin
Xin gửi lời cảm ơn đến các chị trong lớp Lý luận văn học khóa 24 – những người bạn đã đồng hành cùng tôi trong quá trình học tập, chia sẽ cho tôi những kinh nghiệm quý báu Và lời sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình đã luôn là chỗ dựa
vững chắc cho tôi trên con đường học vấn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2015
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Quỳnh Loan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 L ịch sử vấn đề 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1 TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ 11
PHÊ BÌNH ĐẠO ĐỨC VÀ PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC 11
1.1 Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ phê bình đạo đức 11
1.1.1 Cơ sở tiếp nhận 11
1.1.2 N ội dung tiếp nhận 17
1.2 Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ phê bình phân tâm học 24
1.2.1 Cơ sở tiếp nhận 24
1.2.2 Nội dung tiếp nhận 29
1.3 Ti ểu kết 38
CHƯƠNG 2 TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ 41
PHÊ BÌNH MÁC XÍT 41
2.1 Cơ sở tiếp nhận 41
2.2 Nội dung tiếp nhận 52
CHƯƠNG 3: TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ 65
GÓC ĐỘ THI PHÁP THỂ LOẠI 65
3.1 Cơ sở tiếp nhận 65
3.2 Nội dung tiếp nhận 70
3.3 Ti ểu kết 84
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vũ Trọng Phụng là một cây bút có sức viết dồi dào Chỉ với hai mươi bảy
tuổi đời nhưng ông đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ Ông thành công ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết Ông được tôn vinh là “nhà tiểu thuyết trác tuyệt” (Nguyễn Đình Thi) Những đóng góp của Vũ Trọng Phụng vào quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam vừa mang tính khai mở, vừa
khẳng định tính hiện đại của thể loại này Ngay từ những ngày đầu xuất hiện trên văn đàn, Vũ Trọng Phụng đã khẳng định được tài năng của mình, tạo được
sức hút đối với công chúng độc giả nói chung cũng như giới phê bình nói riêng
Năm 1934, Vũ Trọng Phụng cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên Dứt
tình (còn có tên khác là B ởi không duyên kiếp) đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo Với tiểu thuyết này, ông chứng tỏ là ngòi bút tả chân khéo léo và tác
phẩm có thể coi là "một bức tranh phỏng theo sự thực của cuộc đời, không tô
điểm cho đẹp thêm, cũng không bôi nhọ cho xấu đi" (báo Tràng An) Sang năm
1936, ngòi bút tiểu thuyết của ông nở rộ, đạt kỷ lục xuất sắc: chỉ trong vòng một năm, bốn cuốn tiểu thuyết được lần lượt xuất hiện trên báo, thu hút sự tìm đọc của
công chúng Đó là Giông tố (trên Hà Nội báo từ số 1- 01/01/1936); rồi Số
đỏ (cũng trên Hà Nội báo, từ số 40, 7/10/1936) Tiếp đó là Vỡ đê (trên báo Tương lai, t ừ số ngày 27/09/1936) rồi đến Làm đĩ (đăng trên Sông Hương, phát hành tại
Huế năm 1936) Tiếp đó là tiểu thuyết Quý phái (đăng dở dang trên Đông Dương
t ạp chí năm 1937), Lấy nhau vì tình (1937), Trúng số độc đắc (1938) và tập di cảo Người tù được tha Những tiểu thuyết của ông ngay từ khi ra đời đã tạo nên
những cuộc tranh luận sôi nổi Nói đến Vũ Trọng Phụng là nói đến một hiện tượng văn học độc đáo, hiện tượng ấy đã thách thức các giới hạn tiếp nhận văn
học trong lịch sử Mỗi giai đoạn người ta luôn đặt câu hỏi xoay quanh giá trị tác
phẩm của ông
Trang 7Nghiên cứu văn học không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu hoạt động sáng tác mà còn nghiên cứu cả hoạt động tiếp nhận.Việc nghiên cứu người đọc, nghiên cứu tiếp nhận văn học đã được nhiều nhà lý luận văn học hàng đầu thế
giới quan tâm, tìm hiểu Ở Việt Nam, cũng có hàng loạt công trình về vấn đề
tiếp nhận văn học của Hoàng Trinh, Nguyễn Văn Hạnh, Mai Quốc Liên, Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân, Huỳnh Như Phương,… đã đề cập đến
tầm quan trọng của việc nghiên cứu tiếp nhận, mối quan hệ giữa sáng tác và tiếp
nhận, giữa tác phẩm và người đọc,…
Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ khi ra đời đã trải qua nhiều thăng trầm,
biến động của lịch sử Ở những giai đoạn khác nhau lại xuất hiện những cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau về tiểu thuyết của ông Tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng có lịch sử nghiên cứu phong phú đòi hỏi phải có một cái nhìn bao quát về
lịch sử tiếp nhận, thấy được các hướng tiếp cận, những thành công và hạn chế trong việc nhận định, đánh giá để hướng tới một sự tiếp nhận khoa học khách quan, khám phá ra những chân giá trị còn tiềm ẩn trong thành tựu sáng tác này
của ông.Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng
Ph ụng ở Việt Nam để nghiên cứu
Năm 1934, cuốn tiểu thuyết Dứt tình - tiểu thuyết đầu tiên của Vũ Trọng
Phụng được công bố trên Hải Phòng tuần báo, sau đó được nhiều nhà nghiên
cứu, phê bình giới thiệu trên các báo Tràng An, Đông Tây, Đuốc Nhà Nam, Tao
Đàn Năm 1936, Vũ Trọng Phụng cho ra đời các tiểu thuyết: Giông tố, Số đỏ,
Trang 8V ỡ đê, Làm đĩ Từ đó, đã dấy lên cuộc tranh luận “Dâm hay không dâm” của
tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng qua các ý kiến của Thái Phỉ, Nhất Chi Mai, Sau khi Vũ Trọng Phụng mất, nhiều nhà văn, nhà thơ (Nguyễn Tuân, Thanh Châu, Ngô Tất Tố, Tam Lam, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Trương Tửu) đã viết bài
phê bình và tưởng niệm về tác giả Giông tố đăng trên tạp chí Tao đàn số đặc biệt
về Vũ Trọng Phụng, những nhận xét này chủ yếu là có tính chất tưởng niệm, đánh giá cao về nhân cách và đạo đức của Vũ Trọng Phụng hơn là chú ý đến tác
phẩm của ông
Bên cạnh đó, còn có một số nhận định khác về tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng được trình bày trong các công trình phê bình, khảo cứu: Dưới mắt tôi (Trương Chính), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan), Văn học và triết luận
(Mộng Sơn) Như vậy trước 1945, tiểu thuyết vũ Trọng Phụng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đánh giá, dù có những ý kiến khen ngợi về nghệ thuật
tả chân của Vũ Trọng Phụng nhưng đa phần các nhà phê bình và khảo cứu ở giai đoạn này vẫn chưa có cái nhìn khách quan và hệ thống về tài năng của Vũ Trọng
Phụng
Giai đoạn 1945 – 1954
Trong Hội nghị tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc, khi bàn về “Vấn đề hiện
th ực xã hội chủ nghĩa”, nhiều nhà văn đã lấy Vũ Trọng Phụng làm dẫn chứng
như Nguyên Hồng, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi Ở giai đoạn này, do yêu cầu lịch
sử của đất nước, nên tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ít được quan tâm, nghiên cứu đầy đủ
Trang 9Giai đoạn 1954 – 1975
Ở miền Bắc
Sau khi hòa bình được lập lại, ba tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê được
in và phát hành rộng rãi Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng lại trở thành vấn đề được nhiều người quan tâm Ta có thể bắt gặp những nhận xét về tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng của Nguyên Hồng trong lời giới thiệu Giông tố, Trương Tửu trong
lời giới thiệu Vỡ đê, Nguyễn Tuân khi Đọc lại chuyện Giông tố, Nguyễn Đình Thi trong Nh ất lãm về văn học Việt Nam
Trong thời kì này đã xuất hiện một số công trình chuyên khảo về Vũ
Trọng Phụng Có thể kể đến tập san phê bình Vũ Trọng Phụng – đời sống và con
người Trong công trình này, Thiều Quang đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến
con người và tác phẩm Vũ Trọng Phụng, cung cấp nhiều tư liệu đáng quý và bước đầu có những nhận xét khá xác đáng về tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng:
“Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng, tiểu thuyết Số đỏ là một
tác phẩm tiêu biểu nhất, nó thể hiện rõ nhất tất cả cái tính chất tư tưởng của Vũ
Trọng Phụng”
Cuốn sách Vũ Trọng Phụng – nhà văn hiện thực của Văn Tâm là một
trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng khá công phu
Cuốn sách gồm bảy chương, chủ yếu xoay quanh con người và văn chương Vũ
Trọng Phụng Nhà phê bình đã phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật và bút pháp trào phúng trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Đồng thời, ông đã phủ nhận
lại những nhận xét quy chụp nặng nề của Thái Phỉ, Nhất Chi Mai, Lan Khai về
“cái dâm” trong sáng tác Vũ Trọng Phụng
Cuốn sách Vũ Trọng Phụng với chúng ta do Nhà xuất bản Minh Đức phát
hành (1956) tập hợp các bài viết của các nhà văn, nhà phê bình: Phan Khôi, Trương Tửu, Hoàng Cầm, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Văn Tâm Các
Trang 10bài viết chủ yếu có tính chất tưởng niệm, ca ngợi Vũ Trọng Phụng – “một nhà
văn tả chân dũng cảm”
Trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957), nhóm Lê Quý Đôn đã
đánh giá về đóng góp và hạn chế của tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Đồng thời, cũng cho thấy thái độ không đồng tình với “cái dâm” trong tác phẩm của nhà văn họ Vũ
Khi nhóm nhân văn giai phẩm đề cao Vũ Trọng Phụng cũng là lúc xuất
hiện hàng loạt ý kiến phê bình tiêu cực cho tiểu thuyết của ông Tiêu biểu có thể
kể đến một số cây bút như Nguyễn Đình Thi (Nhà văn với quần chúng lao động,
báo Nhân dân, s ố ra ngày 1/5/1958), Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Đức Đàn (Mấy
v ấn đề về văn học hiện thực phê phán), Vũ Đức Phúc (Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại)
Tuy nhiên, vẫn có những công trình nghiên cứu đã có cái nhìn khách quan
hơn về tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng: Phan Đệ Cự trong giáo trình Văn học Việt
Nam 1930 – 1945 (t ập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, 1961) đã đưa Vũ Trọng Phụng
vào giáo trình đại học như một một tác gia văn học lớn với tiêu đề: “Vấn đề Vũ
Tr ọng phụng” và trong công trình này, ông đã góp phần khẳng định Vũ Trọng
Phụng là một nhà văn hiện thực không thể quên lãng của văn học giai đoạn 1930 – 1945 Nguyễn Công Hoan trong cuốn Đời viết văn của tôi (Nhà xuất bản Văn
h ọc, 1971) đã minh oan cho Vũ Trọng Phụng khỏi những tội trạng mà trước đó
người ta đã gán cho ông như “làm mật thám”, “phản động” Nguyễn Đăng Mạnh trong một bài viết đã tập trung lý giải “sự mâu thuẫn trong thế giới quan và trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng”, nhà phê bình đánh giá cao nghệ thuật cá
thể hóa nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, tuy nhiên, ông lại cho rằng
“khuynh hướng suy đồi của văn học tư sản phản động” đã đến với Vũ Trọng
Phụng Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã nhiều lần lấy tiểu
thuyết Vũ Trọng Phụng làm dẫn chứng cho việc nghiên cứu những khuynh
Trang 11hướng hiện thực trước cách mạng, vấn đề điển hình hóa trong các tiểu thuyết
hiện thực phê phán, đặc trưng thẩm mỹ của tiểu thuyết, xây dựng nhân vật, kết
cấu, cốt truyện trong tiểu thuyết
Ở đô thị miền Nam
Các nhà nghiên cứu thừa nhận tài năng tả chân của Vũ Trọng Phụng, tuy nhiên vẫn chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng Các
tạp chí Văn học, Nghiên cứu văn học nhiều lần xuất bản chuyên đề về Vũ Trọng
Phụng, trong đó họ in lại một số bài viết của các nhà văn trước Cách mạng tháng Tám Một số luận điểm có giá trị xuất hiện trong các công trình Việt Nam Văn
h ọc sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết của
Nguyễn Văn Trung, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, phê bình thế hệ 1932 –
1945 c ủa Thanh Lãng, bài Viết về Vũ Trọng Phụng của Dương Nghiễm Mậu
Giai đoạn từ sau 1975 đến nay
Từ sau ngày đất nước thống nhất, vị trí của Vũ Trọng Phụng đã từng bước
được khẳng định Năm 1983, Vũ Trọng Phụng đã được đưa vào Từ điển văn
h ọc Năm 1987, Tuyển tập Vũ Trọng Phụng do Nguyễn Đăng Mạnh và Trần
Hữu Tá biên soạn đã được xuất bản Đây là công trình tập hợp những bài viết xoay quanh cuộc đời và tác phẩm của Vũ Trọng Phụng từ khi ra đời cho đến năm 1987 Trong lời giới thiệu, Nguyễn Đăng Mạnh đã lý giải hiện tượng Vũ
Trọng Phụng bằng phương pháp văn học sử Nguyễn Hoành Khung trong bài
viết Nhìn lại và suy nghĩ xung quanh một vụ án văn học đã thấy được hạn chế
của phương pháp nghiên cứu văn học cũ: “Đáng lẽ tìm hiểu, nghiên cứu một nhà văn, nó lại chỉ đi tìm con người chính trị trong nhà văn đó” Bên cạnh những bài
viết trình bày trong hai cuộc hội thảo lớn về Vũ Trọng Phụng tại Thành phố Hồ Chí Minh (12/1987) và tại Hà Nội (10/1989), còn có những bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí: Văn học, Ngôn ngữ học và trong các sách tiểu luận phê bình của
Trang 12các nhà nghiên cứu: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoàng Khung, Phan Cự Đệ,
Trần Hữu Tá, Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Văn Tâm, Hoàng Thiếu Sơn, …
Trong những thập niên cuối cùng của thế kỉ XX, nhiều công trình tuyển
tập và biên soạn lại tác phẩm của Vũ Trọng Phụng ra đời, đem đến cái nhìn hệ
thống, khách quan hơn về con người và tác phẩm của ông Tuyển tập Vũ Trọng
Ph ụng của Nguyễn Đăng Mạnh là công trình đầu tiên sưu tầm, tuyển chọn, giới
thiệu về Vũ Trọng Phụng Tiếp đó hàng loạt công trình ra đời: Vũ Trọng Phụng
– con người và tác phẩm (Nguyễn Hoàng Khung, Lại Nguyên Ân); Vũ Trọng
Ph ụng – tài năng và sự thật, Chống nạng lên đường, Vẽ nhọ bôi hề (Lại Nguyên
Ân); Vũ Trọng Phụng – hôm qua và hôm nay, Nhà Văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta (Tr ần Hữu Tá); Bản sắc hiện đại trong các sáng tác của Vũ Trọng
Phụng (Hà Minh Đức); Vũ Trọng Phụng về tác gia và tác phẩm (Tôn Thảo
Miên),… Bên cạnh đó, còn có những bài báo đi sâu nghiên cứu một vài bình
diện trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng của Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Ngọc Hiến, Phong Lê, Hoàng Như Mai, Trần Đăng Suyền, Vương Trí Nhàn,
Ngoài ra, còn có những công trình tiến sĩ nghiên cứu về tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng của Bùi Văn Tiếng (Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ
Tr ọng Phụng), Nguyễn Quang Trung (Tiếng cười Vũ Trọng Phụng), Trần Đăng
Thao (Đóng góp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng đối với lịch sử văn học Việt Nam
hi ện đại qua hai thể loại phóng sự và tiểu thuyết phóng sự), Đinh Trí Dũng
(Nhân v ật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng), Nguyễn Thành (Tiểu thuyết Vũ Trọng
Ph ụng), Đinh lựu (Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng),…
Ở trên, chúng tôi vừa điểm qua một số công trình mang tính tập hợp
những tư liệu với các qui mô lớn, nhỏ, khác nhau Như vậy, có thể thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng quát lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng theo các khuynh hướng phê bình Tuy một số công trình không
trực diện phân tích hay đặt trọng tâm nghiên cứu về vấn đề mà luận văn này đặt
Trang 13ra nhưng đó là nguồn tư liệu gợi mở, quí báu, hữu ích để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những ý kiến,
những bài báo, công trình liên quan đến việc tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng
Phạm vi
Với luận văn Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam,
chúng tôi sẽ nghiên cứu về sự tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ năm
1934 đến nay ở Việt Nam Mặc dù có nhiều khuynh hướng phê bình khác nhau trong việc tiếp cận, lý giải tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, nhưng luận văn chỉ giới
hạn phạm vi đề tài trong những khuynh hướng phê bình nổi bật mà cụ thể là khuynh hướng phê bình đạo đức, phê bình phân tâm học, phê bình mác xít và hướng tiếp cận thi pháp học của những các nhà phê bình
4.Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam,
chúng tôi vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống: để triển khai đề tài, chúng tôi đặt tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng trong hệ thống tiểu thuyết Việt Nam và hệ thống các thể loại khác trong sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng Bên cạnh đó, chúng tôi tìm hiểu
việc tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng trong hệ thống lý luận tiếp nhận tiểu thuyết ở Việt Nam Từ đó, tránh đưa ra những kết luận sai lầm
Trang 14- Phương pháp lịch sử chức năng: Trong luận văn này, khi tìm hiểu sự tiếp
nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, chúng tôi vận dụng phương pháp lịch sử chức năng để mô tả, phân tích sự tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng theo tiến trình
lịch sử
Ngoài ra luận văn còn sử dụng thao tác nghiên cứu hỗ trợ như:
- Thao tác phân tích: Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi vận
dụng thao tác phân tích để minh họa cho những nhận xét, lập luận của mình trên
cơ sở phân tích những dẫn chứng từ các công trình đánh giá, nghiên cứu về tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
- Thao tác so sánh: Khi nghiên cứu về lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng, chúng tôi có sự so sánh về sự khác nhau trong việc tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng giữa các khuynh hướng hay thậm chí trong cùng một khuynh hướng phê bình
5 Đóng góp của luận văn
Chọn đề tài Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam,
chúng tôi mong muốn: đem lại một cái nhìn bao quát hệ thống về vấn đề tiếp
nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam từ khuynh hướng phê bình đạo đức, phê bình phân tâm học, phê bình mác xít và hướng tiếp cận thi pháp học
Từ đó có thể góp phần khẳng định vai trò của chủ thể tiếp nhận đối với sự phát triển văn học Đồng thời, luận văn có thể trở thành một trong những tài liệu tham khảo có ích cho công việc giảng dạy tác phẩm Vũ Trọng Phụng trong nhà trường
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển
khai theo ba chương
Trang 15Chương 1: Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ phê bình đạo đức và phê
bình phân tâm h ọc
Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu về việc tiếp nhận tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng, mà cụ thể là vấn đề “cái dâm” trong tiểu thuyết của ông và lý giải
sự tiếp nhận ấy theo hai khuynh hướng: phê bình đạo đức và phê bình phân tâm
học
Chương 2: Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ phê bình mác xít
Trong chương này, chúng tôi tập trung phân tích, đánh giá sự tiếp nhận
tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ quan niệm của phê bình mác xít
Chương 3: Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ góc độ thi pháp thể loại
Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày những tiền đề lý luận và
lịch sử xã hội cùng với những nội dung tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ
thi pháp thể loại và đánh giá thành tựu của hướng tiếp nhận này
Trang 16CHƯƠNG 1 TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ
PHÊ BÌNH ĐẠO ĐỨC VÀ PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC
1.1 Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ phê bình đạo đức
1.1.1 Cơ sở tiếp nhận
Ở Việt Nam, nói đến phê bình đạo đức là nói đến phê bình dựa trên quan điểm đạo đức của Nho giáo Nho giáo vốn là một học thuyết chính trị - xã hội, là
hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến Trung hoa Tư tưởng nho giáo
xuất hiện từ thời Tây Chu (TK X đến TK VII TCN), nhưng phải đến thời kỳ Xuân Thu, Khổng Tử (551-479 TCN) đã sưu tập, chỉnh lý các điển tịch, tư tưởng của các Nho gia tiền bối, hệ thống lại thành một học thuyết Sang đến thời Chiến quốc, Mạnh Tử (372-289TCN), một nhà nho xuất sắc đã kế thừa và phát triển tư tưởng theo hướng duy tâm chủ nghĩa khách quan Đến đời Hán, Đổng
Trọng Thư đã thần bí hóa, tôn giáo hóa Nho học bằng cách đưa vào các học thuyết Khổng - Mạnh, các tư tưởng của phái Âm-Dương, Ngũ hành, các tư tưởng mê tín khác, đồng thời thiết lập hệ thống nghi lễ mới
Theo một số học giả Trung Quốc thì “Nho giáo đã vào Việt Nam vào thời Triệu Đà chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải tự xưng Triệu Việt vương
“lấy Thi, Thư để uốn nắn phong tục”” [84] Nước ta một thời gian dài bị phương
Bắc đô hộ, chính vì vậy nền văn hóa nước ta bị ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa phong kiến phương Bắc: “…dân tộc Việt Nam ngay từ khi thành lập đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Tàu Cái văn hóa ấy truyền sang nước ta có nhiều cách, nhưng thứ nhất là do văn học, tức là nhờ sự học chữ nho và sách chữ nho của người Tàu tràn sang Chính cái văn học của người Tàu ấy đã chi phối tư tưởng,
học thuật, luân lý, chính trị, phong tục của dân tộc ta Trong các trào lưu tư
Trang 17tưởng của người Tàu tràn sang bên ta, có ảnh hưởng sâu sắc đến dân tộc ta, nhất
là Nho giáo” [19, tr.32]
Nói đến phê bình đạo đức trong văn học Việt Nam phải kể đến sự ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử - người sáng lập Nho giáo Khổng Tử cho rằng trách nhiệm của một thánh nhân đó là “phát biểu văn thành Đạo, dùng văn truyền bá Đạo cho dân sinh” [23, tr.25]
Trong luận ngữ, khi Nhan Uyên hỏi về việc trị nước, Khổng Tử đã đáp
rằng: “dùng lịch nhà Hạ, cưỡi xe nhà Ân, đội mũ miện nhà Chu, múa nhạc Thiều Bỏ ca nhạc nước Trịnh, đuổi xa những người ăn nói khéo (nịnh) Ca nhạc nước Trịnh dâm, những người ăn nói khéo nguy hiểm” [23, tr.30] Theo Khổng
Tử, về âm nhạc nên múa nhạc Thiều và bỏ ca nhạc Trịnh Sở dĩ như vậy là do
“ca nhạc nước Trịnh vì hiếu lạm nên làm cho chí dâm, ca nhạc nước Tống vì say đắm nữ sắc nên làm cho chí đắm đuối, ca nhạc nước Vệ vì quá gấp gáp, rậm rật nên làm cho chí rồi loạn, ca nhạc nước Tề vì quá phóng túng nên làm cho chí kiêu” [23, tr.30] Cả bốn loại nhạc trên đều bị liệt vào hàng “dâm ư sắc”, “làm
hại đức” Bên cạnh đó, ông ca ngợi: “Thơ quan thư vui mà không dâm, đau đớn
mà không bi thương” [23, tr.30] Như vậy, rõ ràng Khổng Tử cho rằng văn là để truyền đạo và cái “dâm” nó ảnh hưởng đến đạo đức của con người, đến việc trị nước
Nho giáo ảnh hưởng tới văn học Việt Nam với tư cách là một học thuyết,
một hệ thống quan điểm về thế giới, về xã hội, về con người,… nên cũng có một cách quan niệm văn học riêng: “văn học có một nguồn gốc linh thiêng, một chức năng xã hội cao cả Nho giáo hy vọng dùng văn chương để giáo hóa, động viên,
tổ chức, hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội” [23, tr.40]
Về cái hay, cái đẹp trong văn chương, Nho giáo cho rằng: “Văn chương
phải là để giáo hóa, có quan hệ đến thế đạo nhân tâm, có tác dụng dị dưỡng tính
Trang 18tình nên phải có nội dung đạo lý Không những về nội dung không được nói cái
vô đạo, cái thiếu trang nhã mà về hình thức biểu đạt cũng phải thấm nhuần tinh
thần khoan thứ, nhân nghĩa (…) cái phải tránh là tà và dâm, tức là bất chính, bất chính vừa với ý nghĩa vô đạo vừa với ý nghĩa quá mức” [23, tr.51]
Tóm lại, có thể thấy, theo quan niệm của Nho gia, văn là biểu hiện của đạo đức, dùng để truyền đạt đạo lý thánh hiền, đem gương sáng đạo đức để giáo hóa Văn tất nhiên phải có tài “nhả ngọc phun châu” tức là có tài sử dụng ngôn
ngữ nhưng trước hết văn phải có cái ẩn chứa bên trong là đạo đức, cái để đưa ra
giáo hóa
Vào nửa đầu TK XV, các vua Lê đã từng bước xây dựng một quốc gia độc lập trên nền của hệ tư tưởng Nho giáo, trong đó rất chú trọng đến việc xây
dựng luật và vận hành xã hội theo luật Qua một số bộ luật, các điều giáo huấn
và một số hương ước hiện còn lưu giữ được, chúng ta nhận thấy rất rõ nhiều
điều luật, điển chế mang đậm nét tư tưởng của Nho giáo như trong Quốc triều
hình lu ật, Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức thiện chính thư, 24 điều Huấn dân đại cáo của Lê Thánh Tông
Từ TK XVI trở đi, hầu hết các làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ tinh thần của Nho giáo đã được thể hiện khá rõ qua các điều lệ được lập trong hương ước -
“bộ luật thành văn của làng xã” thời quân chủ Đến TK XVII, đời vua Lê Huyền Tông, Trịnh Tạc tiếp tục ban bố 47 điều giáo hóa theo kinh điển Nho gia phong
kiến Trong đó, có những điều luật cấm đoán những tác phẩm truyện thơ có nội dung ca ngợi tình yêu nam nữ vì cho rằng đó là “dâm thư” Sau đó, Nhữ Đình
Toản phiên 47 điều giáo hóa ấy thành thơ lục bát để phổ biến
Như vậy, có một thời kì, Nho giáo được coi là ý thức hệ chính thống ở
Việt Nam và “Ở vị trí ý thức hệ chính thống, Nho giáo chi phối văn học nghệ thuật Tác dụng chi phối của Nho giáo sâu sắc, nhiều mặt, qua nhiều nhân tố
Trang 19khác nhau Tất cả hình thành trong lịch sử cả vùng một loại hình văn sĩ, nghệ sĩ,
một loại hình văn học nghệ thuật, viết cùng những thể loại, theo cùng một quan
niệm văn học, cùng những tiêu chuẩn về cái đẹp nghệ thuật” [23, tr.20]
Quan niệm “dĩ văn tải đạo”, văn chương có chức năng giáo hóa con người, nhưng đồng thời văn chương cũng phải hay, phải đẹp đã trở thành kim
chỉ nam cho hoạt động sáng tác và hoạt động đánh giá, phê bình văn chương nghệ thuật thời trung đại
Nguyễn Tư Giản đời nhà Nguyễn cũng đã từng nói: “Văn của thánh nhân
là để chở đạo, văn của văn nhân là để bàn về đạo” Vũ Phạm Khải nói: “Văn là cái khí cụ để chứa đựng đạo đức” Cao Xuân Dục khẳng định: “Văn là để chở
đạo” [51, tr.200] Nguyễn Văn Siêu trong Thư gửi Lục Luân Anh cho rằng: “Văn
với đạo tuy khác tên, như kì thực văn là do đạo mà ra” [51, tr.225]
Đồ Chiểu – một nhà nho yêu nước thế kỉ XIX cũng đã thể hiện quan niệm văn chương ấy: “Văn chương ai chẳng muốn nghe/ Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần” Nói đến “phun châu nhả ngọc” là nói tới vẻ đẹp của văn chương Nói tới “báu khoe tinh thần” là nói tới giá trị nội dung của nó Như vậy, văn chương phải có sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức nghệ thuật Nhưng quan trọng hơn hết là văn chương phải dùng để truyền tải đạo đức: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Và sang những năm đầu thế kỉ XX, đây là thời kỳ có tính chất giao thời:
“giao thời từ trung cổ qua hiện đại, mà cũng là giao thời giữa Đông và Tây, giữa văn học truyền thống Đông Á và văn học hiện đại thế giới” [23, tr.71] Quan
niệm văn học của Nho gia lúc này tuy không còn giữ vị trí độc tôn nhưng vẫn
tiếp tục là cơ sở để đánh giá, phê bình văn chương Sự tiếp xúc và ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây bên cạnh quan niệm truyền thống đạo đức phương Đông đã
tạo nên sự chuyển biến của quan niệm văn chương đầu thế kỉ XX Trong bối
Trang 20cảnh mà sự đối kháng giữa văn hóa truyền thống bản địa và văn hóa du nhập phương Tây ngày càng gay gắt, khi các nhà nho cảm thấy giá trị truyền thống ngày càng bị lung lay cũng là lúc phê bình đạo đức với đối với vấn đề tính dục
và nhục thể lại trở nên nổi bật Các nhà nho vẫn đứng trên lập trường cũ để thẩm bình những tác phẩm văn chương Họ vẫn đề cao giá trị đạo đức, luân lý trong văn học Bên cạnh đó, thể loại tiểu thuyết ở giai đoạn này cũng phát triển và nhìn nhận tích cực hơn
Đặng Trần Phất (1921) trong Mấy nhời nói đầu viết cho Cành hoa điểm
tuy ết đánh giá một thiên tiểu thuyết có giá trị “như ngọn đèn pha chiếu thấu tối
chốn hang hầm tối tăm dọc qua tưởng tượng như trông thấy cả cái đoàn thể một
xã hội về đường phong tục luân lí vậy” [39, tr.42]
Nhà văn Trọng Khiêm trong lời tựa tiểu thuyết Kim Anh lệ sử (1924) cho
rằng tiểu thuyết có hiệu quả giáo dục đạo đức luân lí thông qua những câu chuyện cụ thể về những con người, những số phận: “Nếu đem câu chuyện một người có tài, có trí, vì kém học thức nên đường công danh cách xử thế đã thua thiệt lại vất vả, mà nói cho đứa trẻ biếng học nghe; nếu đem câu chuyện của một người con gái giang hồ gặp những sự nhơ nhuốc, điêu đứng, sự lừa lọc đảo điên,
mà kẻ cho người con gái có tính lẳng lơ nghe, thiết tưởng đứa trẻ không chịu
học, người con gái có tính nguyệt hoa nghe lại thiết tha mà ghê sợ hơn là câu đe
dọa” [39, tr.47]
Nguyễn Đình Long khẳng định: “Cái giá trị con người, cái giá trị của công trình của con người là cái giá trị luân lí vậy Nghĩa là cái gì vô luân lí không thể có mỹ thuật được” [72, tr.55]
Hay tuyên ngôn của tiểu thuyết thứ bảy, 2/6/1934 quan niệm: “Một thiên
tiểu thuyết có giá trị, dầu thuộc loại mạo hiểm hay trinh thám, xã hội hay hoạt
Trang 21kê, nghĩa hiệp hay ngôn tình… đều có ảnh hưởng sâu xa tốt đẹp cho tri thức, cho
học vấn, cho đạo đức, cho sự lịch duyệt của người đọc” [39, tr.103]
Trong khi đó, nhiều nhà trí thức lúc bấy giờ có điều kiện tiếp xúc với văn hóa phương Tây thông qua các sách báo được lưu hành Do đó, quan niệm thẩm
mỹ đã ít nhiều có sự thay đổi, họ đề cao cái tôi cá nhân của mỗi người, họ có cái nhìn cởi mở hơn đối với những vấn đề về tính dục, về tình yêu đôi lứa trong sáng tác văn học Ý kiến của Lưu Trọng Lư đã có thấy sự chuyển biến ấy: “Nhìn
một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho
là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là
sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gần gụi, cái tình xa xôi (…) cái tình trong giây
phút, cái tình ngàn thu” [79]
Sự đối kháng giữa cái cũ và cái mới đã tạo nên những cuộc tranh luận, hàng loạt tác phẩm cũ và mới được đưa ra mổ xẻ, phân tích Trong đó, phải kể đến vụ Ngô Đức Kế phê phán Phạm Quỳnh và phong trào sùng bái Kiều (1924)
Phạm Quỳnh thì đề cao Truyện Kiều: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta
còn, nước ta còn” Còn Ngô Đức Kế, đứng trên lập trường yêu nước vạch mặt
âm mưu văn hóa thực dân của Phạm Quỳnh Trong khi công kích Phạm Quỳnh,
Ngô Đức Kế đã lên án Truyện Kiều là dâm thư, và nhân vật Kiều là con đĩ
không hơn không kém Một tác phẩm, mà giá trị đạo đức là con số không, bởi
“ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi” – tám chữ ấy không tránh đường nào cho
khỏi Cuộc tranh luận giữa thơ mới và thơ cũ: hai lập trường, hai suy nghĩ trái ngược nhau, một bên là sự ủng hộ thơ ca truyền thống với hệ thống niêm luật
chặt chẽ, hình ảnh thanh cao; một bên là mong muốn thể hiện sự cách tân trong thơ ca, đem đến cho thơ ca một bình diện mới, một phạm trù thẩm mỹ mới, hay
việc phân tích giá trị thơ Nôm Hồ Xuân Hương, các nhà nho theo quan điểm đạo đức dù công nhận tài năng của Bà chúa thơ Nôm, nhưng họ vẫn phê phán nội
Trang 22dung thơ là “thô tục”, “lả lơi” Như Dương Quảng Hàm nhận xét: “Suốt tập thơ
của nàng mấy bài là không có ý lả lơi, dầu tả cảnh gì, vịnh vật gì cũng vậy”
1.1.2 Nội dung tiếp nhận
Đối với nhà văn Vũ Trọng Phụng, ngay từ những sáng tác đầu tay, ngòi bút tả chân sâu sắc của ông đã được công chúng chú ý đến Khi tiểu thuyết Dứt tình ra đời, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định tài năng của Vũ Trọng Phụng:
“Vũ Trọng Phụng đã vẽ nên cái ẩn tình khuất khúc của lòng người” [18, tr.364], hay “cái tài nghệ tinh vi của ông Vũ Trọng Phụng trong cuốn Dứt tình thiệt là
một điều không thể chối cãi” [18, tr.372] Đặc biệt, đến năm 1936 với tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, tác phẩm của ông đã trở thành một hiện tượng làm
chấn động dư luận lúc bấy giờ Đồng thời một cuộc tranh luận sôi nổi xung quanh những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã nổ ra Tiêu điểm của cuộc tranh
luận này là vấn đề dâm hay không dâm trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng
Có thể nói Thái Phỉ - chủ bút báo Tin văn là người châm ngòi cho cuộc tranh luận qua bài Văn chương dâm uế Ông cho rằng: "Họ ( bọn văn sĩ tả chân)
thấy thiên hạ ưa thích cái dâm uế thì hoặc là cố nhồi nhét cái cảnh dâm uế vào bất cứ chuyện gì mình viết, hoặc là viện cái chủ nghĩa tả chân, dụng tâm tả cái dâm uế một cách quá táo bạo và vì thế thành ra sống sượng khó coi, cố làm rung động giác quan người đọc hơn là nghĩ đến nghệ thuật” [41, tr.120] Thái Phỉ còn nhấn mạnh chính cái sự thực mà những nhà văn sĩ tả chân đem vào tác phẩm của mình khiến người đọc cảm thấy khó chịu, thậm chí “ghê tởm”: "Bởi họ tả một
cách lõa lồ, sống sượng nên những người biết đọc thành ra thấy ghê tởm Họ muốn bầy ra cái sự thực trần truồng hẳn, nhưng họ quên rằng khi nói cái sự thực
đã trần truồng thì người ta sợ mà không thích nó nữa” [41, tr.121] Và cuối cùng ông nhắn nhủ với những cây bút ấy: “mong các nhà kỹ nghệ viết văn dâm uế
Trang 23nên hãm bớt cái đà của các ông lại thì vừa, đừng để đến lúc công chúng phải nói lòng công phẫn" [41, tr.121]
Cần phải nhận xét khách quan rằng: trong bài Văn chương dâm uế, Thái
Phỉ không nhằm vào cá nhân Vũ Trọng Phụng mà ông chỉ muốn gióng lên hồi chuông cảnh báo một khuynh hướng văn chương nguy hại tả cái dâm uế một cách quá táo bạo, gây phản cảm trong độc giả Thái Phỉ không hẹp hòi đối với việc lấy dâm uế, sự xấu xa bẩn thỉu làm đối tượng miêu tả của văn chương Ông chỉ phản đối cách miêu tả những cái đó một cách quá đà, quá mức đến lõa
lồ, sống sượng cốt đánh vào cân não người đọc mà không chú trọng đến mục đích cao đẹp hoàn toàn của nghệ thuật lành mạnh “Có thể thấy, trên những nét
cơ bản, quan điểm của Thái Phỉ cũng như của Vũ Trọng Phụng về đối tượng và mục đích viết về những cái xấu xa, dâm uế, nhơ bẩn của xã hội là gần gũi, đồng thuận nhau Chỗ khác nhau trong quan niệm của mỗi ông chỉ là ở chỉ mức
độ và cách viết như thế nào thì là phải và có thể chấp nhận được, để không rơi vào tình trạng khiêu dâm người đọc” [85]
Nhân bài trả lời của Vũ Trọng Phụng xoay quanh thiên phóng sự Lục xì ra
mắt công chúng, một độc giả khác ký tên Nhất Chi Mai đã lên án đích danh Vũ
Trọng Phụng bằng những lời lẽ phẫn uất và nặng nề qua bài viết Dâm hay không
dâm: "Tôi phải chỉ trích những cái khốn nạn, lầy lụa của những đoạn văn mà một bọn văn sĩ nửa mùa về hùa nhau cho là kiệt tác, là đúng sự thật, là can đảm " [35, tr.138], rồi ông nêu lên cảm xúc của mình sau khi đọc những trang văn ấy: “Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối Không phải phẫn uất, khó chịu, vì cái vết thương xã hội tả trong câu văn, mà chính là vì cảm thấy tư tưởng hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen ẩn trong đó Đành rằng nhà văn có cái thiên chức nêu những cái thống khổ của nhân loại, vạch cái xấu xa của loài người, nhưng bao giờ cũng cần phải có một ý nghĩa cao thượng, một tư tưởng vị tha, một lòng tín ngưỡng ở sự tiến hóa, mong cho nhân loại ra
Trang 24khỏi nơi u ám và một ngày một hay hơn, một sung sướng hơn lên Đọc văn Vũ Trọng Phụng, thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng lạc quan Đọc xong ta phải tưởng tượng nhân gian là một nơi địa ngục và chung quanh mình toàn những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng Phải chăng đó là tấm gương phản chiếu tính tình, lý tưởng của nhà văn, một nhà văn nhìn thế gian qua cặp kính đen, có một bộ óc cũng đen và một
nguồn văn càng đen nữa?" [35, tr.139]
Như vậy, theo Nhất Chi Mai, văn chương của Vũ Trọng Phụng không có giá trị bởi vì đó là thứ văn chương mang tư tưởng hắc ám của một nhà văn có bộ
óc đen, không mang lại cho con người sự tin tưởng, hi vọng
Trên Ích Hữu số 26, ngày 25/5/1937, Hiện Chi cũng đã thể hiện quan
điểm của mình trong bài Đọc Giông tố của Vũ Trọng Phụng Dù đưa ra những
nhận xét cụ thể, tích cực về tiểu thuyết Giông tố thì Hiện Chi cũng vẫn cho rằng:
“Thiếu nữ và trẻ em nên tránh xa cho! Cả các cụ già đạo mạo bên ngoài cũng đừng mó tới! Đọc thiết tha, đọc chúi mũi chúi lái một mạch từ đầu đến cuối, rồi
đỏ mặt, rồi nóng bừng người thì tác giả không chịu trách nhiệm đâu” [6, tr.140],
và “Giông t ố là một truyện cho người lớn đọc” [6, tr.141] Với nhà phê bình thì Giông tố thích hợp cho những người muốn mua vui “mà không cần trộn lẫn đạo
đức vào cuộc mua vui Chỉ muốn mua vui – một thứ vui đáng với tên vui – thì đọc giông tố là một điều nên” [6, tr.141].Từ những quan điểm của Hiện Chi, ta thấy dù không lên án một cách kịch liệt như những nhà “đạo đức học” trước đó, nhưng Hiện Chi cũng nhận ra rằng, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, mà cụ thể
là Giông tố không phù hợp với nền đạo đức đã có từ trước đến nay ở nước ta
Trương Chính trong công trình Dưới mắt tôi (1939), sau khi nhận xét về
Giông tố của Vũ Trọng Phụng, bên cạnh những lời khen như “Vũ Trọng Phụng
đã dùng một cách rất thích đáng ngòi bút mình để vạch mặt nạ bọn trưởng giả ô trọc, cần tránh xa và bài trừ như một thứ vi trùng nguy hiểm” [8, tr.148], “Ông
Trang 25Vũ Trọng Phụng là một tiểu thuyết gia có óc quan sát và nhiều kinh nghiệm” [8, tr.150], “Giông tố là một cuốn phim tài liệu cần cho những nhà sử học tương lai
muốn tái thiết xã hội Việt Nam trong thế kỉ XX” [8, tr.150], “Tác giả Giông tố
có nhiều hi vọng trở thành một nhà văn tả chân xứng đáng, một nhà văn xã hội
có giá trị” [8, tr.150], … thì Trương Chính đã có sự gặp gỡ với Thái Phỉ khi cho rằng “Vũ Trọng Phụng đã hy sinh nghệ thuật mình để chiều theo một số độc giả trụy lạc Văn ông là văn khiêu dâm Ông cố tìm những cảnh dâm đãng để phô diễn ra trước mắt mọi người không ngượng ngùng, không e lệ” [8, tr.150] và Trương Chính khẳng định những phát ngôn của Vũ Trọng Phụng chỉ là sự ngụy biện vì “Nhà văn không có quyền tả những thứ dâm uế tạp, nhơ bẩn” [8, tr.151] Nhà phê bình cho rằng việc Vũ Trọng Phụng miêu tả những cảnh dâm tục làm cho văn chương ông trở nên mất giá trị và khiến cho người đọc phẫn nộ: “Lúc ông tả Long và Tuyết trai gái trong một tiệm nào đó hoặc lúc ông tả “trò khỉ” của Nghị Hách và Thị Tình là những dịp cho ông nhằm hai cái đùi khỏe mạnh, đầy đặn của Tuyết lúc “cái quần nhiễu trắng đã rơi xuống đất thành một vòng tròn” hoặc là những dịp cho ông viết những câu văn bẩn thỉu, khiếm nhã, ngang nhiên, sống sượng làm cho người đọc có giáo dục căm tức” [8, tr.151].Trương Chính mặc dù đã nhận ra được những mặt tích cực trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nhưng ông vẫn không thoát ra khỏi quan niệm đạo đức lúc bấy giờ để có
cái nhìn khách quan hơn về tiểu thuyết Giông tố Chính vì vậy, mà ông đã đi đến
những nhận xét chủ quan, tiêu cực về tác phẩm của Vũ Trọng Phụng khi coi đó
là thứ văn chương dâm uế
Trần Minh Tước với bài Đọc sách “Làm đĩ” (đăng trên Báo mới, số 2
ngày 15/5/1939) đã khẳng định thành công của Vũ Trọng Phụng Ngay từ đầu bài viết, ông đã khẳng định: “Đó là tên một cuốn tiểu thuyết nó đã làm cho những nhà “luân lý” phải nhăn mặt như ăn của chua” và ở đây ông nhấn mạnh
“những nhà luân lý của làng nho và là của làng tôn giáo” [75, tr.210] và cho
rằng: “Làm đĩ như một lời thông cáo ném vào giữa xã hội nhiều thành kiến này
Trang 26và là một công trình táo bạo về sự thật khiến cho những nhà luân lí phải ngẫm nghĩ” [75, tr.215] Trần Minh Tước đã nhận ra xã hội lúc bấy giờ có quá nhiều định kiến, và khi một tác phẩm đi ngược lại những định kiến đã tồn tại từ bao đời nay, nó sẽ khiến những nhà đạo đức, những nhà luân lí “khó chịu” Và tác
phẩm của Vũ Trọng Phụng mà tiêu biểu là Làm đĩ là một tác phẩm như thế Như
vậy, dù chỉ là một ý kiến sơ bộ nhưng ta thấy so với những nhà phê bình trước
đó, rõ ràng Trần Minh Tước đã có cái nhìn khách quan hơn, “dịu nhẹ” hơn đối với tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
Trong sách Văn học và triết luận nhà phê bình nữ Mộng Sơn đã nhắc nhở
người đọc thận trọng khi tiếp xúc với tiểu thuyết Làm đĩ, đặc biệt là những
người không có khả năng “chống cự” trước lực hút đen của tác phẩm: “Tất cả những bà vợ hiền! Tất cả những bậc cha mẹ săn sóc đến hạnh phúc của con em!
Tất cả các cô các cậu còn ngây thơ và trong sạch! Đừng đọc Làm đĩ” [46,
tr.186] Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao lại phải thận trọng với Làm đĩ? Có lẽ, theo tác giả Làm đĩ có sức tác động to lớn đối với mọi người, đặc biệt là những người
còn chưa trải “trường đời”
Phan Khôi trong bài viết Không đề cao Vũ Trọng Phụng, chỉ đánh giá
đúng đã bênh vực Vũ Trọng Phụng: “Vũ Trọng Phụng có một cái “tật” hay nói
về sinh lý phụ nữ như trong Lục xì, Làm đĩ, khiến có người ngờ anh là một nhà
tiểu thuyết khiêu dâm Nhưng ở trong xã hội hơi nghiêm khắc Việt Nam ta thì thế, chứ nếu ở xã hội khác có lẽ không đến nỗi” [27, tr.191] Như vậy, rõ ràng ở đây, Phan Khôi cũng đã lý giải việc tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của những người đương thời là do xuất phát từ quan điểm đạo đức, người ta phê phán, người ta lên án tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng suy cho cùng là do nền đạo đức luân lí ở nước ta đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào tư tưởng và suy nghĩ của người dân nơi đây, chính vì vậy người ta khó chấp nhận những gì hơi khác lạ, trái ngược Còn nếu đặt tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng ở trong xã hội khác thì
có lẽ sự việc đã không như vậy
Trang 27Văn Tân trong bài viết Vũ Trọng Phụng qua Giông Tố, Vỡ đê và Số đỏ cho rằng, những tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, mà cụ thể là Số đỏ, Giông tố,
Vỡ đê đều quy tụ là một điểm chung là “dâm”: “Trong các tác phẩm của Vũ
Trọng Phụng ta thấy ông hay tả và rất tỉ mỉ những cảnh dâm ô Số đỏ là một tiểu thuyết đầy những chuyện dâm ô Giông tố cũng có nhiều đoạn dâm ô Vỡ đê,
một tác phẩm có tư tưởng tính cao nhất của Vũ Trọng Phụng cũng không tránh khỏi cảnh dâm ô” Rồi nhà phê bình đặt ra những câu hỏi để tìm cách lí giải về điều đó “Vũ Trọng Phụng tả những cảnh dâm ô để làm gì? Để phản ánh trung thành xã hội thời Pháp thuộc chăng? Để chiều thị hiếu của độc giả, đăc biệt là độc giả thanh niên thời Pháp thuộc chăng?” Và theo nhà phê bình, suy cho cùng
đó là do Vũ Trọng Phụng đã bị ảnh hưởng của văn hóa tư sản Pháp, cái mà Văn Tân gọi là “văn hóa đồi trụy” Cuối cũng Văn Tân kết luận: “Dù vì một lẽ gì đi nữa, những cảnh dâm ô mà Vũ Trọng Phụng miêu tả chỉ gây ra trong đầu óc người đọc những ý nghĩ không hay Những cảnh dâm ô trong các tác phẩm của ông có tác dụng tai hại y như những tiểu thuyết khiêu dâm của tư sản pháp hay
tư sản Mỹ” [57, tr.244] Cái nhìn của Văn Tân là cái nhìn của một nhà đạo đức học, ông đã quá khắt khe khi tiếp nhận tác phẩm Vũ Trọng Phụng, coi đó là những tác phẩm khiêu dâm tai hại Dù đã cố tìm cách lý giải cái dâm ấy, nhưng
sự lý giải của ông vẫn còn mang nặng tư tưởng đạo đức Nho gia
Qua đó, ta thấy, từ phê bình đạo đức, có nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, mà đặc biệt là vấn đề dâm trong tác phẩm của ông, có người khen kẻ chê, có người đã thừa nhận tài năng nghệ thuật không thể chối cãi của nhà văn Vũ Trọng Phụng, nhưng trên phương diện nội dung, tư tưởng, đa số vẫn là lên án Vũ Trọng Phụng và văn chương của ông, coi ông là một nhà văn với bộ “óc đen” và tác phẩm của ông chứa quá nhiều những cảnh
“đen” không phù hợp với nền đạo đức luân lí ở nước ta lúc bấy giờ
Trang 28Cũng bàn về vấn đề cái dâm trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, các nhà nghiên cứu không chỉ tiếp nhận từ phê bình đạo đức mà còn tiếp cận từ góc nhìn của phân tâm học Freud
Trang 291.2 Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ phê bình phân tâm học
1 2.1 Cơ sở tiếp nhận
Có thể nói, phê bình phân tâm học có cơ sở từ hệ thống quan niệm của Freud về vô thức cá nhân – đặc biệt là vấn đề giải thích giấc mơ
Sigmund Freud (1856 – 1939), Freud sinh ra trong một gia đình Do Thái,
bố lấy ba đời vợ Mẹ của Freud là vợ thứ ba, bà thua kém chồng 20 tuổi, chính
vì vậy mà Freud lớn lên bên cạnh những người anh chị ngang tuổi với mẹ của mình Ông sinh ra và lớn lên ở Viên, thủ đô nước Áo, một trung tâm văn học lớn
ở Tây Âu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Thời ấy, giáo hội công giáo thúc đẩy phong trào bài đạo Do Thái
Thành Viên lúc này là một lò lửa sục sôi những mâu thuẫn về kinh tế, xã
hội và tư tưởng, và hệ quả là việc nảy sinh thói đạo đức giả và nạn cùng khổ về
ức chế tình dục Vào thời điểm ấy, một chứng bệnh khá phổ biến là Hystêri Triệu chứng của căn bệnh ấy xuất hiện từng cơn, rồi biến mất, rồi lại đột ngột
xuất hiện không hiểu vì đâu Các bác sĩ thời ấy người thì nghĩ đây là bệnh tưởng tượng, người thì cho rằng tổn thương ở hệ thần kình, ở não, người thì lí giải nó
từ trong cái “tâm” Freud cùng bạn của mình là Breuer dùng phương pháp thôi miên để chữa bệnh, dù có kết quả nhưng lại không được lâu dài Trong quá trình
chữa bệnh, lại xuất hiện những hiện tượng khó hiểu, những hành vi vô lý, vô nghĩa làm như con người bị ma quỷ xui khiến Đặc biệt là những giấc mơ với
những câu chuyện vô lý nhất Dần dần ông đã nhận ra những triệu chứng của
bệnh nhân cùng với những giấc mộng, những hành vi không kiểm soát đều là
những hiện tượng gần gũi và phỏng đoán từ những hiện tượng này đều có đường
dẫn đến những cấu trúc và cơ chế của vô thức Như vậy, rõ ràng hoàn cảnh thời đại và hoàn cảnh gia đình có vai trò quan trọng trong việc kiến tạo tư duy của Freud
Trang 30Trong bài thứ ba trong Năm bài giảng về phân tâm học ở Mỹ và được
công bố năm 1910, Freud đã nói rằng: “Trên thực tế, lý giải các giấc mơ là con đường lớn của sự hiểu biết về cái vô thức” Trong bài viết Về giấc mơ, Freud đã
vận dụng liệu pháp tâm lý cái mà ông gọi là “xuất của phương pháp mà tôi thường dùng để soi sáng vấn đề về giấc mơ” [55, tr.50] để phân tích giấc mơ của chính mình:
“Một buổi giao tiếp … Cái bàn hay table d’hôte (bàn của những người ăn cơm tháng, t.P.) … Chúng tôi ăn rau ba lăng Bà E.L ngồi bên tôi, quay ngoắt sang tôi rồi thân mật đặt bàn tay lên đầu gối tôi Tôi gạt bàn tay ấy đi, tránh ra
Bà ta mới bảo: Ông đã từng có đôi mắt thật đẹp… Lúc đó, tôi nhìn thấy mù mờ
một cái gì đó như đôi mắt trên ảnh hay là đường viền của một cái mắt kính…” [55, tr.51]
Chính từ những chi tiết mập mờ, kỳ lạ và vô nghĩa trên, tác giả đã xẻ từng
yếu tố ra và đi tìm những ý tưởng bất chợt đến gắn với từng yếu tố Ông đã phát
hiện ra những ý tưởng bất chợt đến ấy tạo nên những mối liên hệ mà không thể
nhận ra ngay trong giấc mơ Chiếc bàn liên quan đến sự kiện xảy ra vào buổi tối hôm trước, đó là lúc ông nhìn thầy chiếc đồng hồ chỉ số 60 đồng trên xe, một ý tưởng khác đến từ cái bàn ấy là cuộc nổi xung của ông với bà vợ bên bàn quán
trọ tại một địa điểm du lịch từ mấy tuần trước; hình ảnh bà E.L gợi sự đối lập về cách ứng xử của vợ ông (bà E.L là con gái một người ông đã mắc nợ); cái bàn tay thân mật gợi về thời kì còn âm thầm theo đuổi vợ; đôi mắt trên ảnh hay là đường viền của một cái mắt kính gợi về người bạn đã khoản đãi ông vào tối hôm qua, cũng là người ông mang nợ mà chưa có dịp trả,… Từ đó, ông nhận thấy
rằng “bằng cách lần theo từng mối liên hệ với từng yếu tố được rút ra từ tổng thể
của chúng, tôi đã lần được tới một loạt những ý nghĩa và ký ức tôi đã phải thừa
nhận là ở đó có nhiều biểu hiện có giá trị của đời sống tâm linh của tôi Giữa thứ
Trang 31vật liệu đã qua thu thập qua phân tích Giấc mơ như vậy với nội dung Giấc mơ có
mối quan hệ rất mật thiết” [55, tr.54]
Trên cơ sở phân tích giấc mơ của chính mình, Freud cho rằng có thể chia tách quá trình tạo thành giấc mơ ra hai hoạt động: công mơ và công nén Công
mơ là hoạt động mà giấc mơ được xây dựng từ các chất liệu đã được cô nén Công nén là hoạt động cô nén những khát khao, ước muốn không thực hiện được trong thế giới thực thành những chi tiết thoạt nhìn là mơ hồ, vô nghĩa được
thỏa mãn ở trong mơ Sự cô nén cho thấy một chi tiết trong giấc mơ bị quy định
bởi nhiều chi tiết khác, và chúng mang nhiều lớp ý nghĩa.Và ham muốn này
ngụy trang, trá hình thông qua sự chuyển dịch “Theo Freud, ở mặt công mơ,
giấc mơ luôn dịch chuyển những ham muốn thành những hoạt động hướng vào người khác, sự vật khác; nó luôn “kể lại” câu chuyện bằng các chi tiết, hình ảnh được kịch hóa, được tô đậm, thay đổi, làm cho người mơ hồi hộp, xúc động ngay khi đang mơ Vì vậy, giấc mơ cũng xử lí, cải tạo, chế biến lại, thêm bớt cho câu chuyện.Việc xử lí, cải tạo này cũng có sự hợp tác giữa cái tôi và cái siêu tôi Do đó, những hình ảnh, chi tiết hiện lên trong giấc mơ có tính biểu trưng hóa cao độ, không phải là hình ảnh trực tiếp” [72, tr.91- 92] Như vậy, giấc mơ bao
giờ cũng diễn tả một ham muốn bị dồn nén, mà theo Freud, bởi dục vọng chính
của con người là tính dục nên rất nhiều hình ảnh trong mơ biểu hiện cho tính
dục
Sau này, trong công trình Ở bên kia của nguyên lí khoái lạc (1920), theo
Freud có hai loại bản năng: Eros (bản năng sống hay còn gọi là bản năng tính
dục) và Thanatos ( bản năng chết) Đồng thời ông cũng đưa ra mô hình mới về
bộ máy tâm thần: cái tôi, cái ấy và cái siêu tôi Trong con người luôn xảy ra sự xung đột giữa cái ấy (nơi chứa đựng các xung năng) - thúc đẩy mỗi cá nhân,
nhất là trẻ em thực hiện ham muốn của mình và cái siêu tôi (tức là những tinh
thần, đạo lí của văn hóa, đời sống) - ngăn cản cá nhân thực hiện ham muốn ấy
Trang 32“Những ham muốn bị dồn nén này tiếp tục tồn tại trong vô thức, và chúng có thể
ùa vào ý thức trong điều kiện đã ngụy trang để tránh khỏi kiểm duyệt Bởi vậy, ngoài những triệu chứng nhiễu tâm, còn có những giấc mơ, những hành vi vô
thức hoặc những sáng tạo nghệ thuật như là sự thăng hoa của cái vô thức bị dồn nén” [65, tr.8] Như vậy, với Freud, tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ:
“Những sáng tạo, những tác phẩm nghệ thuật của ông là những thỏa mãn tưởng tượng cái ham muốn vô thức giống như mộng… chúng là “phần thưởng quyến rũ” của ham muốn gắn vào tri giác cái đẹp của hình thức” [65, tr.30-31] Nó
phản ánh những ham muốn vô thức, những mặc cảm, đặc biệt là mặc cảm Oedipe, dựa trên huyền thoại về Oedipe: Vua Laiôx và hoàng hậu Dôcaxt bị đe
dọa bởi một lời nguyền khủng khiếp của thần Apônlông, đứa con do họ sinh ra khi lớn lên sẽ phạm tội giết bố lấy mẹ, nên đã sai một nô lệ giết đi Người nô lệ
đã không dám làm điều đó Anh giao đứa bé cho một người chăn cừu của nhà vua Pôlip, đứa bé ấy chính là Êdip Một lần tình cờ Êdip phát hiện ra mình không phải là con ruột của Pôlip Chàng còn được Apônlông báo cho biết rằng chính chàng sẽ phạm vào tội giết cha lấy mẹ Sợ hãi vì lời sấm truyền, Êdip đã
bỏ nhà ra đi Trên đường đi chàng gặp một đám người hỗn xược, trước thái độ ngông nghênh đó Êdip đã giết gần hết số người ngồi trên xe trong đó có một ông già và cũng chính là cha đẻ của chàng Êdip đến thành Teb, giải đáp được câu đố
của con quái vật Xphanh và được nhân dân thành Teb suy tôn thành vua, kết hôn cùng hoàng hậu Dôcaxt Cả kinh thành bỗng rơi vào nạn dịch bệnh khủng khiếp
và Edip kinh hoàng nhận ra mình chính là nguyên nhân của tai họa đó Chàng đã
tự trừng phạt bằng cách chọc thủng mắt mình, rời bỏ ngai vàng ra đi
Freud đã chỉ ra sự giống nhau giữa tác phẩm với giấc mơ: “ đó đều là ký
hiệu của những sự ham muốn … nhà thơ cũng mượn ở vô thức tập thể những huyền thoại và truyền thuyết Cuối cùng cả hai đều có một ngữ pháp, nhờ đó mà
Trang 33sắp xếp lại được những hình ảnh, kí hiệu lộn xộn, ngẫu nhiên theo một cách nào
đó để tìm ra ý nghĩa” [65, tr.13]
Bên cạnh đó, trong Sáng tạo văn học và giấc mơ tỉnh thức, Freud cho rằng
sáng tạo nghệ thuật cũng như hình thức chơi của trẻ con, nhà thơ cũng như một đứa trẻ đang chơi Trẻ con chơi, tức là nó cũng sáng tạo ra một thế giới tưởng tượng, nhưng nó luôn ý thức được sự khác nhau giữa tưởng tượng và thực tế Và sáng tạo văn học cũng là giấc mơ tỉnh thức, là lĩnh vực của huyễn tưởng
Như vậy, một trong những vấn đề mấu chốt của học thuyết Freud là ông
đã chứng minh quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ không chỉ có ở ý
thức, tiềm thức mà có ngay trong vô thức Vì vậy, phân tâm học rất đề cao yếu
tố vô thức trong sáng tạo nghệ thuật Không chỉ có vô thức cá thể như phát kiến
của Freud mà sau này Jung còn nói đến cả vô thức tập thể Như vậy, vô thức có vai trò rất quan trọng trong sáng tạo của người nghệ sĩ Đây cũng là điều các nhà phê bình văn học quan tâm khi nghiên cứu quá trình sáng tạo của nhà văn
Không chỉ vận dụng những khái niệm vô thức, tiềm thức, dự phóng để lý
giải quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ, các nhà phê bình còn vận dụng phạm trù tính dục trong học thuyết phân tâm để lý giải tâm lý sáng tạo của nhà văn
Bởi lẽ vô thức có liên quan đến nội dung tính dục Và đây là hai phạm trù cơ bản trong học thuyết của Freud Vì theo ông, bản năng tính dục là nguồn gốc của
mọi sự sáng tạo, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học nghệ thuật
Thật khó để đưa ra một định nghĩa chung cho phê bình phân tâm học Tuy nhiên, có thể nói phê bình phân tâm học nhìn chung chú trọng đến mối quan hệ
giữa văn bản văn học và tâm lý của người sáng tác
Như vậy, việc ứng dụng phân tâm học vào phê bình văn học đã đem lại
một cái nhìn mới, một cách tiếp cận mới các tác phẩm văn học góp phần lý giải quá trình sáng tạo của nhà văn, đặc biệt là ở những người có cá tính và phong
Trang 34cách, không những thế, “khuynh hướng phê bình phân tâm học cũng mở ra cánh
cửa cho người tiếp nhận đi sâu tìm hiểu thế giới bên trong của nhà văn để từ đó
nắm bắt được tư tưởng, tình cảm của nhà văn một cách trung thực nhất” [2, tr.112-113]
1.2.2 Nội dung tiếp nhận
Vấn đề cái dâm trong tác phẩm của Vũ Trọng phụng không chỉ được đánh giá dưới quan điểm của đạo đức, mà một số nhà phê bình đã đứng từ góc độ phân tâm học để phân tích yêu tố dâm trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng
Lan Khai trong bài viết Vũ Trọng Phụng - Mớ tài liệu cho văn sử Việt
Nam sau khi đi sâu vào phân tích về hoàn cảnh sống của Vũ Trọng Phụng, Lan Khai cho rằng căn nguyên của yếu tố dâm trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng
đó là “Vũ Trọng Phụng đã mang theo ra đời cái bệnh ho lao, tức là anh đã thuộc vào cái hạng đa dục vì bệnh”, do nền luân lý bắt những người con trai con gái đến tuổi dậy thì mà chưa qua hôn lễ phải “gắng sức đè nén cái khuynh hướng tự nhiên của họ” và Vũ Trọng Phụng lại không có tiền mà “một khi không có tiền tức là không có tất cả, ngay cả đến cái tình của một cô gái điếm hạng bét cũng vậy” Chính vì vậy, nhà nghiên cứu còn khẳng định viết văn “đối với Vũ Trọng Phụng tức là một cách hành dâm” [24, tr.69] Ở đây, không thể phủ nhận Lan Khai đã ứng dụng phân tâm học của Freud để nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng, vì suy cho cùng lý thuyết của Freud “quy động cơ hành vi con người vào các mặc cảm tức là các chứng bệnh thần kinh gây nên do sự đè nén các bản năng tính dục thời thơ ấu”[66, tr.7] Lan Khai khẳng định rằng, yếu tố dâm trong sáng tác Vũ Trọng Phụng là bắt nguồn từ căn bệnh của ông, là do sự đè nén những dục vọng Tuy nhiên cái nhìn của Lan Khai còn mang tính chất cắt nghĩa, đơn thuần
Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan khi đọc Giông tố đã thấy rằng Vũ
Trọng Phụng là một đồ đệ của Freud vì “Một cô gái quê khỏe mạnh, vốn nhà nghèo đã “biết mùi đời” trong một chiếc xe hòm kín đáo, bây giờ lại sa vào cảnh
Trang 35nhàn hạ và phong lưu, cái cảnh làm cho những khối óc non nớt dễ mơ tưởng đến những điều dâm dục Freud chẳng ví tình dục của người ta với một sự đói ăn khát uống là gì? Thị Mịch chính là một kẻ đói khát về đường tình đó” [40, tr.527] Hay “Trong Số đỏ cũng như trong tiểu thuyết khác của Vũ Trọng Phụng,
tác giả tin ở thuyết tính dục quá; sự tin ấy đôi khi đàn áp cả mọi sự xét đoán của ông, làm cho mỗi khi gặp một ca khó hiểu, ông lại đem thuyết ấy ra giải quyết” [40, tr 532], và Làm đĩ cũng là một tiểu thuyết như vậy, một tiểu thuyết “dùng
chủ nghĩa tính dục của Freud làm nền tảng” Từ những lẽ đó, Vũ Ngọc Phan khẳng định “Người bảo những người ngực yếu phần nhiều là những người dâm tục Vũ Trọng Phụng có lẽ cũng thuộc về cái ca ấy” [40, tr.543], “Ông tin ở thuyết tính dục một cách thái quá, bởi thế cho nên nhiều khi ông xét đoán rất sai lầm” [40, tr.544] Vũ Ngọc Phan từ việc nghiên cứu sự lặp lại quá nhiều các yếu
tố tính dục trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng, nhà phê bình cho rằng, đó là do ảnh hưởng từ thuyết Freud
Trong bài viết Chút ít tài liệu về Vũ Trọng Phụng, Thiều Quang khẳng
định muốn tìm hiểu, lý giải cái dâm trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng thì phải
“xét đến những nỗi uẩn khúc khách quan và rất nhất thời của xã hội lúc bấy giờ” [44, tr.247], phải đi sâu vào nội tâm của chính tác giả để khám phá ra những động cơ tiềm ẩn sau đó Đây cũng chính là nội dung mà phân tâm học của Freud
đã đề cập Tuy nhiên, Thiều Quang lại đưa ra cái nhìn còn khá khắt khe khi cho rằng những đoạn “dâm” trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng tính đả kích thì ít mà tác hại thì lại nhiều [44, tr.250] Ông đồng tình với nhận định Vũ Trọng Phụng nổi tiếng là một nhà văn khiêu dâm, coi đó là một hiện tượng hiển nhiên, vì trong văn ông có những đoạn văn “dâm ô”, “bẩn thỉu”, “nhơ nhớp” [44, tr.251- 252]
Vũ Đức Phúc trong Sơ thảo lược sử văn học Việt Nam 1930 – 1945 đã chỉ
ra rõ một trong những nguyên nhân dẫn đến những đoạn “dâm” trong tác phẩm
của Vũ Trọng Phụng là do ảnh hưởng từ Freud: “Do chịu ảnh hưởng của Frớt,
Trang 36chủ nghĩa tự nhiên của Dôla, và mặt tiêu cực trong tác phẩm của Guy đơ Mô-pat
- xăng, và do lối sống trụy lạc được phát triển trong nước nên phần lớn tác phẩm của ông ta có nhiều đoạn khiêu dâm ghê gớm” [42, tr.288 - 289]
Trong công trình Mấy vấn đề về văn học hiện thực phê phán, Nguyễn Đức
Đàn sau khigiới thiệu về Freud và học thuyết của ông đã lấy Vũ Trọng Phụng là minh chứng tiêu biểu Đầu tiên là do hoàn cảnh gia đình, môi trường giáo dục nên ngoài những sách báo tiến bộ thì “Vũ Trọng Phụng cũng đọc nhiều sách báo lạc hậu, khiêu dâm hoặc phản động Do đó, Vũ Trọng Phụng chịu nhiều ảnh hưởng phức tạp” [10, tr.316] Bên cạnh đó, do môi trường sống ở thành thị nên
Vũ Trọng Phụng chỉ thấy “xã hội có một mặt đen tối, dâm loạn, đểu cáng Chúng ta không thể không thấy những dấu vết khá sâu của tư tưởng Frơt và của sách báo khiêu dâm phương Tây trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng Xã hội do Vũ Trọng Phụng sáng tạo ra là một xã hội trong đó cái thế lực đen tối của bản năng tình dục (tức là cái mà Frơt gọi là libiđô) tác động sâu sắc đến số phận các nhân vật” [10, tr.316] Từ cơ sở đó, nhà nghiên cứu đi vào phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của Vũ Trọng Phụng Đầu tiên là trường hợp của Huyền trong làm đĩ, theo Nguyễn Đức Đàn “thoạt tiên Vũ Trọng Phụng đã dùng thuyết tình dục thơ ấu (sexualité infantile) để cắt nghĩa” [10, tr.316], vì ngay từ khi lên tám tuổi Huyền đã thắc mắc: “Người ta làm thế nào mà có con? Bao giờ thì em
có con? Đẻ con ra ở đâu?”, rồi khi lên chín tuổi Huyền lại càng thấy cần khám phá về những bí mật nam nữ Và sau lần đầu ấy, Huyền thấy trong người có những cảm xúc khó tả Từ đó trở đi, cô và bạn trai thực hành điều đó một cách say mê Nhà phê bình nhận xét: “rõ ràng là ở cô gái chín tuổi, tình dục đã là một thế lực đáng sợ” [10,tr.317] Rồi lên đến mười ba tuổi Huyền phải chiến đấu gay
go với ham muốn về tình dục, và đến năm mười lăm, mười sáu tuổi “Cái xác thịt của em như không còn chịu nổi những sự khuyên bảo của linh hồn nữa” Theo nhà phê bình, “Nhân sinh quan của Huyền là nhân sinh quan dựa trên cái mà Frơt gọi là nguyên lí lạc thú (principle du plaisir) … Một người con gái đã có
Trang 37một thời thơ ấu như Huyền, khi lớn lên khó tránh khỏi con đường sa ngã… Chúng ta thấy rõ cái sức mạnh của bản năng tình dục ở trong tiềm thức u tối là một thế lực có tính chất định mệnh, nó cứ bắt buộc Huyền phải tuân theo nó, mặc dầu nhiều lần Huyền đã muốn chống lại nhưng bất lực Số phận huyền không khác gì hơn do bản năng tình dục quyết định, đúng như lập luận của học thuyết Frơt về libiđô” [10, tr.317]
Một trường hợp khác là trong Giông tố Theo Nguyễn Đức Đàn: “Thế giới
Giông tố cũng là thế giới trong đó dâm thần tác phúc tác họa ghê gớm, một thế
giới mà sức mạnh libiđô có một thế lực vạn năng Mở đầu câu chuyện là một cảnh hiếp dâm: Nghị Hách hiếp dâm Thị Mịch Rồi dọc suốt tác phẩm không biết bao nhiêu là chuyện hiếp dâm, thông dâm, loạn dâm … Tóm lại một xã hội trong đó bản năng tình dục là một động lực chi phối số phận con người” [10,
tr.319]
Cuối cùng, Nguyễn Đức Đàn kết luận: “Dầu muốn hay không chúng ta cũng thấy rằng, Vũ Trọng Phụng chịu ảnh hưởng của tư tưởng Frơt khá nặng Nhân vật của Vũ Trọng Phụng trong nhiều tác phẩm đã sống và hành động theo
sự chi phối của bản năng tình dục” [10,tr.321]
Như vậy, Nguyễn Đức Đàn đã phân tích khá kĩ càng tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng từ góc nhìn phân tâm học của Freud Ở đây, nhà phê bình không chỉ phân tích rõ những yếu tố tính dục trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, mà ông còn phân tích về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội để lý giải về Vũ Trọng Phụng
Phan Cự Đệ cho rằng trong tiểu thuyết Làm đĩ và một số phóng sự khác
của Vũ Trọng Phụng, Vũ Trọng Phụng đã “giải thích những hành động và tư tưởng của con người bằng ẩn ức sinh lý Đó là việc mô tả một cách trần truồng,
lộ liễu những hiện tượng dâm ô, trụy lạc và do đó gây nên một tác dụng khiêu dâm đối với người đọc Đó là việc nêu lên những hiện tượng xấu xa, tiêu cực của quần chúng mà không thấy bản chất tốt đẹp của họ” [13, tr.115].Theo ông,
Trang 38nguyên nhân là do Vũ Trọng Phụng bị ảnh hưởng bởi sách vở, báo chí phương Tây nên Vũ Trọng Phụng đã dùng học thuyết Freud để giải thích tư tưởng, hành
động của nhân vật: “Các nhân vật như Huyền (Làm đĩ), Thị Mịch (Giông tố), bà
Phó Đoan và cậu em chã đều được lý giải theo học thuyết Phơrớt Ở đây, cái ẩn
ức sinh lí chi phối nhân vật như một định mệnh” [13, tr.116] Những đoạn miêu
tả trần truồng của Vũ Trọng Phụng theo ông “gây nên một tác dụng xấu đối với thanh niên” và “Vũ Trọng Phụng là một nhà văn hiện thực phê phán chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa tự nhiên” [13, tr.117]
Qua những ý kiến đã nêu, ta thấy rằng, ở giai đoạn đầu, dù đã ứng dụng phân tâm học của Freud trong việc nghiên cứu tính dục trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng nói riêng và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nói chung, nhưng các nhà phê bình vẫn có cái nhìn khắt khe đối với vấn đề trên khi coi tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là khiêu dâm
Một thời gian dài sau đó, nghiên cứu về tính dục trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng bị gián đoạn do hoàn cảnh lịch sử của đất nước Bắt đầu từ sau đổi mới, cái nhìn về Vũ Trọng Phụng và văn chương của ông đã thay đổi theo hướng khách quan và đa chiều hơn
Hoàng Thiếu Sơn trong bài viết Làm đĩ – cuốn sách có trách nhiệm và
đầy nhân đạo, đã khẳng định lại tính chất giáo huấn, về mặt giáo dục giới tính
của làm đĩ: “mục đích của nó là nhắc cho những cô giáo, thầy giáo, những người
mẹ, người cha sự cần thiết phải dạy cho nữ sinh, nam sinh, cho con gái con trai những điều cần biết về giới tính, về quan hệ nam nữ, về hôn nhân gia đình” [47, tr.210] Trên cơ sở phân tích Làm đĩ, ông đã chứng minh rằng, sự sa ngã của
Huyền là từ “tuổi dậy thì, cái hoàn cảnh xấu, những bạn xấu, một nền giáo dục sai lầm” (tr.210), từ đó ông cho rằng, những ai buộc tội Vũ Trọng Phụng là đồ
đệ của Freud là “chưa hiểu gì, hay chỉ biết loáng thoáng qua những nhận định rất
sơ lược và lệch lạc về học thuyết của S.Freud” [47, tr.214]
Trang 39Nguyễn Thành trong bài viết Ảnh hưởng của phân tâm học Freud trong
sáng tác của Vũ Trọng Phụng (Tạp chí Văn học, số 4, 1997) đã khẳng định việc
Vũ Trọng Phụng vận dụng phân tâm học trong tiểu thuyết của ông “là một hiện tượng nằm trong xu hướng chung của các nhà văn Việt Nam – muốn tiếp thu các trào lưu hiện đại phương Tây vào việc hiện đại hóa nền văn học nước nhà” [59, tr.53] Theo nhà phê bình, tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa phi duy lí và tư duy duy lí, một mặt “chủ trương vạch trần sự xấu xa bỉ ổi của cái xã hội “chó đểu”, “vô nghĩa lý” lúc ấy giờ, tức là chấp nhận một cách nhìn duy lý, mặt khác trong khi xây dựng một số nhân vật ông cũng xoáy sâu vào mặt bản năng của họ, theo cách nhìn nhận của chủ nghĩa duy phi lí Tuy vậy, Vũ Trọng Phụng trước sau vẫn là một nhà hiện thực đúng nghĩa của nó” [59, tr.53-54] Nguyễn Thành cho rằng, số lượng nhân vật trong tiểu thuyết mà
Vũ Trọng Phụng sử dụng phân tâm học để miêu tả chiếm một con số rất nhỏ trong hàng trăm nhân vật tiểu thuyết của ông Và thông qua việc phân tích nhân
vật các nhân vật Mịch trong Giông Tố, Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, cậu Phước
“em Chã” trong Số đỏ, Huyền trong Làm đĩ, nhà nghiên cứu đã chứng minh:
“nhân vật Vũ Trọng Phụng dù nhiều lúc bị ẩn ức sinh lý theo đuổi, vẫn có một nguyên nhân xã hội sâu xa và chịu sự tác động của hoàn cảnh” [59, tr.54] Nguyễn Thành đã công khai bênh vực Vũ Trọng Phụng khi cho rằng chủ nghĩa
tự nhiên và chủ nghĩa Freud đều quan tâm đến bản năng sinh lí của con người nên “Vũ Trọng Phụng mới bị mang tiếng oan là đồ đệ của Freud và cả chủ nghĩa
tự nhiên” [59, tr.58] Và theo nhà phê bình “việc vận dụng phân tâm học của Freud và việc xây dựng nhân vật, đối với Vũ Trọng Phụng, có lẽ chỉ là một phương tiện để ông khám phá cái tầm sâu tiềm thức – vô thức, tâm lý con người
và là một công cụ giúp ông lý giải sự đa diện của hiện thực, và vì vậy viết về cái dâm chỉ là một phương tiện để trình bày hiện thực chứ không phải là một cứu cánh đối với Vũ Trọng Phụng Đây là điểm phân biệt giữa nhà văn hiện thực chủ nghĩa và nhà văn khiêu dâm” [59, tr.58] Cuối cùng, tác giả đến kết luận: “có thể
Trang 40nói rằng Vũ Trọng Phụng đã biết vận dụng phân tâm học của Freud vào việc xây dựng một số tính cách nhân vật, làm bộc lộ rõ cái thế giới bí ẩn, mờ khuất trong cõi vô thức của các nhân vật đó Đây là một điều mới mẻ trong văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám (…) Việc hiện đại hóa văn học Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám không chỉ của một nhóm nào, một nhà văn nào, nhưng Vũ Trọng Phụng có một phần to lớn trong tiểu thuyết và phóng
sự và riêng việc sử dụng phân tâm học Freud vào việc phân tích thế giới ẩn kín của con người ở tầng vô thức cũng là một đóng góp không thể phủ nhận” [59, tr.58] Như vậy, qua bài viết này, Nguyễn Thành đã mang lại cái nhìn đa chiều, sâu sắc hơn về yếu tố tính dục trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng mà tiêu biểu
là ở thể loại tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng có sự vận dụng phân tâm học freud trong miêu tả nhân vật, nhưng suy cho cùng, sự miêu tả ấy là nhằm vạch trần bộ mặt xấu xa, gian ác của xã hội đương thời Cuối cùng Vũ Trọng Phụng vẫn là một nhà văn của hiện thực chủ nghĩa
Thụy Khuê trong bài viết Mặt khuất của con người: cái dâm và cái ác
trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng cho rằng: “Ngày nay đọc lại những tác
phẩm, hay những đoạn văn bị kết án, chúng ta không còn có gì phải ngượng, phải nhăn mặt như các "cụ" thời trước, vì những "sự" ấy chẳng có gì đáng kể, so với lối viết bây giờ Vũ Trọng Phụng không phải là một tác giả dâm ô, kích dục, ông chỉ là nhà văn đầu tiên dám đề cập đến vấn đề xác thịt và tính dục của con
người mà điều kiện viết của thập niên 30 cho là những cấm kỵ” Và “Cô Mai và
Thủ đoạn báo hiệu tính cách điều tra của Vũ Trọng Phụng về bản chất dục tính
của con người xuyên qua triết học Freud, mà vài năm sau trong truyện dài Làm
đĩ, ông đào sâu hơn vào tiềm thức một cô gái điếm và vào những nhân vật như
Thị Mịch trong Giông tố, Bà Phó Đoan trong Số đỏ ” [82] Như vậy, rõ ràng ở
đây, Thụy Khuê đã công khai bênh vực Vũ Trọng Phụng khi cho rằng Vũ Trọng