TỔNG QUAN VỀ NỀN NÔNG NGHIỆP TRỒNG
Vai trò việc trồng cây ăn quả
I.1.1 Vai trò, vị trí của việc trồng cây ăn quả
- Cung cấp cho người tiêu dùng: Cung cấp quả cho con người
- Cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến đồ hộp, nước giải khát
Trồng cây ăn quả không chỉ nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm, đồng thời tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân.
Nghề trồng cây ăn quả đã có bề dày lịch sử, với việc người dân tích lũy kinh nghiệm quý báu và chọn lọc nhiều giống cây có năng suất và chất lượng cao.
- Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, có tiềm năng phát triển nghề trồng cây ăn quả
- Do đó nước ta rất phong phú về chủng loại cây ăn quả và kinh nghiệm trồng cây ăn quả cũng có từ lâu đời
Nghề trồng cây ăn quả đang phát triển mạnh mẽ nhờ vào những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Hoạt động này không chỉ mang lại thu nhập đáng kể cho người dân mà còn đóng góp tích cực vào nền kinh tế của mỗi quốc gia.
⇒ Do đó, nghề có một vị trí quan trọng không thể thay thế trong nền nông nghệp việt nam
I.1.2 Đặc điểm và những yêu cầu của việc trồng cây ăn quả đối với ngành nông nghiệp việt nam
1 Đặc điểm của nghề: a Đối tượng lao động:
Cây ăn quả lâu năm có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao b Nội dung lao động:
Công việc trong nông nghiệp bao gồm nhân giống, làm đất, giao trồng, chăm bón, thu hoạch, bảo quản và chế biến Dụng cụ lao động cần thiết cho các hoạt động này bao gồm cuốc, xẻng và cày Điều kiện lao động phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết, nông hóa và tư thế làm việc Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là các loại quả như cam, chanh, mít, nhãn, vải và xoài.
2 Yêu cầu của nghề đối với người lao động: a Phải có tri thức về các ngành khoa học có liên quan (Sinh, hoá, KTNN…) và có kỹ năng cơ bản về nghề trồng cây ăn quả b Lòng yêu nghề, chịu khó tìm tòi c Có sức khoẻ tốt, khéo léo…
Yêu cầu nào cũng quan trọng và rất cần thiết, không thể thiếu một yêu cầu nào nếu muốn có kết quả trồng tốt nhất
Để thành công trong nghề trồng cây ăn quả, cần phải có niềm đam mê với nghề, yêu thiên nhiên, và tinh thần cần cù, chịu khó Sự ham học hỏi và tính sáng tạo là yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả trồng trọt Nếu không yêu nghề, sẽ khó có được sự sáng tạo và học hỏi, dẫn đến việc dù có kiến thức vẫn không thể đạt được kết quả tốt nhất trong trồng cây.
3 Triển vọng của ngành nông nghiệp trồng cây ăn quả
Nghề trồng cây ăn quả được khuyến khích phát triển nhằm tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động, đồng thời góp phần tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước.
Để thực hiện hiệu quả vai trò của nghề trồng cây ăn quả, cần tập trung vào việc xây dựng và cải tạo vườn cây theo hướng thâm canh và chuyên canh, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đồng thời thiết lập các chính sách phù hợp và tăng cường đào tạo, huấn luyện cán bộ kỹ thuật.
Thị trường trái cây Việt Nam,nguồn sản xuất và tiêu thụ chính
Hình 1.1 Khu vực trồng cây ăn quả đặc trưng trên cả nước
Trong những năm gần đây, trái cây Việt Nam đã xuất hiện trên nhiều thị trường quốc tế, nhưng sản lượng xuất khẩu vẫn chưa đạt được tiềm năng tối đa Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng sản lượng trái cây thu hoạch trên toàn quốc hiện đã vượt qua 7 triệu tấn, với sự tăng trưởng nhanh chóng so với 7-8 năm trước Trong số các loại trái cây, chuối là loại có sản lượng thu hoạch lớn nhất, tiếp theo là cam, quýt, nhãn, dứa, xoài, vải thiều và thanh long.
Thị trường tiêu thụ nội địa vẫn chiếm tới 90% sản lượng trái cây tại Song, dẫn đến giá bán thấp và tỷ lệ xuất khẩu chỉ đạt 10%, trong đó trái cây tươi chiếm khoảng 5-6% Điều này khiến giá trị kim ngạch xuất khẩu không cao Ngược lại, tỷ lệ nhập khẩu trái cây đã liên tục tăng với mức hai con số trong những năm qua Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng qua, doanh nghiệp đã nhập khẩu 134 triệu USD rau quả, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước, với nhiều loại trái cây như táo, cam, quýt, mận, nho, và lựu từ Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Mỹ và New Zealand tràn ngập trên thị trường Việt Nam.
Bảng 1.1 Thị trường trái cây xuất khẩu mạnh ở Việt Nam
Phó cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông - lâm - thủy sản (Bộ NN&PTNT) cho biết, mặc dù trái cây Việt Nam đã xuất khẩu sang 50 quốc gia, nhưng vẫn chưa chiếm lĩnh được thị trường châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, chủ yếu tập trung vào xuất khẩu sang Trung Quốc và Campuchia Đáng chú ý, trái cây Việt Nam thường bị ép giá khi xuất khẩu sang Trung Quốc, dẫn đến tình trạng lép vế trong thương mại quốc tế.
Từ ngày 1/7, chính sách kiểm soát nguồn gốc trái cây giữa Việt Nam và Trung Quốc đã ảnh hưởng đến xuất khẩu, khiến doanh nghiệp trong nước e dè, dẫn đến sự giảm sút đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu Một số doanh nghiệp vì lợi nhuận đã kinh doanh không lành mạnh, trà trộn trái cây kém chất lượng vào lô hàng xuất khẩu, làm tổn hại đến uy tín trái cây Việt Nam Hệ quả là nhiều thị trường đã đóng cửa, không cho phép nhập khẩu sản phẩm trái cây từ Việt Nam Hơn nữa, việc thiếu vùng chuyên canh và sự liên kết lỏng lẻo giữa nông dân và doanh nghiệp đã khiến khó khăn trong việc đáp ứng các đơn hàng lớn, dẫn đến sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu là điều dễ hiểu.
Kim ngạch xuất khẩu trái cây Việt Nam trong 7 tháng qua đã giảm 30% so với cùng kỳ năm ngoái, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường và ký hợp đồng mới Để cải thiện tình hình, cần đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng sản xuất trái cây, mở rộng hợp tác và quảng bá sản phẩm ra thị trường quốc tế Đồng thời, việc nhanh chóng ký kết các hiệp định kiểm dịch thực vật sẽ giúp trái cây Việt Nam thâm nhập vào các thị trường khó tính như Mỹ, Úc, Nhật Bản và EU.
Để phát triển bền vững ngành trái cây, cần sự hợp tác chặt chẽ giữa "bốn nhà": Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông trong toàn bộ chuỗi từ nghiên cứu, sản xuất đến tiêu thụ Theo Phó cục trưởng Cục Trồng trọt, việc khắc phục tình trạng buông lỏng quy hoạch là rất quan trọng, nhằm tránh tình trạng nông dân đổ xô trồng cây ăn quả theo phong trào Nhà nước cần quy hoạch lại các vùng trồng cây ăn trái theo hướng tập trung và quy mô lớn, đảm bảo tiêu chuẩn sạch, nhằm tạo ra sản phẩm dồi dào cho các cơ sở chế biến xuất khẩu, đồng thời duy trì tính chất "liên kết vùng".
Mỗi vùng và tỉnh chỉ được phép trồng một hoặc hai loại cây đặc sản có lợi thế cạnh tranh cao để tránh tình trạng dư thừa và giảm giá Cần có chính sách và giải pháp về giống cây ăn trái, liên tục lai tạo giống mới với năng suất và chất lượng cao hơn, cùng với đầu tư công nghệ bảo quản sau thu hoạch Đặc biệt, xây dựng vựa thu gom và bảo quản trái cây theo tiêu chuẩn sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm và giảm giá thành là yếu tố quan trọng để xuất khẩu trái cây Việt Nam, nhất là khi các nước ngày càng thắt chặt kiểm soát.
DUT-LRCC chất lượng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và an toàn vệ sinh trong trái cây nhập khẩu
Có thực hiện tốt những giải pháp trên thì trái cây mới mong đạt mục tiêu xuất khẩu 760 triệu USD trong năm 2010 mà Bộ NN&PTNT đã đưa ra
Diện tích cây ăn quả của Việt Nam hiện đạt 786 nghìn ha, với vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm 37,9% tổng diện tích, tương đương 298 nghìn ha, trong khi Đông Nam Bộ đứng thứ hai với 187 nghìn ha (23,8%) Mặc dù tốc độ phát triển diện tích cây ăn quả chỉ đạt hơn 1% mỗi năm trong những năm gần đây, nhưng nhờ vào tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi giống cây trồng và nâng cao trình độ canh tác, năng suất và sản lượng cây ăn quả đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 3-4% mỗi năm.
Trong thời gian qua, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là quy hoạch vùng sản xuất cây ăn quả và phát triển ngành cây ăn quả Những chính sách này đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của sản xuất, hướng tới an toàn và bền vững thông qua việc áp dụng tiêu chuẩn VietGAP và khuyến khích sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP Điều này không chỉ nâng cao nhận thức của người sản xuất và tiêu dùng về tiêu chuẩn chất lượng mà còn tạo ra một nền sản xuất an toàn, có thể truy xuất nguồn gốc, từ đó tăng tính cạnh tranh cho trái cây Việt Nam trên thị trường.
Nhà nước đã đầu tư cho các Viện nghiên cứu giống và biện pháp kỹ thuật nhằm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực trái cây Các doanh nghiệp cũng ngày càng tham gia vào sản xuất để đảm bảo đầu ra Kết quả là giá trị xuất khẩu hàng năm tăng mạnh, từ 90,2 triệu USD năm 1996 lên hơn 1 tỷ USD vào năm 2013, và ước tính đạt 1,47 tỷ USD năm 2014, tăng 34,9% so với năm trước Trong 11 tháng đầu năm 2014, Việt Nam xuất siêu rau quả khoảng 882 triệu USD, với 40 loại quả được xuất khẩu đến 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Hình 1.2 Biểu đồ diện tích canh tác các loại trái cây xút khảu ở Việt Nam
Trong Quy hoạch phát triển cây ăn trái, Bộ NN-PTNT xác định 12 cây ăn quả chủ lực, bao gồm thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng, vú sữa, bưởi, nhãn, chuối, dứa, cam, mãng cầu và quýt Đến năm 2020, tổng diện tích trồng cây ăn quả chủ lực đạt 257 nghìn ha, chiếm 52% tổng diện tích quy hoạch ở Nam Bộ, với hơn 185 nghìn ha tại ĐBSCL và 72 nghìn ha tại Đông Nam Bộ Xoài dẫn đầu về diện tích trồng với gần 46 nghìn ha, theo sau là nhãn với 30 nghìn ha và chuối.
Tổng diện tích trồng cây ăn trái ở Việt Nam bao gồm bưởi 29 nghìn ha, ổi 28 nghìn ha, cam 26 nghìn ha, thanh long 25 nghìn ha, dứa 21 nghìn ha, chôm chôm 18 nghìn ha, sầu riêng 15 nghìn ha, mãng cầu 8.300 ha, quýt 5.850 ha và vú sữa 5.000 ha.
Theo quy hoạch của Bộ NN-PTNT, hai mục tiêu chính được đặt ra là phát triển ngành hàng trái cây chủ lực tại Nam Bộ theo hướng sản xuất hàng hóa lớn và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Đến năm 2020, năng suất trung bình của cây ăn quả chủ lực dự kiến tăng 20% - 25% so với năm 2012, với 100% sản phẩm đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm, trong đó hơn 50% đạt tiêu chuẩn chất lượng GAP Đồng thời, các biện pháp rải vụ thu hoạch cho năm loại trái cây: thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng và nhãn sẽ được thực hiện để tăng hiệu quả sản xuất Mục tiêu cũng bao gồm việc tăng chủng loại, sản lượng và giá trị xuất khẩu trái cây của vùng trồng tập trung ở Nam Bộ lên trên 70%.
Mỗi ha cây ăn quả chủ lực có thể mang lại doanh thu lên đến 150 triệu đồng/năm Việc phát triển bền vững các loại cây này không chỉ giúp tái cơ cấu ngành trồng trọt mà còn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Điều này góp phần nâng cao giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị diện tích đất, từ đó tăng thu nhập cho nông dân.
DUT-LRCC đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các cơ sở thu mua, bảo quản, và tiêu thụ trái cây tại Việt Nam Bắt đầu từ năm 2015, nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu đã được giảm thuế theo các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia, điều này mang lại nhiều cơ hội cho ngành hàng rau quả Việt Nam cũng chính thức gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015 và thực hiện Hiệp định Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) từ 2015-2018 Ngoài ra, việc đàm phán gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) cùng với các hiệp định thương mại tự do khác như FTA với Liên minh châu Âu và Hàn Quốc, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngành rau quả Việt Nam mở rộng sản xuất và thị trường xuất khẩu toàn cầu khi thuế quan được cắt giảm.
Tuy nhiên, vấn đề này cũng đặt ra không ít thách thức trong cạnh tranh với các nước sản xuất có cùng ngành hàng trong khu vực
Bởi vậy, Nhà nước cần Quy hoạch tổng thể, các tỉnh nên cụ thể hóa cho tỉnh mình, chọn một vài sản phẩm chủ lực;
Các loại trái cây có dạng hình cầu
Có tên khoa học là Chrysophyllum cainito L, thuộc họ hồng xiêm
Quả vú sữa có hình dáng cầu hơi thuôn, với màu vàng nhạt và phần vỏ xanh nhạt Đặc điểm nổi bật của quả là vị ngọt béo và hương thơm đặc trưng.
Diện tích: Vú sữa trồng hiện nay ở Tiền Giang là 3.200 ha
Sản lượng: 19 tấn/ha – 60.000 tấn/năm
Trọng lượng: 250 – 350g/trái, khoảng 4 trái/kg
Mùa vụ: từ tháng 12 đến tháng 3 dương lịch
Vú sữa Lò Rèn hiện đang được trồng theo tiêu chuẩn VietGap và đã được chứng nhận sản xuất nông nghiệp bền vững theo tiêu chuẩn GlobalGAP bởi tổ chức SGS của New Zealand Sản phẩm cũng đã được cấp mã nhà đóng gói cho thị trường Mỹ bởi cơ quan USDA Office.
Hiện nay, đặc sản vú sữa Lò Rèn được trồng chủ yếu tại 13 xã phía Nam Quốc lộ I của huyện Châu Thành, bao gồm các xã như Bàn Long, Kim Sơn, Vĩnh Kim, Phú Phong, Song Thuận, Long Hưng, Bình Trưng, Đông Hoà, Hữu Đạo, Thạnh Phú, Dưỡng Điềm, Nhị Bình Ngoài ra, một số xã lân cận của huyện Cai Lậy như Mỹ Long, Long Tiên và Tam Bình cũng tham gia vào việc trồng loại trái cây đặc sản này.
Cam sành, một giống cây ăn quả thuộc chi Cam chanh, có nguồn gốc từ Việt Nam và quả gần giống quả cam Đặc điểm dễ nhận diện của quả cam sành là lớp vỏ dày, sần sùi, có màu lục nhạt khi chưa chín và chuyển sang sắc cam khi chín, với các múi thịt màu cam Giống cây này được biết đến với nhiều tên khoa học khác nhau như Citrus nobilis, Citrus reticulata và Citrus sinensis, thực chất là một giống lai tự nhiên giữa C reticulata.
C sinensis (tên tiếng Anh: king mandarin)
Hình 1.4 Hình ảnh trái cam sành
Cam sành Bố Hạ, trồng tại Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, phát triển tốt trên đất phù sa cổ và trong khí hậu mát ẩm Tuy nhiên, hiện nay, vùng cam này đang đối mặt với nguy cơ mất mát do bệnh vàng lá greening.
Cam sành Hà Giang, Tuyên Quang và Yên Bái là vùng trồng cam nổi bật ở phía Bắc Việt Nam, với năng suất cao và quả được thu hoạch vào dịp Tết Tại tỉnh Tuyên Quang, cam sành Hàm Yên được biết đến nhiều nhất, với diện tích trồng lớn tại xã Phù Lưu và các xã lân cận, mang lại năng suất và chất lượng quả cam thơm ngon.
Tại miền Nam Việt Nam, cam sành cũng được trồng ở Tam Bình, Trà Ôn (Vĩnh Long); Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo (Tiền Giang); Mỹ Khánh, Ô Môn (Cần Thơ)
Hay còn gọi là dây mát, chùm bao trứng, chanh leo, Passiflora edulis là một loài dây leo thuộc họ Lạc tiên Cây này có nguồn gốc từ các nước Nam Mỹ và được biết đến với nhiều lợi ích dinh dưỡng và sức khỏe.
Mỹ (Argentina, Paraguay và Brasil) nhưng đã phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới
Chùm bao trứng là dây leo thân cỏ, mọc dài đến 6 mét Cây ra hoa tháng 6 đến tháng
7, và kết quả vào tháng 10, 11 [2]
Hình 1.5 Hình ảnh trái chanh dây
Quả dạng hình cầu, khi chín trở màu vàng hoặc đỏ tía thẫm Trong quả mọng nước, có nhiều hột
Có hai giống khác nhau khá rõ rệt:
Quả vàng nhạt, hay còn gọi là Golden Passion Fruit, có kích thước tương đương với quả bưởi chùm, với vỏ nhẵn bóng và màu sắc nhạt Loại quả này có vị chua đặc trưng và tại Úc, nó được sử dụng làm gốc ghép cho giống quả màu đỏ tía.
Quả có màu đỏ tía thẫm, kích thước gần bằng quả chanh tây, ít chua hơn so với giống màu vàng và có hương thơm mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, vỏ của loại quả này có thể chứa glycoside cyanogenic.
Cam Vinh là một loại trái cây đặc sản của Vinh, Nghệ An, Việt Nam, thuộc chi Cam chanh, nổi bật với hình dáng tròn đều, mọng nước và màu vàng tươi chanh pha xanh Quả cam Vinh có phần tép vàng nhẹ, khác biệt với màu vàng cam thông thường Thời gian thu hoạch cam Vinh chỉ từ tháng 9 âm lịch đến Tết, trong khi cam bán vào mùa khác thường là cam Trung Quốc giả danh Cam Vinh được ưa chuộng để ăn tươi, ép lấy nước, làm sinh tố, và phần vỏ còn được sử dụng để chiết xuất tinh dầu, trong khi hạt cam có thể dùng để làm nước gội đầu.
Hình 1.6 Hình ảnh trái cam vinh
Cam, với tên khoa học là Citrus sinensis, có chỉ dẫn địa lý “Vinh” và bao gồm 3 giống cam đặc trưng: Cam Xã Đoài, Cam Vân Du và Cam Sông Con Những giống cam này là bản địa, được trồng ổn định tại Nghệ An từ cuối thế kỷ 19, được người dân lựa chọn và duy trì qua nhiều thế hệ cho đến nay.
Cây có múi, đặc biệt là cam Vinh, ưa thích khí hậu á nhiệt đới, cho phép trồng ở những vùng có điều kiện khí hậu tương tự Cam có thể phát triển tốt trong nhiệt độ từ 12 đến 39 độ C, với mức nhiệt độ lý tưởng từ 23 đến 29 độ C Khi nhiệt độ giảm xuống dưới 12,5 độ C hoặc vượt quá 40 độ C, cây sẽ ngừng sinh trưởng.
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và hoạt động sống của cây, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng quả.
Có nhiều loại trái cây hình cầu, nhưng để phân loại cụ thể, cam Vinh là lựa chọn tối ưu nhờ vào hình dáng, kích thước đồng nhất và giá cả hợp lý.
Quy trình thu hoạch cam vinh
Trước mùa thu hoạch cam, các nhà vườn cần giám định sản lượng để lập kế hoạch thu hái, đóng gói và vận chuyển Thời gian giám định diễn ra khi quả đã phát triển đầy đủ, khoảng một tháng trước khi thu hoạch Ngoài ra, việc chuẩn bị các dụng cụ thu hái như rổ, sọt, bao bì và kéo cắt quả cũng rất quan trọng.
Thời gian thu hoạch trái cây phụ thuộc vào giống, với thời điểm lý tưởng khi 1/3 vỏ quả chuyển màu vàng Cần thu hoạch vào ngày nắng ráo và tránh để quả chín lâu trên cây để tránh tình trạng xốp Sử dụng kéo cắt sát cuống quả một cách nhẹ nhàng để bảo vệ túi tinh dầu, giúp quả không bị hỏng trong quá trình bảo quản Sau khi thu hoạch, quả cần được đưa vào lán trại để phân loại, lau sạch và vận chuyển ngay đến nơi bảo quản hoặc tiêu thụ Lưu ý rằng sản phẩm thu hoạch nên được bán trong ngày để đảm bảo chất lượng và tránh hư hỏng.
Thu hoạch quả khi đã già, với vỏ hơi vàng đặc trưng của giống Nên thu hái vào thời điểm trời râm mát và khô ráo Sau khi thu hoạch, quả cần được phân loại Khi vận chuyển đi xa, nên đóng gói trong sọt hoặc thùng không quá 5 lớp, và cần lót rơm hoặc giấy giữa các lớp quả để bảo vệ.
Hình 1.7 Người dân thu hái cam
Tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá chất lượng và yêu cầu về kích cỡ cam
I.5.1.Tiêu chuẩn về cam tươi
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1873:2007 tương ứng với CODEX STAN 245:2004, cho phép khử xanh cam miễn là các đặc tính cảm quan tự nhiên khác không bị thay đổi.
I.5.2 Tiêu chuẩn về độ chín Độ chín của cam được xác định theo các thông số sau:
- Lượng dịch qủa tối thiểu, dược tính tương ứng với tổng khối lượng của quả và sau khi ép dịch quả bằng dụng cụ ép bằng tay
Cam được phân thành ba hạng: Hạng đặc biệt, yêu cầu chất lượng cao nhất với hình dạng, màu sắc và kích thước đặc trưng cho từng giống hoặc loại thương mại, không có khuyết tật lớn ảnh hưởng đến chất lượng và cách trình bày Hạng I có chất lượng tốt, cho phép khuyết tật nhẹ nhưng vẫn đảm bảo không ảnh hưởng tới mã quả, chất lượng và cách trình bày khi bao gói.
- Khuyết tật nhẹ về hình dáng
- Khuyết tật nhẹ về màu sắc
- Chênh lệch kích thước tiêu chuẩn không nhiều
Hạng II bao gồm những quả cam không đáp ứng được các tiêu chí về hình dáng, kích thước, màu sắc và các tiêu chuẩn khác so với các hạng cao hơn.
Các tiêu chuẩn về kích thước trong xuất nhập khẩu trái cây
Kích cỡ được xác định thoe đường kính lớn nhất của quả, được quy định trong bảng sau:
Mã kích cỡ Đường kính (mm)
Bảng 1.2 Quy định về kích thước của cam vinh
Không kể cam có đường kính dưới 53 mm
Cam có thể được đóng theo số lượng và cần đảm bảo kích cỡ quả đồng màu theo yêu cầu bản lề Dải kích cỡ trong một bao gói có thể khác với mã kích cỡ đơn, nhưng phải nằm trong khoảng hai mã kích cỡ liền kề.
Sự đồng đều về kích cỡ đạt được bởi thang kích cỡ đã nêu ở trên, trừ khi có các quy định khác, như sau:
Quả được xếp theo các lớp đồng đều trong bao gói, bao gồm cả các đơn vị bao gói để tiêu thụ, yêu cầu độ lệch tối đa giữa quả nhỏ nhất và lớn nhất trong cùng một mã kích cỡ, hoặc trong trường hợp cam đóng theo số lượng, giữa hai mã liền kề, không vượt quá giá trị tối đa quy định.
Mã kích cỡ Chênh lệch tối đa giữa các quả trong cùng 1 bao, gói hay thùng
Bảng 1.3 Mã chênh lệch kích cỡ trái cây trong cùng 1 lô sau khi phân loại
Các quả không được xếp theo lớp trong bao bì và các quả đơn trong bao bì bán trực tiếp cho người tiêu dùng phải đảm bảo rằng chênh lệch giữa quả nhỏ nhất và quả lớn nhất trong cùng một bao bì không vượt quá dải kích cỡ thích hợp Đối với trường hợp cam được đóng theo số lượng, chênh lệch này không được vượt quá một trong hai dải kích cỡ liền kề tính theo đơn vị mm.
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
Sự phát triển nhanh chóng của ngành nông nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực trồng cây ăn quả, đã dẫn đến việc áp dụng máy móc hiện đại trong các quy trình trồng trọt, thu hoạch và phân loại Việc này không chỉ giảm bớt sức lao động mà còn tăng năng suất công việc, đồng thời đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật tối đa Với sự gia tăng sự ưa chuộng đối với trái cây ăn quả, máy móc liên quan đến thu hoạch và phân loại ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn trong ngành nông nghiệp.
Việc phân loại trái cây để xuất khẩu hoặc chuyển đến các địa phương khác bằng tay truyền thống dẫn đến năng suất thấp, chất lượng và kích thước không đồng đều, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ về an toàn lao động và môi trường Ngược lại, sử dụng máy phân loại tự động không chỉ đảm bảo yêu cầu kỹ thuật mà còn giảm thiểu lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Hình 2.1 Máy thu hoạch và phân loại trái cây của Nhật Bản giúp giảm sức người và tăng năng suất
Nhu cầu về máy phân loại cam trên thị trường :
Máy phân loại cam là thiết bị thiết yếu trong ngành nông nghiệp, giúp giảm sức lao động và nâng cao độ chính xác trong quá trình phân loại trái cây Đây là công cụ cần thiết cho các khu thu hoạch trái cây xuất khẩu Với sự đa dạng về loại trái cây và yêu cầu phân loại, kích thước và loại máy phân loại cũng rất phong phú Hiện nay, thị trường chưa có máy phân loại trái cây chính thức, phần lớn vẫn sử dụng phương pháp thủ công hoặc máy tự chế từ nông dân, dẫn đến năng suất chưa cao.
2.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
- Tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm
- Giảm sức lao động của con người, đem đến việc giảm chi phí thuê nhân công
- Đáp ứng nhu cầu về sản lượng các khu nông nghiệp trồng cây ăn quả
- Phát triển khoa học kĩ thuật đáp ứng cuộc sống,cơ khí hóa xây dựng
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Việc dùng máy giúp đạt yêu cầu về chất lượng cũng như công lao động của các khu thu hoạch phân loại
Nghiên cứu việc áp dụng kỹ thuật và máy móc hiện cho nông nghiệp trồng cây ăn quả tại các khu thu hoạch và phân loại
- Dựa vào nguyên lý tự động đạt kích thước cũng như phương pháp truyền động cơ khí
- Dựa vào máy đã có sẵn trên thị trường
2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Để thu thập thông tin hiệu quả về phân loại trái cây, cần áp dụng các phương pháp như quan sát các loại trái cây và máy phân loại tự chế, cũng như nghiên cứu các cơ cấu truyền động phổ biến và mô hình hiện có trên thị trường Việc tìm kiếm thông tin trực tuyến cũng rất quan trọng Bên cạnh đó, phân tích và tổng kết kinh nghiệm từ những dữ liệu thu thập được sẽ giúp nâng cao chất lượng phân loại trái cây.
NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC VÀ CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN
Hiện nay, nhu cầu sử dụng máy phân loại trái cây, đặc biệt là cam, đang gia tăng do số lượng lớn trái cây cần được phân loại và đóng thùng Để đáp ứng nhu cầu này, nhóm chúng em đã quyết định thiết kế và chế tạo một máy phân loại và rửa cam chạy điện, cho phép tùy chỉnh kích thước cam theo yêu cầu.
3.1 Đặc tính của máy phân loại và rửa trái cây:
- Máy phải phân loại được trái cây, cụ thể là cam một cách dễ dàng, nhanh chóng và nhất là chính xác đúng như ý muốn của người phân loại
Máy móc nông nghiệp cần có giá thành hợp lý và năng suất phù hợp với đặc điểm của ngành nông nghiệp Đặc biệt, thiết bị phải gọn nhẹ, dễ di chuyển để phục vụ hiệu quả cho các khu vực nông nghiệp.
Trái cây được đưa vào các lồng có lỗ được thiết kế sẵn, và nếu trái cây đến lồng với kích thước lỗ phù hợp, chúng sẽ tự động lăn ra để được đóng gói vào thùng.
Hình 3.1 Máy phân loại trái phân loại bằng lồng
Trái cây được vận chuyển trên các dây đai với khoảng cách giữa các sợi dây tăng dần Khi trái cây đạt đến kích thước phù hợp, chúng sẽ tự động rơi xuống thùng phân loại.
Hình 3.2 Máy phân loại trái cây sủ dụng dây tải cao su
Sau khi phân tích ưu nhược điểm của hai phương án, nhóm chúng tôi đã quyết định thiết kế máy phân loại sử dụng các sợi dây đai với khoảng cách tăng dần.
3.2.2 Kết cấu chính của máy phân loại gồm các bộ phận sau:
- Dây đai và khoản cách các puli là nơi để trái cây di chuyển và tự động đạt kích thước để rơi xuống nơi cần phân loại
- Thùng đựng trái cây cần phân loại
- Bộ đảo chiều dây đai để trái cây vừa di chuyển vừa quay
3.2.3 Các nghiên cứu liên quan đến máy phân loại trái cây, rau củ:
Hiện nay trên thị trường có tương đối loại máy cắt phân loại do các công ty nước ngoài sản xuất
1 Máy phân loại trái cây SWKPCN-200:
- Công suất tối đa 180-200(kg/h)
- Kích thước sản phẩm (dài rộng cao) Tùy chỉnh theo nhu cầu
- Năng lượng tiêu thụ 4.7-5.7 kW/h
Hình 3.3 Máy phân loại trái cây SWKPCN-200
2 Máy phân loại trái cây TAKUDO TKD-HL3000
Hình 3.4 Máy phân loại hoa quả TAKUDO TKD-HL3000
Số cấp phân loại: 3 cấp Điện áp: 380 V
Máy nông sản được làm bằng vật liệu thép không gỉ
Máy bao gồm phễu và thang máy, bàn chải làm sạch, cùng với bảng kiểm tra và phân loại, phù hợp cho việc xử lý khoai tây, khoai lang, cà rốt, và nhiều loại rau củ khác Sản phẩm được đưa vào từ phễu, đi qua bàn chải làm sạch để loại bỏ bụi bẩn, sau đó được vận chuyển đến bảng kiểm tra để phân loại những sản phẩm kém chất lượng Cuối cùng, sản phẩm sau khi phân loại sẽ được đưa ra theo các máng được đánh số.
3 Máy phân loại trái cây TAKUDO TKD-HL4000
Hình.3.5 Máy phân loại củ quả TAKUDO TKD-HL4000
Số cấp phân loại: 3 cấp Điện áp: 380 V
+ Dây đai là bộ phận quan trọng nhất của máy, quyết định tới độ chính xác của kích thước trái cây sau khi phân loại
Hình 3.6 Dây đai cao su dung làm phân loại trái cây Đường kính ngoài 180 mm
Chất liệu Cao su đặc Độ dài 2,8 -3 m mỗi sợi Ứng dụng Để trái cây di chuyển và phân loại
Cụm truyền động có nhiệm vụ truyền chuyển động giúp cho
Các dây đai liền kề chuyển động ngược chiều với nhau
* Có 2 phương án thiết kế cụm truyền động:
- Truyền động bằng xích- bánh xích:
Hình 3.7 Bộ truyền xích Ưu điểm
Truyền động cho 2 trục cách xa nhau ( Ta có bài toán như sau: Vì trục được cố định trên 2 đầu ổ bi
=> Thanh siêu tĩnh Kiểm nghiệm độ bền của thanh với ứng suất tiếp cho phép [c c]
= 30 N/mm 2 50 N/mm 2 ; Ứng suất pháp cho phép [] = 20 N/mm2 30 N/mm2
Hình 4.5 – Sơ đồ bố trí lực
Ta có biểu đồ nội lực như sau: Sử dụng phần mềm SAP2000 V14.2.2 Advanced
Hình 4.6 – Biểu đồ nội lực Qy, Mx
=> Momen quán tính chính trung tâm:
Vì là mặt cắt có 2 trục đối xứng vật liệu dẻo:
DUT-LRCC Ứng suất tiếp lớn nhất ngay tại đường trung hòa:
Từ (1) và (2) => Trục dư bền
CHƯƠNG 5: HƯỚNG DẪN LẮP ĐẶT, VẬN HÀNH, BẢO DƯỠNG MÁY –
Quy trình lắp đặt
Sau khi hoàn tất việc tính toán và gia công các chi tiết máy, chúng ta tiến hành lắp ráp các bộ phận đó lại với nhau để tạo thành máy hoàn chỉnh Các bước lắp ráp sẽ được thực hiện theo trình tự nhất định để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả.
Khung máy được cấu tạo chủ yếu từ các thanh sắt có kích thước 30x30mm, được nối chặt với nhau bằng các mối hàn, tạo thành một kết cấu vững chắc không thể tháo rời Bàn máy được hỗ trợ bởi 4 chân đỡ có bánh xe, giúp việc di chuyển trở nên dễ dàng hơn.
Vận hành máy
Việc vận hành máy yêu cầu tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn cao về điện cũng như đảm bảo khu vực hoạt động và khu vực an toàn cho thao tác.
- Trước khi mở máy cần phải làm công tác kiểm tra lại độ cứng vững cơ cấu, các hẹ thống truyền động và dây đai cao su
- Mở máy: Sau khi máy cắt chạy ổn định mới tiến hành thao tác bỏ cam vào nơi đựng phôi để phân loại
- Ngừng máy: Sau khi hết trái cây trong lồng phôi và trên bang tải thì ta tiến hành ngừng máy bằng cách bấm công tắc ngắt điện
Một số hình ảnh sau khi lắp ráp hoàn chỉnh
Bảo dưỡng máy
Sau một thời gian hoạt động, các chi tiết máy sẽ bị mòn, dẫn đến giảm chất lượng và năng suất làm việc, đồng thời có nguy cơ hư hỏng Để đảm bảo máy móc hoạt động ổn định và kéo dài tuổi thọ, cần thiết lập kế hoạch bảo dưỡng và sửa chữa định kỳ Tất cả các biện pháp tổ chức và kỹ thuật nhằm ngăn ngừa hư hỏng và thực hiện sửa chữa được gọi là hệ thống sửa chữa dự phòng theo kế hoạch.
Bảo dưỡng hằng ngày là rất quan trọng để đảm bảo máy hoạt động hiệu quả Trước khi bắt đầu công việc, người điều khiển cần kiểm tra toàn bộ máy Sau khi hoàn thành công việc, việc vệ sinh máy, đặc biệt là dây đai cao su, cũng cần được thực hiện để duy trì độ bền và hiệu suất.
+ Kiểm tra hằng ngày: Nhằm phát hiện, khắc phục những hư hỏng xảy ra trong quá trình làm việc như kiểm tra động cơ, day đai cao su
Lau chùi ,vệ sinh tránh bụi bẩn bám trên máy hay các vật thể gây ngăn cản bộ truyền
+ Kiểm tra kết cấu định kỳ: Xác định trạng thái và khả năng làm việc của máy.Kiểm tra độ rơ và độ mòn của các chi tiết máy
Tra mỡ cho ổ giúp máy hoạt động êm hơn
+ Bảo dưỡng theo kế hoạch:
Sửa chữa nhỏ: Khắc phục hư hỏng và thay thế các chi tiết hao mòn nhanh
Khảo sát toàn bộ máy, kiểm tra và sửa chữa các bộ phận va đập vì làm bằng cao su dể hao mòn
Kiểm tra tiếng ồn, chất lượng sản phẩm khi sửa chữa
Sửa chữa vừa: Tháo các bộ phận máy ra sửa chữa
Kiểm tra, sửa chữa các máy cắt và motor giảm tốc
Kiểm tra lại toàn bộ máy về độ chính xác và chất lượng sản phẩm
Sửa chữa lớn: Sửa chữa lại toàn bộ máy gần giống ban đầu, cải tiến và hiện đại hóa máy
Biện pháp an toàn lao động
5.5.1 An toàn khi sử dụng và lắp đặt:
- Không được sờ tay vào gần cụm lưỡi cắt khi máy làm việc
- Kiểm tra độ chắc chắn của các mối liên kết bulông đai ôc, hàn lắp…
- Khi khung máy đặt trên nền thì yêu cầu nền phải phẳng và có độ cứng tốt, tránh lồi lõm
5.5.2 Nội quy bảo hộ lao động :
- Chỉ những nhân công hiểu rõ về cấu tạo, hoạt động của máy và nắm rõ nội quy an toàn lao động mới được sử dụng máy
Trước khi bắt đầu công việc, cần kiểm tra tình trạng hoạt động của các bộ phận Nếu phát hiện sự cố, hãy ngay lập tức thông báo cho cán bộ kỹ thuật để được xử lý kịp thời.
- Kiểm tra sữa chữa máy chỉ được tiến hành khi máy đã ngừng hoàn toàn, chú ý an toàn điện
- Không cho trẻ em lại gần
- Ngoài những nội quy trên, bắt buộc phải nắm vững nội quy chung về bảo hộ an toàn lao động cũng như những quy định khác…
ĐÁNH GIÁ VÀ KẾT LUẬN
6.1 Kết quả và nhận xét:
Trong quá trình thiết kế và chế tạo, chúng tôi đã tối ưu hóa chi phí và vật tư nhằm giảm giá thành so với các máy hiện có trên thị trường, đồng thời vẫn đảm bảo kết cấu và chất lượng sản phẩm.
=> Máy có khối lượng ~ 50kg Chi phí hoàn thành ~ 4.500.000 đồng Trong đó: + Khối lượng về vật liệu sắt thép, cụm truyền động ~ 3.500.000 đồng
+ Các thiết bị còn lại 1.000.000 đồng
6.1.2 Ưu, nhược điểm : a Ưu điểm:
Máy phân loại trái cây tự động mang lại nhiều lợi ích, bao gồm việc thay thế quy trình phân loại thủ công Sự tự động hóa và tính đa năng của máy giúp nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu sức lực của công nhân, đồng thời cải thiện chất lượng kỹ thuật trong quá trình sản xuất.
Máy được thiết kế gọn nhẹ, tối ưu cho việc di chuyển, phù hợp với các công trình xây dựng cần di chuyển máy móc thường xuyên Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số nhược điểm cần lưu ý.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã xem xét nhiều phương án để xây dựng cấu trúc thiết kế cơ khí và hệ thống điều khiển cho máy Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, kinh phí và năng lực cá nhân, chúng tôi chỉ có thể thực hiện thiết kế máy theo cách đã trình bày trong tập đồ án này Do đó, chúng tôi vẫn chưa tối ưu hóa được các ý tưởng đã đề ra cho việc chế tạo máy.
Giá thành cao của các chi tiết, linh kiện và thiết bị, cùng với quy trình gia công chi tiết cơ khí phức tạp, đã khiến chúng tôi chưa thể áp dụng những thiết bị có độ chính xác cao vào máy Do đó, hiệu quả và thẩm mỹ của máy vẫn chưa đạt được như mong đợi.
=> Một số nhược điểm đó là:
+ Hệ thống căng đai cao su vẫn chưa tự động, vãn còn phải căng bằng tay gây tốn thời gian căng sau 1 thời gian dài sử dụng
Máy móc hiện tại chưa thể tự động hóa hoàn toàn tất cả các công đoạn, từ giai đoạn cấp phôi đến giai đoạn đóng thùng, vẫn còn một số thao tác cần thực hiện bằng tay.
6.2 Đề xuất phương án cải tiến:
Máy phân loại trái cây mà chúng em thiết kế và chế tạo đáp ứng các yêu cầu cơ bản về phân loại theo kích thước, có khả năng hoạt động hiệu quả tại các công trình thực tế Tuy nhiên, để nâng cao hiệu suất và kéo dài tuổi thọ của máy, cần nghiên cứu và áp dụng một số cải tiến.
Để đảm bảo tính thẩm mỹ và độ chính xác trong lắp đặt cũng như vận hành, các chi tiết như trục và khung cần được gia công chính xác hơn Hơn nữa, các bộ truyền cần phải ăn khớp tốt hơn nhằm giảm thiểu hiện tượng gãy rang và tiếng ồn trong quá trình làm việc.
Có thể lắp đặt hệ thống phun nước và các tấm chắn sợi để rửa trái cây trực tiếp trong quá trình phân loại, giúp tiết kiệm thời gian và tăng năng suất.
+ Máng cấp phôi có thể cấp phôi tự động, khi hết trái cây thì hệ thống cấp phôi về lại vị trí ban đầu và tự động ngắt điện.
Thiết kế máy là một nhiệm vụ phức tạp, yêu cầu người thiết kế phải có kiến thức vững chắc về các môn học như nguyên lý máy, chi tiết máy, sức bền vật liệu, kim loại học, công nghệ kim loại, chế tạo phôi, nguyên lý cắt và công nghệ chế tạo máy.
Sau khi xác định nhiệm vụ tốt nghiệp là "Nghiên cứu, chế tạo máy phân loại và rửa cam", tôi đã trải qua giai đoạn khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu và thực hiện nghiên cứu thực tế Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ tận tình của thầy Châu Mạnh Lực, sau ba tháng làm việc, đồ án đã được hoàn thành.
Nội dung đồ án gồm:
- Phần các bản vẽ cần thiết
- Máy đã lắp ráp hoàn chỉnh
Nội dung đồ án đã trình bày rõ đặc tính, nguyên lý cắt và hoạt động của máy, cho thấy nguyên lý hoạt động đơn giản và cấu trúc thuận tiện, dễ sử dụng và bảo quản Máy đảm bảo tính an toàn cao khi làm việc, đồng thời số lượng công nhân vận hành ít và công suất phù hợp với nhu cầu thực tế hiện nay.
Qua thời gian thực hiện đề tài, chúng em đã hệ thống và tổng kết được kiến thức đã học, từ đó ứng dụng vào thiết kế Đề tài cũng giúp chúng em nắm vững các yêu cầu cần thiết trong quản lý quy trình chế tạo sản phẩm cơ khí, đáp ứng kỹ thuật sản xuất và tổ chức sản xuất theo điều kiện cụ thể Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm thực tiễn, đề tài có thể chưa đạt yêu cầu như mong muốn Chúng em rất mong nhận được sự chỉ bảo từ các thầy cô và bạn bè để hoàn thiện hơn.
Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo Th.S Châu Mạnh Lực cùng toàn thể các thầy cô trong khoa đã hỗ trợ chúng em trong việc hoàn thành đồ án này!