số biện pháp thực hiện việc rèn đọc cho HS lớp 2 qua phân môn Tập đọc , để giúp các em đọc đúng và viết đúng.. Cùng với sự phát triển của xã hội , Bộ Giáo dục Đào tạo đã triển khai đổi m
Trang 1PHẦN I : LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tiếp tục sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn hiện nay là đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước ,phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở ûthành một nước công nghiệp Muốn tiến hành công nghiệp hoá , hiện đại hoá thắng lợi, yếu tố quan trọng hàng đầu là phải phát triển Giáo dục Đào tạo Mục tiêu phát triển giáo dục bậc Tiểu học từ nay đến 2020 Nghị quyết Trung ương II cũng chỉ rõ : “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở bậc Tiểu học” Bậc tiểu học là nền móng cơ bản và vững chắc cho các bậc học sau, vì vậy đòi hỏi HS phải nắm vững kiến thức ngay từ lớp 1 , lớp 2 Muốn nắm vững kiến thức các em phải biết đọc , biết viết Có đọc đúng thì mới viết đúng và tính toán đúng Vì vậy môn Tiếng Việt đặc biệt chiếm vai trò quan trọng trong quá trình học tập Môn Tiếng Việt ở lớp 2 được chia thành 6 phân môn , các phân môn này hỗ trợ nhau giúp HS học tốt môn Tiếng Việt Tập đọc là một phân môn rất quan trọng góp phần trong việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc cho HS Với HS lớp 2 các em bước đầu biết đọc, cho nên GV cần phải hướng dẫn kĩ năng đọc cho HS ngay từ đầu năm học Để từ đó các em có thể bộc lộ tình cảm của mình qua mỗi bài đọc một cách khác nhau Vậy muốn đọc tốt ,phần quan trọng không thể thiếu được là phải rèn cho HS đọc thông qua các giờ tập đọc, học thuộc lòng
chưa cao lắm Một số em đầu năm còn ê , a đánh vần từng chữ Cho nên, việc rèn đọc cho các em còn hạn chế GV hầu hết luôn lo đảm bảo đủ thời gian cho một tiết dạy, đảm bảo đủ các bước trong tiến trình bài dạy, nên chưa có nhiều thời gian chú ý rèn luyện kỹ năng đọc cho HS
số biện pháp thực hiện việc rèn đọc cho HS lớp 2 qua phân môn Tập đọc , để giúp các
em đọc đúng và viết đúng
PHẦN II: PHẠM VI ĐỀ TÀI
Trang 21/ Mục đích nghiên cứu
Giúp giáo viên có những định hướng, nội dung rèn luyện cụ thể, phù hợp với từng đối tượng học sinh, tạo điều kiện cho học sinh học tốt môn Tập đọc
2/ Đối tượng nghiên cứu :
– Tỉnh Bình Định
PHẦN III : NỘI DUNG 1/ Cơ sở lý luận :
là bậc học cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên , xã hội, trang bị những phương pháp và kỹ năng ban đầu về hoạt động nhận thức thực tiễn Bên cạnh đó ,còn bồi dưỡng, phát huy tình cảm đạo đức và nhân cách tốt đẹp của con người trong tương lai Các môn học ở Tiểu học có mối quan hệ chặt chẽ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau Đặc biệt môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng vào bậc nhất trong tất cả các môn học ở Tiểu học Ngay từ ngày đầu đến trường ,các em đã được làm quen với bộ môn này Đó là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tri thức đưa các em đến với kho tàng văn hoá của nhân loại Cùng với sự phát triển của xã hội , Bộ Giáo dục Đào tạo đã triển khai đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đó là việc thay sách Việc thay sách này kèm theo sự thay đổi trong cách dạy, cách học ở tất cả các môn học, trong đó có phân môn Tập đọc
Phân môn Tập đọc cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản ban đầu về hệ thống tiếng nói và chữ viết tiếng Việt Học tốt phân môn Tập đọc sẽ giúp HS rèn luyện kỹ năng đọc – nghe – nói – viết và còn tạo điều kiện cho HS học tốt các môn học khác Từ đó, các em có vốn sống , vốn tri thức vững chắc để tiếp tục học lên bậc học cao hơn
Trang 3Bước đầu hình thành phương pháp học của phân môn Tập đọc, tìm hiểu nội dung ,nghệ thuật, cảm thụ văn học, luyện đọc Từ việc cảm thụ nhận được vẻ đẹp của đất nước , của còn người qua các bài tập đọc, khơi dậy trong các em lòng ham hiểu biết, ham học hỏi tiếng mẹ đẻ, biết vận dụng ứng xử trong cuộc sống, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn
nước, yêu truyền thống dân tộc , yêu tiếng mẹ đẻ Từ đó có ý thức bảo vệ, giữ gìn, sự trong sáng của tiếng Việt ,làm cho ngôn ngữ tiếng Việt ngày càng phong phú, đa dạng, mang đậm đà bản sắc dân tộc
2/ Cơ sở thực tiễn :
pháp dạy học , đánh dấu một bước nhảy vọt đáng kể trong việc dạy và học ở tất cả các môn học , trong đó có phân môn Tập đọc Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bản thân tôi cũng như những giáo viên khác có rất nhiều những ý kiến tranh luận , trao đổi, bàn bạc Trước thực tế đó có nhiều chuyên đề về Tập đọc được mở ra Điều đó đã giúp chúng tôi hiểu được phần nào những điều còn
để ngỏ Song ở mỗi vùng, mỗi trường, mỗi đối tượng HS khác nhau, lại có một
khả năng khác nhau
việc đọc hay, diễn cảm là một việc làm hết sức khó khăn
đẩy cao hơn chất lượng của môn học, nhưng không hẳn là không tồn tại những HS còn hạn chế rất nhiều về kỹ năng đọc ( nhất là đọc những văn bản ngoài luồn tiếp xúc) Từ việc đọc văn bản không rõ ràng , không mạch lạc, kéo theo hàng loạt các môn học khác của các em yếu đi
Trang 4Ví dụ : Ở những em đọc yếu, đọc ngọng thì viết chính tả sẽ sai lỗi rất nhiều Nếu
HS phát âm không chuẩn, không phân biệt được đúng các phụ âm đầu như : tr/t , x/s… và các vần : at/ac, an /ang……thì khi nhớ lại để viết hoặc nghe thầy cô giáo đọc để viết các em sẽ viết sai rất nhiều Hoặc ở bài toán có lời văn, nếu một HS đọc đúng, đọc rõ ràng thì sẽ nắm được nội dung dữ kiện, phát hiện ra ẩn số cần tìm nhanh hơn HS đọc yếu
3/ Thực trạng :
vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và khả năng học tập của HS Đặt biệt, Tập đọc là một phân môn có ý nghĩa quan trọng trong chương trình giảng dạy môn Tiếng Việt Tuy nhiên trong thực tế vẫn còn tồn tại hiện tượng “bệnh thành tích” mà một số giáo viên vẫn cho điểm đọc của HS khá cao, nhưng thực tế HS lại chưa đạt được mức độ đánh giá đó Chính lẽ đó mà một số giáo viên chỉ chú trọng dạy các phân môn : Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu, ít chú trọng đến phân môn Tập đọc Trong giờ học, giáo viên ít
quan tâm đến việc chỉnh sửa cho HS các lỗi sai về âm, vần, ngắt nghỉ sai
thơ :
Tự xa xưa thưở nào /
Trong rừng xanh / sâu thẳm//
Bên cạnh đó ở quê tôi , hầu hết HS nói quá nặng về phương ngữ, dẫn đến đọc nhiều từ sai lệch
Ví dụ : Bãi các – bãi cát , biểng cả – biển cả , tường lớp – trường lớp
Trang 5Ngoài ra cũng chưa kẻ hết việc HS đọc ngọng các cặp phụ âm : s/x , gi/d hoặc các dấu thanh ?/~ ; đọc ngọng các vần : an / ang , ac/ at , ân/âng
làm sai lệch nội dung của văn bản, viết sai, hiểu sai ý định biểu đạt của văn bản Bên cạnh đó do chưa hiểu rõ bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học tập đọc, do thói quen thành phần giảng văn mà chưa quan tâm đến yêu cầu cơ bản của tiết tập đọc là rèn kỹ năng đọc
Ở lớp 2 , các thể loại văn bản của các bài tập đọc được biên soạn theo các chủ đề với nội dung rất phong phú, đa dạng Tập đọc không chỉ với mục đích rèn đọc mà còn có tính giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên ; giáo dục đạo đức lối sống , giúp HS tiếp cận với những thực tế đời thường Từ đó, có kỹ năng ứng xử giao tiếp trong cuộc sống Chính vì lẽ đó mà thông qua các bài tập đọc giáo viên cần liên hệ thực tế, giúp các em rút ra những bài học sâu sắc
nhất thì có giáo viên lại vô tình quên việc này
Với HS lớp 2 , tôi áp dụng sáng kiến qua giảng dạy và khảo sát đầu năm , có một số thuận lợi và khó khăn sau :
a) Thuận lợi :
Hầu hết các em thích môn Tiếng Việt, mà phân môn Tập đọc có tới 90% các em thích Trong đó các em thích đọc những mẫu chuyện , những bài thơ chiếm phần lớn Những bài tập đọc là những bài có nội dung rất gần gũi với cuộc sống thực của các em, phù hợp với tâm lý lứa tuổi, nên có tác dụng khơi dậy trí tò mò, lòng ham hiểu biết ở các em Các em có ham muốn tìm hiểu nhiều vấn đề mà cuộc sống diễn ra xung quanh mình Đa phần HS lớp đó điều có ý thích đọc to , rõ, có một số em đọc diễn cảm khá hay
b) Khó khăn :
Trang 6Địa bàn trường của tôi nằm trong vùng nặng về phương ngữ, nên nhiều em chưa phân biệt được cách đọc các tiếng có phụ âm : s/x , tr/t, d/gi……
Ngay đầu năm , một số em có hiện tượng tái mù vần khó, một số em đọc to nhưng lại ngắt nghỉ không đúng chỗ, nhiều em có thói quen mà bất biết ngắt nghỉ có đúng không nhưng cứ đến hết một dòng là phải nghỉ Hoặc ở những bài học thuộc lòng các em đọc làu làu một mạch mà không chú ý đến việc ngắt nghỉ nhịp thơ cô giáo đã hướng dẫn Bên cạnh đó , đa số phụ huynh HS ít quan tâm đến việc học hành của con cái , khoán trắng cho giáo viên dạy ở lớp Hơn nữa , một số phụ huynh có quan tâm nhưng cách đọc ngọng về phương ngữ, nên việc kèm dạy con em ở nhà còn sai sót nhiều Điều này tuy ảnh hưởng gián tiếp tới việc học nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng nhưng tác hại không phải nhỏ Trước những vấn đề tồn tại như trên tôi đánh giá là do những nguyên nhân
sau :
Với HS vùng đảo như ở trường tôi, việc nghỉ hè đồng nghĩa với việc nghỉ chơi thoả thích, các em không hề quan tâm đến sách vở và việc ôn luyện trong hè Chính vì lẽ đó mà việc tái mù một số chữ sau khi học hết lớp 1 vẫn hiển nhiên tồn tại và diễn ra liên tục Điều này gây rất nhiều khó khăn cho lớp 2 trong thời gian đầu của năm học
Lượng thông tin , phim ảnh trên truyền hình tràn lan trên các kênh của chương trình đã cuốn hút các em Vì thế mà HS ít chuẩn bị bài, ít chịu khó đọc bài ở nhà
Ngoài đọc các nội dung có trong chương trình học thì hầu như các em ít tiếp xúc với các văn bản lạ như : truyện , sách báo dành cho thiếu nhi
Trong giờ học , một số HS còn chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác trong học lập Quá trình bạn đọc bài là thời gian nghỉ ngơi của những HS đó
Trang 7- Một số giáo viên khi dạy còn phụ thuộc hoàn toàn vào thiết kế bài giảng Thực tế có những bài dạy ta có thể áp dụng theo thiết kế ,nhưng có những bài phải dạy đổi cách tổ chức hoạt động Chính vì vậy , mà sẽ có nhiều bài dạy mang tính áp đặt đơn điệu chưa phù hợp với đối tượng HS, làm giảm đáng kể hiệu quả tiết học
- Do hiện tượng “bệnh thành tích” vẫn còn ngấm sâu vào nếp nghĩ của chúng ta, nên việc kiểm tra đánh giá chất lượng đọc của HS còn mang tính định tính theo hướng chủ quan
4/ Các giải pháp
Xuất phát từ những thực tế trong giảng dạy, tôi đã tìm ra được một số giải pháp để giải quýêt vấn đề nâng cao chất lượng đọc của HS lớp 2,cụ thể như sau :
a/ Tổ chức cho HS luyện đọc nối tiếp câu
-Nếu dạy những văn bản văn xuôi đơn thuần, không có lời đối thoại như bài” Ngôi trường mới” ( Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 – Tập 1 trang 50; bài “Cây xoài của ông em” ( Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 – Tập 1 trang 89 )hoặc một số bài khác thì giáo viên tổ chức cho HS đọc nối tiếp mỗi em một đơn vị câu
dung thông báo Chẳng hạn bài“ Tự thuật” Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 – Tập 1 trang 7)
- Nếu dạy những bài thơ thì giáo viên hướng dẫn HS đọc nối tiếp mỗi em 2 dòng thơ Nhưng có bài lại không thể áp dụng theo cách đọc này được Chẳng hạn bài “ Tiếng chổi tre” (Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 – Tập 2 trang 121) ở mỗi khổ thơ nên hướng dẫn
Trang 8HS đọc nối tiếp như sau :
+ HS 1 : Đọc 3 dòng: Những đêm hè
Khi ve ve
Đã ngủ
+ HS 2 : Đọc 2 dòng : Tôi lắng nghe
Trên đường Trần Phú
+ HS 3 : Đọc 3 dòng : Tiếng chổi tre
Xao xác
Hàng me
+ HS 4 : Đọc 3 dòng : Tiếng chổi tre
Đêm hè
Quét rác
Hôm nay đọc nối tiếp theo hàng ngang, ngày mai đọc nối tiếp theo hàng dọc Như vậy
HS sẽ không thể ỷ lại, không thể coi thời gian đọc của bạn là thời gian nghỉ ngơi của mình, bởi vì HS phải theo dõi bạn đọc, nếu đến lựơt mình sẽ đứng dậy đọc Giáo viên yêu cầu HS vừa đọc sai dừng lại , đọc lại từ sai và đọc lại cả câu đó Nếu trường hợp trong một thời gian nhất định mà HS không đánh vần và đọc được tiếng thì GV cần chữa bệnh tái mù cho HS
b/ Tổ chức cho HS luyện đọc đoạn kết hợp với từ chú giải, rèn đọc câu dài:
Để cách luyện đọc này đạt hiệu quả cao, thì GV phải hướng dẫn cho HS xác định bài này có mấy đoạn, mỗi đoạn từ đâu đến đâu Đối với những bài tập đọc chưa ghi rõ đoạn hoặc những bài thơ không viết theo khổ thơ thì việc xác định đoạn với HS lớp 2 là khó Do vậy, GV có thể nêu ngay cách chia đoạn : Ví dụ : Bài “ Mùa xuân đến” (Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 – Tập 2 trang 17) giáo viên phải giới thiệu bài được chia ra làm
3 đoạn Đoạn 1 gồm 8 câu đầu, đoạn 2 gồm 5 câu tiếp theo Đoạn 3 phần còn lại
Trang 9Trong quá trình đọc HS lúng túng khi ngắt nghỉ hơi hoặc ngắt nhịp ở câu
văn , dòng thơ nào thì GV cũng cho HS dừng lại để chỉnh sửa ngay ở đó Khi chỉnh sửa cũng có nhiều hình thức như : HS tự nêu cách ngắt nghỉ và GV kết luận đúng hay sai, hoặc GV hay HS khá đọc, HS phát hiện chỗ ngắt nghỉ hơi
nọ sang dòng thơ kia ( Với thơ 4 -5 chữ ) và nhiều khi để dễ đọc với thể thơ lục bát thì các em ngắt nhịp 2/2 hết các dòng thơ Nếu cứ để như vậy thì sẽ khiến cho các em dần dàn mất đi khả năng cảm nhận cái đẹp được biểu cảm trong bài thơ, trong từng dòng thơ cụ thể để khi hướng dẫn HS không mắc phải tình trạng cách ngắt nhịp đó, sẽ làm mất đi cái hay của nhịp điệu và nội dung bài
Ví dụ : Nếu không nghiên cứu kĩ, không tinh ý trong việc phát hiện nhịp thơ mà HS đọc thì khi dạy bài “ Cây dừa” ( TV 2 tập 2 trang 88), GV sẽ dần dàng bỏ qua khi HS đọc :
Cây dừa / xanh toả/ nhiều tàu (2/2/2) Dang tay/ đón gió/ gật đầu/ gọi trăng /(2/2/2/2) Thân dừa/ bạc phếch/ tháng năm (2/2/2) Quả dừa / đàn lợn / con nằm/ trên cao ( 2/2/2/2) Thực ra theo tôi đoạn thơ này phải được đọc như sau :
Cây dừa xanh / toả nhiều tàu (3/3) Dang tay đón gió/ gật đầu gọi trăng /(4/4) Thân dừa/ bạc phếch tháng năm (2/4) Quả dừa / đàn lợn con / nằm trên cao ( 2/3/3) Trong phần luyện đọc đoạn có một phần mà nhiều GV bỏ qua hoặc chưa chú trọng, đó là việc rèn cho HS đọc phần chú giải trong SGK Ta nên quan niệm phần chú giải là một bộ phận cần đọc Đọc để HS ghi nhớ từ mới , hiểu nghĩa từ
lúc GV vừa rèn luyện cách đọc câu dài vừa giảng từ mới
Trang 10Như vậy , ta thấy từ ngữ được chú giải trong các bài tập đọc là một phần từ vựng cung cấp cho HS lớp 2 theo yêu cầu của chương trình Tiếng Việt Nếu khi dạy học tập đọc , ta không lưu ý cho HS đọc, hiểu ,vốn từ của HS sẽ giảm thiểu đáng tiếc
c/ Phần luyện đọc - hiểu
Đọc hiểu phải gắn liền việc đọc với việc tìm hiểu nghiã của từ ngữ trong bài, gắn việc đọc với việc tìm hiểu bài Để nâng cao hiệu quả hiệu quả phần này, GV nên sử dụng nhiều hình thức đọc thầm Đọc thầm là hình thức đọc không mấp máy môi, đọc trong óc, mắt lướt trên hàng chữ mà vẫn nhận biết được nội dung câu vừa đọc
Trong việc đọc để hiểu nghĩa từ ngữ trong bài, từ ngữ khó HS địa phương chưa quen thì có thể dùng các biện pháp :
- Đặt câu với từ ngữ cần chú giải
- Tìm từ trái nghĩa với từ cần chú giải
- Tìm từ có nghĩa giống với từ chú giải
Đối với từ thực ,có thể dùng hiện vật , tranh ảnh, mô hình để HS nắm nghĩa từ
(số lượng, tên , đặc điểm) tình tiết của câu chuyện, những nội dung để nhận ra ở
các câu văn thơ Sau đó là nắm ý nghĩa của câu chuyện, bài văn,bài thơ
Để tìm hiểu nội dung bài, ta nên dựa vào hệ thống câu hỏi SGK Có thể tố chức cho HS trao đổi để tìm ra nội dung bài Đối với phần này, cần lồng việc giáo dục, liên hệ thực tế vào cuộc sống hằng ngày của các em Việc này có tác dụng rất lớn , tác động trực tiếp vào tâm tư tình cảm, mơ ước của các em Giúp các em có những biểu hiện về tình cảm, có cách nhìn và việc làm sát thực tế hơn trong cuộc sống Ví dụ : Khi dạy bài
“ Chim sơn ca và bông cúc trắng” , qua liên hệ thực tế HS sẽ thấy được tác hại của việc bắt chim, hái hoa Từ đó các em sẽ có ý thức bảo vệ loài vật, bảo vệ vệ sinh môi trường d/ Luyện đọc nâng cao