Việt Nam cần phải tách vấn đề chủ quyền đối với những vùng biển này ra khỏi tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để: 1 Trung Quốc không thể dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để nguỵ trang ch[r]
Trang 1I Biển Đông
( Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )
Biển Đông (vùng biển đông Việt Nam) là một biển rìa lục địa (marginal sea), một phần của
Thái Bình Dương, bao phủ một diện tích từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích ángchừng khoảng 3.500.000 km² Đây là một hình thể biển lớn nhất sau năm đại dương Các đảo ởBiển Đông có số lượng nhiều, tập hợp thành một số quần đảo Vùng biển này và phần lớn các đảokhông có người ở của nó là mục tiêu tranh chấp chủ quyền của nhiều quốc gia xung quanh Nhữngtranh chấp đó cũng thể hiện ở số lượng tên gọi được sử dụng để chỉ vùng biển này
Mục lục
1 Các tên của vùng biển
2 Địa danh trong biển Đông
3 Địa lý
o 3.1 Các đảo và đá ngầm
4 Các nguồn tài nguyên
5 Tuyên bố lãnh hải
1 Các tên của vùng biển :
Biển Đông nhìn từ Mũi Né
South China Sea là thuật ngữ phổ biến nhất trong tiếng Anh để chỉ vùng biển này, và tên
trong đa số các ngôn ngữ Châu Âu khác cũng như vậy, nhưng các nước xung quanh thì gọi nóbằng nhiều tên khác nhau, thường phản ánh chủ quyền lịch sử của họ đối với quyền bá chủ vùngbiển
Trung Quốc thường hay gọi tắt biển này là Nam Hải (南海) Trong ngành xuất bản hiện nay
của Trung Quốc, nó thường được gọi là Nam Trung Quốc Hải (南中國海), và cái tên này cũng
thường được dùng trong các bản đồ bằng tiếng Anh do Trung Quốc ấn hành Philippines gọi là
biển Luzón theo tên hòn đảo lớn Luzon của Philippine.
Tại Việt Nam, hầu hết lãnh thổ hướng chính ra biển là hướng đông, do đó tên tiếng Việt củabiển này hàm nghĩa là vùng biển Đông Việt Nam Ở đồng bằng sông Cửu Long có thể ra biển vềhướng tây (vịnh Thái Lan) về phía các nước Campuchia và Thái Lan Biển Đông Việt Nam cònghi dấu ấn của mình vào văn hóa và lịch sử Việt Nam, thể hiện qua câu tục ngữ "thuận vợ thuận
Trang 2chồng tát biển Đông cũng cạn; Thuận bè, thuận bạn tát cạn biển Đông", hay thành ngữ "dã tràng xecát biển Đông" Người Trung Quốc ở đảo Hải Nam thì có câu "phúc như Đông hải, thọ tỉ Namsơn"[1] Trong các tài liệu cổ về hàng hải của Bồ Đào Nha vào thế kỉ 15-16 còn có tên là Biển Chăm Pa.
Ngoài ra còn có East China Sea (tên quốc tế của biển này) ở phía bắc so với biển Đông ViệtNam, Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải, khi tra cứu những tài liệu của Trung Quốc hoặc của nướckhác tham khảo tài liệu Trung Quốc, chú ý không nhầm lẫn hai biển Đông này
Tên gọi quốc tế của biển Đông ra đời từ nhiều thế kỷ trước, là biển Nam Trung Hoa vì thờibấy giờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã cógiao thương với phương Tây qua con đường tơ lụa Tên gọi nhiều biển, đại dương vốn căn cứ vào
vị trí của chúng so với các vùng đất gần đó cho dễ tra cứu, không có ý nói về chủ quyền Có thể kể
ra các thí dụ là Ấn Độ Dương, là đại dương ở phía nam Ấn Độ, giáp nhiều nước ở châu Á và châuPhi, không phải là của riêng nước Ấn Độ; hay biển Nhật Bản, được bao quanh bởi Nga, Bắc TriềuTiên, Hàn Quốc và Nhật Bản
2 Địa danh trong biển Đông :
Vịnh Hạ Long thuộc vịnh Bắc Bộ
Vịnh Bắc Bộ là phần biển Đông giữa miền Bắc Việt Nam với Đảo Hải Nam miền NamTrung Quốc Bờ phía Tây là bờ biển Việt Nam từ Thanh Hóa đến Móng Cái Phía bắc từ Móng Cáitrở sang phía Đông là 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Quốc với bán đảo Lôi Châu BờĐông là đảo Hải Nam của Trung Quốc Trong vịnh có hàng nghìn đảo nhỏ, nổi tiếng nhất là cácđảo trong vịnh Hạ Long được UNESCO xếp loại là di sản thiên nhiên thế giới Đảo Bạch Long Vĩthuộc Việt Nam ở giữa vịnh, có diện tích khoảng 2,5 km²
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa biển Đông đã được nhiều chính quyền ViệtNam liên tục thực hiện chủ quyền từ nhiều thế kỷ qua Quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc dùngbạo lực chiếm giữ một phần từ những năm 1950 và hoàn toàn từ năm 1974 Tranh chấp chủ quyền,một phần hay toàn bộ, cũng đã diễn ra tại quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc,Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei và Đài Loan
Những lý do chính để các nước tranh chấp chủ quyền hai quần đảo trên là:
Diện tích lãnh hải với đặc quyền kinh tế và việc triển khai quốc phòng
Biển Đông nằm trên một trong những đường giao thông hàng hải lớn trên thế giới,
có nguồn thủy sản và tiềm năng dầu khí
Hiện nay sự tranh chấp đang được các bên thương lượng đàm phán vì sự hòa bình và ổn địnhtrong khu vực để phát triển kinh tế
Trang 33 Địa lý :
Bản đồ địa hình biển Đông.
Tổ chức thuỷ văn học quốc tế xác định vùng biển trải dài theo hướng từ tây nam đến đôngbắc, biên giới phía nam là 3 độ vĩ độ Nam giữa Nam Sumatra và Kalimantan (eo biển Karimata),
và biên giới phía bắc của nó là eo biển Đài Loan từ mũi phía bắc Đài Loan tới bờ biển Phúc Kiếnthuộc đại lục Trung Quốc Vịnh Thái Lan chiếm phần phía tây của biển Đông
Biển nằm trên một thềm lục địa ngầm; trong những kỷ băng hà gần đây nước biển đã hạ thấpxuống hàng trăm mét, và Borneo từng là một phần của lục địa Châu Á
Các nước và lãnh thổ có biên giới với vùng biển này (theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc)gồm: đại lục Trung Quốc, Macao, Hồng Kông, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei,Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam
Nhiều con sông lớn chảy vào Biển Đông gồm các sông Châu Giang, Mân Giang, sông CửuLong (Phúc Kiến), sông Hồng, sông Mê Kông, sông Rajang, sông Pahang, và sông Pasig
Bên trong vùng biển, có hơn 200 đảo và bãi đá ngầm đã được đặt tên, đa số chúng thuộcQuần đảo Trường Sa Quần đảo Trường Sa trải dài trên một vùng rộng 810, dài 900 km với khoảng
175 đảo đã được xác định, hòn đảo lớn nhất là đảo Ba Bình (Itu Aba) với chỉ hơn 1,3 km chiều dài
và điểm cao nhất là 3,8 mét
Có một núi ngầm rộng 100 km được gọi là Reed Tablemount ở đông bắc quần đảo Trường
Sa, cách biệt khỏi đảo Palawan của Philippine bởi Rãnh Palawan Hiện nay nằm sâu 20m dưới
Trang 4mực nước biển nhưng trước kia nó từng là một hòn đảo trước khi bị mực nước biển dâng lên ở thờibăng hà cuối cùng làm chìm ngập.
Phía đông quần đảo Hoàng Sa có các bãi ngầm như Macclesfield Bank (quần đảo Trung Sa),Stewart Bank, Truro Shoal và Scarborough Shoal
Bãi Scarborough Shoal
o Vị trí: nằm về phía Đông của bãi Macclesfield, gần bờ biển Philippines
o Hình thể: là một bãi khá lớn bên dưới là đá ngầm Bãi này nằm dưới mặtbiển chừng 92 fathoms
Bãi Truro Shoal: nằm bên cạnh Scarborough Shoal, sâu 10 fathoms
Bãi Stewart Bank: (578 fathoms) gần đảo Luzon của Philippines
4 Các nguồn tài nguyên :
Đây là một vùng biển có ý nghĩa địa chính trị vô cùng quan trọng Nó là đường hàng hảiđông đúc thứ hai trên thế giới, trong khi nếu tính theo tổng lượng hàng hoá thương mại chuyển quahàng năm, hơn 50% đi qua Eo biển Malacca, Eo Sunda, và Eo Lombok Hơn 1.6 triệu m³ (10 triệubarrel) dầu thô được chuyển qua eo biển Malacca hàng ngày, nơi thường xảy ra các vụ hải tặc,nhưng hiện đã giảm nhiều so với giữa thế kỷ 20
Vùng này đã được xác định có trữ lượng dầu mỏ khoảng 1.2 km³ (7.7 tỷ barrel), với ước tínhtổng khối lượng là 4.5 km³ (28 tỷ barrel) Trữ lượng Khí gas tự nhiên được ước tính khoảng 7.500km³ (266 nghìn tỷ feet khối)
Theo những nghiên cứu do Sở môi trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippine, vùng biểnnày chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đốivới hệ sinh thái
5 Tuyên bố lãnh hải :
Có rất nhiều tranh cãi về lãnh hải trên vùng Biển Đông và các nguồn tài nguyên của nó BởiLuật biển năm 1982 của Liên hiệp quốc cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mởrộng 200 dặm biển (370.6 km) từ lãnh hải của họ, tất cả các nước quanh vùng biển có thể đưa ratuyên bố chủ quyền với những phần rộng lớn của nó Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (CHNDTH)
đã tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển Những báo cáo gần đây cho thấy CHNDTHđang phát triển một nhóm tàu sân bay để bảo vệ những đường vận chuyển nhiên liệu ở Biển Đông.Những vùng có nguy cơ tranh chấp gồm:
Indonesia và CHNDTH về vùng biển Đông Bắc đảo Natuna
Philippines và CHNDTH về những khu khai thác khí gas Malampaya và Camago
Philippines và CHNDTH về bãi cát ngầm Scarborough
Việt Nam và CHNDTH về vùng biển phía tây Quần đảo Trường Sa Một số haytoàn bộ quần đảo Trường Sa đang bị tranh chấp bởi Việt Nam, CHNDTH, Trung Hoa Dânquốc, Philippines, và một số nước khác
Quần đảo Hoàng Sa đang dưới sự quản lý và tuyên bố chủ quyền của Việt Nam,CHNDTH quản lý 6 đảo từ năm 1974 đến nay
Malaysia, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam về những vùng ở Vịnh Thái Lan
Singapore và Malaysia dọc theo Eo biển Johore và Eo biển Singapore
Trang 5Biển Đông, các khu vực và tài nguyên tranh chấp giữa các nước.
Cả CHNDTH và Việt Nam đều theo đuổi các tuyên bố chủ quyền một cách mạnh mẽ Quầnđảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm được 6 đảo năm 1974 và 18 binh sĩ đã thiệt mạng Quầnđảo Trường Sa là nơi đã xảy ra xung đột hải quân, hơn bảy mươi lính thuỷ Việt Nam đã bị giết hại
ở phía nam bãi đá ngầm Chigua tháng 3, 1988 Các nước tranh chấp thường xuyên thông báo vềcác vụ va chạm giữa các tàu hải quân
ASEAN nói chung, và Malaysia nói riêng luôn muốn đảm bảo rằng những tranh chấp bêntrong Biển Đông sẽ không leo thang trở thành xung đột quân sự Vì vậy, các cơ cấu phát triển
chung (Joint Development Authorities) đã được lập ra tại các vùng tranh chấp chồng lấn để cùng
phát triển vùng và phân chia quyền lợi công bằng tuy nhiên không giải quyết vấn đề chủ quyền củavùng đó Điều này đã trở thành sự thực, đặc biệt là ở Vịnh Thái Lan
Những tuyên bố lãnh thổ chồng lần ở Pulau Pedra Branca hay Pulau Batu Putih của cảSingapore và Malaysia đã được đưa ra Toà án quốc tế Toà án phán quyết theo chiều hướng có lợicho Singapore
Biển Đông
Quốc gia và vùng lãnh thổ:
Đài Loan | Philippine | Malaysia | Brunei | Indonesia | Singapore | Thái Lan | Campuchia | Việt Nam |
Trung Quốc | Ma Cao | Hồng Kông
Đảo và quần đảo:
Đảo Hải Nam | Quần đảo Đông Sa | Quần đảo Trung Sa (Macclesfield Bank) | Quần đảo Batanes và
Baluyan | Quần đảo Hoàng Sa | Bãi Scarborough | Quần đảo Trường Sa | Bãi Đá Bàn (Table Mount
Reef) | Đảo Luzon | Đảo Mindoro | Đảo Palawan | Đảo Kalimantan | Quần đảo Calamian | Quần đảo
Natuna | Bãi Luconia | Đảo Koh Samui | Đảo Ko Chang | Đảo Koh Kong | Quần đảo Anambas | Đảo
Phú Quốc | Côn Đảo
Vịnh, bán đảo và eo biển:
Bán đảo Lôi Châu | Bán đảo Đông Dương | Bán đảo Mã Lai | Biển Sulu | Vịnh Bắc Bộ | Vịnh Thái
Lan | Eo biển Đài Loan | Eo biển Lôi Châu | Eo biển Luzon | Eo biển Karimata | Eo biển Malacca
Trang 6II Công ước LHQ về luật biển 1982: Công cụ bảo vệ chủ
quyền biển.
Như chúng ta biết:
- Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam[1], những hiệp định phân định chủ quyền trên biển của ViệtNam, bao gồm hiệp định phân định chủ quyền trong Vịnh Thái Lan với Thái Lan năm 1997, hiệpđịnh phân định chủ quyền trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc năm 2000 và hiệp định chủ quyềnthềm lục địa với Indonesia, đều được đàm phán dựa trên UNCLOS
- Trước chủ trương, chiến lược và hành động của Trung Quốc trên biển, Việt Nam đã nhiềulần dựa trên UNCLOS để khẳng định chủ quyền của mình
- Quan điểm của Việt Nam là tranh chấp biển và thềm lục địa phải được giải quyết dựa trênUNCLOS
- Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của UNCLOS
- Việt Nam và Trung Quốc đã tuyên bố chung là phải có giải pháp cơ bản mà hai bên chấpnhận được “Chấp nhận được” không thể là “nước mạnh làm gì họ muốn, nước yếu chấp nhậnnhững gì mình đành phải chấp nhận”, mà phải dựa trên lẽ công bằng như UNCLOS đòi hỏi và thí
dụ như được thể hiện trong UNCLOS
- Các nước khác, thí dụ như Mỹ, cũng cho là tranh chấp Biển Đông phải được giải quyết theoluật quốc tế chứ không phải bằng cách chiếm đoạt
Rõ ràng, UNCLOS là một công cụ rất quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền của Việt Namtrước chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông Thế nhưng, cho tới nay nội dung củaUNCLOS vẫn chưa được quảng bá rộng rãi trong chúng ta Ngay cả giới trí thức, giới luật học,ngay cả những người quan tâm về chủ quyền lãnh thổ, cũng chưa biết nhiều về UNCLOS
Hi vọng bản công ước UNCLOS này sẽ đóng góp thêm một phương tiện quý báu giúp tất cảchúng ta phát huy tinh thần yêu nước và trí tuệ mình, cụ thể là tất cả giúp chúng ta hiểu và đấutranh cho sự công bằng cho chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông
( Tuần Việt Nam )
Ghi chú:
[1] “Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của luật biển ở Việt Nam”, TS Hoàng Trọng Lập, Phó
Trưởng ban, Ban Biên giới, và tập thể tác giả, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 [2] Bản Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển 1982 (UNCLOS) bằng tiếng Việt do một số cộngtác viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông là Nguyễn Hoàng Việt, Hà Phương Lê, Lê Hồng Thuận,Phượng, Vũ, Hoa Phạm, Phạm Thị Bích Phượng, gkhuongtang, Vũ Lê Phương, nhóm Lã Vân vàcủa Nguyễn Thái Linh (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông) gõ lại
Trang 7cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.
Các vạch đỏ là ranh giới lưỡi bò Trung Quốc đòi hỏi Các đường xanh là một cách chia các vùng đặc quyền kinh tế dựa trên UNCLOS, nhưng không chia các đảo đang bị tranh
chấp Các vòng tròn xanh lá cây là lãnh hải 12 hải lý của các đảo này.
Năm 1992, Trung Quốc ký hợp đồng thăm dò vùng Tư Chính – Vũng Mây với công tyCrestone Năm 2007, Trung Quốc đưa ra quy định theo đó tất cả bản đồ Trung Quốc phải vẽ ranhgiới lưỡi bò này Cũng năm 2007, Trung Quốc áp lực tập đoàn dầu khí BP phải ngưng hợp tác vớiViệt Nam trong hai vùng dầu khí Mộc Tinh, Hải Thạch
Năm 2008, Trung Quốc vẽ ranh giới lưỡi bò vào bản đồ rước đuốc Olympic và Paralympic,nhưng sau đó gỡ ra khỏi bản đồ rước đuốc Olympic trên trang web chính thức sau khi có tiếng nóiphản đối từ phía Việt Nam gửi đến Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc tế Tháng 7 năm 2008, TrungQuốc áp lực ExxonMobil không được hợp tác với Việt Nam trong vùng biển hợp pháp của ViệtNam Tháng 11 năm 2008, Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc công bố dự án có vốn 29 tỷUSD để khảo sát và khai thác trên Biển Đông
Những sự kiện trên cho thấy sự quyết tâm và leo thang của Trung Quốc trong việc thực hiệnchủ trương đó
Trước một chủ trương “không thể chấp nhận được” như vậy, Việt Nam phải đối phó thế nào?Câu trả lời đầu tiên là, mặc dù các biện pháp đối phó hẳn phải khác với trong quá khứ, chúng taphải đối phó với một sự tích cực không kém tổ tiên chúng ta Đối phó có thể bao gồm phương cáchnhu, nhưng không được nhu nhược
Tất nhiên, về cơ bản và lâu dài, Việt Nam phải có nền kinh tế và quốc phòng vững mạnh.Việc xây dựng kinh tế và quốc phòng là điều cơ bản nhất để bảo vệ đất nước Nhưng đây cũng lànhiệm vụ mang tính dài hạn, cốt yếu trong bất kỳ hoản cảnh nào, thời đại nào, không chỉ khi cótranh chấp trên Biển Đông Vì thế, chúng tôi xin đưa ra một số vấn đề cụ thể khác mà có thể bắtđầu ngay từ bây giờ
1 Cần một tư duy Biển Đông :
Trang 8Ở Trung Quốc, sau khi thất trận ở phương Nam dưới thời Lê Lợi, nhà Minh lâm vào khủnghoảng kinh tế Các Nho thần bảo thủ thời ấy bèn viện dẫn lời đức Thánh Khổng là “cha mẹ còn tạithế mà mình đi xa thì là bất hiếu!” để nói rằng chẳng có lý do gì khiến ta phải giong buồm ra biển.Sau khi Trịnh Hoà qua đời và được thủy táng trong chuyến hải hành thứ bảy, Minh Tuyên Đức ralệnh cấm đóng tàu viễn dương, không ai được có tàu có quá ba cột buồm Từ cái lệnh gọi là “hảicấm” ấy, từ giữa thế kỷ 15 trở đi Trung Quốc bế quan tỏa cảng và thu vét phương tiện phòng thủ
để chỉ là cường quốc lục địa, không có tư duy hải dương
Sau khi họ bị các nước khác tấn công từ biển và sau khi bị Nhật thôn tính một số đảo, tư duyhải dương của Trung Quốc đã ra đời Nhờ có tư duy này, ở Biển Đông, đến nay Trung Quốc đãphát triển rất mạnh về ý thức, đội ngũ nghiên cứu, nhất quán tích cực
Trong khi đó, cho tới gần đây, nói chung chúng ta vẫn chỉ nhắc tới Hoàng Sa, Trường Sa,mặc dù những đòi hỏi của Trung Quốc trên Biển Đông liên quan đến cả những vùng biển nằmngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa và Trường Sa theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển Nóicách khác, có nhiều đòi hỏi của Trung Quốc trên Biển Đông không liên quan đến Hoàng Sa vàTrường Sa
Vì thế, chúng ta phải tích cực xây dựng một tư duy Biển Đông Từ đó, phải có một đội ngũhùng hậu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến biển, chiến lược biển, xây dựng một ý chí quốc gia,nâng cao ý thức và kiến thức về Biển Đông
2 Chiến lược ngoại giao và truyền thông :
Là nước nhỏ, trong chiến lược của chúng ta phải tận dụng biện pháp ngoại giao Tuy khôngnên tin rằng nếu Trung Quốc tiến chiếm một số đảo của Việt Nam thì sẽ có nước nào đó giúpchúng ta, nhưng phải nhìn nhận là ngoại giao có trọng lượng trên bàn cân “chiếm hay không” củaTrung Quốc Chúng ta phải tăng tối đa trọng lượng này
Trong chiến lược ngoại giao của ta phải có quyền lợi gì cho các nước khác Tốt nhất là chiếnlược ngoại giao của chúng ta có khía cạnh giúp những nước khác giành cho họ những quyền lợikhông phải của ta
Hơn nữa, việc tuyên truyền và thu hút sự quan tâm trên phương diện quốc tế cũng vô cùngquan trọng cho việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam Mặc dù có cơ sở rất yếu về phương diện lịch
sử và pháp lý đồi với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã và đang tiến hành côngcuộc tuyên truyền về chủ quyền của họ đối với quần đảo này
Dù yêu sách đường lưỡi bò của họ hoàn toàn vô lý, và mặc dù việc Trung Quốc tiến hànhthăm dò và khai thác trên khu vực này là “không thể chấp nhận được”, phần lớn các hãng tin quốc
tế, khi đưa tin về dự án này, đã không đả động gì tới thực tế là vùng biển này đang bị tranh chấp
Vì vậy, bằng con đường truyền thông và ngoại giao, cần vận động sự quan tâm và ủng hộ của
dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở BiểnĐông Quốc tế sẽ ủng hộ chúng ta khi thấy công lý và lẽ phải thuộc về chúng ta, cũng như thấyđược quyền lợi của họ từ những giải pháp công bằng và hòa bình đó
Đường lưỡi bò của Trung Quốc xâm phạm đến chủ quyền của các nước khác trong ASEAN
Do vậy, trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam cần phải tận dụng ưu thế thành viên của mình để vậnđộng cho một tiếng nói chung Ngoài ra, trong việc hội nhập ASEAN cũng như trong việc xâydựng Cộng đồng Kinh tế Đông Á, Việt Nam cần phải giữ thế chủ động
3 Phương diện pháp lý :
Trong thế giới văn minh hiện nay, pháp luật đã trở thành nền tảng cho ứng xử giữa các quốcgia Việt Nam, là nước nhỏ, cần phải tận dụng phương tiện và lý luận luật pháp để bảo vệ chủquyền của mình Việt Nam cần đào tạo và huy động các chuyên gia luật quan tâm và tham gia vàoviệc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông
Đi vào một số chi tiết, đối với Hoàng Sa, Trường Sa, những sự kiện lịch sử trước năm 1954
đã xác lâp chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này theo công pháp quốc tế Theo giáo sưluật quốc tế người Pháp Monique Chemillier-Gendreau, các lập luận của Trung Quốc dựa trên
Trang 9những sự kiện lịch sử trước thế kỷ 20 đều không có giá trị trên diện công pháp quốc tế[1] Đối vớiHoàng Sa, các lập luận của Trung Quốc trước năm 1954 thua kém lập luận của Việt Nam[2] Đốivới Trường Sa, lập luận của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và chỉ biện hộ cho chính sách mởrộng lãnh thổ trên biển[3].
Đối với các vùng biển không thuộc về Hoàng Sa hay Trường Sa, ranh giới lưỡi bò đe doạ chủquyền của Việt Nam ở ngay cả những vùng biển không liên quan tới những vùng này Việt Namcần phải tách vấn đề chủ quyền đối với những vùng biển này ra khỏi tranh chấp Hoàng Sa, Trường
4 Phát huy sức mạnh của toàn dân tộc :
Trong hơn 60 năm qua kể từ khi Trung Quốc công bố bản đồ lưỡi bò khoanh 75% Biển Đôngmột cách mập mờ vào năm 1947 cho tới nay, Việt Nam chưa thực sự phát huy được sức mạnh tổnghợp của toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông Đây là một thiệt thòi tương tựnhư việc chiến đấu trong khi một tay bị buộc sau lưng
Trong hoàn cảnh hiện nay, dân tộc Việt Nam cần phải vượt qua những cách biệt và Nhà nướccần phải tạo điều kiện để phát huy sức mạnh tổng thể của toàn dân trong việc đấu tranh chống lạinhững hành động “không thể chấp nhận được” từ phía Trung Quốc Ngày 9/12/2008, Tổng Bí thư
Nông Đức Mạnh nhấn mạnh tại Hội nghị Quân chính toàn quân: “Phải tiếp tục làm cho toàn quân, toàn dân nhận thức đầy đủ hơn về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN trong điều kiện mới.”[ 4]
Để có thể phát huy sức mạnh của toàn dân, cần phải có một Quy tắc ứng xử chung về BiểnĐông giữa Nhà nước và nhân dân và giữa các cộng đồng người Việt Nam với nhau Quy tắc nàykhông cần phải là luật, chỉ cần là một thoả thuận bất thành văn, được nhiều cá nhân và hội nhómcông khai tôn trọng
Nếu không có một quy tắc ứng xử chung về Biển Đông cho dân tộc Việt Nam, dù quy tắc đóchỉ là một sự thông cảm bất thành văn, thì nhân dân và Nhà nước Việt Nam sẽ tiếp tục ứng phótrong tình trạng một tay bị buộc chặt sau lưng, trong khi Trung Quốc càng ngày càng tiến xa, tiếnmạnh với yêu sách và hành động để biến 75% Biển Đông thành “biển lịch sử” của họ
Ngày nay, Việt Nam đứng trước một sự đe doạ nguy hại cho tương lai lâu dài của dân tộc.Khác với trong quá khứ, sự đe doạ này tiến triển rất chậm, nhưng càng ngày càng nghiêm trọng,qua nhiều thập niên, có thể nói là cả thế kỷ Nhiều khi sự đe doạ này rất nhẹ nhàng, dường nhưkhông có, nhiều khi có những động thái phi bạo lực, tương đối ít khi tiến tới bằng bạo lực Nhưngchúng ta đừng để sự nhẹ nhàng, chậm rãi này làm chúng ta coi thường hay thờ ơ Nếu sự đe doạnày đi tới đích của nó thì hậu quả cho đất nước sẽ vô cùng trầm trọng Chúng ta phải ứng phó sự
đe doạ này với một sự tích cực không kém gì tổ tiên ta đã từng giữ nước
Lê Minh Phiếu - Dương Danh Huy (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
===========================================================
IV Chủ quyền VN ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính,
Vũng Mây.
Trang 10Năm 1992, Trung Quốc ký hợp đồng thăm dò dầu khí ở vùng Tư Chính – Vũng Mây vớicông ty Crestone Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và Mobil ởvùng Thanh Long với lý do vùng này thuộc quần đảo Trường Sa Năm 2007, Trung Quốc gây áplực buộc BP ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỷ USD với Việt Nam ở haivùng Mộc Tinh, Hải Thạch Các vùng Thanh Long, Mộc Tinh, Hải Thạch nằm trong bồn trũngNam Côn Sơn
Tháng 7 năm nay, Trung Quốc gây áp lực với ExxonMobil yêu cầu không được cộng tác vớiViệt Nam trong một dự án thăm dò dầu khí ở bồn trũng Nam Côn Sơn
Bản đồ 1: Bản đồ vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn (Nam Con Son
Basin) Vùng Thanh Long nằm trong lô 05-1B Vùng Mộc Tinh nằm trong lô 05-3 Vùng Hải Thạch nằm trong lô 05-2 Vùng Lan Tây, Lan Đỏ nằm trong lô 06-1 Các vùng này nằm ngoài vùng lãnh hải của các đảo Trường Sa Vạch chấm đen là “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông.
Ngày 12/11 năm nay, Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc tuyên bố dự án có vốn 29 tỷUSD để khảo sát và khai thác Biển Đông, trong cả những vùng biển hiện đang nằm trong tìnhtrạng tranh chấp
Thái độ và hành động nói trên của Trung Quốc đã gây thiệt hại cho kinh tế và đe doạ nền độclập và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam Thế nhưng, những thái độ và hành động đó lại khôngdựa trên một cơ sở nào của luật biển quốc tế
Bài viết này sẽ chứng minh sự không có sơ sở đó theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển(UNCLOS – United Nations Convention on the Law of the Sea)
1 Chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam theo luật quốc tế :
Trong sự kiện Trung Quốc phản đối và đe dọa BP vào năm 2007 và ExxonMobil vào năm
2008, nhiều người hiểu lầm rằng thái độ và hành động đó của Trung Quốc là sự tranh chấp chủquyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Thật ra, theo luật quốc tế, giả sử như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc về Trung Quốc mộtcách hợp pháp đi nữa, thì vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn nằm ở phía bắcranh giới với Indonesia vẫn thuộc về Việt Nam
Nói cách khác, sự xác lập chủ quyền của một nước nào đó trên hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa, nếu có, hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến chủ quyền của Việt Nam ở vùng Tư Chính– Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn
Trang 11Chủ quyền đối với khu vực này, dù cho chủ quyền trên quẩn đảo Hoàng Sa và Trường Sa có
là của bất cứ nước nào, cũng thuộc về Việt Nam, chiếu theo các quy tắc của luật biển quốc tế.Trên thực tế, yêu sách của Trung Quốc đối với vùng này hoàn toàn sai với luật quốc tế.Chính sự hiểu lầm như đã nói trên, dù vô tình hay cố ý, đã che khuất đi phần nào sai trái của TrungQuốc trong việc tuyên bố chủ quyền đối với vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam CônSơn
Bản đồ 2: Vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam Các hình tròn đen là lãnh hải 12 hải lý của các đảo trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam Dựa trên bản đồ của PetroVietnam.
Theo Điều 57 và 76 của UNCLOS, các quốc gia ven biển được hưởng một vùng đặc quyềnkinh tế rộng tối đa là 200 hải lý từ đường cơ sở và một vùng thềm lục địa nếu địa lý đáy biển chophép thì có thể rộng tối đa là 350 hải lý từ đường cơ sở hay 100 hải lý từ độ sâu 2500 mét
UNCLOS cũng quy định là nếu có tranh chấp, trong trường hợp vùng đặc quyền kinh tế haythềm lục địa của hai quốc gia chồng lấn lên nhau, thì tranh chấp phải được giải quyết một cáchcông bằng (Điều 74 và 83)
Có hai nguyên tắc được dùng để đo lường sự công bằng này trong tập quán luật quốc tế vàngoại giao, đó là đường trung tuyến và tỷ lệ chiều dài bờ biển liên quan Khi xét xử tranh chấpbiển, Toà án Công lý Quốc Tế (International Court of Justice) thường bắt đầu bằng cách vạchđường trung tuyến giữa hai nước làm ranh giới thử nghiệm, sau đó Toà sẽ xét sử công bằng bằngcách xem tỷ lệ diện tích được chia cho mỗi nước có gần như tỷ lệ chiều dài bờ biển liên quan tớitranh chấp hay không
Trong việc vạch ranh giới, tập quán luật quốc tế và ngoại giao không tính những đảo nhỏ, xa
bờ, tự thân không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng, như cácđảo trong hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, để tránh việc những đảo này ảnh hưởng không côngbằng tới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Nguyên tắc này được Toà án Công lý Quốc Tế