Vì thế nên qua gần một ngàn năm lịch sử, bóng dáng của các nhân vật này cũng không còn giữ được những đường nét thật rõ ràng, việc ghi chép lại các “ ngôi sao sáng quê hương ” do đó g[r]
Trang 1Chương bốn
NHỮNG NGÔI SAO SÁNG CỦA QUÊ HƯƠNG
Kẻ Rỵ – Kẻ Chè xưa nổi lên nhiều nhân vật kiệt xuất, đến nay vẫn còn được nhắc nhở Rất tiếc, các gia phả ở các họ mất mát nhiều nên hành trạng và công tích của nhiều nhân vật nổi tiếng bị mai một, số còn lại thì ghi chép sơ sài, truyền thuyết trong dân gian cũng ít ỏi rời rạc Vì thế nên qua gần một ngàn năm lịch sử, bóng dáng của các nhân vật này cũng không còn giữ được những đường nét thật rõ ràng, việc ghi chép lại các “ ngôi sao sáng quê hương ” do đó gặp nhiều trở ngại
Căn cứ vào Bảng tiên hiền hàng xã, Lê Gia Chính Phả (Kẻ Rỵ), Lê gia tộc phả
(Kẻ Chè), Trần Tôn Thế phổ, Đỗ tôn thế phổ…và đối chiếu với sách vở, bi kí hiện
nay còn giữ được ở chương này xin dựng lại các gương mặt các nhân vật nổi tiếng ở
Kẻ Rỵ – Kẻ Chè xưa Đó là những con người thông minh, có người là thần đồng, có nhân cách lớn, có người giữ những trọng trách của nhà nước xưa với quan điểm “ dân vi quý ”, có người nổi tiếng văn học và sử học mà công trình còn vang vọng đến ngày nay
Những “ ngôi sao sáng quê hương ” này đã có thời thơ ấu và trưởng thành gắn
bó với quê hương Kẻ Rỵ – Kẻ Chè và bằng tài năng của mình đã làm rạng rỡ cho quê hương đất nước
1 Lê Lương: Ông là sơ tổ của họ Lê ở đất Kẻ Rỵ, là tổ 7 đời của nhà sử học
Lê Văn Hưu Theo gia phả thì tên huý của ông là Hùng Vũ Có thể họ nhà Lê Lương
có mặt rất lâu trên đất Kẻ Rỵ, đến đời ông thì “ gia thế giàu thịnh, thoc chứa hơn 100
kho, trong nhà nuôi tới 3000 môn khách (?) Đương thời gọi ông là “ nhà cự tộc
châu Ai ” (hào tưởng Ái Châu) Những năm mất mùa dân đói, Lê Lương đã xuất của kho ra để cứu giúp, vì vậy xa gần đều xưng tụng công đức ”
Đinh Tiên Hoàng dẹp 12 sứ quân, thống nhất đất nước, đặt tên nước là Đại Cồ Việt Tiếng tăm nhân đức của Lê Lương được vua Đinh hâm mộ, uy ítn của ông trùm khắp Cửu Chân Cho nên trong một lần đi kinh lý, Đinh Tiên Hoàng đã “ vời ông đến hành tại ” giao cho ông cai quản đất Cửu Chân với chức vụ Đò quốc dịch sứ quán Cửu Chân phong tước Kim tử Quang lộc đại phu Chức vụ này có tính chất cho truyền con nối, cho nên con cháu Lle Lương như Lê Dụng, Lê Chinh, Lê Quý …tiếp
nối làm Quản giới xứ Địa giới vua Đinh ban cho Lê Lương được ghi rõ: “ ban cho
nửa kỳ (1) đất ”, “ động từ phân dịch, nam từ vũ long, lấy từ núi Ma La, bắc thuộc chân lên Kim Cốc ” tương ứng với đất Thanh Hoá ngày nay.
Lê hoàn nối ngôi vua Đinh vẫn xác nhận địa giới và chức tước của Lê Lương Quân Tống xâm lược nước ta
Trang 2(1)Hán Việt tự điển: thuở xưa, mảnh đất vuông 1.000 dặm gọi là 1 kỳ.
Lê Hoàn đã liên kết với Lê Lương để dẹp loạn (Đinh Điền, Nguyễn Bặc) và đánh tan quân Tống Lê Hoàn đã về tận Kẻ Rỵ gặp Lê Lương trước khi đem quân diệt Đinh Điền, Nguyễn Bặc ở miền Vĩnh Lộc ngày nay Cái giếng to trước chùa ông Hưu vẫn còn nhiều dấu tích: bát đĩa ấm chén, trong đợt đón tiếp Lê Hoàn và tướng sĩ rửa không xuể nên “ tuồn ” cả xuống đáy, nay gọi là “ giếng ông Hưu ” Lê Hoàn cong giao cho Lê Lương lo việc quân lương để đánh tống với chức tước còn ghi trong
gia phả: “ Bộc xạ tướng quốc ” Như vậy, trong thời kỳ mở nước tự chủ Đai Cồ Việt,
Lê Lương đã đóng góp công lao không nhỏ, quê hương Kẻ Rỵ lúc này trở thành một trong những trung tâm chính trị của đất Cửu Chân và của đất nứơc Một vùng đất Kẻ
Rỵ như Cồn Mảng, Nền Chùa, Mả Choòng với các mau sâu, sông Rọc và các vỉa gạch cổ nay vẫn còn, có thể là dấu vết khu dinh thự, thành quách thưòi Lê Lương, chưa được ai khám phá
Lê Lương lại là người rất hâm mộ đạo phật Chưa rõ Phật giáo du nhập vào Kẻ
Rỵ tự bao giờ, song đến thời Lê Lương đã rất phôn thịnh, Lê Lương đã bỏ của nhà ra xây ba chùa lớn Minh Nghiêm, Hương Nghiêm và Trinh Nghiêm Chùa Hương Nghiêm xây dựng ngay trên đất Kẻ Rỵ Đó là ngôi chùa to đẹp nguy nga, nổi tiếng
cả vùng
Trong văn bia chùa Hương Nghiêm có đoạn trong bài minh ca ngợi Lê Lương: Lớn thay ! Ngài bộc xạ
Vững một chí không rời
Chùa Hương Nghiêm dựng đặt
Nền cũ vẫn chưa phai
Mấy đời vua du ngoạn
Sửa sang mãi không thôi (1)
2.Lê Chính: Lê Chính có tên chữ là Văn Tống, con trưởng của Đào Quang trưởng lão lê Dụng Ông là cháu đích tôn của Lê Lương và là tổ thứ ba của họ Lê, sau Lê Lương, Đạo hiệu của Lê Chính là Đạo Dung Thiền sư (2) Ông nối tiếp cha là Lê Dụng làm quản giới xứ Ái Châu
ông tu hành rất sớm tại chùa Hương Nghiêm Đến năm Canh Tuất (1070), sư bỗng nhiên bỏ quê nhà ra đi tìm thầy giỏi, bạn hay để nghiên cứu thêm về đạo phật Ông đi nhiều nơi và sau cùng tới kinh thành Thăng Long Đó là vào đời vua Lý
Trang 3Thánh Tông niên hiệu là Thiện Huống Bảo tượng vào những năm đầu đời vua Lý Nhân Tông niên hiệu Thái Ninh Tại đây, ông gặp một nhà sư Ấn Độ hiệu là Cao Thiền (có lẽ là nhà sư Ti ni đã lưu chi, tổ sư của phái Thiền Tông) Ông tôn nhà sư Cao Thiền làm thầy và được nhà sư giác ngộ về tâm pháp
(1)Theo bản dịch bia chùa Hương Nghiêm của Băng Thanh và Huệ Chi (Văn học Lý Trần Nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội 1977, trang 128)
(2)Trong Văn bia chùa Hương Nghiêm ghi sự tích của ông lẫn lộn với Lưu Công là
Lưu Khánh Đàm Có lẽ không chính xác Xin ghi lại để tra cứu sau
tiếp đó Thiền sự Đạo Dung đi thăm nhiều nơi, tìm cảnh đẹp thanh u để đặt chùa
giảng đạo “ sư ngược dòng sông Lô, lên đến thượng nguồn tìm thăm cảnh đẹp Đến
núi Thứu Đái thấy cảnh chí thần tiên, mây tuôn suối chảy, vượn hót chim đàn, sư ưng lắm, chọn nơi dựng chùa Sư bèn sai thợ chọn hướng đắp nền, xếp đá chặt cây dựng nên một ngôi chà nguy nga đặt tên là chùa Khai Giác ”
Vào năm (1087), sư trở vầ Kẻ Rỵ Thấy cảnh chù Hương Nghiêm đổ nát, sư vận động Lưu thái Uý (?) và Lý Thường Kiệt (lúc đó là Tổng trấn Thanh Hoá) bỏ công của để tu bổ lại chùa Đến năm Kỷ Mão (1099)sư được vua Lý Nhân Tông niên hiệu Hội Phong mời vào triều giảng kinh, ông rất được trọng vọng
Hơn 20 năm sau (năm Nhâm Dần 1122 ông lại về quê, bỏ tiền ra trùng tu lại chùa Hương Nghiêm có quy mô to lớn lộng lẫy
Chùa Hương Nghiêm dưới bàn tay tu đạo của Lê Chính đã trở thành một thắng cảnh, một công trình có tính văn hoá sâu sắc (1)
Lê Chính là một thiền sư có nhêìu công tích với Phật giáo đời Lý, nhưng trên hết là tấm lòng yêu non nước Đại Việt xinh đẹp, yêu quê hương phồn vinh, góp phần không ít trong việc xây dựng quê hương
3.Lê Văn Hưu: Ngày nay: ai cũng biết Lê Văn Hưu là nhà sử học vĩ đại của nước ta
Song tiếc thay, ngoài công trình Đại Việt sử ký (mà bản chính cũng thất lạc), sách
vở ghi về ông quá ít không khỏi có chỗ chắp nối tưởng tượng Cả cuộc đời của nhà sử học vĩ đại này như con rồng trong mây, hiện ít ẩn nhiều, khiến cho chúng ta băn khoăn ngậm ngùi
Lê Văn Hưu sinh năm 1230 (Canh Dần) đời Trần Thái Tông và mất năm 1322 (Nhâm Tuất) đời Trần Minh Tông, thọ 92 tuổi
Sách vở đều ghi: Ông trong giáp Bối Lý sau đổi là Phủ Lý, huyện Đông Sơn,
cháu bảy đời của Lê Lương Lê Văn Hưu lấy hiệu là Tu Hiền.
Trang 4Dòng họ Lê Lương đến đời Lê Văn Hưu đã sa sút nhèo khó Bố ông là Lê văn Minh tự là Văn Thiện lấy vợ họ Đỗ ở trong làng Hai vợ chồng lấy nhau chưa được nửa năm thì ông Minh bị ác bệnh mà mất Lúc đó, bà vợ họ Đỗ đã mang thai được 4
tháng sau này đẻ ra Lê Văn Hưu Lúc đó vào mùa tháng năm khô hạn “ cả xứ Thanh
dồn vào phủ Ngọc Sơn (tức huyện Tỉnh Gia ngày nay) đào vét kênh Trầm, kênh Hoà dưới sự đôn đốc của quan Nội ninh tự là Nguyễn Bang Cốc theo chỉ dụ của Trần Thái Tông ” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Theo gia phả Lê Văn Hưu “ mặt mày đầy đặn, tư chất nhanh sáng, lên chín
tuổi theo học ông thầy họ Nguyễn người xã Phúc Triền, học ngày càng tiến, được thầy học yêu khen ” Đến năm 11 tuổi thì Lê Văn Hưu “ thông minh xuất chúng ”.
(1)xem thêm văn bia chùa Hương Nghiêm (phần phụ lục).
Cậu bé Hưu nổi tiếng thần đồng Nhân dân kể rằng: tren đầu cậu Hưu thưòng có bốn
đám mây tre:đi đến đâu bốn đám mây theo đến đấy nên cậu không bị mưa nắng Lại
có chuyện về việc cậu đối lại câu đối của ông thợ rèn cậu đối rất giỏi nên cậu được ông phó rèn (cũng hay chữ) thưởng cho 3 quan tiền và cái dùi đẹp để đóng sách chữ Nho
Đến tuổi trưởng thành, chàng trai Lê Văn Hưu lên trọ học tại chùa Báo Ân (thuộc làng Nhồi, nay là xã Đông Tân huyện Đông Sơn, gần thị xã Thanh Hóa) tại đây chàng trai thông minh giàu nghị lực này đã gặp “ Tiên ” tức là một đạo sĩ tu theo
đạo lão) Một bên, đạo sĩ,nên câu đối “Cây thiên tuế sống ngàn năm ” và một bên chàng trai Lê Văn Hưu đối lại: “hoa thiên lý thơm ngàn dặm ”; một bên “ bản thân ”
ích kỷ, một bên sống vì tiếng thưom coa ích cho mọi nười
năm vua Trần mở khoa thi tạ kinh đô Thăng Long thì Lê Văn Hưu vừa tròn 17 tuổi, đó là năm Đinh Mùi (1247) Mùa thi đó, một lớp trẻ trỗi lên làm ngạc nhiên toàn đất nước Trạng Nguyên là Nguyễn Hiền mới 13 tuổi Lê Văn Hưu đậu Bảng Nhãn (Tiến syc cập đê đệ nhị danh)và Đăng Ma La đậu Thám hoa (thứ ba) mới 14 tuổi Thật là kỳ tài hội ngộ trong nền độc lập tự chủ của văn hoá Thăng Long đang lên, của hào khí Đông A kiên quyết không chịu cúi đầu trước vó ngựa Nguyên Mông đang đe doạ nền độc lập dân tộc
Lê Văn Hưu được bổ làm chức Kiểm Pháp quan trong quân đội nhà Tràn Ông từng là môn khách dưới trướng Trần Quang Khải (cũng có sách kể là ông làm quân
sư và là thầy học của Trần Quang Khải) Nghĩa là ông trực tiếp tham gia chống quân
Nguyên lần thứ nhất (1256) và lần thứ hai (1282) Gia phả ghi rằng: Năm 45 tuổi ông
được thăng Binh bộ thượn thư Đó là vào khoảng năm 1275 Cũng lúc này, ông được
vua Trần giao cho chức trưởng sử quan để cầm đầu nhóm biên soạn Đại Việt sử ký
Trang 5là cuốn quốc sử lớn nhất từ trước cho đến lúc bấy giờ Với sử học uyên bác, thực tiễn chứ không nệ từ chương ; với lòng yêu nước say sưa, bứoc chân ông đặt khắp nơi trên đất nước thân yêu để tìm hiểu nghiên cứu ; với lòng thương dân và tinh thần dân tộc quật cường giữa hào khí chiến thắng đế quốc Nguyên Mông Lê Văn Hưu hoàn
thành cuốn Đại Việt sử ký, chép chuyện từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng hơn
1000 năm gồm 30 quyển được vua xuống phụng chỉ Năm Bính Ngọ (1366) được thăng Hữu Bộc xạ và cuối đời giữ chức nhập nội hành khiển thượng thư hữu bật
Ông là người ưu thời, trung thành với chí hướng của thầy Chu Văn An, giữ lễ cung kính với thầy học, giữ tình cảm bền chặt với bạn bè
Ông tích cực đề cao nho học, bài bác đạo phật mê hoặc lòng người Ông còn là nhà văn học có tên tuổi
gánh vác một chế độ ngày càng đi vào con đường băng hoại bế tắc, Lê Bá Quát ngày càng mang nặng tư tưởng yếm thế, thích an nhàn ý chí và tâm sự của ông có thể tìm
thấy trong các bài thơ hiện còn tìm đượ 7 bài và một mài Văn bia chùa Thiệu Phúc.
5 Lê Giốc: Lê Giốc (hay Lê Bá Giốc) là con trai Thượng thư Hữu bật nhập nội hành
khiển Lê Bá Quát, Đại Việt sử ký toàn thư ghi là Lê Giác (1).
Theo bản xã tiên hiền thì ông học giỏi, đậu đệ tam giác đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi (1331) đời Trần Hiếu Tôn
Năm xương Phù thứ hai (1378) đời Trần Phế Đế, ông giữ chức Tả tham chính được vua phái làm An phủ sứ đất Nghệ An (tức là Trấn thủ đất Nghệ An) Đất Nghệ An thường bị thế lực thống trị Chiêm Thành quyấy nhiễu, dân tình khốn đốn Nhà Trần bước vào con đường suy vi, nên việc bảo vệ đất Nghệ sơ sài, người chiêm luôn luôn đánh cướp Mùa Hạ năm Mậu Ngọ (1378), người Chiêm đem quân đến Nghệ An Bờy giờ, người trong tôn thất nhà Trần là Ngự câu vương Trần Húc bất mãn, muốn cướp ngôi vua nên chạy vào đất Chiêm, hàng vua Chiêm và kích động quân Chiêm lấn chiếm, tuấn xưng tôn hiệu Trần Húc chiêu dụ và đe doạ nhân dân Nghệ An, nhiều trong tin theo làm nội ứng Nghệ An thất thủ, Lê Giốc bị giặc bắt được
Tháng 6 năm này, quân Chiêm đánh ra sông Đại Hoàng (bây giờ là Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh) vua sai Hành khiển Đỗ Tử Bình đem quân chống giữ sông đô
Đỗ Tử Bình đại bại Thừa cơ, quân Chiêm xâm phạm Thăng Long, bắt người cướp của rồi rút về Nghệ An Đến đây, Trần Húc đem Lê Giốc ra du hàng, song ông đã chửi thẳng vào mặt tên “ rước voi giày nô ” này tương truyền, ông chửi tên bán nước
và bọn cướp nước không ngớt miệng Giặc bắt ông quỳ lạy, ông không chịu Giặc bắt chói ông, cặp thanh che thẳng vào người, đốt lửa và nướng ông trên ngọn lửa rừng rực Ông vẫn chửi bọn giặc và tên Trần Húc không ngớt miệng Lửa càng to, lời chửi vẫn vang dội, cho đến khi chết mới thôi, tên bán nước và bọn giặc phải khiếp vía
Trang 6Việc tâu lên triều đình, ông được trung phong là Mạ tặc trung vũ hầu, lại cho con ông là Lê Nhuế làm tránh trưởng bốn cục Cận thị chi hậu Nghệ An còn có đền thờ và bia đá ghi chép công đức của ông
Sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn về hành vi trung nghĩa này của ông như sau: “
Bỏ sống để giữ nghĩa còn hơn là sống; cần sống mà chịu nhục, người quân tử không làm kinh dịch nói: “Người quân tử liều mình để thoả chí ” “ Giác được như thế!”.
(1) Có trong nói, Lê Quát có hai con trai là Lê Giốc, Lê Giác Thật ra Lê Giốc và Lê Giác chỉ là một Giốc là tên quê hương thường gọi Ngoài ra, không rõ Lê Quát được mấy người con
Đền thờ nhà họ Lê Bá ở Kẻ Rỵ có đôi câu đối:
Mạ tặc trung thần thanh vạn đại
Thướng thiện ánh thuyết bạch tam quan
Tạm dịch nghĩa:
Trung thần chửi giặc tiếng còn lưu ngàn đời
Ánh trong trắng ở trên trời còn rọi chiếu cửa đền.
Ở một vế câu đối khác sau này cũgn có nhắc đến ông:
Trần triều Lê Mạ tặc hầu vi trung vi hiếu
(Triều Trần, ông hầu họ Lê chửi giặc nên trung nên hiếu)
Trong bản xã tiên hiền ở Kẻ Rỵ ghi rõ:
Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, Mạ tặc trung vũ hầu, Lê Tướng Công.
6 Vũ Kiêm
ông sinh năm ất Mão (1615) đời Lê Kính Tông niên hiệu Hoằng Định Vũ Kiêm tên chữ là Phúc Nho, hiệu là Thiệu Đạo Lúc nhỏ, ông thông minh đỉnh ngộ, có tiếng học giỏi Năm 18 tuổi đã “ lều chỏng ” đi thi Hương và đậu đầu hàng xứ Sau đó ông thụ giảng (theo học) trường Quốc Tử Giám Hơn 10 năm sau, lúc đó 32 tuổi, ông dự thi hội và thi Đinh Kỳ thi này ông đậu “ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân ” Đó là khoa thi năm Bính Tuất (1616) đời vua Lê Chân Tông niên hiệu Phúc Thái năm thứ tư
Ông làm quan trãi qua các triều vua Lê Chân Tông, Lê Thần Tông – Lê Huyền Tông, Lê gia Tông Phần lớn đời làm quan của ông đều ở vùng núi phía Bắc nước ta với chức Đề lợi ngự sử Thượng bảo tự khanh (đại loại như cán sự, chuyên viên các bậc) Năm Bính Ngọ (1666) đời Lê Huyền Tông ông được thăm Tham chính sứ Sơn Tây (ngang chức quan đầu tỉnh) nhưng năm sau (1667), vì cố kê khai việc đắp đường
Trang 7đê chậm hạn, nên bị giáng xuống làm Hộ khoa cấp sự trung ít lâu sau, ông được thăng chức hiến sát sứ các tỉnh Thái Nguyên, Hải Dương ; sau đó lại được trở lại chức Tả tham chính tỉnh Sơn Tây và Nghệ An
Tuy học giỏi nhưng cuộc đời làm quan của ông chỉ loanh quanh ở cấp tỉnh
Ông thích thơ văn, thường hay ngâm vịnh Bài minh trong bia của ông có viết:
Văn hùng, but lớn Học rộng nối danh Trong triều ngoài nội Hoa bay tốt lành Văn chương đức nghiệp Tiếng lừng tuấn anh Ông chuộng giản dị thanh bạch, thích giao du Ông mất năm 1684, thọ 69 tuổi
7 Thiều Sỹ Lâm: sách Lịch triều tạp kỹ của Ngô Cao Lãng có ghi: “Thiều sỹ Lssm
người xã Phú Thọ huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa ”.Đó là cơ sở để xác nhận
Thiều Sỹ Lâm là quê ở Kẻ Rỵ (nay là làng Phủ Lý Trung) Thật ra, quê quán Thiều
Sỹ Lâm, có điều phức tạp Theo truyền thuyết thì: Làng Phú Thọ xưa có ông Lê
Hành, làm quan trong triều và có nhà ở làng Thiều (tức là Phú Thọ) Có người bạn đồng liêu họ Thiều (chưa rõ ai) bị tội Một người vợ (có mang chạy vào ẩn náu trong nhà Lê Hành, sau đẻ ra một bé trai, đặt tên là Hồ Thám Đến tuổi trưởng thành Hồ Thám bị gia tộc họ Thiều đòi về (chưa rõ về đâu) và đặt tên là Thiều Sỹ Lâm.
“Theo Lược truyện các tác gia Việt Nam” thì Thiều Sỹ Lâm sinh năm 1641đời
Lê Thần Tông niên hiệu Dương Hòa và không rõ năm mất Ông học giỏi Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thần đồng.Mùa xuân năm Tân hợi (1671 năm Cảnh Trị thứ 9 ông Dự Điện thi và đậu Thám Hoa (tức tiến sĩ thứ ba)
Ông làm quan dưới các triều Lê Gia Tông, Lê Huy Tông …Tháng 12 năm ất Mão (1675) niên hiệu đức nguyên (Lê Huy Tông), Thiều Sỹ Lâm được ban chức Đô cấp sự trung Lại Khoa Bia ghi các bậc tiên hiền huyện Đông Sơn xưa có ghi chép: Thiều Sỹ Lâm đi sứ nhà Thanh song về nước thì họ mạc hiếp ngôi vua, ông không chịu làm tôi cho nhà họ Mạc nên nhảy xuống sông Hồng tự tử để giữ tiết tháo
Ông còn là nhà sử học Cùng với Hồ Sỹ Dương, Thiều Sỹ Lâm đã soạn sách
Lam Sơn Thực lục.
8.Trần Trỗi: Còn có tên là Trần Lỗi, hoặc Trần Lê Hiệu, hiệu là Chính Trai Ông sinh năm 1784 tức là năm Giáp Thìn dưới triều vua Lê Hiến Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 từ thời thưo ấu đến khi trưởng thành, Trần Trỗi sống trong cơn nghiêng ngã của đất nước, bởi sự xâu xé của 3 tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, bởi cuộc xâm lăng của 20 vạn quân Thanh Song lịch sử hào hùng đã viết nên những
Trang 8trang sử vẻ vang của phong trào nông dân Tây Sơn, của vị anh hung Nguyễn Huệ đánh tan quân Thanh xâm lược trong cuộc hành quân thần tốc Tất cả lịch sử đau thương và hào hùng đó đã in dấu vào cuộc đời ông
thuở nhỏ, Trần Trỗi thông minh, dĩnh ngộ, nổi tiếng thần đồng Gia đình nghèo, bố tuy có biết ít chữ Nho, nhưng cũng cày thuê cuốc mướn trong làng ? mẹ thì những thời gian “ nông nhàn ” thường chạy chợ Sim, Rỵ …để kiếm thêm Chính
bố ông đã “ khai tâm ” cho ông
Năm 13 tuổi Trần Trỗi thụ giáo với ông Huấn Nguyễn làng Phúc Triền Năm
20 tuổi, ông thụ giảng với đốc học Thanh Hoá lúc đó là Phan Thất An (1) Bia mộ
của ông Trần Trỗi có chép: “ Việc học của ông với tiên sinh Phan Thất An La Sơn
rộng rãi mà ghi được, thông suốt mà linh vị, văn cẩn mật mà đẹp đẽ, Trăm nhà không
ai là không biết đến ”
Năm Gia Long thứ 18 ông dự khoa thi Hương (Kỷ Mão), đậu giải Nguyên (đậu đầu) Tiếng tăm nức cả một vùng cho nên năm sau (1820) Minh lệnh nguyên niên ông đợc sung vào sử quán, giữ chức bi tu (ghi chép tài liệu) nhưng vìmẹ già nên ông xin về quê nuôi mẹ Năm sau, Tân Tỵ (1821), ông được cử đi coi thi ở huyện Lôi Dương (nay là Thọ Xuân)
(1)Gia phả ghi là Phan Thất An La Sơn Có lẽ cùng lên với Phan Bảo Định, một nhà Nho Uyên bác, cùng làm trong Sùng Chính thư viện với Bùi Dương Lịch dưới triều Tây Sơn, sau theo Gia Long Phan Bảo Định đã có thời gian làm đóc học Thanh Hoá Mùa xuân năm Nhâm Ngọ (1821) ông dự thi hội và thi Điình đậu Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân “ Vinh qui bái tổ ” ông cũng xin ở nhà luôn để nuôi mẹ Tiếng tăm
và đức độ ông Nghè Trần nổi tiếng cả xứ Thanh
Mãi đến năm Kỷ Sửu (1829) ông được bổ nhiệm làm Hàn lâm tu soạn sau thăng đốc học Quảng Nam Hai năm sau, năm Tân Mão (1831) được thăng công bộ ang trung Và chỉ năm sau đó, năm Nhâm Thìn (1832) ông cáo bệnh về hưu Đó là năm Minh Mệnh thứ 13, ông vừa 48 tuổi
Ông Nghè Trần học nhiều, làm quan ít ; chỉ có 4 năm ngắn ngủi mà thôi Học tài thi phận song cố chí dùi mài con đường học vấn và thành đạt, ông Nghè Trần đã nêu tấm gương học tập kiên trì cho làng nước và quê hương
về quê, ông mở trường dạy học Học trò theo học rất đông, có đến hàng trăm người Ông có tài, dạy dỗ tận tâm nên học trò giỏi nhất vùng Ông mất vào năm Canh Tuất (1850), thọ 66 tuổi (năm Tự Đức thứ 3)
Trang 9ông thông cả nho y, lý số nên đạo học uyên thâm Học trò nhiều người noi chí thầy và nối được sự nghiệp của ông (1)
Nhà thờ họ Trần có đôi câu đối thờ, sánh ông với tướng quân Lê Giốc:
Trần triều, Lê Mạ tặc hầu, vi trung vi hiếu
Thang châu, Trần đốc học quan, thử địa thử phân
Tạm dịch: Triều Trần, ông hầu họ Lê chửi giặc mà nên trung hiếu
Thanh Hoá, ông đóc học họ Trần, đất này phải có người này
9.Trần Văn vúi: Còn có tên là Trần Văn Từ hiệu là Đạm Trai, con thứ ba ông Trần Hoà Trung, anh em con chú con bác với ông Nghè Trần Trỗi Quê hương thường gọi ông là quan đóc Trần (2)
Lúc nhỏ, ông học rất thông minh Gia cảnh nghèo khó nên phải đi dạy tư Năm 22 tuổi, ông dạy học ở Quảng Xương
Gia phả ghi rằng:Lúc bấy giờ, có ông Dốc học Thanh Hoá là Thẩm Định Công (?) tiến sĩ người Hà Tĩnh giám sát kỳ thi tứ trường của tỉnh Ông Vúi mon men đến xem các thí sinh làm bài Quan đốc bắt gặp ngăn lại hỏi, ông nói là học trò Quan đóc ra câu đối:Chi là đi, chi là đó đi không đi đứng đó làm chi ?Ông đối ngay: Đạo là nói, đạo là đường, nói thì nói tìm đường phải đạo Ông đóc mến tài, mời về nàh nói chuyện Ông ứng đáp “ như nước cháy ! Khiến quan đốc kinh ngạc và đem của báu (khi trọng) trong nhà thưởng cho ”.
Năm Gia Long thứ sáu, khoa thi hương Đinh Mão ông đậu tú tài Năm Canh Thìn (1820) ông đi thi hội với ông Nghè Trần, anh đậu giải nguyên còn ông đậu thứ 6
Năm Tân Tỵ (1821) ông thụ chức sử quán Hàn lâm biên tu, năm Kỷ Sửu (1829) thăng hình bộ chủ sự Lúc đó ông đã 46 tuổi Năm sau, Canh Dần, lại được thăng đốc học Gia Định và năm Ất Mùi (1835) chuyển sang đóc học Quảng Bình … Năm 61 tuổi, ông xin nghỉ hưu tại quê nhà
(1)Chính ông là trong đầu tiên viết nên 3 quyển gia phả họ Trần
(2)Hiện còn nhà thờ ở làng Nam Ông là con chú, ông Nghè Trần là con bác, kém ông Nghè vài ba tuổi
Cuộc đời “ làm quan ” của ông Trần văn Vúi thật “gian nan” Trong 15 năm làm quan, ông bị “ thuyên chuyển nhiều lần ”, từ nam ra bắc, có lần đễn nhiệm sở mới chưa đầy một năm đã chuyển Hiện còn 13 đạo sắc “ bổ nhiệm ” dưới triều Minh Mệnh trong 15 năm làm quan này trường hợp ông Vúi là một thực tế sinh động minh hoạ cho chính sách “ dùng người ” Bấy giờ nhà Lê loạn lạc, Trịnh,
Trang 10Nguyễn phân tranh Ông tòng quân đánh Nguyễn lập được nhiều công được ban chức tước phó thiên hộ đô thiết tướng quân
Có lẽ do “ chinh nam ” nhiều lần mà ông hiểu được phong trào Tây Sơn Dưới triều Thái Đức, ông đã chiến đấu dưới sự chỉ huy của cị anh hùng Nguyễn Huệ ông lập được nhiều công trạng và được thăng chức phù đinh hộ bộ Rất tiếc, truyền thuyết
và gia phả không ghi gì hơn về ông tướng Tây Sơn này
12.Các ông quận công họ Lê:
Vào thời Lê Trung Hưng, họ lê thôn Trà Đông (khác họ Lê thôn Kẻ Rỵ) nổi lên nhiều ông quận công tham gia phù Lê diệt Mạc, nhiều ông cùng chung danh hiệu là Trà Quận công Các Trà Quận công này đã tạo lập quan dinh, xây dựng đài các dinh thự, lập xưởng rèn vũ khí, xây kho lương ở làng Chè Đúc (nay ở xứ Bản Hà, làm cho
Kẻ Chè sầm uất một thời Kẻ Chè vẫn truyền về 18 ông quận công của quê hương song căn cứ vào gia phả họ Lê ở đay thì chỉ có các quận công sau đây:
Trà quận công: Ông tự là Trung Giản, tên thuỵ là Mai Hiên, tên huý là Lê Bồi thuộc đời thứ ba họ Lê ở Kẻ Chè
Khi bà mẹ mang thai sắp tới kỳ sinh, phụ thân ông nằm mơi thấy “ điềm hoa súng nở ”(!) lấy làm mừng rỡ
ông là người khôi ngô tuấn tú, theo học võ nghệ, sau đó tòng quân diệt Mạc Ông được phong binh bộ vũ trận thanh lại tư lang trung, coi giữ và phân phát vũ khí cho binh lính Năm Hoằng Định thứ 8 (1607) ông đánh trận ở Giản Khẩu, lập được chiến công, được phong tá lý công thần đãi tín tước Vĩnh Lộc đại phủ
Triều Lê Thần Tông, Vĩnh Tộ năm thứ 7 (1626)ông sung vào sứ bộ đi sứ nhà Minh “ lập được công lớn ”(1) khi về nước được phong Thái thường thị lang văn hiển bá
Năm Long Đức nguyên niên ông lại được Gia phong Hữu thị lang Trà quận công Đến năm Phúc Thái lại đợc gia phong công bộ thượng thư thái bảo Trà quận công Năm Hoằng Đức thứ tư lại được gia phong: Đôn hậu tá lý công thần đãi tín kiêm Tử lộc đại phu thái bảo Trà quận công
Lê Bồi là quan võ phục vụ cho tập đoàn Lê Trịnh ở thế kỷ 17 Ông đến 3 lần được phong là Trà quận công (2)
(1)Đại Việt sử ký toàn thư ghi Đoàn tứ bộ nàu do tránh sứ Nguyễn Tiến Dụng và
Trần Vĩ …sang sứ Minh theo lệ hàng năm Chưa rõ “ lập được công lớn ” là gì
(2)Gia phả còn ghi: năm Khánh Đức thứ 4 Lê Bồi được tấn phong Phó Quốc Vương, sau lại tặng là Thái Phó …việc ghi chép có phần lộn xộn, xin tồn ghi