tăng cờng mở rộng các hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng trong nớc.Từ năm 1994, NHNo Hà Tây đã bắt đầu tiến hành nghiệp vụ kinh doanh đốingoại, triển khai các dịch vụ thanh toán qu
Trang 1Là một trong những ngân hàng có uy tín trên toàn tỉnh, NHNo&PTNT HàTây bắt đầu thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại sớm hơn nhiều ngânhàng khác trên địa bàn Song cho đến nay, sau 8 năm hoạt động, bên cạnhnhững thành tựu đã đạt đợc thì vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót cần phải đợckhắc phục.
Trớc tình hình đó, việc nghiên cứu tổng thể về mặt lý luận và thực tiễn để
đa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ kinh doanh đốingoại ở NHNo&PTNT Hà Tây là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Vớinhững lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: "Tìm hiểu một số vấn đề về hoạt
động của NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại của nớc ta trong giai đoạn hiện nay" làm khoá luận tốt nghiệp khoa kinh
tế đối ngoại trờng Đại học Ngoại thơng
Trong quá trình thực hiện khoá luận, tác giả dựa trên cơ sở lý luận cơ bảncủa triết học, sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩaMác- Lê nin, cùng các phơng pháp thống kê, phơng pháp phân tích tổng hợp,phơng pháp so sánh số liệu để làm rõ các yêu cầu của đề tài đặt ra
Khoá luận gồm có 3 chơng:
Ch
ơng I : Giới thiệu khái quát về NHNo&PTNT Hà Tây
Ch
ơng II : Tình hình một số hoạt động của NHNo&PTNT Hà Tây góp
phần phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại ở nớc ta những năm gần đây
Trang 2nghiệp vụ gắn liền với hoạt động kinh tế đối ngoại tại NHNo và PTNT Hà Tâythời gian tới.
Để hoàn thành đợc khoá luận tốt nghiệp này, tác giả đã vô cùng may mắnkhi nhận đợc sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình và bạn bè Xin cám ơn các cán
bộ công tác tại phòng Thanh toán quốc tế, phòng Thống kê- Kế hoạch ởNHNo&PTNT tỉnh Hà Tây đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quátrình nghiên cứu Đồng thời, cũng xin gửi những lời cám ơn trân trọng nhất đếnthầy giáo Tô Trọng Nghiệp, ngời hớng dẫn trực tiếp tác giả thực hiện khoáluận Nhân dịp này, ngời viết cũng muốn bày tỏ sự biết ơn chân thành đối vớicác thầy cô giáo của trờng Đại học Ngoại thơng, những ngời đã cung cấp kiếnthức nền tảng cho khoá luận này trong suốt 4 năm học
Trang 3giới thiệu khái quát về NHNo&PTNT Hà Tây
I Lịch sử ra đời và phát triển của NHNo&PTNT Việt Nam
Năm 1988 đánh dấu một bớc tiến mới trong quá trình phát triển của hệthống ngân hàng Việt Nam Do yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ
đổi mới, sản xuất đợc mở rộng, xuất nhập khẩu tăng mạnh đòi hỏi phải có một
hệ thống ngân hàng hoàn thiện, có đầy đủ khả năng để đáp ứng các nhu cầuthanh toán cũng nh tín dụng của nhân dân và của các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế Ngày 26/3/1988, Nghị định 53/HĐBT của Hội đồng Bộ tr-ởng về tổ chức bộ máy Ngân hàng đợc ban hành, ghi nhận chính thức sự ra đờicủa hệ thống Ngân hàng hai cấp ở Việt Nam, bao gồm Ngân hàng Nhà nớc làcơ quan chủ quản giữ vai trò quản lý , phát hành tiền và các ngân hàng thơngmại làm nhiệm vụ kinh doanh dới sự quản lý của NHNN
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, khi đó có tên làNgân hàng Phát triển nông thôn Việt Nam, là một trong 4 ngân hàng thơng mạiquốc doanh đã ra đời trong hoàn cảnh đó Cho đến ngày 14/11/1990, theo quy
định số 400/CT của thủ tớng Chính Phủ, Ngân hàng Phát triển nông thôn ViệtNam đổi tên thành Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam Sau đó, theo quyết định
số 280/QĐ - NH5 ngày 15/10/1996 của thống đốc ngân hàng Nhà nớc ViệtNam, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đợc đổi tên thành Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Từ đó đến nay, cái tên đó ngày càng
có uy tín trên thị trờng tài chính nớc ta
Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, gọi tắt làNHNo&PTNTVN (hay là NHNo), tên giao dịch quốc tế là Viet Nam Bank forAgriculture and Rural Development (VBARD) có trụ sở chính tại số 2 - LángHạ - Ba Đình - Hà Nội
NHNo VN là Doanh nghiệp Nhà nớc hạng đặc biệt đợc tổ chức theo môhình Tổng công ty Nhà nớc, có t cách pháp nhân, thời hạn hoạt động là 99năm, có quyền tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh,
Trang 4200 tỉ đồng, đến nay đã tăng lên 2.275 tỷ đồng Với tổng tài sản có gần 70.000
tỷ đồng và đội ngũ cán bộ nhân viên gồm 24.000 ngời làm việc tại 1500 chinhánh trên toàn quốc, NHNo&PTNT Việt Nam là một trong những ngân hàngthơng mại hàng đầu Việt Nam, giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu t vốnphát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hớng công nghiệp hoá, hiện đạihoá Trên đà hội nhập, hoạt động của NHNo & PTNT Việt Nam cũng ngàycàng đa dạng, phong phú hơn, cung ứng ngày càng nhiều dịch vụ ngân hànghiện đại, tiên tiến, tiện ích cho mọi khách hàng trong và ngoài nớc
II/ Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Hà Tây
Cùng với sự ra đời của NHNo&PTNT Việt Nam, NHNo tỉnh Hà Tây đãchính thức đợc thành lập vào tháng 7/1988, trên cơ sở sát nhập 8 đơn vị thuộcNHNo Hà Sơn Bình và 6 đơn vị thuộc NHNo Thành phố Hà Nội
ở thời điểm thành lập, tổng số nguồn vốn huy động chỉ có 77,9 tỷ đồng; d
nợ cho vay các thành phần kinh tế là 46,2 tỷ đồng; trong đó chủ yếu là d nợcho vay doanh nghiệp quốc doanh và kinh tế tập thể chiếm 89%; nợ quá hạn là7,8 tỷ đồng, chiếm 16,8% tổng d nợ, gần nh không có hoạt động nào trong lĩnhvực kinh tế đối ngoại Kết quả tài chính lỗ 5,2 tỷ đồng Có thể nói lúc bấy giờ,NHNo Hà Tây đang đứng trên bờ vực phá sản
Đứng trớc thực trạng hết sức khó khăn trên, trong những năm qua, NHNo
Hà Tây đã kiên trì và kiên quyết đi theo đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà
n-ớc Đợc sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và NH cấp trên, sự ủng
hộ của các cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực cố gắng của tập thể cán bộ côngnhân viên toàn chi nhánh trong những năm gần đây, kết quả kinh doanh củaNHNo&PTNT Tỉnh Hà tây đã đạt đợc những thành tích đáng khích lệ năm saucao hơn năm trớc, đợc ghi nhận cụ thể nh sau:
Tính đến hết năm 2001, số điểm giao dịch là 67 địa điểm, tăng 36 nơi so vớinăm 1988; tổng nguồn vốn huy động đạt 2.007 tỷ đồng, gấp 25,7 lần năm
1988, trong đó vốn huy động bằng ngoại tệ là 257 tỷ đồng (quy đổi), tổng d nợcho vay các thành phần kinh tế đạt 1443 tỷ đồng, trong đó cho vay hộ sản xuất
là 1.105 tỷ đồng, chiếm 76% tổng d nợ Có thể nói, NHNo&PTNT Hà Tây thực
sự là ngân hàng của dân và vì dân
Trang 5tăng cờng mở rộng các hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng trong nớc.
Từ năm 1994, NHNo Hà Tây đã bắt đầu tiến hành nghiệp vụ kinh doanh đốingoại, triển khai các dịch vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, vay vốntài trợ… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nớc Ban
đầu chỉ là những hoạt động mang tính truyền thống: nhận tiền gửi bằng ngoại
tệ, chuyển kiều hối về nớc, kinh doanh ngoại hối… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n Cho đến nay, các nghiệp vụnày đã phong phú, đa dạng hơn rất nhiều NHNo Hà Tây đã thực hiện thanhtoán bằng L/C, nhờ thu, … phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n Mặc dù đến nay những hoạt động này vẫn chỉ giữmột vị trí khiêm tốn trong kết quả kinh doanh của ngân hàng, song trong tơnglai, đang hứa hẹn rất nhiều tiềm năng phát triển
III/ Đặc điểm cơ bản của NHNo&PTNT Hà Tây
1 Chức năng và nhiệm vụ
1.1 Chức năng
Ra đời trong thời kỳ đổi mới kinh tế, NHNo&PTNT Hà Tây, xét về mặt tínhchất, là một ngân hàng thơng mại "Ngân hàng thơng mại là ngân hàng đợcthực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác cóliên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của
Nhà nớc" (Khoản 2, điều 1, chơng I, Nghị định của Chính phủ số 49 NĐ-CP ngày 12/9/2000 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thơng mại).
Với t cách là một ngân hàng thơng mại quốc doanh, NHNo Hà Tây thựchiện rất nhiều chức năng, song tựu chung lại, có thể gộp lại thành 3 nhóm sau:
*Chức năng Trung gian tín dụng:
Trong quá trình tuần hoàn vốn phục vụ cho tái sản xuất xã hội đã phát sinhmâu thuẫn giữa hiện tợng ở một số chủ thể kinh tế có vốn tiền tệ tạm thời nhànrỗi, trong khi đó ở một số chủ thể khác lại có nhu cầu về vốn cần đ ợc bổ sung.Ngân hàng thơng mại với t cách là một tổ chức tín dụng chuyên kinh doanhtrong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng có khả năng giải quyết mâu thuẫn này bằngcách huy động mọi nguồn vốn cha sử dụng của các chủ thể kinh tế trong xã hội
để hình thành quỹ cho vay tập trung Thông qua việc huy động vốn và sau đócho vay lại các thành phần kinh tế, NHNo Hà Tây đã đóng vai trò là ngời trunggian môi giới giữa ngời đi vay và ngời cho vay Hoạt động của NHNo Hà Tây
Trang 6chính bản thân ngân hàng
Kể từ khi thành lập đến nay, Ngân hàng No Hà Tây luôn luôn thực hiện
ph-ơng châm "đi vay để cho vay", coi trọng việc tự huy động vốn trong dân,thông qua việc thực hiện các chính sách đa dạng hoá sản phẩm, lãi suất linhhoạt phù hợp với từng thời kỳ, tạo lập đợc nguồn vốn tăng nhanh và ổn định,năm sau cao hơn năm trớc
* Chức năng trung gian thanh toán:
Cùng với những hoạt động của Ngân hàng No & PTNT Hà Tây trong quátrình làm trung gian tín dụng đã thu hút không chỉ các doanh nghiệp mà còn cócả các tổ chức, cá nhân đến mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại đây Trên cơ
sở nhận tiền gửi của khách hàng, Ngân hàng nông nghiệp Hà Tây thực hiện cáckhoản thanh toán chi trả cho khách hàng theo các hợp đồng mua bán, giaodịch Trong vai trò là trung gian thanh toán, Ngân hàng làm theo lệnh của chủtài khoản nh tính tiền trên tài khoản của ngời mua để chuyển sang tài khoảncủa ngời bán hoặc phục vụ thanh toán về hàng hoá, dịch vụ cho các kháchhàng Với chức năng này, NHNo Hà Tây đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanhnghiệp, chỉ thực hiện việc thanh toán thông qua hệ thống tài khoản tiền gửi tạingân hàng Thông qua chức năng này, NHNo Hà tây đã góp phần đáng kể làmtăng tốc độ luân chuyển vốn, giảm lợng tiền mặt trong lu thông dẫn đến tiếtkiệm chi phí lu thông tiền mặt nh in ấn, đếm nhận và bảo quản
Việc thanh toán qua Ngân hàng nông nghiệp Hà Tây đợc thực hiện bằngnhiều phơng thức khác nhau: Thanh toán chuyển tiền điện tử trong cả nớc,chuyển tiền qua hệ thống Western Union, thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoátrực tiếp với nớc ngoài qua mạng SWIFT, Telex, thực hiện chi trả kiều hối… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nTính đến hết năm 2001, đã có 238 doanh nghiệp đến mở tài khoản tạiNHNo Hà Tây, bao gồm các doanh nghiệp đến từ mọi thành phần kinh tế và từnhiều ngành nghề khác nhau, không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp mà còn có cả ở nhiều ngành khác nh công nghiệp, thủ công mỹ nghệ,lâm nghiệp… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n Ngoài ra còn phải kể đến hàng ngàn tài khoản của các tổ chức,cá nhân và hộ gia đình Những con số này có thể làm minh chứng cho hoạt
động thanh toán qua ngân hàng rất sôi nổi ở NHNo Hà Tây
* Chức năng "tạo tiền"
Trang 7thơng mại nói chung , trong đó có Ngân hàng nông nghiệp Hà Tây, có khảnăng "tạo tiền" Từ một khoản tiền gửi ban đầu vào ngân hàng, thông qua chovay bằng chuyển khoản, ngân hàng đã nhân số tiền đó lên nhiều lần.
Ba chức năng trên đây của ngân hàng nông nghiệp Hà Tây có mối quan hệ
bổ sung hỗ trợ lẫn nhau trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năngcơ bản tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác Đồng thời thực hiệntốt chức năng trung gian thanh toán và "tạo tiền" góp phần mở rộng hoạt độngcủa chức năng trung gian tín dụng
Để thực hiện tốt 3 chức năng nêu trên, NHNo Hà Tây không chỉ tiến hànhcác nghiệp vụ truyền thống mà còn mở ra rất nhiều dịch vụ mới nh:
- Kinh doanh dịch vụ ngân hàng đối ngoại: tiếp nhận và triển khai các dự ántín dụng nông thôn nh dự án của ADB, dự án uỷ thác vốn, dự án tài trợ kỹthuật, dự án nâng cao năng lực do World Bank tài trợ
- Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, tái bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh đấu thầu,bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh cho các doanhnghiệp, tổ chức tài chính tín dụng trong nớc và nớc ngoài hoạt động tại ViệtNam
- Làm đại lý cho các tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nớc
- Kinh doanh xuất nhập khẩu mỹ nghệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý
Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển, có thể nói Ngân hàng nôngnghiệp Hà Tây đã thực hiện tốt các chức năng của một ngân hàng thơng mạicấp 2 Cùng với việc phát triển phạm vi hoạt động, các đối tợng phục vụ củangân hàng cũng đợc mở rộng liên tục Với những cố gắng trong thời gian qua,NHNo & PTNT Hà Tây xứng đáng là một trong những đơn vị có uy tín hàng
đầu trong ngành ngân hàng
1.2 Nhiệm vụ:
Đúng nh tên gọi của nó, NHNo & PTNT có địa bàn hoạt động chủ yếu lànông nghiệp nông thôn Do đặc điểm của nớc ta, một nớc với 80% dân số lao
động trong lĩnh vực nông nghiệp và chính nông nghiệp đợc coi là nền tảng của
sự phát triển trong quá trình đổi mới đất nớc nên NHNo chiếm một vị trí hếtsức quan trọng trong hệ thống ngân hàng nói riêng và trong nền kinh tế nóichung Chính vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của NHNo là giữ vai trò chủ
Trang 8nông nghiệp nông thôn và kinh tế hộ sản xuất theo hớng CNH - HĐH.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh gay gắt nh hiện naythì ngoài nhiệm vụ chuyên ngành nêu trên, các NHNo còn phải đáp ứng cácnhu cầu đa dạng của thị trờng Thanh toán quốc tế, chuyển giao vốn quốc tế… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n
là những lĩnh vực kinh doanh không thể thiếu đợc với bất cứ ngân hàng nàomuốn tồn tại và phát triển Những lĩnh vực kinh doanh mới đó lại mở ra nhữngnhiệm vụ mới cho các NHNo
1.3 Điều kiện thuận lợi và khó khăn tác động đến việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ
Trong bối cảnh hiện nay, NHNo Hà tây có rất nhiều thuận lợi, nhng cũng cókhông ít những khó khăn cho việc tiến hành nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại củamình
a/ Thuận lợi:
Hà Tây nằm kề sát Hà nội với nhiều cửa ngõ vào thủ đô, nên tốc độ đô thịhoá, mở mang phát triển công nghiệp và du lịch diễn ra sôi động Kinh tế củatỉnh tuy nặng về nông nghiệp nhng trong những năm gần đây đang chuyểnmạnh sang một nền sản xuất hàng hoá với cơ cấu đa dạng, các ngành nghề ởnông thôn phát triển, đặc biệt là các làng nghề thủ công truyền thống hớng vềxuất khẩu nh : thêu Thờng Tín, dệt lụa Vạn Phúc, mây tre đan… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n
Trong 5 năm gần đây, tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh có nhiều khởi sắc,thể hiện:
+ Tốc độ tăng trởng GDP hàng năm của tỉnh đạt 8%, một tỉ lệ khá cao sovới mức tăng trung bình của cả nớc
+Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 15%/năm, trung bình đạt 55,6triệu USD
+ Cơ cấu kinh tế khá cân đối giữa các ngành: Nông- Lâm nghiệp chiếm35%, Công nghiệp – Xây dựng chiếm 35%, Du lịch- dịch vụ chiếm 30%.+ GDP bình quân đầu ngời đạt 450 USD/năm
+ Du lịch đợc phát triển khai thác mở rộng một số điểm du lịch năm 2001,tổng du khách thực hiện 1,5 triệu lợt khách, tăng 20% tổng doanh thu đạt 160
tỉ đồng
Trang 9quan, nh mạng lới ngân hàng No & PTNT Hà Tây đợc bố trí rộng khắp tại cáchuyện thị xã nên rất thuận tiện cho công tác huy động vốn ngoại tệ, thực hiệncác dự án nớc ngoài.
b/ Khó khăn:
+ Là một tỉnh thuần nông nên ngời dân bị hạn chế về trình độ và vốn Do
đó, không tự tìm đối tác xuất nhập khẩu, thờng hay qua trung gian là các công
ty xuất nhập khẩu uỷ thác ở Hà Nội, vì vậy không thúc đẩy công tác thanh toántại tỉnh, đặc biệt là tại NHNo Hà Tây
+ Hoạt động kinh doanh đối ngoại cũng chỉ mới đợc triển khai tại NHNo
Hà Tây (phòng Thanh toán quốc tế mới đợc tách ra hoạt động độc lập từ tháng5/2002) nên cán bộ còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong giao dịch quốc tế, trình
độ chuyên môn, ngoại ngữ đều hạn chế Tất cả những điểm này đã mang đếnmột số bất lợi cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh đối ngoại của Ngânhàng
+ Chịu sự cạnh tranh gay gắt của các chi nhánh NHTM khác ở các khu vực
đô thị
2 Vài nét về hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Hà Tây
2.1 Hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Hà Tây
Trong những năm gần đây, tổng nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT HàTây tăng rất mạnh, mức tăng trởng trung bình hàng năm đạt khoảng 30% Duy
Trang 10sản giảm mạnh, nên việc huy động vốn có nhiều khó khăn, tăng chậm hơn cácnăm khác Nguồn vốn kinh doanh năm 2000 chỉ tăng 17% so với năm 1999,giảm 8% so với kế hoạch do Ban giám đốc đặt ra Thành phần chủ yếu củanguồn vốn kinh doanh là vốn huy động từ các đối tợng khác nhau Năm 2001,
số vốn huy động đợc từ việc phát hành kỳ phiếu là 874 tỉ VNĐ, chiếm 42%tổng nguồn vốn Chiếm vị trí quan trọng thứ hai, là tiền gửi tiết kiệm trong dân
c với 20%, tơng đơng 408 tỉ VNĐ (Xem chi tiết trên bảng số 1) Cơ cấu nguồnvốn có sự chuyển dịch tích cực theo hớng ổn định và có lợi cho kinh doanh,nguồn vốn có lãi suất thấp đạt 367 tỉ , tăng 115 tỉ so với năm 200-, nguồn vốntrung và dài hạn là 964 tỉ, tăng 206 tỉ so với đầu năm chiếm tỉ trọng 48% tổng
d nguồn vốn, tạo điều kiện để NHNo Hà Tây mở rộng đầu t cho vay các dự án
và xây dựng cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp và nông thôn
NHNo Hà Tây đã triệt để thực hiện phơng châm có nhu cầu mới huy độngvốn, hạn chế vốn tồn đọng làm giảm kết quả hoạt động kinh doanh Mặt khác,ngân hàng luôn chủ động trong việc điều chỉnh lãi suất huy động để trong điềukiện giảm lãi suất mà vẫn tăng đợc nguồn vốn kinh doanh
b/ Hoạt động cho vay vốn:
Hoạt động cho vay vốn tại NHNo&PTNT Hà Tây tăng trởng rất mạnh cả vềquy mô cũng nh phạm vi hoạt động, các chỉ tiêu đều vợt kế hoạch đề ra Ngânhàng luôn bám sát địa bàn nông nghiệp, thực hiện các chơng trình cho vay lớnnh: cho vay thu mua lơng thực, cho vay chế biến nông sản tỉ lệ cho vay tronglĩnh vực nông nghiệp luôn luôn đạt trên 60%
Trong số 53 vạn hộ trên địa bàn, 21,1 vạn hộ đã vay vốn NHNo Hà Tây, sốtiền còn d nợ 1124 tỉ VNĐ, chiếm 78% Đối với các doanh nghiệp, số tiền còn
d nợ là 320 tỉ VNĐ, chiếm 22% tổng d nợ
Về chất lợng của hoạt động tín dụng, trong những năm 1995-96, tỉ lệ nợ quá hạn tăng cao, chiếm hơn 5% tổng d nợ, trở thành vấn đề nổi cộm cần phải tháo gỡ Tuy nhiên NHNo Hà Tây đã có các biện pháp kịp thời để giải quyết khó khăn, xử lý nợ tồn đọng cũ
đồng thời thẩm định kỹ khi xét cho vay mới Vì vậy, nợ quá hạn năm 2001 chỉ chiếm 2,95% tổng d nợ Đây là con số an toàn, đảm bảo lợi ích cho cả ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn.
Trang 11Hoạt động kinh doanh của NHNo &PTNT Hà Tây những năm gần đây
Tiền gửi của các TCKT
DNNN
73,0
44
1 0.1
82,69
3
1 0.2
150,84
7
1 4.6
227,50
6
1 4.5
DN ngoài quốc doanh
117,09
4
1 4.5
138,05
5
1 3.4
171,30
7
1 0.9 Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - Phòng Kế hoạch - NHNo&PTNT Hà Tây
Trang 12Do đó, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đối ngoại đối với NHTM không chỉ làmột tất yếu khách quan, mà còn là lẽ sống của chính ngân hàng.
Kinh doanh đối ngoại của NHTM là một loại hình kinh doanh vừa mang
đặc tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại Nói đến truyền thống bởi vìkinh doanh tiền tệ bản thân không có biên giới "cứng", đồng vốn là dòng chảykhông biên giới, đã có từ thời xa xa, gắn với giao thông quốc tế, với lu thôngtiền và kim loại quý, với uy tín quốc gia, thơng nhân và ngân hàng nổi tiếng.Pham vi, quy mô kinh doanh đối ngoại khi đó nói lên uy tín của ngân hàng.Chính nhờ kinh doanh đối ngoại mới đặt nền móng hình thành các trung tâmtài chính quốc tế
Nói đến hiện đại là nói đến hình thức, phơng thức, nội dung ngày càng kháctrớc, đa dạng hơn, đồ sộ hơn thể hiện trên tất cả các hoạt động: kinh doanhngoại hối, thanh toán quốc tế, tín dụng hợp vốn, đại lý, uỷ thác… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n
Mở rộng hoạt động kinh doanh đối ngoại đem lại những lợi ích sau:
Thứ nhất, tranh thủ đợc các nguồn vốn trên thị trờng quốc tế thông qua các
ngân hàng nớc ngoài hoặc các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, ngân hàng liêndoanh với nớc ngoài tại Việt Nam để đầu t phát triển kinh tế đất nớc Khaithác các nguồn vốn từ nớc ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứngnhu cầu về vốn của toàn bộ nền kinh tế Thực tiễn trong hai thập kỷ qua đã chothấy sở dĩ những nớc trong khu vực châu á đã đạt đợc mức tăng trởng và pháttriển ổn định, trở thành "những con rồng", phần lớn là nhờ họ đã thành côngtrong việc hình thành và thực hiện đợc chiến lợc vốn từ bên ngoài để hỗ trợ chochiến lợc phát triển kinh tế - xã hội
Trang 13nhất là ở các khâu thanh toán, kinh doanh ngoại hối, thẩm định dự án, phòngngừa rủi ro, kiểm soát nội bộ và giám sát tài chính Tiêu chí của phần lớn cácnghiệp vụ trên đây đều là: nhanh chóng, kịp thời, chính xác Do đó, các côngnghệ tiên tiến của ngành ngân hàng đều đợc ứng dụng nhằm thực hiện ngàycàng tốt hơn các tiêu chí nêu trên Các NHTM ở nớc ta hiện nay đều có mức
đầu t đáng kể vào công nghệ thông tin, viễn thông và xử lý số liệu
Thứ ba, chính việc mở rộng hoạt động kinh doanh đối ngoại sẽ tạo điều kiện
cho ngân hàng ngày càng có thêm những mối quan hệ mật thiết với các ngânhàng quốc tế, từ đó có thể trao đổi, học tập kinh nghiệm từ các ngân hàng n ớcngoài, hoặc yêu cầu những ngân hàng này giúp đỡ mình trong việc đào tạo vànâng cao trình độ của cán bộ Nhất là đối với các NHTM Việt Nam hiện nay,muốn hiện đại hoá, công nghệ hoá ngành ngân hàng, việc làm trớc tiên là phải
đào tạo lại đội ngũ cán bộ
Thứ t là những đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu, kiểm
soát tốt nhập khẩu Việc mở rộng hoạt động kinh doanh đối ngoại của ngânhàng cung cấp các dịch vụ ngân hàng thuận tiện, giúp cho quá trình xuất nhậpkhẩu hàng hoá trở nên dễ dàng, nhanh chóng Trong thanh toán quốc tế, ngânhàng đóng vai trò trung gian thanh toán giúp cho quá trình thanh toán theo yêucầu khách hàng đợc tiến hành an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chiphí thay vì thanh toán bằng tiền mặt Ngân hàng bảo vệ quyền lợi của kháchhàng trong giao dịch thanh toán, đồng thời t vấn cho khách hàng, hớng dẫn về
kỹ thuật thanh toán quốc tế nhằm giảm rủi ro, tạo an tâm tin tởng cho kháchhàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nớc ngoài Mặt khác, trong quá trìnhthực hiện thanh toán quốc tế, khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến
sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu, bảolãnh thanh toán mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n đáp ứng nhu cầu vềvốn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Điều này sẽ giúp cho các ngành cócơ hội đẩy mạnh hoạt động thơng mại quốc tế
Một ngân hàng nếu không có các mối quan hệ đối ngoại sẽ không thể có
đầy đủ tất cả mọi dịch vụ mà khách hàng yêu cầu Thêm nữa, dù có nhiều chinhánh đến đâu, ngân hàng đó cũng không thể có mặt trên khắp toàn cầu để đápứng đợc ở mọi nơi nhu cầu thanh toán của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu
Trang 14ngân hàng, khó khăn này đã đợc giải quyết Thông qua những hoạt động này,các ngân hàng ở những nớc khác nhau sẽ cùng hợp tác, bổ sung các dịch vụcho nhau để đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, giúp cho việc thanhtoán ngày càng thuận tiện, nhanh chóng, phục vụ cho sự phát triển của thơngmại nói riêng và nền kinh tế đất nớc nói chung.
Một lợi ích nữa là, thông qua việc thanh toán qua ngân hàng, Nhà nớc cóthể kiểm soát đợc kim ngạch nhập khẩu, chủng loại hàng hoá nhập khẩu,nguồn ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n từ đó có thể đa ra chính sách quản lýnhập khẩu phù hợp cho từng giai đoạn
Cuối cùng, tạo điều kiện, cơ hội mở rộng thị trờng, tìm kiếm bạn hàng trên
những lĩnh vực kinh doanh khác nhau, thực hiện đờng lối đối ngoại của Đảng
và Nhà nớc, nâng cao vị thế chính trị, kinh tế, ngoại giao, giao lu văn hoá dântộc Việt Nam với thế giới Khi mở rộng hoạt động kinh doanh đối ngoại, ngânhàng sẽ lựa chọn đợc những đối tác xứng đáng để cùng nhau tạo lập nên cácliên doanh Các liên doanh này không chỉ làm tăng nguồn thu lợi nhuận củangân hàng mà còn củng cố vững chắc hơn vị trí và uy tín của ngân hàng trênthị trờng trong nớc và quốc tế Nói rộng ra hơn nữa, các liên doanh này khihoạt động có hiệu quả sẽ góp phần tích cực vào sự tăng trởng và phát triểnchung của nền kinh tế nớc nhà Qua các ngân hàng liên doanh nh IndovinaBank, First Vinabank, Viet Thailan bank Các NHTM Việt Nam thu đợc nhiềukinh nghiệm, bài học khá tốt về cách quản lý ngân hàng, góp phần làm phongphú thêm và sôi động hơn thị trờng tài chính Việt Nam, tạo nên môi trờng cạnhtranh lành mạnh, từ đó góp phần quốc tế hoá hoạt động của hệ thống NHTMViệt Nam Vào năm 1995, NHNo & PTNT Việt Nam đã thành lập đợc một liên
hoạt động rất hiệu quả
Có thể nói, trong xu thế hội nhập hiện nay, việc tăng cờng và mở rộng hoạt
động kinh doanh đối ngoại của các ngân hàng Việt Nam là một việc làm cầnthiết và có ý nghĩa to lớn Nhận thức đợc điều này, NHNo & PTNT Hà Tây đã
và đang triển khai hoạt động này một cách tích cực để cố gắng đáp ứng nhucầu kinh tế - xã hội ngày càng tăng và đồng thời cũng là nhằm mục đích không
Trang 15NHNo&PTNT Hà Tây hiện nay
Nếu căn cứ vào luật pháp hiện hành về ngân hàng và quản lý ngoại hối của
nớc ta thì "hoạt động kinh doanh đối ngoại" của các NHTM Việt Nam đợc hiểu là "hoạt động kinh doanh ngoại hối", hay nói gọn là "hoạt động ngoại hối" Hoạt động ngoại hối là các hoạt động đầu t, vay, cho vay, bảo lãnh, mua,
bán và các giao dịch khác về ngoại hối Các ngân hàng đợc phép thực hiện hoạt
động kinh doanh đối ngoại là các NHTM, NH phát triển, ngân hàng đầu t, ngânhàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác hiện đanghoạt động tại Việt Nam, đợc NHNN cho phép hoạt động kinh doanh ngoại hối.Thực hiện các dịch vụ thanh toán liên ngân hàng quốc tế, phát sinh liênquan đến việc trao đổi thơng mại, dịch vụ, đầu t quốc tế và các quan hệ giao lukhác hết sức đa dạng giữa các nớc với nhau Kinh doanh ngoại tệ thờng lànhững hoạt động kinh doanh dịch vụ đối ngoại đầu tiên mà các NHTM khi bớc
ra thơng trờng quốc tế đều phải tiền hành
a/ Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Kể từ ngày 20/9/1994, NHNo & PTNT Hà Tây đợc thống đốc NHNN cấpgiấy phép kinh doanh ngoại tệ Cũng trong thời gian đó, đứng trớc nhu cầu bứcthiết trong quan hệ giao dịch, thanh toán ngoại tệ của nền kinh tế, phù hợp vớiquá trình phát triển thị trờng tài chính toàn cầu, Thống đốc NHNN đã ban hànhQuyết định 203/QĐ-NH ngày 20 tháng 10 năm 1994 thành lập thị trờng ngoại
tệ liên ngân hàng (Interbank) và ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động củaInterbank, đánh dấu bớc ngoặt lịch sử trong quá trình hinh thành và phát triểnthị trờng ngoại hối Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế
b/ Hoạt động thanh toán quốc tế:
Thanh toán quốc tế (TTQT) là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về tiền tệphát sinh từ các quan hệ kinh tế, thơng mại, tài chính, tín dụng giữa các tổchức, cá nhân của nớc này với tổ chức cá nhân của nớc khác, hoặc giữa mộtquốc gia với một tổ chức quốc tế để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnhvực kinh tế đối ngoại thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nớc cóliên quan
Khác với thanh toán nội địa (trong phạm vi một nớc), TTQT thờng gắn vớiviệc trao đổi giữa đồng tiền nớc này với đồng tiền của một nớc khác Đồng tiền
Trang 16là đồng tiền của một nớc thứ 3 Những ngoại tệ mạnh (ngoại tệ tự do chuyển
đổi) đang đợc sử dụng để thanh toán, mua bán tại các ngân hàng thơng mạiViệt Nam là: USD, EUR, JPY… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n
Thanh toán mậu dịch quốc tế không sử dụng tiền mặt mà thờng thực hiệnbằng chuyển khoản, bù trừ (clearing) trên tài khoản của các ngân hàng có liênquan Tuy nhiên, trong thanh toán phi mậu dịch thì lại có sự hỗ trợ tiền mặtcủa các nớc Hiện nay, phần lớn việc chi trả trong TTQT đợc thực hiện thôngqua điện tín, bu điện hoặc qua các uỷ nhiệm thu, chi hộ lẫn nhau giữa các ngânhàng, tỉ lệ trả bằng tiền mặt chỉ chiếm một phần không đáng kể
Năm 1994, đợc phép của NHNN Việt Nam, NHNo & PTNT chi nhánh tỉnh
Hà Tây đã bắt đầu thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế Ban đầu dịch vụ nàychỉ đợc tiến hành ở Hội sở của NH tỉnh, và với những hình thức hoạt động rất
đơn giản nh thanh toán các L/C nhập khẩu và chuyển tiền ngoại tệ phục vụ chonhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu và các dịch vụ trên cơ sở hợp đồng ngoạithơng, thanh toán ngoại tệ với các tổ chức tín dụng trong nớc và ngoài nớc.Việc chuyển tiền chủ yếu đợc thực hiện thông qua thanh toán với hệ thốngngân hàng Ngoại thơng Việt Nam
Bắt đầu tiến hành từ năm 1994, cho đến nay, hoạt động thanh toán quốc tếtại NHNo & PTNT Hà Tây liên tục đợc mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càngtăng của khách hàng Kể từ tháng 10/2000 công tác thanh toán quốc tế có sựchuyển biến lớn trong việc chuyển, nhận và xử lý thông tin liên quan đến thanhtoán quốc tế qua mạng viễn thông liên ngân hàng toàn cầu SWIFT (trớc đây chỉthực hiện thông qua telex hoặc qua ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam) Kể từ
đây, khối lợng thanh toán và xử lý phát hành th tín dụng đã đợc phát triểnnhanh và tăng liên tục trong các tháng Hiện nay, số lợng và giá trị L/C đợc xử
lý qua mạng SWIFT chiếm 98% tổng số L/C phát hành tại NHNo & PTNT HàTây
c/ Tín dụng quốc tế
Cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng của các nghiệp vụ huy động vốntrong nớc, hoạt động tín dụng quốc tế tại các NHTM Việt Nam cũng diễn ra rấtsôi động Để đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện
Trang 17quốc tế phổ biến nhất là: Tín dụng do các tổ chức tài chính quốc tế cấp, và tíndụng tài trợ xuất nhập khẩu.
d/ Quan hệ đại lý ngân hàng
Thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng khác trên thế giới và Việt Nam lànền tảng cơ sở cho việc tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại của mộtngân hàng
Ngay từ khi bắt đầu tiến hành nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại, NHNo
&PTNT Hà Tây đã nhận thức đợc tầm quan trọng của việc mở rộng mạng lớingân hàng đại lý trên toàn cầu Hiện nay, ngân hàng đã có quan hệ đại lý vớigần 600 ngân hàng khác và đã mở tài khoản Nostro tại trên 30 ngân hàng ở cácnớc khác nhau trên thế giới Đây là những kết quả rất tốt trong quá trình thựchiện nghiệp vụ quan hệ đại lý ngân hàng, đồng thời nó còn tạo ra nhiều hậuthuẫn cho những nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại khác
e/ Các dịch vụ khác
Giao lu thanh toán quốc tế hiện đại, không thể không kể đến dịch vụ kinhdoanh thẻ tín dụng - tiền điện tử ngày nay Đây cũng là mảng kinh doanh đốingoại đáng kể của các NHTM trên thơng trờng quốc tế
Thẻ tín dụng quốc tế (Credit card) hay còn gọi là thẻ có, do các tổ chức thẻquốc tế phát hành Khách hàng mua thẻ phải có tài khoản tại ngân hàng
Với khả năng thực hiện chức năng thanh toán quốc tế, thẻ tín dụng đã thamgia vào quá trình chu chuyển ngoại tệ trên thị trờng, làm chuyển dịch ngoại tệ
từ nớc nọ sang nớc kia tuỳ theo mức độ sử dụng thẻ Thẻ tín dụng quốc tế làmột phơng toán có nhiều đặc thù riêng, đó là:
- Khả năng chi tiêu bằng đồng tiền của bất kỳ nớc nào, nơi mà chủ thẻ sửdụng thẻ để thanh toán
- Có thể dùng để mua hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt
- Hạn mức sử dụng, kể cả hạn mức tổng thể cũng nh hạn mức rút tiền mặt là
do ngân hàng phát hành ấn định, có thể tăng, giảm bất kỳ lúc nào
- Nếu loại trừ yếu tố chênh lệch giá trị thì thực chất của việc phát hành thẻtín dụng quốc tế là việc cho vay ngoại tệ, hoặc cho vay bản tệ và bánngoại tệ cho chủ thẻ mang ra nớc ngoài sử dụng
Trang 18Nam và cha đợc sử dụng phổ biến trong dân c Tuy nhiên, trong những nămvừa qua, cùng với sự mở cửa hội nhập của Việt Nam với thế giới, số lợng cácnhà doanh nghiệp, các du khách nớc ngoài vào Việt Nam cũng nh ngời ViệtNam đi ra nớc ngoài ngày càng có chiều hớng gia tăng Trong quá trình giao l-
u, thông thơng đó, thực tế cho thấy, thẻ tín dụng quốc tế đợc sử dụng khá thuậntiện, đa dạng và với doanh số lớn cho các nhu cầu thanh toán NHNo & PTNT
Hà tây cần nắm bắt đợc nhu cầu này trong dân c để triển khai kịp thời nhữngdịch vụ kinh doanh mới, đặc biệt là dịch vụ phát hành thẻ tín dụng và thẻATM
Xét trong điều kiện cụ thể hiện nay, NHNo & PTNT cha thể thực hiện dịch
vụ phát hành thẻ, mà chỉ có thể thực hiện dịch vụ làm đại lý thanh toán cho cácngân hàng phát hành thẻ trong nớc (VietCombank, ACB ) và cho các tổ chứcthẻ quốc tế có uy tín ( MasterCard, Visa, Amex, JCB )
Ngoài ra, trong lĩnh vực kinh doanh đối ngoại của ngân hàng còn có một sốdịch vụ khác nh: cho thuê tài chính, t vấn nghiệp vụ ngân hàng
Để có thể tồn tại và cạnh tranh đợc với các ngân hàng thơng mại trong nớc,NHNo & PTNT Hà tây cần nhanh chóng tham gia vào hoạt động thanh toánthẻ để đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ của mình, đáp ứng nhu cầu ngày càng caocủa khách hàng
VI/ Tổ chức mạng l ới của NHNo & PTNT Hà Tây
1 Bộ máy tổ chức:
NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây đặt hội sở tại số 34 phố Tô Hiệu - thị xã Hà
Đông Hội sở của NHNo tỉnh do Ban giám đốc trực tiếp điều hành Tại đây trựctiếp kinh doanh một số nghiệp vụ cần thiết, đồng thời quản lý và chỉ đạo toàn
bộ hoạt động kinh doanh của 67 điểm giao dịch, bao gồm:
Trang 19trách hoạt động này khi đó là Tổ thanh toán quốc tế, trực thuộc phòng nghiệp
vụ kinh doanh Do quy mô của hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanhngoại tệ khi đó còn nhỏ bé, hơn nữa đội ngũ cán bộ chuyên trách cũng cha có
đủ, chủ yếu là cán bộ tín dụng kiêm nhiệm, nên suốt giai đoạn từ năm 1994cho đến đầu năm nay, nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại vẫn cha đợc tách riêng,vẫn là một bộ phận của phòng kinh doanh
Kể từ tháng 5/2002, , NHNo & PTNT chính thức thành lập phòng KDNT vàTTQT để tiện cho việc theo dõi và tiến hành nghiệp vụ kinh doanh PhòngKDNT và TTQT chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của Ban giám đốc Ngânhàng, hoạt động độc lập với các phòng ban trong Ngân hàng tỉnh Nhiệm vụchính của phòng là thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại, đồng thời cótrách nhiệm giám sát, chỉ đạo, hớng dẫn các ngân hàng huyện, thị xã trong việckinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế
Trang 20Kiểm tra nội bộ
Sơ đồ bộ máy tổ chức của NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây
Trang 211 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
* Chức năng của hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM:
Chức năng cơ bản của thị trờng ngoại hối là nhằm giúp các khách hàngthực hiện các giao dịch thơng mại quốc tế Cụ thể, ngân hàng sẽ bán ngoại tệcho các công ty muốn nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ từ nớc ngoài nếu hoá đơnthanh toán ghi bằng ngoại tệ Ngợc lại, nếu nhà xuất khẩu có nhu cầu chuyển
đổi ngoại hối thành đồng bản tệ trong trờng hợp hoá đơn thanh toán ghi bằng
đồng ngoại tệ, thì ngân hàng sẽ tiến hành nghiệp vụ đổi ngoại tệ
Ngoài ra, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối còn có một số chức năng khácnh:
- Giúp chu chuyển vốn t bản giữa các quốc gia đợc hiệu quả
- Thông qua thị trờng ngoại hối, giá trị đối ngoại của tiền tệ đợc xác địnhmột cách khách quan theo quy luật cung cầu của thị trờng
- Thông qua thị trờng ngoại hối, ngân hàng có thể bảo hiểm cho các khoảnthu xuất khẩu, các khoản thanh toán nhập khẩu, các khoản đầu t bằng ngoại
tệ và các khoản đi vay bằng ngoại tệ thông qua các giao dịch kỳ hạn, quyềnchọn, hợp đồng hoán đổi… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n
Theo tập quán và thông lệ chung, ngời ta thấy có những loại hình nghiệp
vụ sau:
1.1 Kinh doanh mua bán ngoại tệ
Là loại hình kinh doanh diễn ra hàng ngày tại ngân hàng thơng mại Ngời
ta còn gọi việc chuyển đổi này là mua, bán ngoại tệ Việc mua bán ngoại tệgiữa NHTM và khách hàng có thể là thông qua đồng bản tệ, hoặc cũng có thể
Trang 22là sự chuyển đổi giữa các ngoại tệ với nhau Dịch vụ này nhằm vào 3 mục
đích chính:
- Đáp ứng nhu cầu chi trả của khách hàng bản xứ bằng loại ngoại tệ khác
mà NHTM đó cha có sẵn
- Vì yêu cầu bảo toàn giá trị tiền tệ trong kinh doanh, khi một loại ngoại tệ
đang có sẵn xu hớng mất giá so với ngoại tệ khác
- Hoặc đơn thuần vì mục đích kinh doanh thời điểm, kết hợp các phơngthức kinh doanh, cần thực hiện phi vụ chuyển đổi để tìm kiếm lợi nhuận
1.1.1 Kết quả kinh doanh mua bán ngoại tệ
Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ là hoạt động đầu tiên mà NHNo & PTNT HàTây trong lĩnh vực kinh doanh đối ngoại Ban đầu, đây chỉ là hoạt động muabán ngoại tệ ở trong nớc và đợc thực hiện dựa trên hai đồng tiền chủ yếu làVND và USD với những nghiệp vụ khá đơn giản, thông thờng là giao ngay.Trong thời gian từ năm 1994 đến hết 1998, ngân hàng chỉ giao dịch chủ yếuvới Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam, ngân hàng Công thơng Việt Nam vàmột số ngân hàng Thơng mại cổ phần khác thông qua Hội sở giao dịch củaNHNo&PTNT Việt Nam Cũng trong những năm này, doanh số chỉ đạt thấp,thờng dới 5 triệu USD/năm Nguyên nhân là do hoạt động kinh doanh ngoại
tệ còn non trẻ cộng với doanh số hoạt động xuất nhập khẩu của các doanhnghiệp trên địa bàn tỉnh còn thấp, rồi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ kéodài từ 1997 đến 1998 cũng là nhân tố quan trọng cản trở sự phát triển củanghiệp vụ này
Kể từ năm 2000 đến nay, hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ có rấtnhiều biến chuyển Doanh số tăng nhanh qua các năm, số lợng các giao dịchcũng tăng đáng kể, các loại hình nghiệp vụ cũng đợc mở rộng Đặc biệt, ngânhàng không chỉ kinh doanh bằng đồng USD mà còn mở rộng ra nhiều loạingoại tệ khác nh EUR, JPY, GBP … Tuy nhiên giao dịch chủ yếu nhất vẫndựa trên cơ sở đồng đô la Số lợng các ngân hàng thực hiện giao dịch cũngtăng đáng kể Bên cạnh những thành tựu trên, còn tồn tại một hạn chế lớn là:NHNo Hà Tây vẫn cha đợc quyền mua bán ngoại tệ trực tiếp với các ngânhàng ở các thị trờng nớc ngoài Nhợc điểm này làm giảm rất nhiều khả năngkinh doanh ngoại tệ để thu lãi
Trang 23Doanh số mua bán ngoại tệ những năm gần đây đợc thể hiện trong bảngsau:
-Nhìn từ bảng thống kê trên, có thể thấy rằng: doanh số mua vào và bán ra
đều tăng rất nhanh qua các năm Cụ thể, năm 2001, doanh số mua vào tăng về
số tuyệt đối 3.131.301 USD tức là tăng 37% so với năm 2000 Cũng trongnăm này, doanh số bán ra tăng chậm hơn về số tuyệt đối với 3.100.996 USD,tơng đơng 36% Tính đến hết tháng 10/2002, số ngoại tệ mua vào đã cao hơnmức đạt đợc của cả năm 2001, và cao hơn con số cùng kỳ là 4.234.842 USD.Nếu tính đến hết năm 2002, tỉ lệ tăng sẽ còn rất nhiều triển vọng đạt mức cao.Bảng số liệu trên còn cho chứng tỏ rằng: nguồn cung ngoại tệ của NHNo
& PTNT Hà Tây nhìn chung là đảm bảo đủ cho cầu ngoại tệ của các thànhphần kinh tế Để phân tích rõ hơn vấn đề này, cần xem bảng tổng số lợng kinhdoanh ngoại tệ của năm 2001 qua các tháng:
Tháng 2
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
Tháng 10
Tháng 11
Tháng 12
Doanh số mua vào Doanh số bán ra
Trang 24cao (trên 2 triệu USD), đó là thời điểm ngân hàng tất toán những hợp đồngxuất khẩu lớn, nh hợp đồng xuất khẩu của công ty TNHH Văn Minh, của hợptác xã Đan Phợng Vào những thời điểm mà cầu ngoại tệ vợt cung, Ngânhàng thờng sử dụng đến số ngoại tệ dự trữ trong quỹ hoặc mua của sở giaodịch NHNo & PTNT Việt nam hay mua ngoại tệ trên thị trờng ngoại tệ liênngân hàng để tránh tình trạng khan hiếm ngoại tệ, đẩy tỷ giá lên cao.
*Nghiệp vụ tiến hành mua bán ngoại tệ
Kinh doanh ngoại tệ thờng đợc tiến hành bằng nhiều hoạt động:
+ giao dịch trả ngay (SPOT)
+ giao dịch kỳ hạn (FORWARD)
+ Giao dịch hoán đổi kết hợp trả ngay và kỳ hạn (SWAP)
+ Giao dịch quyền lựa chọn (Option), về quyền chọn mua (Put option) vàcả về quyền chọn bán (call option)
Kể từ thời điểm bắt đầu tiến hành kinh doanh ngoại tệ cho đến nay, hầuhết nghiệp vụ mua bán ngoại tệ đều là giao dịch giao ngay (SPOT) Nghiệp vụthanh toán giao ngay là nghiệp vụ theo đó việc mua bán, thanh toán và giaonhận ngoại hối xảy ra đồng thời Tiến hành giao dịch giao ngay có nhiều u
điểm Thứ nhất là đơn giản, dễ thực hiện Hơn nữa, rủi ro lại thấp do mứcchênh lệch giữa tỉ giá mua vào và bán ra là nhỏ Nhng điều này cũng có nghĩa
là mức lợi nhuận mà ngân hàng thu đợc từ nghiệp vụ này cũng bị hạn chế Ngoài loại giao dịch ngoại tệ giao ngay, NHNo & PTNT Hà Tây còn tiếnhành kinh doanh ngoại tệ kỳ hạn (Forward) Kinh doanh ngoại hối kỳ hạn haycòn gọi là kinh doanh ngoại hối giao sau, là một nghiệp vụ mua bán ngoại tệ
mà việc giao nhận sẽ đợc tiến hành sau một thời gian nhất định theo tỷ giáthoả thuận lúc ký kết Phần lớn các hợp đồng đợc kết thúc không phải bằngviệc giao nhận số ngoại tệ đã ký kết mà bằng cách thanh toán mức chênh lệchgiữa tỷ giá ký kết và tỷ giá trên thị trờng vào ngày đến hạn thực hiện hợp
đồng Nghiệp vụ này thờng đợc tiến hành cho những hợp đồng nhập khẩu,hoặc xuất khẩu thanh toán theo phơng thức th tín dụng (L/C) trả chậm
Kinh doanh ngoại hối giao sau chiếm một vị trí quan trọng trong nghiệp
vụ ngoại hối Ngoài mục đích kinh doanh kiếm lời, ngời ta còn sử dụng rộngrãi để bảo hiểm vốn trong quan hệ buôn bán và tài chính Ngời xuất khẩuhàng hóa bán hàng sau một thời gian mới thu đợc tiền về, ngời có vốn đầu t
Trang 25ngắn hạn ra nớc ngoài muốn đề phòng rủi ro ngoại tệ mất giá có thể bán có kỳhạn số ngoại tệ đã thu đợc Ngợc lại, ngời nhập khẩu phải trả tiền hàng saumột thời gian quy định trong th tín dụng để đề phòng ngoại tệ lên giá có thểmua có hỳ hạn số ngoại tệ phải trả.
Trớc tình hình biến động mãnh liệt của tỷ giá hối đoái trong cơ chế tỷ giá
"thả nổi", nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối giao sau rất phát triển vì nó là ong tiện quan trọng bảo hiểm rủi ro về ngoại hối và là công cụ đầu cơ có hiệuquả cao Vì vậy, thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có kỳ hạn đã đánhdấu một bớc phát triển lớn của NHNo Hà Tây trong lĩnh vực kinh doanhngoại hối và là bớc tiến để Ngân hàng hoà nhập hơn nữa vào thị trờng ngoạihối liên ngân hàng quốc tế
ph-Khách hàng đến mua ngoại tệ ở NHNo & PTNT Hà tây rất phong phú và
đa dạng Ngoại tệ đợc mua chủ yếu là dùng vào các mục đích nh: ký quỹ L/C,tất toán hợp đồng tín dụng ngoại tệ, trả lãi hợp đồng tín dụng ngoại tệ, chuyểntiền ra nớc ngoài… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n Phần lớn khách hàng là các doanh nghiệp lớn trong tỉnh,
nh công ty Xuất nhập khẩu Hà tây (UNIMEX), công ty Cổ phần thiết bị thựcphẩm Phú Xuyên, công ty Văn Minh… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n
Những thành công trên đây của NHNo & PTNT Hà Tây trong lĩnh vựckinh doanh mua bán ngoại tệ trớc hết đợc lý giải bởi những yếu tố kháchquan Trớc hết là sự ra đời của thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng năm 1994(Interbank) Đây có thể coi là mốc quan trọng đối với thị trờng ngoại hối ViệtNam, tạo môi trờng kinh doanh an toàn, hiệu quả và cạnh tranh lành mạnhcho các ngân hàng Việt Nam Interbank có nhiệm vụ chủ yếu là quản lý tỷ giáVND/USD thông qua biên độ dao động +/- 0,1%, đồng thời là nơi các ngânhàng có thể tự do mua bán ngoại tệ với nhau, góp phần ổn định cung-cầu vềngoại tệ Lý do khách quan thứ hai phải kể đến là việc ban hành hàng loạt cácvăn bản pháp quy về quản lý ngoại hối nh: Quy chế giao dịch hối đoái, niêmyết tỷ giá, trạng thái ngoại tệ… phục vụ kịp thời các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài n ớc đầu tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho bhoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thơng mại Việt nam, trong
Trang 26ngừng đẩy mạnh hoạt động tài trợ, khuyến khích xuất khẩu, do đó nguồnngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu là ổn định và thờng xuyên đáp ứng đầy
đủ nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng Thứ hai, đó là việc ứng dụng
công nghệ trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ luôn luôn đợc chú ý Hệthống tỷ giá đợc truyền hàng ngày từ Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đếnchi nhánh tỉnh Hà Tây rồi từ đó đợc chuyển tới các chi nhánh tại các huyệnthông qua mạng INTRANET, xây dựng các chơng trình phần mềm quản lýgiao dịch mua bán ngoại tệ, xây dựng hệ thống biểu mẫu báo cáo đánh giá,kiểm tra các hoạt động kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh đợc kiết xuất từ dữliệu báo cáo cân đối hàng ngày
1.1.2 Một số tồn tại trong hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ
Dù có nhiều kết quả khả quan trong những năm qua, hoạt động kinh doanhngoại tệ của NHNo&PTNT còn đặt ra khá nhiều vấn đề phải giải quyết Tuy
đã có nhiều cố gắng trong việc đẩy mạnh tài trợ hàng xuất khẩu nhng vẫn có
sự chênh lệch lớn giữa hàng xuất và hàng nhập Nhiều khi ngoại tệ cung cấpkhông đủ phục vụ cho nhu cầu nhập khẩu, khiến ngân hàng phải dùng đếnquỹ dự trữ ngoại tệ, hoặc tìm mua trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng.Thêm vào đó, hoạt động kinh doanh ngoại tệ mới chỉ thực sự hoạt động ở hội
sở của tỉnh và một số huyện, thị xã, cha thực sự sôi động trên toàn tỉnh Hiệuquả kinh doanh ngoại tệ cũng đang đặt ra cho ngân hàng nhiều vấn đề Đó làmức chênh lệch giữa tỉ giá mua vào và tỉ giá bán ra nhiều khi không đủ bù
đắp cho chi phí giao dịch Ví dụ nh ngân hàng đồng thời vừa mua vừa bánbình quân mỗi giao dịch là 50.000 USD với chênh lệch tỉ giá mua bán là 2
điểm, thì lãi gộp ngân hàng thu đợc là 100.000 VND; khoản thu nhập này quánhỏ so với chi phí thực tế mà ngân hàng bỏ ra
Nhìn chung, hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở NHNo&PTNT Hà Tây cònnhiều hạn chế, song không thể phủ nhận những kết quả mà nghiệp vụ này đã
đạt đợc trong thời gian qua, nổi bật là sự hỗ trợ đợc một phần lớn cho việc
đảm bảo thanh toán ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng nông nghiệp tỉnh.Hiện nay, Ngân hàng đang cố gắng đẩy mạnh và phát triển hơn nữa nghiệp vụnày để chuẩn bị một cơ sở vững chắc cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ củamình khi tham gia vào thị trờng tiền tệ quốc tế
Trang 271.2 Hoạt động kinh doanh tiền gửi ngoại tệ
Kinh doanh tiền gửi ngoại tệ là một nội dung kinh doanh có quan hệ hữucơ với kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ Về bản chất, quan hệ tiền gửi giữa cácNHTM là quan hệ kinh doanh vay mợn Với NHTM là chủ thể cho vay thìnguồn vốn ngoại tệ để cho vay thông qua nghiệp vụ tiền gửi thờng cấu thành
từ các nguồn:
- Ngoại tệ từ việc huy động vốn bằng ngoại tệ trong nớc
- Ngoại tệ trên các tài khoản ghi bằng ngoại tệ
- Ngoại tệ huy động trên thị trờng tiền tệ quốc tế thông qua nghiệp vụ tàikhoản tiền gửi (tài khoản LORO)
Các NHTM phải luôn quan tâm đến số vốn ngoại tệ thuộc tài sản Có củamình trên tài khoản Nostro để đáp ứng đợc các nhu cầu thanh toán vãng lai,phục vụ khách hàng trong nớc có quan hệ kinh doanh đối ngoại đồng thời
đảm bảo an toàn vốn và sinh lợi cao hơn
Tiền gửi ngoại tệ đợc cấu thành chủ yếu từ nguồn vốn huy động bằngngoại tệ ở trong nớc, và số ngoại tệ trên tài khoản của ngân hàng nớc ngoàigửi tại NHNo & PTNT Hà Tây ( tài khoản LORO) Song, do ngân hàng No
Hà Tây cha đợc phép trực tiếp tham gia vào thị trờng tiền tệ quốc tế nên hoạt
động kinh doanh ngoại tệ trên tài khoản Loro cho đến nay vẫn chỉ đang ở giai
đoạn nghiên cứu để áp dụng Trên thực tế, nghiệp vụ này đợc tiến hành chủyếu dựa trên số ngoại tệ huy động đợc của ngân hàng
1.2.1 Kết quả kinh doanh ngoại tệ của NHNo & PTNT Hà Tây
Đơn vị: Triệu VNĐ( đã quy đổi)
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của NHNo & PTNT Hà Tây - Phòng Kế toán ngân quỹ)
Nhìn từ bảng thanh toán trên, có thể thấy số vốn ngoại tệ huy động đợctrong dân c là khá quan trọng đối với NHNo Hà Tây, thờng chiếm tỉ lệ trên d-
ới 10% của tổng tiền gửi tiết kiệm, tuy hoạt động này có tăng về số tuyệt đối
Trang 28nhng tốc độ tăng đang giảm dần Cụ thể năm 1999 tăng về số tuyệt đối là44.794 triệu VND (quy đổi) tức là tăng 0,54% so với năm 1998 thì đến năm
2001 so với năm 2000, các con số tơng ứng là 44.838 triệu VND, tức là tăng
về số tơng đối 0,22% Sự suy giảm này có nhiều nguyên nhân, song một điều
dễ nhận thấy là nguồn vốn ngoại tệ huy động chủ yếu là bằng đồng USD, do
đó chịu ảnh hởng sâu sắc từ những quyết định về lãi suất của Hoa Kỳ Năm
2001 là năm suy thoái của nền kinh tế Mỹ, đặc biệt là từ sau vụ khủng bốngày 11/9 Cục dữ trữ liên bang Mỹ đã 11 lần phải hạ lãi suất tiền gửi Mứclãi suất thấp nhất của FED trong thời gian này là 0,75%/năm, đây là mức thấpnhất trong lịch sử hoạt động của hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ Điều này tác
động trực tiếp đến chính sách lãi suất huy động vốn bằng ngoại tệ của ViệtNam Do sức ép từ các thị trờng ngoại tệ, các Ngân hàng ở Việt Nam cũng đãphải giảm liên tục lãi suất đi vay bằng đồng USD Chính vì thế, lợng ngoại tệthu đợc từ hoạt động này đã giảm về số tơng đối so với những năm trớc Tuynhiên, từ tháng 3/2002 trở lại đây, công tác huy động vốn bằng ngoại tệ đã cónhiều khởi sắc do sự phục hồi của đồng USD nói riêng và của nền kinh tế nóichung
Số ngoại tệ sau khi thu mua thì thông thờng đợc NHNo Hà tây gửi lại ở Sởgiao dịch NHNo Việt Nam, hoặc Ngân hàng Ngoại thơng và ghi có tài khoảnngoại tệ của chi nhánh mình Phần ngoại tệ còn lại, ngân hàng dùng để chovay hoặc phục vụ cho nhu cầu thanh toán của khách hàng Trớc đây, tronggiai đoạn thí điểm có cho phép các NHTM cho vay bằng ngoại tệ tiền mặt,nên một số ngoại tệ mặt đã đợc giải ngân trực tiếp cho khách hàng Tuynhiên, việc quản lý có nhiều bất cập, nên đến nay đã ngừng việc cho vay theocách này
Đồng thời với các giao dịch về tiết kiệm ngoại tệ của dân c, NHNo &PTNT Hà Tây cũng tiến hành thiết lập hệ thống tài khoản ngoại tệ cho kháchhàng, theo đó các khách hàng có nguồn thu ngoại tệ đợc mở tài khoản và lugửi ngoại tệ thu đợc trên tài khoản để phục vụ cho các nhu cầu của mình Chủtài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ ở NHNo Hà Tây đa phần là các doanh nghiệpkinh doanh xuất nhập khẩu trong tỉnh và chỉ có một số ít là cá nhân và hộ gia
đình
1.2.2 Một số tồn tại trong hoạt động kinh doanh tiền gửi ngoại tệ:
Trang 29Việc khai thác nguồn ngoại tệ trên loại tài khoản LORO hiện nay cha pháttriển ở Việt Nam Thứ nhất là do các NHTM Việt Nam cha đợc phép trực tiếpkinh doanh trên thị trờng tiền tệ quốc tế, mọi giao dịch đều phải thông quaNHNo & PTNT Việt Nam Thứ hai, uy tín của các NHTM Việt Nam cha đợc
đánh giá cao trong khu vực cũng nh trên thế giới, quy mô giao dịch thì nhỏ
bé Do đó, các ngân hàng nớc ngoài có mở tài khoản Loro ở nớc ta cũng chủyếu là để phục vụ cho công tác thanh toán quốc tế chứ không nhằm mục đíchkinh doanh ngoại tệ Tuy nhiên, trong tơng lai, cùng với sự phát triển của thịtrờng tài chính- tiền tệ quốc tế, hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên tài khoảnLoro chắc chắn sẽ có những khởi sắc đáng kể
Tóm lại, việc triển khai các giao dịch kinh doanh ngoại tệ là một hớng đi
đúng theo xu thế phát triển của một NHTM, nhằm khơi thông và ổn địnhnguồn vốn bằng ngoại tệ, là một nhu cầu rất bức xúc ở một địa bàn đang mởrộng các hoạt động kinh tế đối ngoại nh Hà Tây Hơn nữa, thông qua nghiệp
vụ này, Nhà nớc sẽ quản lý tốt hơn nguồn ngoại tệ đang trôi nổi trong dân c
2 Hoạt động thanh toán quốc tế
Hoạt động xuất nhập khẩu hiện đang là một bộ phận quan trọng hàng đầutrong các hoạt động kinh doanh đối ngoại ở Việt Nam nói riêng và của thếgiới nói chung Xu hớng ngày nay trên toàn cầu là đẩy tốc độ phát triển củathơng mại quốc tế nhanh hơn tốc độ tăng tổng sản phẩm xã hội thế giới Dovậy, các ngân hàng thơng mại với t cách là ngời trung gian tài chính cung cấpcác phơng tiện thanh toán phải không ngừng phát triển hoạt động thanh toánquốc tế của mình để đáp ứng đợc nhu cầu thanh toán ngày càng tăng giữa cácquốc gia
Nh là một mắt xích không thể thiếu trong sợi dây chuyền hoạt động ngoạithơng, thanh toán quốc tế là khâu then chốt cuối cùng để khép kín một chutrình mua bán hàng hoá hay dịch vụ, là cầu nối giữa ngời sản xuất và ngờitiêu thụ thông qua việc chi trả lẫn nhau trong nghiệp vụ TTQT Với vai trò đó,TTQT đã góp phần chủ yếu để giải quyết mối quan hệ hàng hoá- tiền tệ, tạonên sự liên tục của quá trình tái sản xuất và đẩy mạnh quá trình lu thông hànghoá
Trang 30Hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo & PTNT Hà Tây mới chỉ đợc bắt
đầu áp dụng từ năm 1998, nhng đã nhanh chóng phát triển và đến nay đã trởthành hoạt động kinh doanh chính trong lĩnh vực ngân hàng đối ngoại Dùlịch sử hoạt động còn rất non trẻ, song quy trình thanh toán quốc tế tại Ngânhàng No Hà Tây đã đem lại rất nhiều thuận lợi không chỉ cho bản thân ngânhàng nói riêng, mà còn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung Tuyvậy, cũng chính do mới tham gia vào lĩnh vực này nên ngân hàng cũng khôngthể tránh khỏi những sai lầm, những thiếu sót cần đợc nghiên cứu và sửachữa
Trong kinh doanh, ngời ta có thể lựa chọn nhiều phơng thức thanh toánkhác nhau để thu tiền về hoặc trả tiền.Phơng thức thanh toán tức là chỉ ngờibán dùng cách nào để thu tiền về, ngời mua dùng cách nào để trả tiền Nhngxét cho cùng việc lựa chọn phơng thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu củangời mua là nhập hàng đúng số lợng, chất lợng, đúng hạn và từ yêu cầu củangời bán là thu tiền nhanh, đầy đủ và đúng
Các phơng thức thanh toán quốc tế qua NHNo & PTNT Hà Tây gồm có:Chuyển tiền (Remittance), Nhờ thu (Collection of payment) và Tín dụngchứng từ ( Letter of Credit)
2.1 Chuyển tiền
2.1.1 Định nghĩa:
Phơng thức chuyển tiền là phơng thức mà trong đó khách hàng (ngời trảtiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một ngờikhác (ngời hởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phơng tiện chuyển tiền
do khách hàng yêu cầu
Đây là phơng thức thanh toán đơn giản nhất, sử dụng phơng thức này có u
điểm là thủ tục thanh toán đơn giản, thời gian nhanh, phí phải trả không lớn
2.1.2 Trình tự tiến hành nghiệp vụ :
a/ Các bên tham gia:
+ Ngời trả tiền (ngời nhập khẩu, ngời mắc nợ) hoặc ngời chuyển tiền (ngời
đầu t, kiều bào chuyển tiền về nớc, ngời chuyển kinh phí ra ngoài nớc) làngời yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nớc ngoài
Trang 31+ Ngời hởng lợi( ngời xuất khẩu, chủ nợ, ngời tiếp nhận vốn đầu t), hoặc
là ngời nào đó do ngời chuyển tiền đi chỉ định
+ Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nớc ngời chuyển tiền
+ Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nớc ngời hởng lợi
b/Sơ đồ quy trình thực hiện :
Các bớc trên sơ đồ:
(1) Các giao dịch thơng mại(2) Ngời chuyển tiền viết đơn yêu cầu chuyển tiền ( bằng th hoặcbằng điện) cùng với uỷ nhiệm chi nếu có tài khoản tại ngân hàng(3) Chuyển tiền ra nớc ngoài qua ngân hàng
(4) Ngân hàng chuyển tiền cho ngời hởng lợic/ Cách thức chuyển tiền:
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer - T/T): loại này có u điểm
là thu hồi tiền nhanh, nhng chi phí cao, do đó nó lợi cho ngời xuất khẩu
mà không lợi cho ngời nhập khẩu Để đảm bảo an toàn, hợp pháp cho bức
điện trả tiền, thông thờng khi gửi đi ngời ta có ghi vào bức điện một mã số.Cách thức chuyển tiền này đợc sử dụng rộng rãi (nhất là với các ngân hàngcha tham gia vào hệ thống SWIFT)
- Chuyển tiền bằng th (Mail Transfer - M/T): là việc lập th chuyển tiền vàgửi qua đờng bu điện, phí phải trả thấp, nhng ngời xuất khẩu nhận tiềnchậm Loại này hiện nay ít đợc sử dụng trong thanh toán quốc tế
- Chuyển tiền qua hệ thống SWIFT ( Hệ thống mạng viễn thông tài chínhliên ngân hàng toàn cầu): ra đời từ năm 1977, SWIFT là mạng lới phục vụcho việc trao đổi những bức điện giữa các ngân hàng là thành viên củahiệp hội Tham gia vào mạng SWIFT, thông tin giữa các ngân hàng đợcchuyển đi nhanh chóng, an toàn với chi phí rẻ làm tăng hiệu quả kinh
1
2
3
4
Trang 32doanh của các nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là khâu chuyển tiền tronghoạt động thanh toán quốc tế.
Do có nhiều u điểm trên đây mà ngày càng có nhiều các ngân hàng trênthế giới tham gia vào hệ thống SWIFT NHNo&PNT Hà Tây đã chính thứchoà vào mạng viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu từ tháng 10 năm2000
2.1.3 Thực tiễn áp dụng ở NHNo& PTNT Hà Tây
ở NHNo & PTNT Hà Tây, loại phơng thức này ít sử dụng trong thanh toánngoại thơng, mà thờng sử dụng trong các nghiệp vụ: trả tiền ứng trớc, trả tiềnphạt , chuyển tiền kiều hối, chuyển tiền cho ngời nhà đi du học, công tác ở n-
ớc ngoài, tiền hoa hồng hoặc thanh toán tiền bồi thờng dịch vụ
a/ Quy trình chuyển tiền ở NHNo & PTNT Hà Tây
*NHNo & PTNT Hà Tây là ngân hàng chuyển tiền đi:
Đây là nghiệp vụ chuyển trả ngoại tệ cho nớc ngoài, theo quy chế quản lýngoại hối của nớc ta, NHNo & PTNT Hà Tây phải kiểm tra nguồn vốn chuyểntiền do đâu mà có Ví dụ:
+ Chuyển tiền bằng vốn tự có của doanh nghiệp (nội tệ) thì phải có hợp
đợc cấp giấy chứng nhận mã doanh nghiệp xuất nhập khẩu do hải quan cấp.+ Chuyển tiền bằng vốn vay nợ viện trợ: Căn cứ uỷ quyền của các cơ quanhữu quan làm bằng chứng phân bổ nguồn vốn vay nợ viện trợ, việc thanh toánxuất nhập khẩu theo hiệp định vay nợ - viện trợ của Nhà nớc đợc tập trung tạiphòng tín dụng là nơi theo dõi, quản lý các hiệp định vay nợ Nhà nớc, thựchiện việc đối chiếu và xác nhận số liệu nớc ngoài
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp lần đầu chuyển tiền, NHNo & PTNT
Hà Tây còn phải kiểm tra giấy đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số nhập khẩutrớc khi kiểm tra những giấy tờ nêu trên
Trang 33Khi chuyển tiền cho ngời xuất khẩu theo phơng thức chuyển tiền thì ngờinhập khẩu phải xuất trình đầy đủ các giấy tờ trên kèm theo một giấy uỷnhiệm chi, yêu cầu ngân hàng trích tài khoản của mình chuyển trả cho ngời h-ởng lợi ở nớc ngoài (còn gọi là lệnh chuyển tiền).
Lệnh chuyển tiền cần ghi đầy đủ các nội dung sau:
Tên đơn vị và chữ ký của ngời chuyển tiền
Số d tài khoản của ngời chuyển tiền, tên ngân hàng mở tài khoản
Tên và địa chỉ của ngời hởng lợi
Số tiền, loại tiền chuyển đi bằng số và bằng chữ
Ngày giá trị
Phí chuyển tiền do ai chịu
Tại NHNo & PTNT Hà Tây, khi nhận đợc lệnh chuyển tiền của kháchhàng, thanh toán viên tiến hành kiểm tra các điều kiện sau:
Kiểm tra nội dung hợp đồng ngoại thơng và các giấy tờ cần thiết
Số tiền phải trả trong lệnh chuyển tiền của khách hàng không đợcnhiều hơn số tiền phải thanh toán trong hợp đồng
Kiểm tra nội dung lệnh chuyển tiền
Xem số d trên tài khoản của khách hàng có đủ để thanh toán không.Sau khi kiểm tra, nếu phát hiện trong lệnh chuyển tiền có điều gì sai sóthoặc cha đầy đủ, thanh toán viên sẽ thông báo ngay cho khách hàng biết đểsửa đổi, bổ sung Song cần lu ý mọi sửa đổi, bổ sung đều phải bằng văn bản
và có chữ ký xác nhận của khách hàng
Sau đó, căn cứ vào lệnh chuyển tiền của ngời nhập khẩu, thanh toán viên
sẽ tiến hành trích từ tài khoản của ngời chuyển tiền để chuyển trả, đồng thờilập lệnh chuyển tiền cho NH nớc ngoài
Trờng hợp ngời chuyển tiền đến NH thông báo ngời hởng lợi khiếu nại chanhận đợc tiền, thanh toán viên phải kiểm tra lại nội dung của lệnh chuyển tiềngửi đi NH nớc ngoài để tra soát và yêu cầu NH nớc ngoài thông báo lại kếtquả
Nh vậy, khi đóng vai trò là ngân hàng chuyển tiền đi, NHNo & PTNT Hàtây phải có trách nhiệm kiểm tra các giấy tờ liên quan theo lệnh chi ngoại tệ
ra nớc ngoài theo đúng quy định quản lý ngoại hối của Nhà nớc Ngời chuyểntiền phải cung cấp cho ngân hàng tất cả các giấy tờ cần thiết Nếu gặp trờng
Trang 34hợp vi phạm, ngân hàng phải từ chối Đây là việc làm quan trọng, nếu xảy rasai sót hoặc vi phạm thì NHNo & PTNT Hà Tây phải chịu trách nhiệm vớiNhà nớc Trong quá trình thực hiện chuyển trả tiền, NHNo Hà Tây thờngxuyên phối hợp với ngời chuyển tiền để giải quyết những sai sót có thể xảy ratrớc khi chi trả cho ngời hởng lợi, nh : khuyên ngời nhập khẩu khi ký kết hợp
đồng cần phải quy định rõ ràng điều khoản: ngời nhập khẩu không chịu mọiphí tổn ngoài lãnh thổ Việt Nam, mọi khoản chi phí đó NH nớc ngoài phảithu của ngời xuất khẩu
*NH No & PTNT Hà Tây là ngân hàng đại lý
Khi NHNo & PTNT Hà Tây nhận đợc lệnh trả tiền của NH nớc ngoài,thanh toán viên sẽ kiểm tra tính hợp lệ của lệnh trả tiền đó Căn cứ vào lệnhtrả tiền của NH nớc ngoài, thanh toán viên báo có cho ngời hởng lợi
Trong thời gian qua, với t cách là ngân hàng phục vụ cho ngời xuất khẩu,NHNo & PTNT luôn luôn chuyển trả đầy đủ và kịp thời số tiền do NH nớcngoài gửi trả cho ngời xuất khẩu
Khi nhận đợc lệnh chuyển tiền từ NH nớc ngoài chuyển đến, thanh toánviên phải kiểm tra:
Xác nhận mã đúng (nếu bằng TELEX), các mẫu điện MT100,MT202 (nếu bằng SWIFT), chữ ký đợc uỷ quyền (nếu bằng th)
Tên NH đợc ghi có và số tài khoản (nếu có)
Tên ngời gửi tiền
Tên và địa chỉ đầy đủ, số tài khoản (nếu có) của ngời hởng
NH của ngời hởng
Số tiền, loại tiền, ngày giá trị
Phí chuyển tiền do ai chịu
Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, có hai hình thức chuyển tiền phổ biến ởNHNo & PTNT Hà Tây, đó là:
- Chuyển tiền trớc khi thực hiện hợp đồng:
+ Tiền ứng trớc (đặt cọc): nếu hợp đồng ghi điều khoản này thì ngời nhậpkhẩu phải trả trớc cho ngời xuất khẩu một khoản tiền nh trong hợp đồng đãquy định
+ Cấp tín dụng cho ngời xuất khẩu: ngời xuất khẩu phải xuất trình hợp
đồng ngoại, giấy phép xuất khẩu hoặc hạn ngạch xuất khẩu do Nhà nớc quy
Trang 35định thì NH sẽ cấp cho ngời xuất khẩu các điều kiện đảm bảo tín dụng và cấpmột khoản tín dụng không vợt quá 50% giá trị của hợp đồng.
+ Thanh toán trớc một phần: nếu hợp đồng ghi điều khoản này thì ngờinhập khẩu phải thanh toán trớc cho ngời xuất khẩu một khoản tiền nh tronghợp đồng đã quy định Ví dụ: ngời nhập yêu cầu ngời xuất khẩu sản xuất thửmặt hàng họ đặt mua, hoặc thiết kế mẫu hàng và gửi cho ngời nhập khẩu hàngmẫu đó để họ bán thử và thăm dò thị trờng Nếu ngời nhập khẩu chấp nhậncác điều khoản trên thì phải thanh toán các chi phí để sản xuất thử hoặc thiết
kế mẫu mã và phải thanh toán trớc một phần trị giá hợp đồng cho ngời xuấtkhẩu Khi đó, Ngân hàng mới thực hiện chuyển tiền cho ngời xuất khẩu
- Chuyển tiền sau khi thực hiện hợp đồng:
Ngời nhập khẩu phải xuất trình cho NH bản hợp đồng ngoại, hoá đơn, vận
đơn, giấy khai báo hải quan và các chứng từ lấy hàng khác, đối với hàng hoáxuất - nhập khẩu theo hạn ngạch thì phải xuất trình giấy phép xuất khẩu hoặchạn ngạch do Nhà nớc cấp thì NH mới thực hiện chuyển tiền
- Chuyển tiền kiều hối:
Kiều hối không phải là dịch vụ riêng có ở nớc ta mà là tình hình chung củacác nớc có đông ngời làm ăn sinh sống ở nớc ngoài Theo thống kê của quỹtiền tệ quốc tế IMF và NHNN Việt Nam, số tiền chuyển bằng con đờng chínhthức về nớc hàng năm là 1 tỷ USD So với nhiều tỉnh khác, Hà tây không phải
là tỉnh thành có lợng kiều hối lớn, song đây cũng đợc coi là một nguồn thungoại tệ quan trọng của tỉnh nhà Mỗi năm, doanh số chuyển tiền kiều hối th-ờng đạt ở con số 1 triệu USD
Tuy NHNo&PTNT Hà Tây nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nóichung đã có những chính sách để thu hút nguồn vốn này Nhng có một thực tế
là việc thanh toán cho ngời thụ hởng bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá quy đổi
do ngân hàng quy định, sau khi đã trừ phí chuyển ngoại tệ thì ngời thụ hởng
sẽ bị thiệt do tỉ giá đó lại thấp hơn nhiều so với tỷ giá trên thị trờng tự do.Mặt khác, mặc dù NHNo&PTNT Hà Tây đợc phép kinh doanh ngoại hối,nhng mối quan hệ với các tổ chức kiều hối mới chỉ dừng lại ở một số nớccông nghiệp phát triển Hầu nh không có quan hệ với các tổ chức, công tyhoặc đại diện ngời Việt ở các nớc thuộc Đức, Ba Lan, Liên Xô trớc đây và cácnớc Đông Âu cũ, là những nớc có lợng c dân Việt Nam làm ăn và sinh sống,
Trang 36có thu nhập và có mong muốn chuyển tiền về nớc nhng do điều kiện nên chathể chuyển tiền chính thức đợc.
Nhìn vào bảng số liệu trên, có thể thấy việc gia nhập vào mạng SWIFTcuối năm 2000 đã tạo ra bớc phát triển mạnh mẽ cho hoạt động chuyển tiềntại NHNo & PTNT Hà Tây Năm 2001, số tiền đợc chuyển tăng 88.37% sovới năm 2000 Đến tháng 10 năm 2002, tốc độ tăng này tuy có chậm lại, nhngvẫn ở mức cao với tỉ lệ 65% so với cùng kỳ năm 2001 Có thể nói, đây lànhững con số này đã phản ánh phần nào hoạt động hiệu quả của nghiệp vụchuyển tiền tại NHNo&PTNT Hà Tây Ngân hàng ngày càng chiếm đợc lòngtin của khách hàng Điều đó không chỉ thể hiện qua doanh số tiền đợc chuyển, mà còn ở số lợng khách hàng đến với ngân hàng Ban đầu, khách hàng củangân hàng chỉ là các doanh nghiệp nhỏ và một số doanh nghiệp nhà nớc đã cóquan hệ từ lâu với ngân hàng Nhng đến nay, khách hàng đến với NHNo HàTây bao gồm đủ mọi thành phần kinh tế, chuyển tiền và nhận tiền với nhiềumục đích khác nhau
Trong hoạt động chuyển tiền thanh toán các hợp đồng xuất nhập khẩuNgoài những kết quả đã đạt đợc trên đây, phơng thức chuyển tiền vẫn cònmột số bất lợi Trong phơng thức này, ngân hàng chỉ là ngời tham gia thựchiện theo lệnh của khách hàng để thu hoa hồng chứ không có ràng buộc gì vớihợp đồng Việc trả tiền hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí và khả năng của ng-
ời nhập khẩu Do đó, quyền lợi của ngời xuất khẩu không đợc đảm bảo
Cũng theo phơng thức này, Ngân hàng không thể tác động đến việc trả tiềnsớm hay muộn của ngời nhập khẩu và không thể xác định đợc số tiền nhận
đó đúng hay sai Vì thế, khi sử dụng phơng thức này, ngời xuất khẩu cần chú
ý đến các vấn đề sau khi ký kết hợp đồng ngoại thơng:
+ Nên quy định thời gian trả tiền đối với ngời nhập khẩu và tốt nhất nên
Trang 37toàn, chính xác, thuận tiện và nhanh nhất Trờng hợp không thể quy định nhvậy thì nên chọn phơng thức thanh toán bằng điện TELEX, hạn chế việc trảtiền bằng th.
+ Nên từ chối việc trả tiền bằng séc hay hối phiếu của ngân hàng nớcngoài vì hiện nay, phần nhiều các ngân hàng nớc ngoài cha mở tài khoảnLORO tại NHNo & PTNT Hà Tây Do vậy, nếu họ phát hành séc hoặc hốiphiếu thì NHNo & PTNT Hà Tây sẽ không thể trả tiền ngay cho ngời xuấtkhẩu mà phải gửi đi nhờ thu ở ngân hàng nớc ngoài Nh vậy thời gian thu tiền
sẽ bị kéo dài và ngời xuất khẩu sẽ phải chịu thêm chi phí nhờ thu, ảnh hởnglớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trong lĩnh vực chuyển tiền kiều hối:
Hiện nay, NHNo & PTNT Hà Tây vẫn còn thu lệ phí đối với ngời thụ hởnglĩnh kiều hối USD hoặc EUR bằng tiền mặt, trong khi rất nhiều ngân hàng th-
ơng mại khác nh ngân hàng Ngoại thơng, Ngân hàng đầu t và phát triển đãcho phép thu lệ phí này bằng chuyển khoản, tạo thuận lợi cho quá trìnhchuyển tiền về nớc Thêm vào đó, ngời nhận tiền kiều hối chuyển về còn phảitrả lệ phí cho ngân hàng là 0,05%/tổng số tiền kiều hối Nh vậy, tổng lệ phí
mà ngời hởng lợi phải trả là 0,15%/ tổng số tiền kiều hối Đây là một tỷ lệkhá cao, nếu ngân hàng muốn đẩy mạnh hoạt động chuyển tiền thì cần phảigiảm tỉ lệ này
2.2 Nhờ thu
2.2.1 Định nghĩa :
Phơng thức nhờ thu là phơng thức thanh toán trong đó ngời xuất khẩu hoànthành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng uỷ tháccho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở ngời nhập khẩu trên cơ sở hối phiếucủa ngời xuất khẩu lập ra
Các bên tham gia phơng thức nhờ thu gồm có:
của ngời xuất khẩu
khẩu
Trang 38- Ngời nhập khẩu: là ngời mua hàng, hay ngời trả tiền.
Trong phơng thức nhờ thu, việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí và khảnăng tài chính của ngời mua hàng, còn NH uỷ thác thu và NH đại lý chỉ làmtrung gian chuyển tiền và thu hộ tiền và không chịu trách nhiệm gì về việc trảtiền hay không trả tiền của ngời nhập khẩu
Phơng thức này chỉ có lợi trong trờng hợp hai bên đã có quan hệ mua bánlâu dài với nhau, có sự tín nhiệm lẫn nhau và cả hai bên đều có thiện chí Sửdụng phơng thức nhờ thu có u điểm là thủ tục khá đơn giản, chi phí phải trảcho NH ít
2.2.2 Các loại nhờ thu
Phơng thức nhờ thu đợc tiến hành trên cơ sở hối phiếu do ngời xuất khẩulập ra Có hai loại phơng thức nhờ thu là nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèmchứng từ
a/ Nhờ thu phiếu trơn:
uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở ngời nhập khẩu căn cứ vào hốiphiếu do mình lập ra, còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho ngờinhập khẩu không qua ngân hàng
(1) Ngời xuất khẩu sau khi gửi hàng hoá và bộ chứng từ thì lập hối phiếu
và uỷ thác cho NH phục vụ mình (NH uỷ thác) thu hộ tiền bằng chỉ thịnhờ thu
(2) NH uỷ thác gửi th uỷ nhiệm kèm theo hối phiếu của ngời nhập khẩusang NH đại lý của mình ở nớc ngời nhập khẩu nhờ thu tiền
(3) NH đại lý gửi hối phiếu cho ngời nhập khẩu để yêu cầu thanh toán(nếu trả tiền ngay) hoặc chấp nhận thanh toán (nếu mua chịu)
(4) Ngời nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ, ký chấp nhận hoặc từ chốithanh toán và gửi cho NH phục vụ mình (NH đại lý)
(5) NH đại lý chuyển tiền sang NH nhờ thu để ghi có vào tài khoản củangời xuất khẩu
(6) NH phục vụ ngời xuất khẩu sau khi ghi có, báo có lại cho ngời xuấtkhẩu
Sơ đồ quy trình thanh toán nhờ thu trơn
Trang 39Nh vậy, trong phơng thức nhờ thu hối phiếu trơn, NH chỉ đóng vai tròtrung gian đơn thuần vì chứng từ gửi thẳng cho ngời nhập khẩu.
Phơng thức nhờ thu phiếu trơn không đợc áp dụng rộng rãi trong TTQT vì
nó không bảo đảm quyền lợi cho ngời bán Việc nhận hàng của ngời muahoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, do đó ngời mua có thể nhận hàng vàkhông trả tiền hoặc chậm trễ trả tiền Đối với ngời mua áp dụng phơng thứcnày cũng có điều bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, ngời muaphải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của ngời bán có đúnghợp đồng hay không
b/ Nhờ thu kèm chứng từ:
Là phơng thức trong đó ngời xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền
ở ngời nhập khẩu không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộchứng từ gửi hàng gửi kèm theo với điều kiện là nếu ngời nhập khẩu trảtiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từgửi hàng cho ngời nhập khẩu để nhận hàng
5 2
Trang 40Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Ph ơng Chi
(1) Ngời xuất khẩu sau khi gửi hàng hoá lập hối phiếu kèm theo bộ chứng
từ uỷ thác cho NH phục vụ mình (NH uỷ thác) thu hộ tiền từ ngời nhậpkhẩu bằng chỉ thị nhờ thu
(2) NH uỷ thác gửi hối phiếu, bộ chứng từ và th uỷ nhiệm của ngời nhậpkhẩu sang NH đại lý của mình ở nớc ngời nhập khẩu nhờ thu tiền
(3) NH đại lý sau khi kiểm tra, gửi hối phiếu và bộ chứng từ cho ngời nhậpkhẩu để yêu cầu thanh toán
(4) Ngời nhập khẩu trả tiền hay ký chấp nhận tuỳ theo một trong hai trờnghợp sau: Chấp nhận thanh toán (D/A) hoặc thanh toán đổi lấy chứng từ(D/P) thì mới đợc giao chứng từ
(5) NH đại lý chuyển tiền bằng bút toán hoặc chuyển hối phiếu dã chấpnhận hoặc thông báo từ chối thanh toán của ngời nhập khẩu sang NH
Tuy vậy, nhờ thu kèm chứng từ vẫn còn có một số mặt yếu sau đây:
hàng hoá của ngời mua, cha khống chế đợc việc trả tiền của ngời mua.Ngời mua có thẻ kéo dài việc trả tiền bằng cách cha nhận chứng từhoặc có thể không trả tiền khi tình hình thị trờng bất lợi với họ
có khi kéo dài vài tháng hoặc nửa năm
thu tiền hộ, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của ngời mua
2.2.3 Thực tiễn áp dụng tại NH No & PTNT Hà Tây
Nh đã giới thiệu ở trên, có hai NH tham gia vào phơng thức này, đó là NH
uỷ thác và NH đại lý Sau đây chúng ta sẽ xem xét vai trò của NHNo &PTNT
Hà Tây theo từng góc độ
a/ NHNo Hà Tây là NH uỷ thác
Gửi hàng