vµ thùc tÕ khi häc hay khi däc s¸ch b¸o häc sinh còng sö dông h×nh høc ®äc thÇm lµ chÝnh vÇ trong giê häc lóc nµo còng ®äc “ sang s¶ng” nªn lµm Çm, ¶nh hëng ®Õn mäi ngêi xung quanh... [r]
Trang 1Phòng giáo dục - HUYệN sóC sƠN trờng TIểU HọC THị TRấN
sáNG KIếN KINH NGHIệM
Đề tài: Rèn đọc cho học sinh lớp 2
Giáo viên thực hiện:
Đơn vị ccông tác :Trờng tiểu học Thị Trấn
Hà Nội: Năm 2007
Phần 1: Mở đầu
I- Lý do chọn đề tài
Trang 2Tiếng Việt ở trờng phổ thông là môn học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ đợc thể hiện qua bốn dạng hoạt động, tơng ứng với chúng là bốn kĩ năng ( nghe, nói, đọc, viết ) Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ chữ viết sang dạng lời nói âm thanh
Toàn bộ những kinh nghiệm trong đời sống, những thành tựu về khoa học, văn hoá và những t tởng, tình cảm của thế hệ trớc cũng nh xã hội hiện nay phần lớn đợc ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con ngời không thể tiếp thu nền văn minh của nhân loại, không thể biến nó thành tri thức của riêng mình Trong xã hội hiện đại, biết đọc con ngời sẽ có khả năng thông hiểu t tởng, tình cảm của ngời khác từ đó có những rung động về tình cảm, nẩy nở những ớc mơ cao đẹp, khơi dậy sức mạnh sáng tạo cho bản thân
Từ những lý do trên cho ta thấy dạy đọc có một vị trí quan trọng ở tiểu học Việc dạy học sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bòi dỡng cho các em lòng yêu cái thiện, cái
đẹp, giúp các em biết suy nghĩ một cách lôgic, biết t duy có hình ảnh nnh vậy dạy
đọc còn có một ý nghĩa to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dục, giáo dỡng và phát triển
Tập đọc với t cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ
đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh những năng lực này không phải tự nhiên mà có, nhà trờng phải từng bớc hình thành cho các em nền móng đầu tiên
II- Mục đích nghiên cứu:
- Giúp học sinh tránh đọc ngọng, biết cách đọc đúng, đọc diễn cảm
- Giáo dục cho các em thích đọc sách, yêu thơ văn
III - Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tợng: Học sinh lớp 2A Trờng tiểu học Thị Trấn
Phạm vi nghiên cứu: Phân môn tập đọc lớp 2
Trang 3IV – Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với môn tập đọc lớp 2: ngay từ đầu giáo viên chủ nhiệm đa ra nhiệm vụ nghiên cứu với từng bài tập đọc, để giúp học sinh đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm
V – Các phơng pháp nghiên cứu chính:
* Phơng pháp kiểm tra đánh giá
* Phơng pháp điều tra
* Phơng pháp phỏng vấn
* Phơng pháp quan sát
Phần II: Nội dung
Chơng I: Cơ sở lý luận của việc dạy tập đọc:
ở lớp 1 học sinh cũng đợc dạy đọc nhng là dạy đọc qua phân môn học vần Học vần mới chỉ dừng ở mức độ sơ bộ nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã chữ ghi
âm Việc day không hiểu văn bản chỉ đặt ra ở mức độ thấp và cha có hình thức chuyển từ chữ sang nghĩa Đến 14 tuần ( 2 phần cuối của học kỳII) học sinh mới làm quen với tập đọc qua những văn bản ngắn
Tiếp gtục dạy tập đọc ở lớp 1, tập đọc từ lớp 2 trở đi đã thể hiện đầy đủ và rõ nét những nhiệm vụ cơ bản của phân môn tập đọc Đây là phân môn mang tính chất thực hành là chủ yếu Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc đợc tạo lên từ bốn kĩ năng ( cũng là bố yêu cầu về chất lợng đọc) đó là đọc đúng, đọc nhanh ( lu loát, trôi trảy) đọc hiểu, đọc diễn cảm Trong bốn kĩ năng trên khó có thể nói kĩ năng nào làm cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ
Trang 4đọc đúng mà hiểu đúng hay nhờ hiểu đúng mà đọc đúng Vì vậy trong dạy đọc không thể xem nhẹ kỹ năng nào
Bên cạnh đó tập đọc còn có nhiệm vụ quan trọng khác là giáo dục cho các em lòng ham học sác, giúp cho kiến thức về ngôn ngữ, về đời sống về văn học của các
em phong phú hơn, khả năng t duy lôgic và khả năng giao tiếp đợc phát triển Tập
đọc còn góp phần giáo dục t tởng, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho các em
Chơng II – Kết quả điều tra khảo sát thực tiễn.
Năm học 2006- 2007 tôi đợc phân công chủ nhiệm lớp 2A, qua giảng dạy và tuần
đầu tôi thấy học sinh lớp mình còn hạn chế Trớc hết đó là việc các em đọc cha chuẩn về mặt chính âm ( do ảnh hởng của tiếng địa phơng) Bên cạnh đó nhiều em
đọc rất chậm thậm, lại có em đọc rất nhanh nhng ngắt nghỉ tuỳ tiện, đọc luyến thoắng mà không hiểu nội dung câu văn đó nói gì….Cụ thể qua khảo sat chất lợng
đầu năm cho thấy kết quả nh sau:
Sĩ số: 28 học sinh
+ Đọc diễn cảm: 2 học sinh
+ Đọc đúng: 8 học sinh
+ Đọc chậm: 9 học sinh
+ Đọc nhầm phụ âm đầu, ngọng : 9 học sinh
Từ kết quả trên cho ta thấy năng lực đọc của họcc sinh lớp tôi còn hạn chế vì các
en mới từ lớp 1 lên việc đọc diễn cảm là rất khó khăn với các em Từ thực tế trên tôi suy nghĩ là phải làm sao để rèn năng lực đọc, tăng chất lợng đọc cho học sinh lớp mình phụ trách nhằm giúp các em học tập tốt hơn không chỉ ở môn tập đọc mà còn làm cơ sở cho nhiều môn khác Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “ Rèn đọc cho học sinh lớp 2” để nghiên cứu nhằm tìm ra một số biện pháp vận dụng cho học sinh lớp mình và đã có hiệu quả rõ rệt.Sau đây tôi xin trình bày để các đồng chí tham khảo
Chơng III: Những giải pháp cơ bản.
Trang 5ở trờng tiểu học, môn tập đọc có một vị trí hết sức quan trọng vì nó là một môn học mang tính chất tổng hợp ngoài chức năng dạy đọc – phân môn này có nhiệm
vụ trau đồi kiến thức Tiếng Việt cho học sinh Vì qua mỗi bài tập đọc, học sinh đợc học cách dùng từ chính xác, cách đặt câu đúng và dần dần vốn ngôn ngữ của các
em đợc mở rộng và phong phú hơn Mặt khác mỗi bài tập đọc lại phản ánh một phạm vi cuộc sống ( về mặt tự nhiên và xã hội) điều đó càng làm cho học sinh có thêm hiểu biết về đất nớc, về con ngời Các bài tập đọc thờng đợc chọn lọc kũ có giá trị thẩm mĩ cao đây cũng chính là nguồn cung cấp vốn văn học, giúp ích cho nhiều học sinh khi làm tập làm văn Đồng thời môn tập đọc còn có tác dụng giáo dục tình cảm và mĩ cảm cho học sinh Qua giờ tập đọc, học sinh cảm thụ cái hay cái
đẹp từ đó nảy sinh những tình cảm trong sáng: thấy yêu quê hơng, yêu đất nớc, yêu thiên nhiên, yêu trờng, yêu lớp và yêu mọi ngời xung quanh Vì thế phân môn tập
đọc có tác dụng to lớn trong việc vun đắp bồi dỡng tâm hồn trẻ thơ Học sinh học tố phân môn tập đọc là cơ sở, nền tảng để học tất các môn học khác phân môn tạp đọc còn giúp học sinh phát triển trí tuệ Vì vậy “ Đọc” trở thành một nhu cầu cơ bản đầu tiên đối với ngời đi học
Năng lực đọc đợc cụ thể hoá thành các kĩ năng đọc và chỉ đợc hình thành khi học sinh đã thực hiện hai hình thức này mới đợc xem là “ biết đọc” Đối với học sinh lớp 2, việc tiếp thu bài đọc ở hai hình thức là nh nhau Khó có thể nói câu trả lời xuất sắc của học sinh về nội dung bài đọc là kết quả của : “ đọc thầm” hay “ đọc thành tiếng” Trong thực tế hai hình thức này gắn bó chặt chẽ với nhau để đạt kết quả mục đích cuối cùng là : “ đọc thông và hiểu nội dung văn bản” Chính vì lẽ đó, các biện pháp để rèn đọc cho học sinh tôi luôn luôn thực hiện đồng thời giữa việc
đọc thành tiếng và đọc thầm
Biện pháp1: Hớng dẫn đọc thành tiếng.
Mục đích của giờ tập đọc là rèn kĩ năng đọc đúng, rõ ràng, mạch lạc, ngắt nghỉ hơi hợp lý Để đạt đợc điều đó cần phải thực hiện các bớc sau:
Trang 6I – Chuẩn bị cho việc đọc:
T thế ngồi đọc cần ngay ngắn, khoảng cách từ mắt tới sách là 25 -30 cm cổ và
đầu phải thẳng Thở sâu và chậm để lấy hơi ở lớp khi cô giáo đọc bài học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay khi đọc thành tiếng học sinh đó cùng một lúc phải thực hiện hai hoạt động
Hoạt động 1: Là ngời tiếp nhận thông tin bằng chữ viết.
Hoạt động 2: Là ngời trung gian truyền thông tin, đa văn bản viết đến ngời nghe.
khi giữ vai trò thứ hai ngời đọc đã thực hiện việc tái sinh văn bản Vì vậy khi đọc thành tiếng ngời đọc có thể đọc cho mình, đọc cho ngời khác hoặc đọc cho cả 2
Đọc cùng với phát biểu trên lớp hai hình thức giao tiếp trớc đám đông đầu tiên ở trẻ vì thế tôi luôn coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công, tạo cho các
em sự tự tin cần thiết khi đọc thành tiếng Tôi luôn cho học sinh hiểu rằng : Em “
đọc không chỉ cho cô giá nghe mà còn để cho các bạn cùng nghe” Nên tôi yêu
cầu các em đọc với cờng độ vừa phải ( không đọc to quá hay đọc lí nhí) Và đọc nh thế nào là đọc với cờng độ vừa phải? Đó là đọc làm sao để ngời ngồi xa nhất mình
đọc cũng phải nghe thấy mình đọc và bạn ngồi gàn nhất với mình cũng không bị chói tai mới thôi Đạc biệt khi cá nhân đọc tôi luôn chú ý đến t thế ngời đọc cần thoả mái, đàng hoàng, sách phải đợc mở rộng và đợc cầm hai tay
II – H ớng dẫn đọc đúng:
Đọc đúng là sự tái hiện âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không mắc lỗi
Đọc đúng là đọc không bỏ sót hay thừa âm, vần tiếng Đọc đúng phải thể hiện đúng
hệ thống ngữ âm chuẩn tức là đọc cính xác Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm của địa phơng lệch chuẩn Cần đọc đúng vần đầu, dấu thanh
Do ảnh hởng tiếng địa phơng nơi các en sinh sống lên trong lớp các em hay đọc ngọng ( phát âm cha chuẩn có sai phụ âm đầu, có em ngọng vần, có em ngọng dấu thanh.) Để rèn đọc đúng cho các em, tôi đã chia số học sinh thành các nhóm theo mức độ ngọng khác nhau của các em:
Trang 7Ví dụ:
* Nhóm thứ nhất: gồm các em: Thuý, Minh Vũ, Mỹ Linh, Quỳnh Anh hay
ngọng phụ âm đầu l – n
* Nhóm thứ hai: gồm các em: Lâm, Sơn, Đào Chi, Nga, Lan Anh hay ngọng x
-s
* Nhóm thứ ba: gồm các em: Mai, Ngân, Hà , Hải, Huyền ngọng dấu thanh ? ~,
và vần inh, anh
Sau khi ra nhóm tôi thờng ra những bài tập để rèn ngọng thích hợp với từng nhóm:
Ví dụ: Với nhóm ngọng l-n
Tôi cho các em luyện đọc một số từ:
Lập loè nỉ non nản lòng
Lấp lánh náo nức nói leo
Lứu lo nấu nớng nặng lời
Lọ lục bình nâng niu lúa nếp
Tiếp đó tôi cho luyện đọc câu:
“ Lúa nếp là lúa nếp non ”
Hay: : Cái lọ lục bình nó lăn lông lốc tới tận Cửa Lò “ …”
Ngoài ra trong giờ tập đọc, hễ em nào đọc ngọng, sau khi đọc hết đoạn tôi rèn trực tiếp cho em đó phát âm theo mẫu của giáo viên
Để giúp cho học sinh định hớng đợc cách đọc đúng trong quá trình lên lớp tôi đã cuẩn bị về đọc mẫu ở khâu đầu tiếp theo sau đó là một học sinhđọc tố của lớp đọc ( cả lớp theo dõi đọc thầm và tìm những tiếng, từ khó đọc, để đa ra rèn chung cho cả lớp)
Trang 8Khi học sinh đọc cá nhân ( theo câu, đoạn hoặc cả bài) tôi hớng cho các em biết
theo dõi nhận xét bạn đọc đúng ch “ a? ch ” “ a đúng ở chỗ nào?” từ đó các em
biết giúp bạn sửa chữa và rút kinh nghiệm cho bạn cũng nh bản thân
Ví dụ: Bài Có công mài sắt, có ngày nên kim “ ” học sinh đã phát hiện ra bạn
đọc từ giảng giải “ ” thành dạng dại “ ”.
Hay bài: ng “ ời thầy cũ” TV2 tập 1: học sinh đã phát hiện ra bạn đọc từ lễ “ phép” thành lể phép “ ”
Từ ví dụ trên chúng tỏ các em rrất chăm chú nghe bạn đọc từ đó phân biệt đợc bạn phát âm đúng hay cha đúng
Đọc đúng không chỉ là đọc chíng xác các âm, vần dấu thanh mà còn phải đúng cả tiết tấu ( khi đọc thơ), ngắn chỉ đúng sau đấu câu và giữa các cụm từ Muốn làm đợc
điều đócần phải dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp giữa các từ để ngắt hơi cho
đúng Khi đọc tôi hớng dẫn các em không đợc tách từ 1 thành 2
Ví dụ: Trong bài Có công mài sắt, có ngày nên kim “ ” TV 2 tập 1 khi cho học
sinh đọc không đợc ngắt hơi ở chỗ:
Cậu nhìn thấy bà cụ tay cầm thỏi/ sắt mải miết mài vào tảng đá ven đ
Mà ngắt hơi ở chỗ:
Cậu nhìn thấy bà cụ tay cầm thỏi sắt/ mải miết mài vào tảng đá ven đ
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dẩutong câu vì thế tôi luôn hớng dẫn học sinh nghỉ ít ở đấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, đọc đúng cả ngữ điệu trong câu, lên giọng ở cuối câu hỏi, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câucảm, với câu cầu khiến cần nhấn giọng cho phù hợp để thấy rõ nội dung khác nhau
Ví dụ:
Khi dạy bài: Mùa xuân đến “ ” Tiếng Việt 2 tập 2 với câu: Nh “ ng trong trí thơ ngây của chú còn sáng mãi sáng ngời hình ảnh một cánh hoa mận trắng , biết nở cuối đông để báo trớc mùa xuân tới ”
Trang 9Đây là một câu dài để diễn tả hết nội dung của nó tôi hớng dẫn các em dựa vào yếu tố ngữ nghĩa – ngữ pháp để ngắt câu nh sau:
“ Nhng trong trí thơ ngây của chú/ còn sáng mãi sáng ngời hình ảnh một cánh hoa mận trắng / biết nở cuối đông để báo trớc mùa xuân tới// ”
tóm lại đọc đúnglà đọc thể hiện trung thành vơpí văn bản, có nh vậy mới hiểu
đúng nọi dung nắm đợc những thông tin có giá trị mà văn bản đè cập đén Từ rèn
đọc đúng đã giúp các em phát âm chuẩn Tiếng Việt từ đó có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
Biện pháp II : Hóng dẫn đọc thầm.
Việc đọc thành tiếng không thể tách rời việc đọc hiểu bởi lẽ chỉ đọc đúng, rõ ràng, rành mạch thì cha đủ mà mục đích của giờ tập đọc còn giúp học sinh hiểu đợc nội dung của văn bản mà muốn hiểu đúng hiểu sâu nội dung văn bản thì học sinh
phải biết đọc thầm “ ” Tôi nhận thấy đọc thầm “ ” có u thế hơn hẳn đọc thành
tiếng từ 1,5 đến 2 lần vì nhời đọc không không phải chú ý đén việc phát âầtm chỉ tập trung để hiểu nội dung văn bản mình đọc Đối với việc đọc thầm ngoài u thế trên thì đọc thầm còn có tác dụng ngời đọc đỡ mệt và thực tế khi học hay khi dọc sách báo học sinh cũng sử dụng hình hức đọc thầm là chính vầ trong giờ học lúc nào cũng đọc “ sang sảng” nên làm ầm, ảnh hởng đến mọi ngời xung quanh Vì vậy việc đọc thầm là rất quan trọng và tôi đã chuẩn bị nh sau:
1 Chuẩn bị:
- Sách, que chỉ để ngay ngắn trên bàn
- Ngồi ngay ngắn, khảng cách từ mắt đến sách là 25 – 30 cm, tập trung vào bài
đọc
2 Tổ chức quá trình đọc thầm.
Kĩ năng đọc thầm phải đợc chuyển hoá từ ngoài vào bên trong, từ đọc to đến đọc nhỏ đến mấp máy môi và đọc hoàn toàn bằng mắt Trong quá trình này, toi luôn đề
ra những biện pháp để kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy
Trang 10định thời gian đọc thầm cho từng đoạn, từng bài Sau đó kiển tra 1 số học sinh đẻ nắm đợc tốc độ đọc thầm cho phù hợp chung
3 Đọc hiểu nội dung.
Hiệu quả của việc đọc thầm đợc do bằng khả năng thông hiểu nọi dung văn bản
đọc hiểu là kết quả đọc thầm nhng nó ở mức độ cao hơn học sinh hiểu đợc nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài đọc Việc chọn từ nào để giải thích phụ thuộc vào nhiều đối tợnghọc sinh ở địa phơng vùng miền…Vì thế giáo viên cần phải biết sàng lọcđể giữ lại những chìa khoá, những nhóm từ mang tính cơ bản.Đó là những từ giúp học sinh hiểu đợc nội dung của bài đọc
Ví dụ: Khi dạy bài: Có công mài sắt, có ngày nên kim “ ” Tiếng việt 2 tập 1.
Nếu học sinh không hiểu đợc cụm từ Có công mài sắt, có ngày nên kim “ ” cả
nghĩa đen và nghĩa bóng thì không thể biết đợc tại sao bà cụ lại so sánh việc mài sắt của bà với việc học tập của cậu bé và cũng không hiểu đợc ý nghĩa của câu chuyện cho nên phần đọc hiểu tôi cho học sinh nêu ý kiến của mình về việc tìm hiểu nghĩa của cụm từ để cả lớp nhận xét cuối cùng tôi mới chốt lại ý chính
Hay với bài Mùa xuân đến “ ” Tiếng việt 2 tập 2.
Tôi hớng dẫn các em đọc thầm, nhấn mạnh vào các từ “ngày, thêm, càng ” trong
câu: Bầu trời ngày càng thêm xanh, nắng vàng ngày càng rực rỡ “ ” Để các em
thấy rõ sự chuyển biến của đất trời, làm rõ đợc: Mùa xuân đến “ ” khác với mùa “ xuân ”
Tiếp đó là cần hớng dẫn học sinh phát hiện ra những câunhấn mạnh vào nội dung bài đọc, những câu nêu khái quát của bài Từ đó học sing nắm đợc những hình ảnh nghệ thuật tiêu biểu nhất
Ví dụ: Trong bài: Mẹ “ ” Tiếng Việt 2 tập1ó câu:
“ Mẹ là ngọn gió của con suốt đời” hay trong bài: Cô giáo lớp em “ ” Tiếng
Việt 2 tập1 có câu: yêu th “ ơng em ngắm mãi những điểm 10 cô cho ”