Triết học hiện sinh là một trong những trào lưu tư tưởng lớn của tư tưởng phương Tây, ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất và phát triển hoàn chỉnh, đạt tới đỉnh cao trong chùm triết học phi lý hiện đại. Đây là triết học về ý nghĩa cuộc sống nhân sinh tức là triết học về con người, đã gây thành phong trào triết học sâu rộng trong quần chúng.Có thể nói,sự xuất hiện của triết học hiện sinh đã tạo ra một hiện tượng trong đời sống.Lần đầu tiên trong lịch sủ,triết học “xuống đường”,đi vào quần chúng thông qua các tác phẩm văn học,tiểu thuyết,vở kịch,bài báo cũng như những tác phẩm chuyên nghành.
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
- Triết học hiện sinh là một trong những trào lưu tư tưởng lớn của tư tưởng phương Tây, ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất và phát triển hoàn chỉnh, đạt tới đỉnh cao trong chùm triết học phi lý hiện đại Đây là triết học về ý nghĩa cuộc sống nhân sinh tức là triết học về con người, đã gây thành phong trào triết họcsâu rộng trong quần chúng.Có thể nói,sự xuất hiện của triết học hiện sinh đã tạo ra một hiện tượng trong đời sống.Lần đầu tiên trong lịch sủ,triết học “xuống
đường”,đi vào quần chúng thông qua các tác phẩm văn học,tiểu thuyết,vở kịch,bài báo cũng như những tác phẩm chuyên nghành
Chủ nghĩa hiện sinh du nhập vào Việt Nam từ những năm 50 của thế kỉ XX
và đã tạo thành một trào lưu tư tuởng rất lớn, cùng với những ảnh hưởng tới sinh hoạt văn hoá, chính trị, đặc biệt là ở miền Nam nước ta
Mặc dù, triết học hiện sinh là một trào lưu triết học phương Tây hiện đại, ra đời
ở cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nhưng những tư tưỏng mầm mống của nó thì đã
có từ trước đó.Sở dĩ như vậy có lẽ vì bất cứ nơi đâu trên thế giới còn trói buộc con người vào những quy tắc khắt khe, còn kìm hãm con người trong những khuôn khổtrật hẹp, còn bóp nghẹt tự do của con người thì ở đó khát vọng tự do, khát vọng được là chính mình lại càng cháy bỏng
Hồ Xuân Hương là một trong những đại diện tiêu biểu, một hiện tượng của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam Bà sống trong thời đại phong kiến của Việt Nam vào giai đoạn cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn.Đó là một giai đoạn lịch sử đầy biến động.Con ngưòi trong xã hội đó phần đông phải chịu những bất công do sự áp bức của bọn địa chủ phong kiến.Thời của bà, người phụ nữ là nạn nhân của chế độ gia trưỏng nam nữ tôn ti, không được hoạt động xã hội,không được ở trong bộ máy nhà nước, không được học hành thi cử,phải chịu muôn vàn thiệt thòi cả ngoài xã
Trang 2hội cũng như trong gia đình : tại gia tòng phụ,xuất giá tòng phu, phu tử tòng
tử.Chính vì lẽ đó, trong giai đoạn này đã xó rất nhiều tác gia lên tiếng tố cáo sự khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, đòi quyền sống, quyền bình đẳng.Hồ Xuân Hương là một đại diện tiêu biểu.Thông qua phong cách sống và những tác phẩm của mình, bà đã thể hiện điều đó một cách rất đặc biệt.Bà là một đại diện tiêu biểu của tư tưởng triết học hiện sinh ở Việt Nam.Tuy nhiên đến nay chưa có một nghiêncứu nào khai thác sâu về yếu tố triết học hiện sinh trong tư tưởng của bà Việc khai thác yếu tố này giúp nâng cao nhận thức về chủ nghĩa hiện sinh, đồng thời giúp ta có cách tiếp cận mới đối với Hồ Xuân Hương
2 Tình hình nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương đến nay đã có rất nhiều, có thể kể đến những cuốn sách được xuất bản bởi nhà xuất bản văn học như:Hồ Xuân Hương – thơ và đời,tín ngưỡng phồn thực trong thơ Hồ Xuân
Hương…, song chúng tôi chưa tìm thấy một tài liệu chính thức nào khai thác sâu
về khía cạnh yếu tố triết học hiện sinh trong tư tưởng của bà Đây là một đề tài khá mới mẻ nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức với nhóm nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Sau Nguyễn Du với truyện kiều,Hồ Xuân Hương là nhà thơ cổ điển được nhắc tới nhièu lần và gây nhiều tranh luận nhất.Đề tài không đi sâu nghiên cứu tác giả Hồ Xuân Hương dưới góc độ là một nhà thơ mà tiếp cận bà dưới góc
độ là một nhà tư tưởng, mong muốn làm rõ yếu tố hiện sinh trong tư tưởng của bà.Ai cũng biết Hồ Xuân Hương là một nhà thơ sắc sảo, tài hoa, giàu sức sống mà luôn bị cuộc đời chèn ép về mọi phương diện, về tinh thần, về tình cảm, về cuộc sống bản năng…Điều đó làm cho nhà thơ vưa khao khát lại vừa phẫn nộ.Chắc chắn những phụ nữ khác ở vào cảnh ngộ của Hồ Xuân Hương cũng sẽ có những khao khát như bà.Nhưng lễ giáo phong kiến hang nghìn đời trói buộc, dần dần họ quen với sự nhận nhục chịu đựng, không dám ý thức về những khao khát của
Trang 3mình.Nhưng Hồ Xuân Hưong, bằng sự táo bạo, bằng bản lĩnh của mình đã dám nóilên điều đó.Cuộc đời bà, thơ của bà thể hiện sự vùng vẫy ra khỏi những quy tắc luật lệ, cũng thể hiện sự bất lực của nữ sĩ trước thời cuộc Đó vừa là tiếng nói của khát khao vừa là tiếng kêu cứu của bà, mong được thoát khỏi hiện thực.Thơ bà là hồn, là xác, là mắt nhìn, tay sờ, là chân đi, là nụ cười, là nước mắt, là cá tính, là số phận của bà Nói đến Hồ Xuân Hương có ai không biết bà là “bà chúa thơ Nôm” nhưng nếu chỉ tiếp cận bà dưới tư cách một nhà thơ có lẽ chưa đủ.Vì vậy, chúng tôi
đi sâu vào nghiên cứu yếu tố hiện sinh trong tư tưởng của bà, để thấy bà còn là mộtnhà tư tưởng, một nhà triết học hiện sinh ở Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tư tưởng của Hồ Xuân Hương thông qua các tác phẩm thơ ca, quan điểm sống và phong cách sống hết sức đặc biệt Đó là những câu đối, những bài thơ Nôm, thơ chữ Hán, những mẩu chuyện của bà và về bà
5 Nét mới của đề tài
Đề tài đã khai thác đựơc yếu tố mới mẻ vể nữ sĩ Hồ Xuân Hương, khẳng định
bà không chỉ là một nhà thơ, nhà văn mà còn là một nhà tư tưởng Trong tư tưởngcủa bà đã chứa đựng mâm mống của triết học hiện sinh, một trào lưu tư tưởng hiệnđại ở phương Tây
6.Phương pháp nghiên cứu
Đặt vấn đề nghiên cứu Hồ Xuân Huơng không chỉ để nghiên cứu quá
khứ,để phục cổ, hoài cổ mà là để tìm ra những giá trị tốt đẹp mà hiện tại cần trân trọng và gìn giữ
Khi nghiên cứu đề tài chúng tôi giữ thái độ khách quan, khoa học, không tuyệt đối hoá quá khứ, cũng không xem thường, ngoảnh mặt lại quá khứ.Chúng tôi luôn cố gắng tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hoá, phê phán với tinh thần thận trọng, khoa học, tránh thái độ chủ quan tuỳ tiện
Trang 4Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi thấy được sự cần thiết phải
sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mac-Lênin là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.Sử dụng phuơng pháp này giúp chúng tôi có khả năng giải quyết tốt các vấn đề :tư duy và tồn tại,logic và liạch sử, cá nhân và xã hội, kế thừa và sáng tạo, bản địa và ngoại lai…
Khi nghiên cứu yếu tố triết học hiện sinh trong tư tưởng Hồ Xuân Hương chúng tôi tập trung làm rõ những vấn đề thuộc triết học hoặc liên quan đến triết học.Nhóm nghiên cứu đã cố gắng tránh việc trình bày theo những tư tưởng văn họchay những tư tưởng thông sử tránh lan man, xa đề
Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp trong quá trình nghiên cứu.Có phân tích mới thấy đựoc nội dung tư tưởng, yếu tố hiện sinh và giá trị của nó trong tư tưỏng Hồ Xuân Hương.Khi trình bày chúng tôi luôn bám sát quyluật của bản thân tư tưởng, thấy được tư tưởng, ý thức là cái phản ánh tồn tại xã hội, chịu sự quy định tất yếu của kinh tế
7 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài đã khai thác một khía cạnh mới mẻ về Hồ Xuân Hương, đó là yếu tố hiện sinh trong tư tưởng của bà, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lịch sử tư tưởng Việt Nam.Bởi lẽ, tư tưởng Việt Nam vô cùng phong phú.Mỗi giai đoạn lịch
sử đều có các nhà tư tưởng của giai đoạn đó.Thời phong kiến đã có biết bao tác giảlên tiếng tố cáo chế độ, thể hiện sự cảm thông đối với người phụ nữ:
Thủơ trời đất nổi cơn gió bụiKhách má hồng nhiều nỗi chuân chuyên
(Chinh phụ ngâm-Đặng Trần Côn)
Oan chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào
(Cung oán ngâm khúc-Nguyễn Gia Thiều)
Đau dớn thay phận đàn bà
Trang 5(Truyện kiều-Nguyễn Du)
Mỗi người một phong cách nhưng Hồ Xuân Hưong, từ những trải nghiệm của bản thân đã nói lên tiếng nói của người trong cuộc, tiếng nói của người phụ nữ khao khát tự do, hạnh phúc.Ở bà tư tưởng triết học hiện sinh thể hiện rõ nét nhất, tạo nên một phong cách riêng, đặc biệt
Đề tài đã chứng minh rằng không chỉ ở phương Tây mới có các yếu tố khởi nguồn của triết học hiện sinh mà ở phương Đông mà cụ thể là ở Việt Nam, mầm mống của triết học hiện sinh đã xuất hiện, tiêu biểu là tư tưởng Hồ Xuân Hương.Bởi lẽ, ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh, có khát vọng bình đẳng, tự
do, hạnh phúc.Đó lại là mảnh đất của tư tưởng triết học hiện sinh
Nội dung Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh.
1.1 Nguồn gốc của chủ nghía hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh là khái niệm dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - những người mà tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người – không chỉ là chủ thể tư duy mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động.Chủ nghĩa hiện sinh ra đời từ hai nguyên nhân trực tiếp sau đây:
Nguyên nhân thứ nhất là từ mâu thuãn của xã hội tư bản PTSX TBCN chạytheo lợi nhuận tối đa đã đẩy con người vào tình trạng tha hoá cùng cực, lấy đi của
họ cái vị trí làm người đích thực Những tệ nạn xã hội cùng với sự tàn phá khủngkhiếp từ hai cuộc thế chiến do chủ nghĩa đế quốc gây ra đã đẩy con người vào mộtcuộc khủng hoảng sâu sắc trong đời sống tinh thần Nhiều luận điểm của chủ nghĩahiện sinh cùng với phong trào hiện sinh thể hiện sự nổi loạn trong lòng xã hội tưbản nhằm lên án nó, chống lại nó, kêu gọi con người phải tự cứu lấy mình Nhưngdựa vào cái gì để cứu mình và cứu xã hội thì họ chưa rõ
Nguyên nhân thứ hai là phản ứng trước việc các nước phương Tây tuỵêt đốihoá vai trò của khoa học, sùng bái kỹ thuật đã hạ thấp, bỏ rơi con người hoặc chỉquan tâm đến mặt vật chất mà xem nhẹ mặt tâm hồn, đời sống tình cảm của họ.Triết học duy lý đã từng có vai trò tích cực nhất định trong việc làm cho các nướcphương Tây đạt được những thành tựu vượt bậc trong chinh phục tự nhiên bằngkhoa học, công nghệ hiện đại Đồng thời khoa học kỹ thuật cũng bắt con người
Trang 6phải gánh chịu những hậu quả nặng nề về môi trường, xã hội, sinh thái, sức khoẻ.Một xã hội phương Tây giàu có về vật chất lại nghèo nàn về văn hoá, tinh thần;tăng trưởng nhanh về kinh tế lại suy thoái nhanh về văn hóa, đạo đức Các nhà triếthọc hiện sinh hoàn toàn có lý khi họ kịch liệt phê phán sự tuyệt đối hoá vai trò của
lý trí, của khoa học khi họ vạch rõ sự thiếu hụt tinh thần nhân đạo trong chính nềntảng của văn minh phương Tây Nhưng họ đã mắc sai lầm khi chỉ thừa nhận vai tròcủa cảm giác, của xúc cảm cá nhân, tức là ngả sang phía chủ quan phi duy lý.Chủ nghĩa hiện sinh đầu thế kỷ XX có cội nguồn sâu xa mà trực tiếp nhất là triết học phi duy lý ở thế kỷ XIX
Chủ nghĩa hiện sinh, trường phái triết học chủ yếu trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý phương Tây hiện đại Nó xuất hiện ở Đức sau đại chiến thứ nhất, ở Pháp trong đại chiến thứ hai, ở Mỹ và một số nước khác sau đại chiến thứ hai
Nguyên nhân ra đời chủ nghĩa hiện sinh
Một là, phản ánh cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản hiện đại
Hai là, phản ứng lại sự sùng bái khoa học kỹ thuật
Vào đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã bỏ lại phía sau thời kỳ
cổ điển để bước sang thời kỳ hiện đại Cuộc cách mạng công nghiệp và sau đó cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm biến đổi tận gốc nền sản xuất xã hội Bước vào thời kỳ hiện đại, công nghiệp cơ khí phát triển, quy mô sản xuất tăng lên mạnh mẽ dẫn tới việc tích tụ sản xuất ở các xí nghiệp lớn, sản phẩm của
xã hội như tuôn trào khắp nơi Tiến bộ khoa học kỹ thuật được ý thức hệ của xã hộiphương Tây miêu tả như thành quả của chủ nghĩa duy lý
Quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang chủ nghĩa tư bản được gọi là thời kỳ Ánh sáng tiếp nối và thay thế cho thời “trung cổ ảm đạm” đã hình thành quan niệm cho rằng, tiến bộ dường như chỉ có thể có được trên cơ sở phát triển phồn vinh của khoa học kỹ thuật và thông qua sự duy lý hoá chính trị, kinh tế cùng toàn bộ đời sống xã hội Sự lạc quan đối với trí tuệ và tri thức đã thể hiện một cách đầy đủ và triệt để nhất trong ý thức lấy công nghệ làm nền tảng
Tính duy lý luôn luôn đối lập với tính phi duy lý như tâm linh, trực giác, niềm tin tôn giáo….nó được người ta coi là phương sách vạn năng để hoàn thiện xãhội Tiến bộ được hiểu như kết quả của việc truyền bá những tư tưởng duy lý chân thực để loại trừ mọi điều phi lý, bí ẩn, để toả ánh sáng trí tuệ trên khắp thế giới Người ta đưa lên tận mây xanh những quan niệm đầy tính khoa trương rằng, khoa học kỹ thuật là chiếc đũa thần, là biện pháp duy nhất vạn năng để giải quyết mọi vấn đề xã hội, là phương tiện tạo nên sự hài hoà xã hội trên con đường xây dựng một cách duy lý trật tự xã hội ngày nay
Cuộc cách mạng công nghệ bắt đầu vào giữa thế kỷ này đã làm nảy sinh một
ý tưởng cho rằng sự phát triển của khoa học kỹ thuật có thể cứu chủ nghĩa công
Trang 7nghiệp khỏi cuộc khủng hoảng, loại trừ mọi ung nhọt và những mâu thuẫn xã hội vốn có của xã hội đó Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, cuộc bùng nổ kinh tế vào những năm 50, 60 của thế kỷ làm hình thành một xu hướng duy lý cao gọi là chủ nghĩa kỹ trị Những quan niệm kỹ trị được bộc lộ rõ ràng trong những mô hình xã hội của những nhà tương lai học về chủ nghĩa công nghiệp mang nhiều màu sắc khác nhau.
Trong vô số biểu hiện của chủ nghĩa duy lý thuộc đời sống xã hội, trước đến phải nói đến chủ nghĩa duy lý về nhà nước và thị trường, cái mà J Habermas cho
là hai trụ cột của xã hội phương Tây hiện đại Tính duy lý của nhà nước thể hiện ở chỗ nó bị chi phối bởi những nhà kỹ trị, nhà quản lý chuyên nghiệp tạo thành một nhà nước quan liêu ngày một trương phình đè lên con người Ngày nay tính duy lý đạt lên cao độ Trong làn sóng thứ ba, A Toffler nói về những nhóm ra quyết định
vô hình này kiểm soát đòn bẩy đầu tư trong xã hội công nghiệp cho nên những người nổi loạn và những nhà cải cách đã cố gắng phá vỡ bức tường quyền lực để xây dựng một xã hội mới dựa trên công bằng xã hội và bình đẳng chính trị Thị trường được người ta coi là một thành tựu vĩ đại sánh ngang với những thành tựu trí tuệ khác của loài người Sức mạnh của nó đẻ ra “xã hội tiêu thụ”, “xã hội dư thừa” Hiện tượng tiện nghi đại chúng đã được ý thức hệ hoá bởi vì nó trở thành phương tiện hoà nhập, khóa chặt con người vào xã hội không còn một lối thoát.Với chủ nghĩa duy lý, xã hội phương Tây đã đạt tới giai đoạn tột cùng của nó Nhưng chính ở điểm đỉnh của sự phồn vinh đó nó đã sa vào cuộc khủng hoảng Các nhà triết học phi duy lý như Spengler, Nietzche đã nói tới sự suy tàn, sự suy đồi của phương Tây chính ở chủ nghĩa duy lý kỹ thuật của nó Chính Mác đã sớm chỉ ra hiệu quả tệ hại của xã hội kỹ trị rằng: “Trong thời đại chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó Chúng ta thấy rằng những máy móc cómột sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem lại nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến con người Những nguồn của cải mới, từ xưa đến nay chưa ai biết, dường như
do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹ thuật dường mua được bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần
Xã hội duy lý hoá ở phương Tây đã sa vào khủng hoảng suy đồi bởi vì nó phi nhân vị hoá con người, con người chỉ còn là “một lực lượng vật chất đơn
thuần” một khi con người trở thành bần cùng và kiệt quệ trong bộ máy kỹ thuật khổng lồ của xã hội hiện đại thì sự suy sụp của một cá nhân là một điều kiện hiển nhiên Thân phận con người như thế thì thành tựu kỹ thuật mà loài người giành được tất không phải bằng giá trị người của loài người mà bằng “giá trị suy đồi của đạo đức”
F Fromm nói về con người trong nền văn minh kỹ trị như sau: Vấn đề của thế kỷ XIX là “Chúa đã chết”, (như Nietzsche đã nói), vấn đề của thế kỷ XX là con
Trang 8người đã chết Ở thế kỷ XIX sự tàn bạo chống lại con người; ở thế kỷ XX là sự tha hoá có tính thần kinh phân liệt Trong quá khứ tai họa là ở chỗ con người trở thành
nô lệ, trong tương lai con người có nguy cơ trở thành những rôbô Con người không còn là con người mà biến thành các máy không tư duy, không tình cảm Conngười bị máy móc hoá, tự động hoá, trở thành một yếu tố đơn giản của khoa học
kỹ thuật cho nên đánh mất hết mọi đức tính riêng của mình và không tồn tại như một nhân vị.một cá nhân nữa
Chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng đối lập lại chủ nghĩa duy lý thống trị trong xã hội Tây phương hiện đại Không chỉ có nó, mà cả một chùm triết học theo
xu hướng phi duy lý thường tập hợp dưới lá cờ nhân học, ( triết học đời sống, phântâm học, chủ nghĩa nhân vị, chú giải học….)và cả nền văn học hiện đại (chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa ấn tượng, chú nghĩa nhân vị, chủ nghĩa đađa, chủ nghĩa siêu thực…) đã thành một dàn nhạc Jazz chống lại chủ nghĩa duy lý
Có người cho rằng cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc là nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh nên nó thấm nặng chủ nghĩa bi quan, thất bại Không phải thế Trênthực tế, nhiều nơi không có chiến tranh , hoặc như ngày nay, chiến tranh đã lùi xa vào dĩ vãng vậy sao chủ nghĩa hiện sinh và các xu hướng của chủ nghĩa phi duy lý vẫn phát triển Chiến tranh chỉ là một điều kiện Nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh và các hình thức khác của chủ nghĩa phi duy lý hiện đại là sự khủng hoảng, sựbại hoại tinh thần do chủ nghĩa duy lý gây nên trong xã hội phương Tây hiện đại
Sự phản ứng của chủ nghĩa duy lý hơn nữa không chỉ diễn ra trên bình diện tinh thần(triết học, nghệ thuật) mà còn nổi lên cả ở bình diện hiện thực với những phong trào xã hội có lúc làm rung chuyển cả đời sống của nhiều nước Chủ nghĩa hiện sinh cũng không chỉ hiện diện trên lý thuyết mà nó còn thể hiện ra một lối sống, một phong cách sống
Người ta mô tả sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp như sau: “ấy là một buổi sáng mùa đông (1946) , vừa thức giấc cả thành phố Paris thấy mình “ hiện sinh” , sách báo đầy quyến rũ tràn khắp phố phường, những “đám thanh niên nam
nữ vui vẻ” kéo đến những căn nhà hầm ở Saint –Germain , ầm vang điệu nhạc Jazztrong những trang phục mới lạ với mái tóc xõa, quần túm ống và ăn nói chào mời phóng túng Người ta bảo đó là một lối sống mới, là một phong trào mốt đã trở thành một huyền thoại Trong 4 năm từ 1945 , Paris trở thành thủ đô văn hóa của thế giới nhờ sức hút của lối sống hiện sinh và danh tiếng của J.P.Satre, người được mệnh danh là giáo hoàng của chủ nghĩa hiện sinh lan rộng, đến nỗi một khâủ hiệu theo kiểu chủ nghĩa đađa được nêu lên rằng “ mỗi người hiện sinh là một người có Satre ở răng”
Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ đi vào lối sống mà nó có mặt ở cả các cuộc bạo loạn của sinh viên trong tháng Năm – Sáu 1958 tại Paris và ở cả phong trào
“Phản văn hoá” ở Mĩ Trong “cuộc cách mạng vui vẻ” với những festival, những Carnaval nổi lên chủ nghĩa siêu thực trong nghệ thuật , nhiều loại chủ nghĩa phi
Trang 9duy lý kể cả chủ nghĩa hiện sinh, trong lối sống của những hippy Người ta từ bỏ tuyên ngôn của Descartes “tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu” mà thay bằng sự sùng bái
lý trí: “tôi cảm giác vậy tôi hiện hữu” Tư duy bằng lý trí và cảm giác bằng trái tim
1.2 Lịch sử phát triển và các tác gia tiêu biểu
Chủ nghĩa hiện sinh trở thành phong trào văn học và triết học nổi bật củathế kỉ XX, chịu ảnh hưởng của một số nhà triết học thế kỉ XIX Chủ nghĩa hiện sinh
là một trường phái triết học rất phức tạp Quan điểm của những đại biểu triết họcnày thường có sự khác nhau rất lớn Ngoài sự phân biệt quốc gia như chủ nghĩahiện sinh Đức, chủ nghĩa hiện sinh Pháp và chủ nghĩa hiện sinh của Mỹ, còn có thểphân biệt chủ nghĩa hiện sinh theo thái độ với tôn giáo như chủ nghĩa hiện sinh vôthần và chủ nghĩa hiện sinh hữu thần Trên những vấn đề chính trị lớn, giữa nhữngnhà triết học hiện sinh cũng có những khác biệt lớn Nhưng tất cả những ngườitheo chủ nghĩa hiện sinh đều coi sự hiện sinh của cá nhân là nội dung cơ bản trongtriết học của mình, đều coi hiện sinh là sự cảm thụ chủ quan, sự thể nghiệm tâm lý
có tính chất phi lý tính của cá nhân
Việc phân chia các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa hiện sinh chỉ mang tính chất tương đối.Có thể thấy chủ nghĩa hiện sinh phát triển qua hai giai đoạn phát triển
cơ bản:
+ Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến những năm 60, 70 của thế kỷXX.Chủ nghĩa hiện sinh ra đời từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất và phát triển đỉnh cao trong triết học phi lí hiện đại những năm 50-60 của thế kỉ XX.Trong giai đoạn này chủ nghĩa hiện sinh đã đóng vai trò đặc biệt trong việc xác lập cơ sở tư tưởng cho nhiều trào lưu cực tả, như phong trào “phản văn hoá” ở Mỹ.Nó đã góp phần rất quan trọng trong trào lưu triết học phi lí của giai đoạn này
+ Giai đoạn từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX đến nay: Từ cuối những năm
60 đầu những năm 70 đến nay, khi mà chủ nghĩa tư bản đi vào thời kì tương đối ổn địnhthì vai trò của chủ nghĩa hiện sinh tương đối mờ nhạt và bị thay thế bởi các triết họckhác Nhưng vì chủ nghĩa tư bản không có cách nào căn bản thoát khỏi các mâu thuãn
Trang 10xã hội vốn có của nó, nên chủ nghĩa hiện sinh tuy đã suy thoái nhưng những tư tưởngchủ yếu của nó vẫn tiếp tục có ảnh hưởng đến khoa học nhân văn, triết học và khoa học
xã hội ở nhiều nước phương Tây Giải pháp của chủ nghĩa hiện sinh đối với các vấn đề
xã hội cơ bản là tiêu cực.Nhưng các nhà hiện sinh đã đóng vai trò tích cực khi họ đặt ra
và đề cao nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề về bản chất con người, về sự tôn vinh các giátrị con người, về tự do cá nhân, về sự tha hoá do sự thống trị của kĩ thuật v v cũng nhưviệc họ thức tỉnh mọi người phải trăn trở về ý nghĩa của cuộc sống và về các hiện tượngbất hợp lý trong xã hội tư bản hiện đại
Chủ nghĩa hiện sinh đã làm nổi bật các tên tuổi đã tạo ra nó.Các tác gia tiêu biểu, những người đã đóng góp lớn cho trào lưu này có thể kể đến: Paul Sartre Martin Heidegeer, Fyodor Dostoevsky…
1 3 Một số nội dung cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời phản ánh hiện thực xã hội châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Về mặt lí luận, chủ nghĩa hiện sinh tìm thấy những nét tương đồng trong triết học Hi Lạp cổ đại , từ Socrat với câu nói nổi tiếng “Hãy tự biết chính
mình” Tư tưởng đề cao con người này được thể hiện rất rõ trong quan niệm của Ôguyxtanh thời Trung cổ Ông là người bàn nhiều đến con người , đi sâu vào đời sống nội tâm, tâm linh, thân phận con người Đến thời kỳ hiện đại , triết gia
Kiếckơgơ, Haiđơgơ, Macxen…đã chịu nhiều ảnh hưởng của triết học tôn giáo của Ôguyxtanh khi bàn về con người và các nhà hiện sinh đã tập trung bàn về vấn đề bản thể người , tồn tại người - tồn tại hiện sinh Nhìn chung, các nhà hiện sinh đều khai thác tối đa tư tưởng hiện sinh chống duy lý của Kiếckơgơ và sử dụng phương pháp hiện tượng học Hutxec làm công cụ chuyển tải tư tưởng của mình Nói cách khác, chủ nghĩa hiện sinh ra đời kế thừa phương pháp hiện tượng học Đức và triết học
Kiếckơgơ
Về bản thể luận, các nhà hiện sinh lấy con người với hai mặt là hữu thể và hiện
sinh “bản chất và tồn tại” làm đối tượng Hữu thể là những sự vật hiện tượng tồn tại cảm tính , tồn tại hiện thực (cái cây, con , sự vật) nhưng chưa là một cái gì đó cụ thể (chỉ có bản chất mà chưa tồn tại), chưa có diện mạo của riêng mình Đó là một tồn tại
vô hồn, chưa hiện hữu, do đó chưa phân biệt được với sự vật hiện tượng khác Còn hiện sinh thì chỉ có ở con người với bản chất đích thực của nó tức là cái tinh thần ,cái phi lý, phi duy lý thuộc nhân tố bên trong con người Phi lí tính là cái mà con người không phải bắt buộc tuân theo để khẳng định cái tôi của bản thân mình Còn nếu chỉ tuân theo cái duy lí , các nguyên tắc chung của con người sẽ trở nên đơn điệu và vô vị.Bởi vậy, chỉ có vứt bỏ duy lý thì con người mới tìm thấy cuộc sống đích thực, mới tồn
Trang 11tại theo dòng cảm xúc với những giây phút sống thực của mình Như vậy, bản thể là học thuyết về tồn tại người, là thế giới của cá nhân, với tinh thần ý thức riêng biệt của
cá nhân đó Cái hữu thể chỉ là cái vỏ bề ngoài , là vô nghĩa đối với tồn tại người Bản chất đích thực của con người là cái tinh thần thế giới bên trong Thế giới này là của
nó, vì nó và tồn tại đích thực của con người là tồn tại hiện sinh Con người bao giờ cũng lấy hiện sinh, mặt cơ bản của hiện hữu để làm nhân vị của mình Bản tính con người không có sẵn mà luôn được sáng tạo ra.Con người tự nhận thức được về mình,
tự tạo nên mình, làm cho mình trở thành mình Đó là nhân vị, là tính chủ thể của con người
Tính chủ thể biểu hiện tính tự do của con người Chỉ có con người mới có tự do, tự
do có trước bản chất của con người Bản chất chỉ có khi con người bằng sự tự do của mình hành động, dấn thân vào hoàn cảnh, vào đời sống để tạo ra mình Vì vậy tự do không có bản chất nào cả Con người sống là có tự do, không thể tránh khỏi tự do Con người không phải được tự do mà bị tự do hay bị tự do kết án Tự do là lựa chọn Mỗi người trong mỗi hoàn cảnh của mình buộc phải lựa chọn, lựa chọn là tự do, không ai sống mà không tự do lựa chọn Ví dụ, Sactơrơ cho rằng ngay cả khi con người khăng khăng “không lựa chọn gì vẫn là lựa chọn rồi” Mỗi người sống trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau, do đó, không chỉ lựa chọn một lần mà phải lựa chọn nhiều lần trong cuộc đời và chỉ sau khi lựa chọn người ta mới biết anh ta là người thế nào Con người theo chủ nghĩa hiện sinh| “sẽ không gì khác ngoài một chuỗinhững dự định , một tổng số, tập hợp những mối dây liên hiệp của những dự định “và không có dự định cuối cùng” Bản chất con người thay đổi theo hoàn cảnh, điều kiện sống Bởi vậy, “con người luôn luôn trong thời kỳ đang hoàn thành” (Sáctơrơ)
Con người hiện sinh là con người tồn tại với tư cách là bản thể - cái tinh thần bên trong của mình Bản chất đích thực của con người là dòng ý thức hệ liên tục chảy Dòng ý thức này không mang tính xã hội , lập lại người khác mà là những cảm xúc, tình cảm đích thực vốn có của con người Nó bao gồm những ước mơ riêng tư, những khát vọng cá nhân… Tất cả điều này không giống những quy ước chung của xã hội
Đó là phần tối, cái sâu thẳm trong con người hay còn gọi là những đam mê ban đêm Bản thân thế giới tinh thần đó là phi logic, khước từ lí trí, không có tính quy luật, tính phổ quát ở tất cả mọi người Mặt khác, con người sống trong xã hội lại bị ràng buộc bởi những quy định chung như những thói quen, những thành kiến, những thể chế đạođức….đó là những quy pháp ban ngày Hai mặt này trong con người luôn xung đột nhau Con người lại luôn muốn lấy mặt thứ nhất chống lại cái phổ quát, cái do xã hội quy định Từ đó con người đặt ra vấn đề tự do để đòi quyền thể hiện cái hiện sinh của mình Trong cuộc đấu tranh đó con người luôn gặp phải những thất bại, đó là nguồn gốc của những bi kịch, sinh ra đau khổ,bất hạnh cho con người mà không thế lực nào cứu vớt được Vì thế, con người bị bỏ rơi một mình đi giữa đường đời, không trăng, không sao, không có định hướng Trên con đường đó con người gặp nhiều sự đe dọa làm con người lo âu, sợ hãi Nhiều thế lực đe doạ con người nhưng họ không thể cắt
Trang 12nghĩa nổi mà buộc phải tuân theo làm cho nỗi lo âu trở nên bất tận Trong ý thức con người, cuộc đời, xã hội làm phi lí Con người không muốn chấp nhận một xã hội như vậy mà gọi nó là “buồn nôn” Cái lo âu nhất của con người là cái chết và khi con người không siêu việt Siêu việt chính là thước đo chiều sâu của hiện sinh Nhưng muốn siêu việt con người phải có tự do, đạt tới tự do, có nghĩa là bất chấp cái phổ quát Tự do là bản chất lớn nhất của con người, là lí tưởng của con người
Như vậy tồn tại bản thể con người không phải là mặt sinh vật hay xã hội mà
là yếu tố chủ quan, cá nhân riêng biệt, yếu tố tinh thần, ý thức tồn tại trong con người
Và giải phóng con người là giải phóng mặt hiện sinh đó Với chủ nghĩa hiện sinh cá nhân không phải là đối tượng của người khác, không có vấn đề của các cá nhân quan
hệ với nhau tạo nên xã hội Mỗi cá nhân đều có một hiện sinh, một bản thể duy nhất đích thực và “tôi chỉ hiện sinh khi tôi không còn hiện sinh nữa
Về nhận thức luận, các nhà hiện sinh cho rằng, tiến bộ khoa học kỹ thuật phá
hoại tự nhiên, gây chết chóc cho con người nên họ phủ nhận nhận thức khoa học đề cao trực cảm cá nhân Theo họ, những kết luận khoa học hoàn toàn mang tính duy lý khô khan, nghèo nàn đánh mất cái hiện sinh Mặt khác, nhận thức khoa học nhằm pháthiện cái bản chất nhưng với chủ nghĩa hiện sinh, “bản chất có sau hiện sinh” do đó nhận thức chỉ là cái đuôi, không đi sâu vào nguồn gốc, cội rễ con người Nếu con người sử dụng tri thức khoa học thì sẽ bị lệch lạc và đánh mất mình, bị tha hoá và không còn hiện sinh nữa Không quan tâm đến nhận thức về thế giới khách quan, chủ nghĩa hiện sinh chỉ quan tâm đến nhận thức của chính bản thân con ngườimình, cái đích thực của mình để khẳng định sự tồn tại hiện sinh Con đường để nhận thức hiện sinh là phi lý tính, phi khoa học, dựa vào cảm nhận trực giác với những lo âu, buồn nôn, tuyệt vọng, sợ hãi…, nhận thức thế giới bên trong, những cảm xúc muôn hình nhiều vẻ của mình Muốn nhận thức được, con người phải dựa vào chính mình, tự mình quyết định mình, tự nhận thức đó là chân lý
Vấn đề đạo đức, xuất phát từ quan niệm hiện sinh, các nhà hiện sinh phủ nhận
mọi nguyên tắc và quy tắc đạo đức trong xã hội Giá trị từng cá nhân thể hiện ở sự lựa chọn của cá nhân trong hành động, hành vi của mình Vì vậy, để khôi phục hiện sinh chân chính, con người phải thoát khỏi mọi ràng buộc của xã hội và những người khác.Điều này nói lên đạo đức của chủ nghĩa hiện sinh là sự thể hiện của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do cực đoan Theo các nhà hiện sinh, tự do là vô bờ bến, vô cùng tận, không có giới hạn, không bao giờ hết nên cuộc đời con người cũng là vô đích, không có ý nghĩa Con người với tư cách hiện sinh chỉ biết được hướng đi của cuộc đời mà không thể biết được cái đích của nó Mà cái gì không có đích là không có giới hạn, là vô cùng tận, và như vậy sự khổ đau của con người cũng không có giới hạn, là
vô cùng tận, con người không bao giờ hết khổ Dưới con mắt của nhà hiện sinh, mỗi người phải tự mình đi vào cuộc đời, cô đơn đi giữa cuộc đời, không bấu víu ai, không
dựa vào cái gì
Trang 13Về lịch sử xã hội, từ quan niệm đạo đức, chủ nghĩa hiện sinh khuyến khích các
cá nhân thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội Xã hội đối với nhà hiện sinh chỉ là một sự hỗn tạp ngẫu nhiên, không có quy luật Động lực phát triển xã hội
Chương 2 Những biểu hiện của triết học hiện sinh trong tư tưởng Hồ Xuân
Hương
2 1 Cuộc đời và sự nghiệp của của Hồ Xuân Hương
2.1.1 Hoàn cảnh kinh tế xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Hồ Xuân Hương sống vào cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, đây là giai đoạn có nhiều biến động chính trị.Đó là giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến, những cuộc đấu tranh diễn ra liên tục của quần chúng nhân dân “Gần 900 năm trôi qua,Ngô Quyền đã đánh đuổi người Tàu để giành lại độc lập cho Việt Nam, dẫu sao đi nữa, vẫntheo khuôn mẫu triều đình Trung Hoa và hệ thống quan lại của nó.Đến cuối thời Lê trật tự xã hội theo Khổng Tử đã thoái hoá và bở vụn.Ở miền Bắc,phe cánh đầy uy quyền của chúa Trịnh đã khống chế vua Lê và triều đình thời đó ở Hà Nội,đồng thời chúa Trịnh tiến hành chiến tranh với nhà Nguyễn,vốn có triều đình tại phía Nam Huế
và được hỗ trợ bằng vũ khí của Bồ Đào Nha và quân Pháp do các nhà truyền giáo thuộc địa tuyển mộ.Cuối cùng, sau vài thập kỉ hỗn loạn tàn bạo, năm 1771, ba anh em,được biết tới với cái tên Tây Sơn, bắt đầu cuộc nổi dậy của nông dân đánh bại chúa Trịnh, vua Lê và nhà Nguyễn,chiếm lấy thành Thăng Long (Hà Nội), Huế và Sài Gòn,xây dựng nên một triều đại ngắn ngủi của mình (1788 - 1802) rồi cũng sớm mất vào tay nhà Nguyễn…” (Jonh Balaban) Trong giai đoạn lịch sử ấy, con người không tránh khỏi cảnh loạn li, đau khổ.Bản thân các nhà thơ giai đoạn đó đều bày tỏ tâm trạng mất phuơng hướng, giống như Tố Hữu đã từng viết về thi hào Nguyễn Du:
Ngẩn ngơ trông ngọn cờ đàoTrời đêm đâu biết gửi mình nơi nao(Kính gửi cụ Nguyễn Du)
Trang 14Đó là giai đoạn mà những sĩ phu yêu nước băn khoăn giữa việc lựa trọn về chữ trung.Đối với cụ Nguyễn Du thì việc tiếp tục giữ chữ trung với nhà Lê đã mục nát haytheo nhà Tây Sơn khỡi nghĩa là những trăn trở khó giải đáp nổi.Bên cạnh đó là hang loạt những tên tuổi khác như : Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm…Họ cũng lăn lộn với chính trị, coi chính trị như cái nghiệp của mình.Còn Hồ Xuân Hương,phải chăng vì bà
là một phụ nữ, theo lễ giáo phong kiến thì phụ nữ không có quyền lực gì trong xã hội cũng như trong gia đình nên cách bày tỏ nỗi lòng của bà cũng khác.Thơ Hồ Xuân Hương không chỉ nói lên sự bất lực trước thời cuộc, mà còn nói lên tiếng nói của người phụ nữ bị trói buộc trong xã hội cũ
2.1.2 Tiểu sử Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế
kỷ XIX Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ, làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Cha của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh (1706 - 1783) ở làng Quỳnh Đôi, Nghệ An Mẹ của Hồ Xuân Hương là vợ lẽ của Hồ Sĩ Danh , họ Hà, quê
ở Bắc Ninh.Hồ Xuân Hương sinh trương ở đất Bắc.Cha mẹ nhà ở phường Khán Xuân,huyện Vĩnh Thuận, Hà Nội
Trong bài viết “Đời tức là văn,văn tức là đời” của tác giả Xuân Diệu thì cuộc đời Hồ Xuân Hương tạm chia thành các giai đoạn sau:
Thời con gái đi học chữ Nho.Theo một số cuốn sách thì sau khi cha mất, nàng
được mẹ nuôi ăn học.Đây có lẽ là giai đoạn quan trọng đối với sự nghiệp của bà
Thời Tổng Cóc.Cứ nghe qua bài thơ Xuân Hương khóc Tổng có thì cũng đủ để
nhận định rằng thời gian này cuộc sống của bà không có hạnh phúc:
Trang 15Bài thơ này hiện nay vẫn gây ra nhiều tranh cãi vì có hai luồng ý kiến về
nó.Một số nhà phê bình cho rằng bài thơ được viết khi Tổng Cóc đã qua đời.Một số khác lại khẳng định, Hồ Xuân Hương viết bài thơ này khi Tổng Cóc vẫn còn sống, bàithơ như một lời từ biệt với người chồng nhu nhược, không bảo vệ nổi mình.Những dẫu được viết trước hay sau khi Tổng Cóc qua đời thì bài thơ cũng không dấu nổi sự đau khổ của bà khi lấy Tổng Cóc “Xuân Hương phải khổ lắm mới người này thì mới phải lấy cái tên “Cóc” ra mà đay nghiến “Nòng nọc đứt đuôi”, Xuân Hương bảo TổngCóc chết hẩn đi, chết không phản hồi; Xuân Hương muốn chôn Tổng Cóc hai lần, và bôi vôi vào, đánh dấu vào, thật là đào sâu chôn chặt”.(Xuân Diệu)
Thời ông phủ Vĩnh Tường.Hồ Xuân Hương làm lẽ ông phủ Vĩnh
Tường.Trong cảnh lẽ mọn đó, bà cũng không tìm thấy hạnh phúc.Đến nỗi phải thốt lên rằng :
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Thời Chiêu Hổ.Đây có lẽ là thời gian hạnh phúc nhất của bà.Trong dân gian có
rất nhiều giai thoại xoay quanh mối quan hệ này.Từ những giai thoại ấy có thể thấy mối quan hệ đó bình đẳng lạ lùng Những bài thơ xướng hoạ giữa hai người không hề thể hiện sự khác biệt nào, Hồ Xuân Hương không cho mình là phận nữ nhi “đào tơ liễu yếu” chịu thua cánh đàn ông, mà đối đáp từng câu từng chữ, quyết không chịu thua
Thời đi dạo.Sau khi thất bại trong tình yêu, Hồ Xuân Hương hay đi đây, đi đó,
từng trải nhiều danh lam thắng cảnh ở Bắc, Trung và tiếp xúc nhiều với khách văn chương
Cho đến nay, tiểu sử của nữ sĩ Xuân Hưong vẫn còn là vấn đề gây tranh
cãi.Có lẽ bởi Hồ Xuân Hương đặc biệt quá.Số phận của bà và số phận những bài thơ tài hoa của nữ sĩ bị vùi dập trong khuôn khổ chật hẹp của chế độ phong kiến.Nhưng nhân dân yêu bà, yêu thơ bà nên đã bảo vệ nữ sĩ, bảo vệ những bài thơ ấy.Vì vậy, rất ítnhững dẫn chứng xác thực về Hồ Xuân Hương, trong khi giai thoại thì quá nhiều.Cách
Trang 16tiếp cận tiểu sử Hồ Xuân Hương nói trên chủ yếu dựa vào các sáng tác của nữ sĩ và các giai thoại dân gian truyền tụng.Do khuôn khổ của đề tài chúng tôi không tập trungnghiên cứu những tiểu tiết trong cuộc đời bà mà chỉ tập trung vào lĩnh vực tư tưỏng , phong cách sống và những mốc quan trọng trong cuộc đời tác giả.Từ đời ấy, từ thơ ấy
có thể kết luận: Hồ Xuân Hương là một phụ nữ tài hoa, có cá tính mạnh mẽ nhưng đời
tư lại có nhiều bất hạnh Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy
chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc
2.1.3 Sự nghiệp của Hồ Xuân Hương
Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng.Đến nay nhiều tác giả vì yêu mến tài năng của nữ sĩ
và bằng tâm huyết với nghề văn đã tập hợp những bài thơ Nôm của bà biên soạn thành các cuốn sách tuyển tập, nhờ đó những người yêu thơ có thể tìm dọc dễ dàng như: Hồ Xuân Hương – thơ và đời,Hồ Xuân Hương tuyển tập …
Năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã công bố 5 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân
Hương trên báo Văn nghệ viết về vịnh Hạ Long Đến năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch và đặt tên cho 5 bài thơ này (bao gồm: Độ Hoa Phong, Hải ốc trù,
Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thuỷ vân hương) và công bố trong bài Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, đăng trên tập san Khoa học xã hội, tại Paris vào năm
1984
Kế đến, 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ nữa tên là
Lưu hương ký ( 琉香記), theo những nghiên cứu đến nay nhiều người tán thành
rằng những bài thơ trong đó là của Hồ Xuân Hương
Lưu Hương Kí là tập thơ có nội dung tình yêu gia đình, đất nước, nó không thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, cho nên, việc nghiên cứu giá trị thơ
Hồ Xuân Hương chủ yếu được thực hiện trên những bài thơ Nôm truyền tụng của bà
2.2 Những biểu hiện của triết học hiện sinh trong tư tưởng Hồ Xuân
Hương
2.2.1 Khát vọng tự do cá nhân