1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THAM LUAN VE DOI MOI PP DH MON TOAN 9

3 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 55,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau mỗi tiết dạy phải có cũng cố, luyện tập bằng các câu hỏi trọng tâm, cơ bản nhất, GV chú ý đến HS yếu kém, cá biệt để nắm việc tiếp thu kiến thức mới trong nội dung bài học, bài luyện[r]

Trang 1

Báo cáo tham luận

đổi mới phơng pháp dạy học toán 9

Họ tên ngời báo cáo: Phan Văn Quân

Đơn vị: Trờng THCS Ba Đồn

1 Đặt vấn đề:

Nh chúng ta đã biết bậc học THCS là bậc học phổ cập nhằm nâng cao mặt bằng dân trí, chuẩn

bị đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đáp ứng mục tiêu của giáo dục phổ thông là: Giúp học sinh phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản khác, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ng ời, chuẩn bị hành trang kiến thức để học lên THPT, THCN, học nghề, hoặc phục vụ trong cuộc sống lao

động, sản xuất

Trong những năm qua phòng giáo dục và đào tạo và các trờng đã có nhiều chủ trơng, biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả chất lợng dạy học môn Toán 9 Qua đó đã làm thay đổi khá nhiều

về chất lợng giáo dục của huyện nhà Tuy có nhiều tiến bộ nhng chất lợng cha thật bền vững, vẫn còn nhiều hạn chế cần phải bàn Thể hiện rõ nét nhất là chất lợng thi vào THPT trong năm học 2012-2013 vừa qua Vậy yêu cầu đặt ra cho mỗi một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Toán 9 trong 35 trờng của huyện phải tìm đợc nguyên nhân dẫn đến chất lợng cha thật bền vững, còn nhiều hạn chế, cần phải nhìn thẳng vào sự thật Từ đó đa ra những biện pháp tích cực sát với thực

tế để từng bớc khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả chất lợng môn Toán 9

2 Nguyên nhân, hạn chế dẫn đến chất lợng môn Toán lớp 9 thấp:

a)Về phía học sinh:

a.1- Một bộ phận học sinh thiếu ý thức luyện rèn, không chăm học, cha xác định đúng động cơ, mục đích của việc học tập, đi học vì bị ép buộc của gia đình, của nhà trờng và xã hội nên không thể hiện đợc ý thức phấn đấu, vơn lên

a.2- Một số em ngồi học cha chịu khó nghe giảng, không ghi bài, lời học, lời suy nghĩ xây dựng bài, còn nói chuyện riêng, thậm chí còn phá phách làm ảnh hởng đến đến bạn bè xung quanh, chất lợng lớp học

a.3- Đi học thì không vào lớp, bỏ học, vắng học thờng xuyên, tham gia chơi và nghiện các trò chơi

điện tử trực tuyến trên mạng Internet, xem phim, ảnh bạo lực

a.4-Một số em năng lực tiếp thu bài, vận dụng kiến thức bài học còn quá nhiều hạn chế, bên cạnh

đó còn không ít em còn hổng các kiến thức về môn Toán (nh không nhớ ĐN, Khái niệm, Đ.Lí, T.Chất, tiên đề, Hệ quả, Dấu hiệu, các quy ớc, kí hiệu ), ý thức tự học ở nhà của các em hầu nh không có, chỉ tiếp thu ở trên lớp, không học bài cũ và chuẩn bị bài mới, nên tiếp thu bài ở lớp thật

sự gặp nhiều khó khăn và trỡ ngại

a.5- Mặc dù giáo viên đã phân loại HS, dạy bám sát đối tợng, hớng dẫn cẩn thận, kỹ lỡng nh do khả năng tiếp thu của học sinh còn hạn chế nên vẫn mắc nhiều sai lầm và cha linh động xử lý tình huống dù đơn giản nhất, nên kết quả học tập còn nhiều hạn chế

a.6- Nhiều em thiếu kỹ năng làm các bài toán rút gọn, vẽ hình, phơng pháp chứng minh một bài toán hình học, kỹ năng lập luận, cách trình bày một bài toán hoàn chỉnh

a.7- Bên cạch đó một bộ phận cha mẹ học sinh bị cuốn vào vòng xoáy của cơ chế thị tr ờng, làm ăn buôn bán, ít quan tâm, theo dõi đến việc học tập của con em mình, mặc phó cho thầy cô và nhà tr -ờng

b) Về phía giáo viên:

b.1- Một số giáo viên còn non về kinh nghiệm giảng dạy Toán 9, cha từng trãi, thiếu sự chịu khó học hỏi, đầu t thời gian nghiên cứu kiến thức cha nhiều, phơng pháp giảng dạy lúng túng, làm cho học sinh khó tiếp thu, kiến thức cha thật sự vững vàng, lên lớp không chủ động đợc kiến thức của bài dạy

b.2- Đổi mới phơng pháp dạy học của giáo viên cha có hiệu quả Số lợng giáo viên giỏi về môn Toán trong một trờng còn ít, việc khai thác trang thiết bị đồ dùng dạy học còn hạn chế, việc ứng dụng CNTT, các phần mềm hỗ trợ trong dạy học cha tích cực

b.3- Dạy trên lớp cha quan nhiều đến đối tợng học sinh yếu, kém mà chỉ tập trung vào một số đối tợng học sinh khá giỏi trong lớp đó vì sợ dạy không kịp bài, cháy giáo án, nên không làm chủ đ ợc thời gian và làm hạn chế việc phát huy tính tích cực chủ động tạo của học sinh trong học tập b.4- Kiến thức bài học khai thác thiếu tính triệt để, không sâu, giáo viên thờng cung cấp một chiều, làm cho học sinh tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ máy móc, dễ quên

b.5- Bài dạy lan man khó hiểu, kiến thức GV cung cấp cho HS nh một thông báo, sau mỗi bài học giáo viên cha chốt đợc kiến thiếu trọng tâm, thiếu sự hớng dẫn cụ thể công việc học ở nhà, chỉ giao

số lợng bài tập cần giải quyết mà thôi

Trang 2

b.6- Trình độ quản lí lớp học còn nhiều hạn chế, cha bao quát đợc hết các đối tợng, cách thức tổ chức dạy học còn yếu Ngoài ra không ít đồng chí cha tận tụy, yêu nghề yêu nghành giúp HS vợt khó vơn lên trong học tập

3 Một số giải pháp, chia sẽ kinh nghiệm để nâng cao chất lợng học sinh:

3.1- Kiểm tra chất lợng đầu năm, tìm hiểu hoàn cảnh từng học sinh Phân chia đối tợng học sinh và nắm thật sát năng lực học tập của từng học sinh để đa ra phơng pháp dạy học phù hợp, nh phụ đạo,

bổ trợ kiến thức, nâng cao kiến thức đối với HS khá giỏi ở từng bài ngay từ đầu năm

3.2- Dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức, kỹ năng, cần giúp học sinh nắm đợc kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài và gây hứng thứ khi học toán

Ví dụ: Khi dạy bài “Tứ giác nội tiếp” Hình học 9 kiến HS cần nắm ĐN, định lí, định lí đảo Để giúp HS nắm đợc định lí, cách vận dụng định lí vào giải bài tập, yêu cầu tối thiểu để HS đạt đợc giáo viên ra một bài tập: Cho tam giác ABC, các đờng cao AH, BK, CF, O là trực tâm Hãy tìm các

tứ giác nội tiếp (Các tứ giác nội tiếp AKOF; BFOH; HOKC vì có tổng hai góc đối bằng 1800) Sau khi học sinh nắm đợc bài này, GV hỏi thêm tứ giác BFKC có nội tiếp không? (Tứ giác BFKC có

BFC BKC  suy ra F và K cùng thuộc đờng tròn đờng kính BC nên tứ giác BFKC nội tiếp vì

có 4 đỉnh cùng thuộc đờng tròn đờng kính BC

3.3- Không đợc chủ quan đối với kiến thức đã dạy xem nh học sinh đã biết rồi mà phải tranh thủ thời gian để ôn lại kiến thức cũ khi giảng bài mới và luyện tập

Ví dụ: Khi giải bài tập 12b-SGK toán 9 tập I: Tìm x để mỗi căn thức sau có nghĩa:  3x 4

cần

ôn lại kiến thức điều kiện để A có nghĩa, các bớc giải bất phơng trình đã học ở lớp 8.

3.4- Giáo viên hớng dẫn học sinh phơng pháp tự học môn Toán ở nhà, nhằm hình hành các kỹ năng tự học, làm nền tảng cho việc phát huy tính độc lập nhận thức Cụ thể là GV phổ biến cho HS biết tiêu đề bài học, mục tiêu học tập của bài học, các nhiệm vụ học tập cụ thể của bài và hớng dẫn cách thức giải quyết các nhiệm vụ học tập

3.5- Khai thác triệt để các sai lầm, thiếu sót của học sinh trong quá trình giảng bài, nhất là tiết luyện tập, tiết kiểm tra, để từ đó hớng dẫn, phân tích giúp học sinh phát hiện sai lầm giải quyết để khắc phục những sai lầm, tạo mọi điều kiện để học sinh tự đánh giá bạn mình trong quá trình học tập và rèn luyện

Ví dụ: Tìm x biết: 9x2 2x1 Khi giải HS chỉ tìm đợc giá trị x =1 bỏ sót mất giá trị

1 5

x 

Lí do HS mắc phải sai lầm là cha chú ý đến các điều kiện của x (x0 ;x0) trớc khi giải

3.6- Mỗi giáo khi lên lớp cần nghiên cứu và chuẩn bị bài dạy một cách chu đáo Nếu là tiết bài tập, cần phải giải kỹ từng bài, xem kỹ các trờng hợp có thể xảy ra Để từ đó tìm ra thuật Toán đơn giản, giúp học sinh từng bớc nắm đợc kiến thức và có hứng thú học toán và giải toán

3.7- Đối với mỗi bài học những giáo viên cần truyền thụ vấn đề trọng tâm, gắn gọn, cô đọng, tinh giản nhng đảm bảo đầy đủ nội dung một cách chính xác, để giúp học sinh dễ nắm và ôn tập hệ thống kiến thức dễ dàng

3.8- Mỗi lần thay đổi PPDH là một lần GV đã tạo ra “cái mới”, nhờ thế sẽ tránh đ ợc sự đơn điệu, nhàm chán cho học sinh, giờ học sẽ sinh động, hấp dẫn, gây hứng thú, tò mò để đi đến giải quyết vấn đề bài học nêu ra giúp HS có nhiều cơ hội hoạt động tích cực, đào sâu suy nghĩ, t duy, tổng hợp kiến thức của bài học

Ví dụ: Khi dạy bài “Độ dài đờng tròn, cung tròn” GV đặt vấn đề vào bài học “Em có biết bánh xem đạp có đờng kính 650 mm khi lăn một vòng đợc bao nhiêu mét không”

3.9- Giáo viên cần phải nhiệt tình, tận tụy, yêu nghề, mến trẻ, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, kiên nhẫn trong giảng dạy, không nôn nóng, vội vàng, từng bớc giúp học sinh khắc phục những sai sót, hạn chế dù rất nhỏ, tạo mọi điều kiện cho phép nhất để hình thành từng bớc động cơ, thái độ trong học tập, tạo sự phấn khởi và niềm tin trong học toán

3.10-Uốn nắn cho học sinh biết cách trình bày lời giải một bài toán phải gọn nhng chặt, chính xác,

đầy đủ về nội dung Thông qua tiết luyện tập, ôn tập, phụ đạo và tiết kiểm tra

3.11- Luyện rèn cho HS tính cẩn thận, phát triễn t duy, khả năng suy nghĩ trong mỗi tiết dạy Xây dựng động cơ thái độ học tập đúng, tự giác làm bài từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp trong từng bài, chơng, thông qua việc hiểu và nắm chắc kiến thức bài giảng ở lớp

Ví dụ (Bài 13d -SGK Toán 9 tập I): Rút gọn biểu thức: 5 4a6  3a3 với a < 0

Do không cẩn thận nên không chú ý đến điều kiện của bài toán dã giải sai nh sau:

5 4a6  3a3 =

5 2a  3a 10a  3a 7a

Trang 3

3.12-Vấn đề dạy tốt một tiết Toán, học sinh nắm vững kiến của một tiết học thì việc đầu t vào soạn một giáo án là không thể thiếu trong quá trình dạy học, ngoài ra cần phải làm cho môn học thật gần gũi với thực tế đời sống nên GV cần phải linh hoạt, sáng tạo trong từng tiết dạy của mình để làm nổi rõ sự gắn bó của Toán học với cuộc sống hàng ngày là hết sức cần thiết

3.13- Ngôn ngữ phải dễ hiểu để học sinh dễ nhìn nhận, nắm bắt, chiếm lĩnh tri thức mới Hệ thống câu hỏi phải hết sức gọn, trong sáng, logic, chặt chẽ, gợi mở nếu cần thiết để HS tự tìm ra kiến thức mới Từ đó HS sẽ khắc sâu, nhớ lâu kiến thức và gây đợc hứng thú, thúc đẩy vơn lên trong học tập của mỗi em trong lớp học

3.14- Dạy môn toán cần dạy cho học sinh nắm chắc ĐN, Khái niệm, Đ.Lí, T.Chất, tiên đề, Hệ quả, Dấu hiệu, các quy ớc, kí hiệu Nó là chìa khóa của mọi vấn đề nhng vẫn cha đủ Mà GVcần phải biết làm cho HS biến những kiến thức đó vào mỗi bài tập cụ thể, vận dụng nh thế nào?

3.15- Đầu t cho việc chuẩn bị đồ dùng trực quan cho một tiết dạy là hết sức cần thiết, để HS hiểu kiến thức một cách tờng tận, sát thực tế, hiểu đợc kiến thức đó xuất phát từ đâu, dựa trên cơ sở nào?

3.16- Khi dạy xong một tiết cần phải biết đợc bao em hiểu bài và còn lại bao nhiêu em cha kịp hiểu bài Từ đó có những phơng pháp giúp đỡ số HS cha hiểu bài Sau mỗi tiết dạy phải có cũng

cố, luyện tập bằng các câu hỏi trọng tâm, cơ bản nhất, GV chú ý đến HS yếu kém, cá biệt để nắm việc tiếp thu kiến thức mới trong nội dung bài học, bài luyện tập tại lớp cần đợc nâng dần từ dễ

đến khó, từ đơn giản đến phúc tạp, biết tổng hợp kiến thức

3.17- Cách thức ra bài tập ở nhà đối với HS yếu kém cần phải chọn lọc các bài tập phù hợp, sau đó nâng dần lên, tránh quá tải cho HS Đối với HS khá giỏi cần phải ra thêm bài tập ở ngoài SGK để mỗi em có cơ hội phát triển t duy sáng tạo, thể hiện mình về kiến thức toán học

Ví dụ: Học xong bài “Hệ thức Vi-ét và ứng dụng” khi ra tập về nhà, bài 32c-SGK toán 9- tập II: Tìm hai số u và v biết u - v = 5 và uv = 24, GV không yêu cầu đối với HS yếu kém

3.18- Kiểm tra đánh giá HS phải công bằng chính xác, chỉ ra đợc những kiến thức còn thiếu và yếu hay mắc phải trong bài làm cho dù là nhỏ nhất Để làm đợc điều đó GV khi ra đề kiểm tra phải phân hóa cụ thể đợc từng đối tợng

4 Kiến nghị đề xuất: (Không)

Vì khả khả năng còn hạn chế, kinh nghiệm giảng dạy Toán 9 cha nhiều, tầm nhìn tổng thể cha cao, nên không thể tránh khỏi thiếu sót và khiếm khuyết trong quá trình tham luận rất mong quý vị đại biểu, lãnh đạo phòng và thầy cô hết sức thông cảm

Chúc quý vị đại biểu, lãnh đạo phòng giáo dục và quý thầy cô sức khỏe, giặt hái đợc kết quả cao trong năm học 2012-2013 Xin chân thành cảm ơn

Ba Đồn, ngày 07 tháng 9 năm 2012 Ngời báo cáo

Phan Văn Quân

Ngày đăng: 17/06/2021, 04:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w