Cuốn Một số vấn đề về hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc - Tiến sỹ Nguyễn Minh Hằng Chủ biên Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội -2003, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu vai trò của kin
Trang 1Trờng Đại học Vinh khoa lịch sử
-
-lê thị thuỷ hà
Khoá luận tốt nghiệp đại học
tìm hiểu một số vấn đề về nông nghiệp
Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận này em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới tập thể thầy cô giáo Khoa Lịch sử, những ngời đã dạy dỗ em trong những năm học tại Khoa.
Đặc biệt em xin cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Lê Tiến Giáp- giảng viên Khoa Lịch sử, ngời đã tận tình chỉ bảo em trong quá trình làm khoá luận này
Trang 2Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên tạo điều kiện giúp đỡ tốt để em hoàn thành khoá luận
Tác giả
A- mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
ở nhiều quốc gia trên thế giới kinh tế nông nghiệp và sự biến đổi củanông thôn rất đợc coi trọng Riêng đối với Trung Quốc vấn đề nông thôn vàkinh tế nông nghiệp cùng chiếm vị trí hàng đầu, vì đây là một quốc gia
“khổng lồ” với 9,6 triệu km2 và có tới hơn 1,2 tỉ ngời, trong đó số dân nôngthôn là 782,41 triệu ngời, chiếm 60,91% tổng số dân Trung Quốc (2001), và
có tới gần một nửa số lao động làm nông nghiệp Nh Điền Kỷ Vân-Phó Thủtớng Trung Quốc đã nói: “giải quyết vấn đề nông nghiệp đặc biệt là vấn đề l -
ơng thực, cần phải có sự cố gắng nhiều mặt; nhng trớc hết vẫn phải nhận thứcsâu sắc đối với vai trò cơ bản của nông nghiệp Cái đó tuy là vấn đề cũ nh ngtrong điều kiện lịch sử mới, cần phải đi sâu hơn một bớc nữa nhận thức củamình” Ông còn nói: “Nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế quốc dân n ớc ta,
đó là phù hợp với quy luật kinh tế khách quan của tình hình trong nớc ở nớc
ta Chúng ta chỉ có thể nhận thức nó, tự giác vận dụng nó, và quyết khôngthể đi ngợc lại nó Nếu không sẽ bị trừng phạt”
Do đó, sau khi nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đợc thành lập, trongmột thời gian dài, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trơng lấy sản xuất nôngnghiệp làm cơ sở cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, coi vấn đề nông nghiệp
Trang 3và nông thôn là nhân tố ràng buộc cơ bản đối với sự phát triển kinh tế -xã hộiTrung Quốc Trớc năm 1978, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đã có nhiềucuộc thử nghiệm; nào là “lấy đấu tranh giai cấp làm chính”, “nắm lấy khâucách mạng thúc đẩy sản xuất”, nào là đi con đờng “nhất đại nhị công lấy l-
ơng thực làm cơng lĩnh”, nào là “noi theo điển hình Đại trại”…Trong suốtTrong suốtgần 30 năm dò dẫm tìm đờng phát triển nông nghiệp, ở Trung Quốc đã gặthái đợc nhiều thành công, nhng cũng gặp phải không ít những sai lầm trầmtrọng tởng chừng nh không thể thoát ra đợc
Trớc thực tiễn tàn khốc đó, tháng 12-1978 tại Hội nghị Trung ơng 3khoá XI Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua chính sách cải cách mởcửa kinh tế trong đó có kinh tế nông nghiệp Đến nay, sau khi Trung Quốcthực hiện cải cách mở cửa đợc gần 30 năm nhiều vùng nông thôn TrungQuốc đã có những bớc tiến dài, đời sống đã “thay da đổi thịt”, hàng triệu hộnông dân Trung Quốc đã đủ ăn và có thể làm giàu trên mảnh ruộng củamình
Nông nghiệp Trung Quốc từ sau cải cách mở cửa đã phát triển một cáchnhanh chóng, trớc sức phát triển nhanh chóng đó, ở phơng Tây đã xuất hiệnthuyết “mối đe dọa Trung Quốc” không phải vì sợ những ngời Trung Quốc
đói nghèo, thiếu ăn giành giật khẩu phần của họ, mà họ lo rằng: n ớc này đã
no đủ và giàu lên nhanh chóng, thừa sức cạnh tranh ngang ngửa với các c ờng quốc hàng đầu Trung Quốc là “con s tử đã tỉnh giấc, vơn vai”
-Công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc đến nay đã trải qua hơn 1/4thế kỷ Tuy thời gian cha dài nhng nhờ giải phóng t tởng cùng với tinh thần
“thực sự cầu thị”, mạnh dạn tìm tòi cải cách, tất cả xuất phát từ thực tế, đấtnớc khổng lồ chiếm 1/4 dân số thế giới đã từ chỗ nghèo nàn lạc hậu, đã v ơnlên thành một nớc có nền kinh tế tăng trởng cao, liên tục, đứng hàng thứ 7trên thế giới
Việt Nam và Trung Quốc là 2 nớc láng giềng "núi liền núi sông liềnsông", nhân dân 2 nớc lại có truyền thống hữu nghị lâu đời Việt Nam vàTrung Quốc đều là những nớc đang phát triển, trình độ phát triển kinh tế xãhội chênh lệch nhau không nhiều, có những đặc trng văn hoá truyền thốnggần gũi và cùng chọn lựa con đờng phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội Trongthực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, Việt Nam và Trung Quốc với nhữngmức độ khác nhau đều mắc phải những khuyết điểm sai lầm đó là chủ quannóng vội, duy ý chí Cho nên kinh nghiệm xây dựng kinh tế nói chung và đổimới kinh tế nông nghiệp nói riêng của mỗi nớc là những bài học bổ ích có
Trang 4thể tham khảo, vận dụng để có thể phù hợp với tình hình thực tiễn của mỗiquốc gia.
Sự phát triển thần kì của kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã đ a nớc này
từ một nớc thiếu đói quanh năm trở thành một nớc có tiềm lực kinh tế đứngthứ 7 trên thế giới và là nớc xã hội chủ nghĩa duy nhất trên thế giới có bớcphát triển kinh tế vợt bậc Những thành tựu về kinh tế của Trung Quốc nóichung và kinh tế nông nghiệp nói riêng đã làm cho các nớc trên thế giới phải
kinh ngạc Với những lý do đó tôi chọn đề tài"Tìm hiểu một số vấn đề về
nông nghiệp Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay" làm đề tài nghiên cứu
Cuốn Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 55 năm xây dựng và phát triển
-Viện Khoa học xã hội, -Viện nghiên cứu Trung Quốc - Nhà xuất bản khoahọc xã hội -2005 Trong tác phẩm này đã nêu một cách khái quát nhữngthành tựu và hạn chế về mọi mặt của Trung Quốc từ khi giành độc lập dântộc cho đến nay Trong đó, vấn đề nông nghiệp và nông thôn cũng đ ợc đềcập tới một cách khái quát nhất
Cuốn Một số vấn đề về hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc - Tiến sỹ
Nguyễn Minh Hằng (Chủ biên) Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội
-2003, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu vai trò của kinh tế nông nghiệp trongnền kinh tế chung của Trung Quốc và một số vấn đề về phát triển nôngnghiệp Trung Quốc chuyển từ nền nông nghiệp truyền thống sang một nềnnông nghiệp hiện đại thích ứng vời xu thế chung của thế giới
Cuốn Về cải cách và mở cửa Trung Quốc của Lý Thiết ánh Trung tâm
nghiên cứu Trung Quốc(dịch) - Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội - 2002, đã cung cấp những lí luận về công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốctrong đó có kinh tế nông nghiệp
Cuốn Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (Giai đoạn
1992 - 2010) do Tiến sĩ Nguyễn Kim Bảo (Chủ biên) - Nhà xuất bản Khoahọc xã hội Hà Nội 2004 - đã giới thiệu một số vấn đề về điều chỉnh chínhsách phát triển kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn 1992 - 2010, nhằm phùhợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế khi Trung Quốc gia nhập tổ chứckinh tế thế giới WTO - Trong đó, những chính sách về chiến lợc phát triểnkinh tế nông nghiệp cũng đợc đề cập tới
Trang 5Cuốn Toàn cầu hoá kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu? của Lu
Lực do Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc (dịch)- Nhà xuất bản Khoa họcxã hội -2002, giới thiệu đến những vấn đề về việc lựa chọn của Trung Quốcvào việc tham gia toàn cầu hoá Đây là lối thoát duy nhất để bổ sung thiếuhụt về vốn, kĩ thuật (…Trong suốt) đi sâu phân tích các chính sách mà Trung Quốc cần
áp dụng trong chiến lợc cải cách mở cửa, nới rộng hoạt động ngoại thơng,khuyến khích thu hút nguồn vốn bên ngoài
Cuống Trung Quốc năm 2020 của Ngân hàng Thế giới do Viện Kinh tế
học (dịch) - Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội - 2001, đã đ a ra vấn đề:hiện nay, Trung Quốc đang phải vật lộn với hai quá trình: thứ nhất là chuyển
đổi kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trờng, thứ hai là chuyển từ một xã hộinông nghiệp nông thôn sang xã hội công nghiệp -đô thị Cuốn sách đã đề cập
đến những thành công bớc đầu của hai quá trình này Tuy nhiên nó cũng nêu
ra những hạn chế trong quá trình thực hiện; và đa ra phơng hớng phát triểnkinh tế Trung Quốc trong tơng lai (2020)
Cuốn Trung Quốc những năm 80 của Viện Mác-Lênin- Nhà xuất bản
Thông tin lý luận- 1986 Trong đó đã đề cập đến những thành tựu và nhữngcái cha đạt đợc trong chiến lợc phát triển kinh tế nông nghiệp , là những ýkiến đánh giá, nhận xét về chặng đờng đầu tiên của công cuộc cải cách mởcửa của đất nớc này
Cuốn Trung Quốc những thành tựu và triển vọng của Trung tâm nghiên
cứu Trung Quốc-Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội- 1994, trong đó đềcập một cách toàn diện về nền kinh tế Trung Quốc từ cải cách mở cửa đếnnăm 1994, và những nhận thức về nông nghiệp Trung Quốc đã đạt nhữngthành tựu gì và đặt ra những vấn đề cần đợc giải quyết trong thời gian tới
Cuốn Trung Quốc 20 năm cải cách mở cửa cải cách chế độ sở hữu của
Tề Quốc Trân (chủ biên)- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2001,các tác giả đã đề cập đến những chính sách của công cuộc cải cách mở cửaTrung Quốc về chế độ sở hữu từ năm 1978 đến năm 1998; thông qua các bộluật về cải cách chế độ sở hữu nông thôn nói riêng và cả n ớc nói chung trong
đó có nông nghiệp
Cuốn Nghiên cứu Trung Quốc - Một vấn đề kinh tế-văn hoá của Viện
nghiên cứu Trung Quốc-Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 1994.Cuốn sách này bao gồm một số bài viết của các nhà nghiên cứu Trung Quốc,trong đó trình bày nhiều khía cạnh: kinh tế, văn hoá, đối ngoại, đặc biệt làvấn đề cải cách nông thôn và nông nghiệp Trung Quốc
Trang 6Cuốn Cải cách cơ chế quản lý kinh tế ở Trung Quốc - Đặc điểm và bài
học kinh nghiệm của phó tiến sĩ Nguyễn Văn Vĩnh - Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội- 1998 Cuốn sách đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận vàphơng pháp luận của cơ chế quản lý kinh tế: khảo sát và phân tích quá trìnhcải cách cơ chế quản lý kinh tế ở Trung Quốc từ sau năm 1978 đến năm
1998, từ đó tác giả nêu lên đặc điểm và bài học kinh nghiệm của Trung Quốctrong việc cải cách cơ chế quản lý kinh tế, đa ra những gợi ý vận dụng cóchọn lọc cho Việt Nam, trong đó có những cải cách phát triển kinh tế nôngnghiệp
Cuốn Tình hình và triển vọng kinh tế Trung Quốc của Mã Hồng-Tôn
Thợng Thanh (chủ biên) do Phó giáo s Nguyễn Huy Quý(dịch)-Nhà xuất bảnChính trị Quốc gia, Hà Nội-1998 Đây là cuốn sách giới thiệu toàn bộ nềnkinh tế Trung Quốc năm 1994 và những giải pháp kinh tế nớc này trong năm1995
Cuốn Đặng Tiểu Bình - Nhà cải cách kinh tế hàng đầu thế kỷ XX của
Phan Thế Hải-Nhà xuất bản Thanh niên- 2001 Tác giả đã viết về chân dungmột nhà cải cách thiên tài Đặng Tiểu Bình, ông đã có hơn nửa thế kỷ hoạt
động trên chính trờng- ngời mở đầu cho công cuộc cải cách mở cửa củaTrung Quốc Cuốn sách đã nhấn mạnh chân dung một con ngời: vừa là nhàchính trị, nhà quân sự tài ba lại vừa là một nhà khoa học kinh tế
Ngoài ra trong các bài viết đợc đăng tải trên các tạp chí Nghiên cứuTrung Quốc- Viện nghiên cứu Trung Quốc cũng đăng tải rất nhiều bài viếtcủa các chuyên gia nghiên cứu đầu ngành về tình hình kinh tế Trung Quốcnói chung và tình hình kinh tế nông nghiệp nói riêng
Tóm lại, nghiên cứu về quá trình hiện đại hoá nông nghiệp ở TrungQuốc không phải là vấn đề mới mà ở mỗi đề tài, trong phạm vi nghiên cứu củamình lại đề cập đến một khía cạnh nhất định của quá trình đó.Tiếp thu thànhtựu của các học giả, là một sinh viên năm thứ 5 tôi quyết định chọn đề tài:
“Tìm hiểu một số vấn đề về nông nghiệp Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến
nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trang 73 Nhiệm vụ và giới hạn đề tài.
Cũng nh các quốc gia khác trên thế giới, vấn đề phát triển kinh tế nóichung và phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng đợc Đảng và nhà nớc TrungQuốc rất quan tâm, đã đặt nó trong chiến lợc phát triển kinh tế của đất nớc.Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tôi chỉ đề cập đến tìnhhình nông nghiệp Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay với những vấn đềsau, cụ thể:
Thứ nhất: nêu tình hình nông nghiệp Trung Quốc trớc cải cách mở cửa, trong đó nêu lên tình hình nông nghiệp Trung Quốc khi nớc này thực hiện cải cách ruộng đất, tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp và thời kì thực hiện kinh tế
kế hoạch hoá Từ đó đa ra những cái đạt đợc và cha đạt đợc trong chặng đờng gần 30 năm đó của Trung Quốc Đó là những tiền đề cho công cuộc cải cách
mở cửa trong nông nghiệp Trung Quốc sau này
Thứ hai: đề tài đi sâu nghiên cứu tình hình nông nghiệp Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay, làm sáng tỏ phần nào chính sách phát triển nông nghiệp, việc thực hiện chế độ khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình và nêu ra những thành tựu, hạn chế của nó Qua đó đề tài nêu lên sự phát triển của kinh
tế nông nghiệp trong chiều dài lịch sử từ cải cách mở cửa đến nay Cuối cùng, khoá luận đề cập đến những giải pháp cho sự phát triển nông nghiệp Trung Quốc trong giai đoạn từ nay về sau
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu,
cụ thể gồm tài liệu từ các trung tâm lu trữ, các công trình nghiên cứu hoa học của các chuyên gia nghiên cứu đầu ngành
Về phơng pháp nghiên cứu, chúng tôi kết hợp phơng pháp lịch sử và phơng pháp logic
Ngoài ra,chúng tôi còn sử dụng phơng pháp tổng hợp và phân tích cácthông tin có liên quan đến vấn đề đợc trình bày, trên cơ sở những nguồn tliệu khác nhau để chọn ra những thông tin phù hợp và tin cậy
5 Bố cục của đề tài
Trang 8B- nội dung Chơng 1
Tình hình nông nghiệp Trung Quốc trớc cải cách mở cửa
1.1 Nông nghiệp Trung Quốc thời kỳ cải cách ruộng đất
Ngay sau khi nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đợc thành lập 1949) dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đứng đầu là Chủ tịchMao Trạch Đông, cả dân tộc Trung Hoa cùng đồng tâm hăng hái bớc vàocông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
(1-10-Trong lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc tiến hành khôi phục lại nền kinh tếsau chiến tranh, bao gồm cả công nghiệp và nông nghiệp Thực tiễn lịch sửTrung Quốc đã chứng minh rằng khi nào tình hình nông nghiệp tốt đẹp, cơ sởnông nghiệp vững chắc thì toàn bộ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tếTrung Quốc đợc tiến hành thuận lợi, đợc nhân dân ủng hộ Các nhà lãnh đạoTrung Quốc luôn luôn khẳng định, nếu không có cơ sở vật chất là hàng hoánông sản phong phú làm đảm bảo, không có nền kinh tế nông thôn phát triển
và thị trờng nông thôn rộng lớn, không có cuộc cải cách nông thôn đi đầu vàthành công thì toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc sẽ không thể phát triển tốt đẹp
đợc Nông nghiệp ổn định là đảm bảo đáng tin cậy cho việc xây dựng TrungQuốc thành một đất nớc giàu mạnh
Do đó, vấn đề nông nghiệp và hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc làvấn đề quan trọng nhất và đợc quan tâm nhiều nhất trong tiến trình khôi phục
và phát triển kinh tế sau chiến tranh Một trong những công việc đầu tiêntrong công việc khôi phục và phát triển kinh tế của Trung Quốc sau chiếntranh là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà Nớc Trung Quốc đã tiến hành côngcuộc cải cách ruộng đất
Cải cách ruộng đất không phải là vấn đề mới xuất hiện sau ngày giảiphóng, mà nó xuất hiện từ trớc khi Nhà nớc Trung Hoa mới ra đời Cải cáchruộng đất đã đợc tiến hành ở hầu hết các khu căn cứ cách mạng và khu giảiphóng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, song cuộc cải cách ruộng đất
đợc tiến hành trên phạm vi cả nớc sau khi nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
ra đời
Chúng ta cũng biết, trớc năm 1949, về căn bản Trung Quốc vẫn là một
n-ớc nông nghiệp với 90% dân số là nông dân Năm 1936, có thể coi là năm đợcmùa với sản lợng lơng thực đạt 136 triệu tấn Tuy nhiên, làm thế nào để đủ ănluôn là mối lo đối với Trung Quốc Trải qua những năm nội chiến và sự bấthợp lý trong chế độ sở hữu ruộng đất: 90% nông dân chỉ sở hữu 30% ruộng
đất; số còn lại tập trung trong tay địa chủ và chủ đồn điền Chế độ su cao thuế
Trang 9nặng đã làm cho nền nông nghiệp Trung Quốc bị sa sút nghiêm trọng Năm
1949, sản lợng lơng thực cả nớc chỉ còn 108 triệu tấn, đất nớc lâm vào cảnh
đói kém, trong những năm sau đó, nạn đói vẫn thờng xuyên xẩy ra[4,18]
Vì vậy, đến năm 1952, Trung Quốc bắt đầu cải cách ruộng đất Đây thực
sự là một sự kiện lớn, có ý nghĩa “long trời lở đất”
Tháng 6-1952, tại Hội nghị trung ơng Đảng lần thứ 3 khoá VII thông qua
“Luật cải cách ruộng đất” với nội dung và mục tiêu chính là “xoá bỏ chế độ sởhữu ruộng đất có sự bóc lột của địa chủ thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất củanông dân nhằm giải phóng sức sản xuất nông nghiệp, phát triển sản xuất nôngnghiệp, mở ra con đờng công nghiệp hoá cho đất nớc Trung Hoa mới”[21,223]
Luật cải cách ruộng đất mới có quy định nh sau về nguyên tắc và cáchphân chia ruộng đất: thu hồi toàn bộ ruộng đất của địa chủ nhng cho họ mộtphần ruộng đất giúp họ có thể tự lo lơng thực cho mình, thực hiện chính sáchbảo hộ hoàn toàn ruộng đất và có tài sản của trung nông, phú nông; phầnruộng đất bị thu hồi sẽ chia đều cho những nông dân không có đất hoặc ít đấttheo đơn vị xã, đối với những cánh đồng, vờn ơm, nông trờng thí nghiệm có sửdụng máy móc và các thiết bị tiên tiến khác, cũng nh đối với những vờn trelớn, vờn quả lớn, đồi chè lớn, đồi ngô lớn, ruộng dâu lớn, bãi chăn nuôi lớn…Trong suốt
có tích luỹ vẫn do những ngời kinh doanh trớc đây tiếp tục kinh doanh, không
đợc phân tán, ruộng đất của những loại vờn này nếu thuộc sở hữu của địa chủthì phải đợc chính quyền cấp tỉnh trở lên phê chuẩn mới đợc chuyển thành sởhữu nhà nớc Ngoài ra, luật cải cách ruộng đất mới còn đợc đặc biệt chú ý đếnviệc bảo hộ tài sản và ruộng đất của tầng lớp công thơng dùng vào việc kinhdoanh công thơng nghiệp [5,109]
Những quy định trên rõ ràng vừa xoá bỏ hoàn toàn chế độ sở hữu ruộng
đất địa chủ bóc lột kiểu phong kiến tồn tại trong nông thôn Trung Quốc từmấy nghìn năm, thực hiện mong muốn và lý tởng “ngời cày có ruộng”mà ngờinông dân khao khát hàng bao đời; vừa bảo đảm việc bảo hộ những nhân tốmới, hiện đại đã ra đời và tập trung trong nông nghiệp Trung Quốc
Theo thống kê cải cách ruộng đất đã đem lại khoảng 700 triệu mẫu ruộngphân chia cho 300 triệu nông dân (lúc đó chiếm khoảng 60-70% nhân khẩunông nghiệp Trung Quốc) [1,78] Cải cách ruộng đất đã đem lại cho nôngnghiệp, nông thôn Trung Quốc một luồng sinh khí mới cha từng có
Trong luật cải cách ruộng đất đã thể hiện tính chất đúng đắn và đi đúnghớng trong vấn đề hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc, đó là việc thừa nhậnkinh tế phú nông
Trang 10Mặc dù, khi nghe qua kinh tế phú nông ta cũng dễ dàng nhận thấy nóvẫn có tính chất phong kiến, nhng nó lại là yếu tố thúc đẩy nông nghiệp TrungQuốc chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình hiện đại Kinh tế phúnông không những có những đặc tính giống nh giai đoạn quá độ từ nôngnghiệp phong kiến lên nông nghiệp t bản chủ nghĩa (thuê nhân công) mà còn
có một số điều kiện quan trọng để thực hiện sự quá độ đó Do đó, có thể coikinh tế phú nông của Trung Quốc thời bấy giờ là thành quả ban đầu của tíchluỹ nguyên thuỷ t bản (tích luỹ vốn ban đầu) trong nông nghiệp Trung Quốc.Cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc đã xoá bỏ chế độ bóc lột phongkiến, giải phóng đông đảo nông dân lao động, cải cách ruộng đất đã mang lạilợi ích to lớn cho nông dân, thực hiện đợc ớc mơ nghìn năm của nông dân là
“ngời cày có ruộng”, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc khôi phục và pháttriển kinh tế Việc thực hiện “ngời cày có ruộng” đã phát huy và nâng cao đợctính tích cực sản xuất của nông dân Do đó thúc đẩy sản xuất nông nghiệpphát triển, thu nhập của nông dân tăng, sức mua đợc nâng cao đã tạo ra đợc thịtrờng nông thôn rộng lớn cho việc tiêu thụ hàng công nghệ và thúc đẩy côngnghiệp khôi phục và phát triển
Việc xoá bỏ hoàn toàn chế độ sở hữu ruộng đất địa chủ phong kiến (nềntảng chủ yếu của nông nghiệp truyền thống Trung Quốc) Điều này có ý nghĩarất quan trọng trong việc thúc đẩy nông nghiệp Trung Quốc chuyển từ môhình truyền thống sang mô hình hiện đại Tức là chuyển từ một nền kinh tếnông nghiệp gắn với kinh tế tự nhiên, sản xuất lạc hậu thủ công, đề cao kinhnghiệm, kinh tế tiểu nông giữ vai trò chủ yếu, thiếu sự phân công chuyên mônhoá trong sản xuất, không chú trọng đến giảm giá thành, nâng cao năng suấtlao động và nó khiến cho con ngời có t tởng “trời sinh voi, trời sinh cỏ”, trọngnam khinh nữ, sang một nền kinh tế nông nghiệp mà nông nghiệp thơng phẩmhàng hoá, kinh tế thị trờng đợc coi trọng, cơ sở vật chất kỹ thuật đợc áp dụngvào sản xuất, coi trọng khoa học kỹ thuật tiến bộ, các doanh nghiệp, ngànhnghề hoá phơng thức kinh doanh đợc áp dụng trong nông nghiệp nông thôn,trình độ phân công chuyên môn hoá cao, không ngừng giảm giá thành sảnxuất nâng cao năng suất lao động và nó còn thúc đẩy con ngời đẻ ít, khôngcòn tình trạng trọng nam khinh nữ
Sở dĩ có sự chuyển đổi nh vậy là do địa chủ phong kiến Trung Quốc cótrong tay rất nhiều ruộng đất và tích lũy đợc một lợng tài sản lớn nhng họkhông kinh doanh kiểu tập trung đất đai thành khoảnh lớn mà chia nhỏ ra tiếnhành phát canh thu tô, tài sản mà họ kiếm đợc không phải là lợi nhuận mà là
Trang 11lợi tức từ địa tô Do vậy, địa chủ Trung Quốc không thể biến thành nhà kinhdoanh nông nghiệp hiện đại (nhà t bản nông nghiệp) nh ở phơng Tây đợc.Cuộc cải cách ruộng đất năm 1952, ở Trung Quốc đã hoàn thành mộtcách triệt để về vấn đề xoá bỏ sở hữu ruộng đất phong kiến
Cuộc cải cách ruộng đất không chỉ là chia ruộng đất cho ngời nghèo mà
nh Lu Thiếu Kỳ đã tuyên bố “việc này phải làm quyết liệt” và coi công cuộccải cách ruộng đất nh là một chiến dịch để thanh toán giai cấp địa chủ Vì vậytrong thời gian thực hiện cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, trong mỗi làng ítnhất cũng có một vụ hành quyết ngời giàu, nh để in dấu ấn triều đại ngờinghèo Viêc hành quyết nh là một cuộc cải hoá-giáo dục [4, 19]
Cuộc cải cách ruộng đất tuy đã xoá bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của địachủ phong kiến, xoá bỏ trở ngại to lớn trong việc đa nền nông nghiệp truyềnthống phát triển theo hớng hiện đại, song mặt khác nó lại mang đến trở ngạimới:
Do cần chống giới quý tộc phong kiến mà phải thông qua cách mạngruộng đất để chia ruộng đất của quý tộc phong kiến cho nông dân khiến chochế độ sở hữu tiểu nông đóng vai trò thống trị, thì tiếp sau đó sẽ là sự phânhoá không ngừng của tiểu nông trong điều kiện kinh tế-xã hội t bản chủ nghĩamới, đồng thời một mặt thông qua phân hoá để buộc hàng loạt các hộ nôngdân nhỏ phá sản, rời đất rời làng, ruộng đất lại bắt đầu một quá trình tập trungmới
Quá trình tập trung mới đó tạo điều kiện cần thiết để thực hiện hiện đạihoá nông nghiệp ở Trung Quốc
Một thực tế rất đặc trng trong nông nghiệp Trung Quốc đó là:Trớc cảicách rất nhiều nông dân Trung Quốc rời bỏ quê hơng đi đến vùng đất khác đểlàm ăn sinh sống , nhng sau khi biết tin quê nhà đang tiến hành cải cách ruộng
đất họ lại lũ lợt kéo về quê vui cảnh quê hơng đổi mới Do đó, trong thời giannày quá trình đô thị hoá ở Trung Quốc bị chậm lại
Trang 12Tình hình biến động dân số nông nghiệp và phi nông nghiệp ở Trung
Quốc đầu thập niên 1950.
Năm Tổng dân số (triệu ngời)
Dân số nông nghiệp Dân số phi nông nghiệp
Số ngời (triệu ng- ời) Tỷ lệ (%)
Tăng so với năm trớc
Số ngời (triệu ng- ời) Tỷ lệ (%)
Tăng so với năm trớc
Cải cách ruộng đất đợc tiến hành trên khắp cả nớc đã làm nô nức lòngngời, do đó tạo nên sự hăng hái trong lao động sản xuất với những thành tựurất lớn và nổi bật nh: Năm 1952, sản lợng lơng thực là 163,9 triệu tấn; năm
1957 tăng lên 195,05 triệu tấn; sản lợng bông năm 1952 là 1,304 triệu tấn;năm 1957 đạt 1,640 triệu tấn; sản lợng hạt có dầu năm 1952 là 4,193 triệu tấn,năm 1957 là 4,196 triệu tấn Trong 8 năm (1949-1957), sản lợng lơng thực cảnớc tăng trởng bình quân 7% năm [1, 8]
Tuy nhiên, vào thời điểm này Trung Quốc đang hô vang khẩu hiệu xâydựng chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản và lấy Liên Xô làm môhình mẫu để phát triển Do đó, những mầm mống ban đầu của nền nôngnghiệp t bản chủ nghĩa ngay lập tức sẽ đợc các nhà lãnh đạo quan tâm vàngăn chặn Do vậy, sau cuộc cải cách ruộng đất trên cả nớc việc phân hoá vàphá sản của tiểu nông Trung Quốc vừa mới xuất hiện đã bị ngăn chặn lại
Có thể nói, tình hình kinh tế -xã hội Trung Quốc sau cải cách ruộng đất
có những biểu hiện mới và có những mâu thuẫn mới Sự nóng vội muốn tiếnlên chủ nghĩa cộng sản một cách nhanh chóng triệt để,cho nên, các nhà lãnh
đạo Trung Quốc đã ồ ạt tiến hành chính sách tập thể hoá trong sản xuất nôngnghiệp Nông nghiệp Trung Quốc bớc sang một thời kỳ mới-thời kỳ làm đảolộn nông thôn Trung Quốc với phong trào hợp tác hoá nông nghiệp và sự vậnhành của thể chế kinh tế kế hoạch trong nông nghiệp Nh Lu Thiếu Kỳ đã nói:
“Tuy cải cách ruộng đất đã hoàn thành, song cha hoàn toàn giải phóng ngờinông dân Chỉ có tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, khi ấy ngời nông dân mới
đợc giải phóng hoàn toàn, thoát đợc nghèo nàn, trở nên giàu có” [10, 289]
1.2 Nông nghiệp Trung Quốc trong thời kỳ tiến hành hợp tác hoá
Trang 13Tháng 12-1951, Trung ơng Đảng thông qua dự thảo “Nghị quyết về hợptác xã trong sản xuất nông nghiệp”, đến tháng 12-1952 Trung ơng thông quanghị quyết chính thức Từ đó, nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc bắt đầuxây dựng hợp tác xã sơ cấp rồi đến hợp tác xã cao cấp.
Hợp tác hoá nông nghiệp đợc tiến hành với mục đích chung là cải tạokinh tế t hữu tiểu nông đã tồn tại hàng nghìn năm qua thành nền kinh tế tậpthể xã hội chủ nghĩa
Trung Quốc tiến hành việc hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau ở nông thôn đã ra
đời từ thời chiến tranh chống phát xít Nhật-trớc khi Trung Hoa mới ra đời.Vào thời điểm đó, vấn đề hợp tác giúp đỡ lẫn nhau đã đợc triển khai tại cáccăn cứ kháng chiến-nơi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc màhình thức ban đầu là các tổ đổi công đến hợp tác xã, nhng mục đích khi đó chỉ
là giúp đỡ nông dân giải quyết việc điều chỉnh lực lợng lao động và khắc phụcnhững khó khăn trong sản xuất, chứ cha có tham vọng cao hơn
Sau khi nớc Trung Hoa mới ra đời và cuộc cải cách ruộng đất hoàn thànhtrên cả nớc, toàn bộ nền kinh tế và nông nghiệp của Trung Quốc đều đứng tr-
ớc tình hình mới, nảy sinh những mâu thuẫn mới Bởi vậy phải tiến hành hợptác hoá trong nông nghiệp và hợp tác hoá nông nghiệp đã đợc triển khai trêncả nớc với mục đích chung là cải tạo nền kinh tế tiểu nông thành nền kinh tếtập thể xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nhằm mong muốn đạt tới lý tởng làm chonông dân nhanh chóng trở nên giàu có
Chúng ta biết rằng, trong luật cải cách ruộng đất của Trung Quốc banhành vào tháng 6-1952 đã công nhận nền kinh tế phú nông ở nông thôn TrungQuốc Tuy nhiên do nhận thức sai lầm về vai trò của nó trong quá trình hiện
đại hoá nông nghiệp, nên trong quá trình thực hiện với sự vận dụng một cáchcứng nhắc lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ đó dẫn tới sự nhận thức sai
về quá trình thực hiện
Nhiều nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Trung Quốc cho rằng:trong nền kinh tế t hữu nhỏ lẻ của nông dân rất dễ nảy sinh kinh tế t bản chủnghĩa Trong lúc đó vào thời điểm này, ở nông thôn Trung Quốc xuất hiện một
số nông dân biết vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sảnxuất,nh họ chuyển sang một hình thức làm ăn mới: thuê nhân công, muaruộng đất để canh tác…Trong suốt Cho nên dần giàu có lên
Ban đầu, ngời ta cho rằng hiện tợng đó là dấu hiệu tốt, là tiền đề đa nềnkinh tế nông nghiệp Trung Quốc chuyển từ nông nghiệp truyền thống sangnông nghiệp hiện đại Một số nhà lãnh đạo bắt đầu sợ kinh tế phú nông ở nông
Trang 14thôn phát triển Tuy nhiên, do nhận thức sai lầm rằng kinh tế phú nông sảnxuất nhỏ lẻ là mầm mống của nền kinh tế t bản chủ nghĩa cho nên lập tức đaranhững biện pháp ngăn chặn
Trong một báo cáo của Tỉnh uỷ tỉnh Sơn Tây đã nói rằng cùng với việckhôi phục và phát triển kinh tế nông thôn, lực lợng nông dân tự phát cũng pháttriển, nhng nó không phát triển theo phơng hớng tập thể hoá, hiện đại hoá nhchúng ta mong muốn, mà nó phát triển theo hớng phú nông
Chủ tịch Mao Trạch Đông nói: “Nếu nh xã hội chủ nghĩa không đi chiếmlĩnh mặt trận nông thôn, chắc chắn chủ nghĩa t bản sẽ chiếm lĩnh phải từ tổ đổicông là manh nha của chủ nghĩa xã hội, tiến tới hợp tác xã nửa xã hội chủnghĩa (hợp tác xã cấp thấp) rồi tiến tới hợp tác xã hoàn toàn xã hội chủ nghĩa(hợp tác xã cấp cao)” và Mao chủ trơng phải đẩy nhanh tốc độ hợp tác hoáthậm chí không qua giai đoạn tổ đổi công
Mùa xuân năm 1954, ở Trung Quốc đã có 95.000 hợp tác xã sản xuấtnông nghiệp đợc thành lập với hơn 1,7 triệu hộ nông dân, tăng gấp đôi kếhoạch dự tính Đến năm 1956, đã có hơn 90% nông hộ trong cả nớc tham giavào các hình thức hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
Nh chúng ta đã biết, mô hình nhà nớc về kinh tế xã hội mà nhà nớcTrung Hoa mới hớng tới là mô hình nhà nớc Xô viết Vì vậy trong kinh tếcũng đợc áp dụng một cách triệt để, sáo mòn và thiếu sự sáng tạo cho phù hợpvới thực tiễn đất nớc
Trong khi đó đất nớc vừa mới thoát khỏi cuộc chiến tranh , ba lần nộichiến, tình hình xã hội còn rối ren ,kinh tế còn gặp phải rất nhiều khó khăn dochiến tranh tàn phá, phát triển kinh tế quy mô lớn là một việc làm quá sứcchịu đựng của Trung Quốc lúc bấy giờ
Trong thời gian đầu thực hiện hợp tác hoá trong nông nghiệp sản lợng
l-ơng thực có tăng, cụ thể: sản lợng ll-ơng thực năm 1952 là 163,9 triệu tấn đếnnăm 1957 tăng lên 195,05 triệu tấn Trung Quốc từ một nớc thiếu đói quanhnăm về cơ bản đã tự túc đợc lơng thực
Tuy nhiên, về sau do t tởng “tả khuynh” muốn tiến nhanh tiến thẳng lênchủ nghĩa xã hội nên đòi hỏi kinh tế nông nghiệp Trung Quốc phải sản xuấtmột khối lợng lớn sản phẩm nông sản và đòi hỏi quá trình hiện đại hoá nôngnghiệp phải diễn ra nhanh chóng.Trong khi đó nông nghiệp Trung Quốc lạiquá lạc hậu so với yêu cầu
Đến năm 1956, các vùng nông thôn đã hoàn thành tập thể hoá Sở dĩphong trào hợp tác hoá phát triển nh vậy là do sự cỡng chế mọi nông đân phảivào hợp tác xã dù tự nguyện hay không tự nguyện Theo thống kê, cuối tháng
Trang 1512-1956 ở nông thôn Trung Quốc đã có trên 117,80 triệu hộ nông dân vào hợptác xã, chiếm 96,3% tổng số nông hộ trong cả nớc, trong đó số hộ vào hợp tácxã bậc cao là trên 100 triệu hộ, chiếm 87,8% tổng số nông hộ trong cả nớc.Năm 1958 ở nông thôn Trung Quốc còn xuất hiện phong trào “công xãnhân dân”,phong trào này đã đợc xây dựng một cách ồ ạt ở ngay từ nhữngngày đầu đến tháng 10-1958 trong cả nớc đã có 26.578 công xã nhân dân với
sự tham gia của 123,25 triệu nông hộ, chiếm 99,1% tổng số nông hộ trongtoàn quốc (trung bình mỗi công xã có 4.637 hộ) Cuối năm 1958 có thể nóicông xã nông thôn về cơ bản đã hoàn thành [9, 83]
Trong thời gian xây dựng công xã nông thôn ở mọi vùng thôn quê TrungQuốc đều tiến hành trng thu ồ ạt t liệu sản xuất của nông dân để góp vào côngxã, kinh tế gia đình bị xoá bỏ, thực hiện chế độ phân phối bình quân, mỗicông xã xây dựng một nhà ăn tập thể khổng lồ
Để thực hiện “công bằng”, Trung Quốc thiết lập lại hệ thống cấp bậc Đểphân phối những khẩu phần ăn phù hợp với công lao của họ Khẩu phần lớnnhất là cho cán bộ, sau đó giảm xuống cho các anh hùng lao động, nhữngtráng niên, những ngời kém tráng niên một chút, sau đó đến những ngời yếu
đuối, phụ nữ, trẻ em Những ngời già đợc coi là những “cái miệng vô ích”.Các công xã đề ra quy định ''ai không làm việc thì không đợc ăn''
Về mặt hình thức sự công bằng mà công xã đặt ra nh trên là công bằngnhng trên thực tế thì nó là việc làm rất vô nhân đạo
Trong quá trình hoạt động của công xã nhiều nhà ăn tập thể quản lý kém,sau khi đã dốc hết lơng thực, không còn cái gì để ăn thì công xã lại tuyên bố
ai về nhà nấy ăn
Công xã nhân dân còn tiến hành thực hiện “tổ chiến đấu hoá”; “đời sốngtập thể hoá” Một số công xã còn thực hiện chế độ bao cấp toàn bộ gồm “bảybao” (bao ăn, bao mặc, bao đẻ, bao chữa bệnh, bao cới, bao tang), có nhữngcông xã thực hiện tới 13 bao Một số nơi còn chủ trơng xoá bỏ sản xuất hànghoá, thực hiện phân phối hiện vật Trên thực tế nguyên tắc “phân phối theo lao
động” của chủ nghĩa xã hội đã bị xoá bỏ Kết qủa là hiệu lực quản lý sản xuất
sa sút, nhiệt tình lao động của nông dân suy giảm, sản xuất nông nghiệp đìnhtrệ và đời sống dân c nông thôn càng khó khăn Vào năm 1959, ở Trung Quốc
đã diễn ra trận đói khủng khiếp hiếm thấy trong lịch sử và nó đã cớp đi sinhmạng của nhiều ngời
Đại công xã nông thôn là nh vậy, đó là thứ chủ nghĩa xã hội mà Mao đãtạo dựng nên ở Trung Quốc trong một chặng đờng lịch sử khá dài [4, 27]
Trang 16Vào thời điểm này, ở Trung Quốc có tới gần 700 triệu ngời với số lợng
đó thì nhu cầu về ăn, mặc của họ trở thành gánh nặng cho chính phủ TrungQuốc Tuy nhiên, họ lại quan niệm kinh tế gia đình là “mầm mống của kinh tế
t bản chủ nghĩa” nên bị cấm đoán Việc đó tạo nên một lực lợng nhân công đủthừa trong nông thôn Trung Quốc, nên ở Trung Quốc hiệu quả kinh tế rấtthấp, mà nền kinh tế của Trung Quốc lúc này vẫn chủ yếu là kinh tế nôngnghiệp Thế nhng chính phủ lại chủ trơng hợp tác hoá và công xã nông thônnên đã kìm hãm sự phát triển kinh tế và kìm hãm quá trình hiện đại hoá nôngnghiệp Trung Quốc, đe doạ đời sống của đại bộ phận dân c ở nông thôn Tuy nhiên, nếu quá trình tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp của TrungQuốc diễn ra theo đúng đòi hỏi tự nhiên, theo logic thông thờng thì sẽ có vaitrò và ý nghĩa rất lớn Nó sẽ chuyển chế độ t hữu nhỏ về ruộng đất thành chế
độ sở hữu tập thể bằng phơng thức ít đau đớn nhất, tránh đợc bất ổn về xã hội
và giảm sút về sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng và kinh doanh hợp
lý ruộng đất, canh tác bằng máy móc trên quy mô lớn, tạo khả năng tập trungvốn để mở rộng sản xuất Sự ra đời của tổ chức hợp tác xã nông nghiệp cũng
sẽ tạo điều kiện cho nông nghiệp Trung Quốc trở thành một nền nông nghiệpdoanh nghiệp hoá, chuyên môn hoá, những điều này là đặc trng và tiêu chí củamột nền nông nghiệp hiện đại, mở đờng cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuậthiện đại vào nông nghiệp và nông thôn, có lợi cho sự phát triển phân côngchuyên môn trong nội bộ ngành nông nghiệp và có lợi cho việc phân phối ,sửdụng hợp lý lực lợng lao động nông thôn Lực lợng lao động d thừa ở nôngthôn có thể dễ dàng rời khỏi nông nghiệp để hoạt động trong các ngành khác
và chuyển vào thành phố
Những thất bại trong tổ chức hợp tác hoá nông nghiệp diễn ra ở TrungQuốc,nó là kết quả của sự nóng vội, giáo điều, đốt cháy giai đoạn, chủ quan,duy ý chí Do đó, sau này nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc gặp phải rấtnhiều khó khăn, những mục đích đặt ra ban đầu của hợp tác hoá nông nghiệpkhông đạt đợc
Tuy nhiên, vấn đề thúc đẩy phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệpkhông chỉ ở Trung Quốc và các nớc xã hội chủ nghĩa mà nó đã xuất hiện ngaysau khi xã hội t bản đời nó là một trong những yếu tố quan trọng trong nềnnông nghiệp hiện đại của các nớc t bản chủ nghĩa
Các nớc t bản chủ nghĩa đã hoàn thành quá trình hiện đại hoá nôngnghiệp đều tiến hành xây dựng hợp tác xã dới mọi hình thức, nhiều nông trạigia đình ở các nớc t bản chủ nghĩa tập hợp nhau lại để giải quyết những khókhăn mà họ gặp phải trong sản xuất, lu thông, trao đổi
Trang 17Nông nghiệp của các nớc t bản chủ nghĩa đã dựa vào cơ sở của chế độ thữu để thành lập nên những hợp tác xã.
Còn các nớc xã hội chủ nghĩa, trong đó có Trung Quốc lại dựa vào cơ sởcủa chế độ công hữu Nghĩa là mọi cái trong xã hội đều thuộc quyền sở hữucủa tập thể, ngay cả ruộng đất mà ngời nông dân tham gia sản xuất cũngthuộc tập thể Họ làm việc, tính công và sản phẩm họ làm ra đều thuộc quyềnkiểm soát của hợp tác xã
Có thể thấy rằng, hợp tác xã là một mô hình của nền nông nghiệp hiện
đại (nông nghiệp các nớc t bản chủ nghĩa đã chứng minh điều đó), ở TrungQuốc vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp đã đợc đa ra bàn bạc và thảo luận nhngcác nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nớc Trung Quốc lại coi “cần phải có hợp táchoá trớc, sau đó mới có thể sử dụng máy móc” [5,128] Với quan niệm đóthực chất đã đi ngợc lại với nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn
đề quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất
Chúng ta cũng nhất trí với nhau rằng, công hữu về t liệu sản xuất (sở hữutập thể và sở hữu nhà nớc) và thực hiện chuyên chính vô sản là cấp độ caonhất trong quá trình phát triển xã hội Nó là mô hình chung của nhà nớc xã hộichủ nghĩa Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin thì lịch sử xã hội loài ngờiphát triển từ thấp đến cao và tất yếu sẽ phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội, nhngkhông thể bỏ qua bất cứ một giai đoạn phát triển nào Vì vậy, các nớc dùmuốn hay không muốn, dù bằng hình thức này hay hình thức khác cũng phảitrải qua các hình thái kinh tế -xã hội không đợc bỏ qua hay đốt cháy bất cứmột giai đoạn nào Trong khi đó ở Trung Quốc giai đoạn này nền kinh tế vẫncòn lạc hậu, vừa thoát khỏi nền kinh tế phong kiến Vì thế cha có điều kiện cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện đại với trình độ chuyên môn giỏi để tiến lên xâydựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, coi nhẹ sự phát triển, coi nhẹ việc sử dụng máymóc lớn vào sản xuất nông nghiệp thể hiện t tởng “tả khuynh”, duy ý chítrong việc nhanh chóng xây dựng nền kinh tế nông nghiệp xã hội chủ nghĩa
Đảng và Nhà nớc Trung Quốc cho thành lập các hợp tác xã nông nghiệpcha có sự chuẩn bị đầy đủ về điều kiện vật chất, trình độ quản lý và ý thức tựgiác thế mà đã vội vàng thành lập “Công xã nhân dân” T tởng “nhất đại, nhịcông” (một là quy mô lớn hai là công hữu) thực chất là duy ý chí, nóng vộithay đổi quan hệ sản xuất, bất chấp tình trạng bất cập của sức sản xuất Thậmchí một số nơi khi nông dân vào công xã phải nộp cả ruộng phần trăm, đất ở,gia súc, vờn cây thực hiện “chế độ sở hữu toàn dân” Về phân phối, đã bớc
đầu thực hiện một số nguyên tắc đợc coi là phơng thức phân phối của chủnghĩa cộng sản.Trong lúc đó tổ chức hợp tác nông nghiệp tồn tại kỹ thuật
Trang 18nông nghiệp lao động thủ công truyền thống, ngay cả sau “cuộc cách mạngvăn hoá” tình hình này cũng không có gì thay đổi.
Có thể nói, với t tởng trên đã phạm phải sai lầm trong việc xử lý không
đúng mối quan hệ giữa sự phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất và sứcsản xuất xã hội, luôn luôn nhấn mạnh một cách phiến diện “cách mạng khôngngừng” trong quan hệ sản xuất, coi nhẹ cải tạo kỹ thuật, khiến tổ chức hợp tác
“tiên tiến” cứ tồn tại mãi trên cơ sở kỹ thuật nông nghiệp lạc hậu
Trong quá trình tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp ở Trung Quốc chaxây dựng đợc tổ chức hợp tác nông nghiệp thành một thực thể kinh tế độc lập,
tự hạch toán kinh doanh, mà biến chúng thành những tổ chức phụ thuộc vào
bộ máy nhà nớc hoàn toàn nằm dới sự quản lý hành chính của nhà nớc Trongthời kỳ “chính quyền công xã là một” (chính xã hợp nhất) của công xã nhândân, tình hình đó đến đỉnh điểm, tổ chức hợp tác xã nông nghiệp lúc bấy giờkhông những đã hành chính hoá mà còn quân sự hoá.Trong phạm vi công xãnhân dân đã thực hiện hợp nhất nông-công-thơng-học-binh, hợp nhất chínhquyền và công xã nhân dân; mặt khác công xã còn thực hiện chế độ sở hữu bacấp: công xã, đại đội sản xuất và đội sản xuất, trong đó đơn vị hạch toán cơbản là đội sản xuất chứ không phải là đại đội sản xuất
Tổ chức hợp tác nông nghiệp đã trở thành hệ thống sản xuất và cấp dỡngtiếp nhận các mệnh lệnh hành chính hoàn thành các nhiệm vụ sản xuất và bánhàng nông sản mà nhà nớc giao cho thông qua hệ thống hành chính
Với hoạt động khép kín ba cấp trong một tổ chức, mục đích và hiệu quảkinh tế làm theo chỉ thị, cấp dới thực hiện răm rắp theo mệnh lệnh của cấp trên
và số lợng làm ra chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu từ trên giao xuống mà thôi Do
đó, nông dân trong công xã không thể tự sáng tạo (không cho phép sáng tạo)
ra những hình thức tổ chức và kinh doanh khác nhau mà thờng thực hiện thốngnhất một mô hình từ trên xuống dới thông qua phơng thức hành chính “tất cảcác tác nhân kinh tế đều phải phụ thuộc vào chính quyền Trong một hệ thống
nh vậy đơn vị lao động “danwei”, đảm nhận luôn một chức năng chính trị xãhội đặc thù của Trung Quốc” [3, 33] Công xã nhân dân ở Trung Quốc cũng làmột tổ chức nh vậy, nó bao hàm trong đó một bộ máy hành chính và chủ yếuphát triển ở chức năng này, còn chức năng kinh tế đợc coi là chức năng chínhlại thực hiện rất kém, thậm chí không có hiệu quả
Từ thực tế đó, kéo theo sự lạc hậu trong nông nghiệp và quá trình hiện
đại hoá nông nghiệp ở Trung Quốc thời kỳ này là một điều không thể thựchiện đợc
Trang 19Bên cạnh đó, kinh tế gia đình lại đợc coi là “mầm mống của chủ nghĩa tbản” nên bị cấm đoán Việc kìm hãm kinh tế gia đình đã làm cho nguồn nhânlực nhàn rỗi ở nông thôn không đợc sử dụng ngày càng lớn trong khi đó kinh
tế công xã hiệu quả rất thấp Chính vì vậy nạn đói luôn rình rập, đe dọa đờisống của đại bộ phận dân c nông thôn tạo nên một làn sóng bất mãn trong
đông đảo nông dân công xã Thế nhng, tại hội nghị Trịnh Châu lần thứ hai 1958) một lần nữa Mao Trạch Đông lại khẳng định vai trò của chế độ sở hữu
(3-đội sản xuất Ông nói: “Trớc mắt, quan hệ giữa chúng ta với nông dân đangtồn tại tình trạng căng thẳng Tôi thấy chúng ta nên thông qua hiện tợng này
để hiểu rõ bản chất của vấn đề, tức mâu thuẫn chủ yếu ở chỗ nào? ở đây cómấy nguyên nhân, nhng tôi cho rằng chủ yếu là do cách nhìn nhận của chúng
ta đối với quyền sở hữu của công xã nhân dân, chúng ta hãy trả lời bằng chínhsách Vấn đề là sở hữu của công xã hiện nay, ngoài một phần sở hữu của đại
đội sản xuất (khu quản lý) và chế độ sở hữu của đội sản xuất Mà chế độ sởhữu đội sản xuất trong vòng vài năm vẫn là cơ sở của chế độ sở hữu toàn côngxã” [10; 599] Lúc này Đảng và Nhà nớc Trung Quốc cho rằng muốn đi lênchủ nghĩa xã hội chỉ có sở hữu tập thể về t liệu sản xuất còn sở hữu cá thể hay
sở hữu gia đình là đi ngợc lại đờng lối xã hội chủ nghĩa là mầm mống kinh tế
t bản chủ nghĩa do đó phải ngăn chặn kịp thời “mầm họa” đó
Trong khi, vào thời điểm đó thì trên thế giới rất nhiều nớc thực hiện việcphát triển kinh tế hộ gia đình, các nông trại gia đình và hoạt động kinh doanhnông nghiệp Còn ở Trung Quốc lại thực hiện một cách máy móc mô hìnhnông nghiệp nông thôn Xô viết: thành lập các nông trang tập thể hoặc cácnông trờng quốc doanh, định biến nông dân thành các công nhân nông nghiệp,
đi làm nh trong nhà máy Do đó, đã làm giảm nhiệt tình sản xuất của ngời lao
động nông nghiệp và năng suất lao động nông nghiệp, chủ nghĩa bình quân vàbao cấp, t tởng “ăn cơm nồi to” lan tràn nhanh chóng, những ngời hăng saylàm việc cũng đợc hởng nh ngời không chịu làm gì, ỷ lại trong sản xuất Vìvậy, tính u việt của tổ chức hợp tác nông nghiệp-hình thức kinh tế xã hội chủnghĩa vô hình trung bị triệt tiêu và đơng nhiên nó cũng không thể phát huy đ-
ợc vai trò trong việc tiến hành hiện đại hoá nhà nớc
Trong bản 18 vấn đề của công xã nhân dân có quy định: “đội sản xuất là
đơn vị hạch toán cơ bản, tiểu đội sản xuất bên dới đội sản xuất cũng là đơn vịkhoán sản lợng, tiểu đội sản xuất này cũng cần có chế độ sở hữu một phần và
có quyền quản lý cấp dới” [10, 607] Qua đó ta cũng có thể nhận thấy nhà
n-ớc đã giao cho hợp tác xã nông nghiệp quá nhiều chức năng xã hội Điều đódẫn tới sự ràng buộc và trì trệ trong sản xuất Trong hợp tác chỉ hoạt động vì
Trang 20mục đích, chức năng xã hội mà quên đi chức năng chính của mình: chức năngkinh tế và phát triển kinh tế.
Do đó, các công xã trở thành các xã hội thu nhỏ sống tập trung và khépkín mọi hoạt động trong đó Vì vậy đã có ngời ví công xã nhân dân ở TrungQuốc thời kỳ này là “công xã nguyên thuỷ”
Tóm lại, công xã nông thôn hay hình thức hợp tác hoá trong nông nghiệpTrung Quốc thời kỳ trớc cải cách là một quan hệ sản xuất tiên tiến không phùhợp với một lực lợng sản xuất lạc hậu, yếu kém lại không đợc trang bị công cụsản xuất hiện đại Vì vậy, nông nghiệp Trung Quốc thời kỳ này kém pháttriển, năng suất thấp và gây nên sự mất lòng tin nghiêm trọng trong quầnchúng nhân dân, hạn chế tích cực sáng tạo của các doanh nghiệp và ngời lao
động, tạo môi trờng thuận lợi cho chủ nghĩa quan liêu và đặc quyền đặc lợiphát triển
Mặc dù vậy, xét cho đến cùng thì vấn đề công xã nhân dân tuy vấp phảinhững sai lầm nhng những sai lầm đó thể hiện sự tìm tòi về con đờng khôiphục và phát triển kinh tế trọng yếu của Trung Quốc lúc bấy giờ Và chínhquá trình tìm tòi ấy đã đi đến thực hiện nền kinh tế kế hoạch trong sản xuấtnông nghiệp
1.3 Nông nghiệp Trung Quốc thời kỳ kinh tế kế họach hoá
Thể chế kinh tế kế hoạch là nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội, bản chấtcủa nó là nhà nớc chỉ đạo nền kinh tế, độc quyền về tất cả các nguồn lực kinh
tế xã hội, sau đó phân phối, điều tiết, sử dụng những nguồn lực này theo kếhoạch do nhà nớc quy định Để tiến hành thể chế kinh tế này vào nền kinh tếquốc dân thì phải thực hiện ba yêu cầu, cụ thể: tất cả lãnh đạo các ngành và cơquan quan trọng trong lĩnh vực kinh tế đều do chính quyền ra lệnh, bổ nhiệm,
điều động, thay đổi; những vật t quan trọng trong lĩnh vực sản xuất và tiêudùng đều do nhà nớc nắm giữ và phân phối thống nhất; tài sản nhà nớc, đầu tcho xây dựng cơ sở hạ tầng và vốn lu động đều do nhà nớc kiểm soát và quy
định sử dụng nh thế nào
Nh vậy là trong nền kinh tế kế hoạch nhà nớc nắm trong tay toàn bộ sựvận hành của nền kinh tế quốc dân, tức là quyền lực phân phối sản xuất và tiêudùng thuộc về chính quyền trung ơng Do đó có thể gọi nền kinh tế kế hoạch
là nền kinh tế kế hoạch tập quyền trung ơng
Với việc áp dụng nền kinh tế kế hoạch vào hệ thống kinh tế quốc dân thì
có thể khẳng định sự phát triển đi lên của dân tộc, quốc gia mình lựa chọn con
đờng duy nhất là tiến lên chủ nghĩa xã hội, có thể tập trung đợc nguồn vốn,nguồn nhân lực, vật lực cần thiết, xây dựng các hạng mục kinh tế có quy mô
Trang 21lớn, thực hiện tốt những mục tiêu mà xã hội chủ nghĩa theo đuổi trong mộtthời kỳ nhất định.
Tuy nhiên, ngay từ khi còn là “ấu nhi” (vừa mới bắt đầu thực hiện) nềnkinh tế này đã có những khuyết tật nh: nó hoạt động chủ yếu dựa vào mệnhlệnh hành chính, gần nh loại bỏ hoàn toàn kinh tế thị trờng; nó đã tớc đoạtquyền tự chủ và quyền chủ động của những doanh nghiệp hoạt động kinh tế,biến những doanh nghiệp này thành công cụ thực hiện kế hoạch và mệnh lệnhcủa nhà nớc, hạn chế tính sáng tạo và tích cực sản xuất của ngời lao động; đểthông qua trao quyền theo đẳng cấp, hình thành quan hệ phụ thuộc vào cấptrên…Trong suốt Đây là một môi trờng thuận lợi cho chủ nghĩa quan liêu và sự đặcquyền đặc lợi phát triển
Liên Xô (nớc Nga Xô viết) đợc coi là điển hình của nền kinh tế này và đãtrở thành một mô hình chung để cho các nớc xã hội chủ nghĩa khác học tập vàlàm theo trong đó có Trung Quốc
ở Trung Quốc, nền kinh tế kế hoạch đợc bắt đầu thực hiện chính thức từnăm 1953, đó là khi toàn bộ lơng thực và rất nhiều hàng nông sản quan trọng
mà nông dân sản xuất đợc đều do nhà nớc thống nhất thu mua, tiêu thụ Nhànớc trực tiếp chỉ đạo nền kinh tế, có quyền kiểm soát và sử dụng vốn, nhânlực, vật lực Với quan niệm chỉ có thể điều tiết nền kinh tế bằng kế hoạch kinh
tế thì mới phủ định sản xuất hàng hoá Do đó khi Trung Quốc tiến hành kinh
tế kế hoạch hoá trong nông nghiệp, nghĩa là bộ phận chủ yếu của hàng nôngsản Trung Quốc trong hàng chục năm tiếp theo đã bị tách khỏi thị trờng trởthành “hàng hoá đặc biệt” dới sự kiểm soát của nhà nớc Nhiều học giả TrungQuốc cho rằng: dù nh vậy, nền kinh tế kế hoạch đợc thực hiện từ năm 1953 ởnớc này sau này vẫn phát huy khá nhiều tác dụng tích cực trong việc thúc đẩynông nghiệp Trung Quốc phát triển hay nông nghiệp Trung Quốc có sựchuyển biến từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại [21, 232].Nhà nớc tiến hành sở hữu t liệu sản xuất và phân phối lao động cũng nhcông cụ sản xuất Một mặt tiến hành sản xuất các loại máy móc phục vụ chonông nghiệp, mặt khác cho tiến hành sản xuất phân bón hoá học, thuốc trừsâu, nghiên cứu các loại giống mới để áp dụng vào sản xuất nông nghiệpnhằm nâng cao năng suất Do đó, đã có 40,670 triệu hecta diện tích đất canhtác bằng máy; tỉ lệ diện tích tới tiêu bằng máy tăng từ 1,6% lên 55,4% trongtổng diện tích tới tiêu; những kỹ thuật nh gieo hạt và thu hoạch bằng máycũng đợc ứng dụng rộng rãi [5,139] Nhà nớc còn đảm bảo cung cấp cho nôngdân các loại thiết bị cho nông nghiệp với giá rẻ dới hình thức là các trạm cungứng và sửa chữa máy sản xuất nông nghiệp; cung ứng phân bón, thuốc trừ sâu,
Trang 22giống tốt…Trong suốt Trong thể chế kinh tế này nhà nớc còn có thể đảm bảo cung cấpcho nông dân các loại máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu mà còn có thểchuyển nhợng không hoàn lại và phổ biến các loại kỹ thuật mới, phát minhmới…Trong suốt Nhà nớc đảm bảo trớc nông dân về chất lợng của sản phẩm.
Bên cạnh đó nhà nớc còn chú ý tới việc phát triển một cách có kế hoạchgiáo dục khoa học nông nghiệp hiện đại và đã xây dựng nên một hệ thốnggiáo dục hoàn chỉnh từ đại học, trung học chuyên nghiệp đến giáo dục chuyênmôn nghiệp d; tại các trờng và học viện còn trực tiếp mở ngay các khu canhtác nông nghiệp
Qua đó chúng ta cũng có thể thấy đợc Đảng và Nhà nớc Trung Quốc đãrất quan tâm tới việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Điều nàylàm cho nền nông nghiệp Trung Quốc thời kỳ này cũng đợc hiện đại hoá lênrất nhiều
Từ nhận thức rõ vai trò kinh tế nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
đ-a đất nớc thoát khỏi tình trạng đói nghèo, thiếu lơng thực, nên trong thời kỳthực hiện thể chế kinh tế kế hoạch Trung Quốc đã sử dụng nguồn tài chính,nhân lực, vật lực của nhà nớc, xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng, cơ sở nôngnghiệp trên quy mô lớn với tỉ lệ ngân sách cho nông nghiệp trong tổng sốngân sách là 7,4% trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957); lên 12,5%trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1958-1962); 15% trong kế hoạch 5 năm lầnthứ ba (1963-1965); 10,2% trong kế hoạch 5 năm lần thứ t (1966-1970) và13,2% trong kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1971-1975) Với số ngân sách đầu
t rất lớn đó, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng các công trình thuỷ lợi cỡ lớn,xây dựng các công trình giao thông phục vụ cho nông nghiệp, tiến hành trồngrừng cây chắn cát ven biển, trồng diện tích rừng phòng hộ lớn, với tỉ lệ đầu tcho xây dựng cơ bản của cả nớc là 7,1% trong năm năm 1953-1957; 11,3%trong 5 năm 1958-1962; 17,6% trong 5 năm 1963-1965; 10,7% trong 5 năm1966-1970 và 98% trong 5 năm 1971-1975 [5, 141]
Với mức đầu t và chú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp nh vậy đãchứng tỏ nông nghiệp Trung Quốc đã có những bớc phát triển rất đáng kể.Trong thời gian Trung Quốc thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch những vấn đềxây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp cha từng bị gián đoạn; nó
đặt một nền móng vật chất tơng đối vững chắc cho sự phát triển và hiện đạihoá nông nghiệp Trung Quốc
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện kinh tế kế hoạch nhà nớc TrungQuốc đã đặt ra kỳ vọng quá nhiều nh: các hạng mục nông nghiệp cứ sắp hàng
mà tiến Chỉ tiêu sản lợng nông nghiệp quá cao và ngày càng gia tăng Nh
Trang 23l-ơng thực: chỉ tiêu ấn định vào tháng 9-1955 so với con số lúc đợc mùa năm
1955 tăng 1,7%; tháng 8 sửa lại mức tăng là 8,1% Tháng 5-1956 lại sửa mứctăng trởng thành 9,1% Chỉ tiêu tăng trởng bông so với con số dự toán năm tr-
ớc tăng 18% Chỉ tiêu sản xuất máy nông cụ nông nghiệp cỡ lớn cũng rất cao
Nh loại hai lỡi cày hai bánh xe năm 1956 yêu cầu sản xuất 50 triệu bộ [10,530]
Bên cạnh đó quan niệm chỉ có thể điều tiết nền kinh tế bằng kế hoạchkinh tế, điều này đã tớc mất quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh củacác tổ chức sản xuất nông nghiệp (bao gồm tổ chức hợp tác nông nghiệp vànông trờng quốc doanh), biến những tổ chức này thành công cụ để thực hiệnnhững mục tiêu và kế hoạch mà nhà nớc đã quy định, sản xuất sản phẩm củanhững tổ chức này đều chịu sự chi phối và giám sát nghiêm ngặt của nhà nớc.Nhà nớc quy định trong nông nghiệp sản xuất cái gì và số lợng bao nhiêu theotừng cấp Theo thống kê không đầy đủ, nhà nớc đã ra các chỉ tiêu về sản xuấtcho các tổ chức hợp tác nông nghiệp từ cây lơng thực và các loại cây trồngkhác cho đến chăn nuôi gia súc, gia cầm, nội dung có thể chia thành 13 bảng,
241 hạng mục, 724 chỉ tiêu và đều là kế hoạch mang tính mệnh lệnh [5, 143]
Điều đó dẫn tới tình trạng ỷ lại, chờ đợi phân phối từ cấp trên chỉ thị xuống,các tổ chức sản xuất nông nghiệp không thể tự chủ sản xuất cái gì và sản xuất
nh thế nào dựa trên nhu cầu và lợi ích của bản thân mình, mà còn không thểchi phối sản phẩm của mình dựa trên chi phí sản xuất và giá trị thực tế
Việc thi hành một hệ thống kế hoạch hoá nhiều chỉ tiêu pháp lệnh dớihình thức hiện vật đã gò bó quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vịsản xuất cơ sở và ảnh hởng nghiêm trọng đến tính tích cực sản xuất của ngờilao động làm mất động lực của sự phát triển nông nghiệp Động lực phát triểnnông nghiệp bị mất đi cũng có nghĩa là quá trình hiện đại hoá nông nghiệpcũng vì thế mà kém phát triển và không phát huy đợc, đó là “sự chuyên chínhcủa các cấp trung ơng” [3, 33]
Cơ chế kinh tế kế hoạch hoá đợc thực hiện ở Trung Quốc trên thực tế làphủ định sản xuất hàng hoá, đem đối lập giữa kinh tế kế hoạch và kinh tế thịtrờng, coi thị trờng là của chủ nghĩa t bản còn kế hoạch là đặc trng của chủnghĩa xã hội nên đã bỏ qua các quy luật: giá trị, cung-cầu, giá cả thị trờng.Nhà nớc đã thông qua chính sách thu mua tiêu thụ thống nhất gần nh cắt đứthoàn toàn mối liên hệ trực tiếp giữa nông nghiệp với thị trờng và khiến cho tỷ
lệ nông sản hàng hoá của Trung Quốc thấp hơn trớc khi nớc Cộng hoà nhândân Trung Hoa ra đời Điều đó không những làm cạn kiệt động lực nội tại đểphát triển của nông nghiệp Trung Quốc mà còn chặn đứng con đờng để nó
Trang 24tiến lên hiện đại hoá Trên một số phơng diện nào đó nó còn làm cho nềnnông nghiệp Trung Quốc bị thụt lùi về phơng diện hiện đại hoá.
Trong thời kỳ thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch, ở Trung Quốc đã chútrọng một cách phiến diện đến nhu cầu phát triển công nghiệp Trong kếhoạch kinh tế năm 1957 đã thể hiện đầy đủ t tởng “công nghiệp là quan trọngnhân dân là thứ yếu” [10, 418] Nhà nớc chủ trơng tăng nhịp độ tích luỹ nhanhnhất để tài trợ cho công nghiệp nặng, dẫn tới ba hậu quả tai hại, nó làm chonông thôn kiệt quệ và dồn nông thôn vào tình trạng trì trệ Nhà nớc tiến hànhtrao đổi ngang giá giữa sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp, lấy đi một lợngvốn lớn từ nông nghiệp làm suy yếu một cách nghiêm trọng thực lực kinh tế
để tiến hành hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc Từ năm 1952 đến năm
1978 tỷ số đổi không ngang giá giữa sản phẩm công nghiệp và sản phẩm nôngnghiệp thì tỷ số đổi không ngang giá đã mở rộng với biên độ 44,92% [5, 145].Trớc thực trạng đó đã làm cho hầu hết các tổ chức sản xuất nông nghiệpthờng xuyên rơi vào tình trạng thiếu thốn và khó khăn về vốn mà còn khiếncho nông dân phải chịu cảnh nghèo khó liên miên
Những tởng thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch là điều đáng làm, là tiền
đề của kinh tế xã hội xã hội chủ nghĩa nhng trong quá trình thực hiện nókhông những nền kinh tế nông nghiệp không phát triển mà còn kéo giật lùi sựphát triển đó lại, nhà nớc phân phối sản phẩm và điều tiết sản phẩm làm chotrong lực lợng sản xuất xuất hiện t tởng ỷ lại, không tự giác tìm tòi nhằm nângcao năng suất trong sản xuất nông nghiệp
Do tác động của kinh tế kế hoạch đã làm trầm trọng thêm cái hố ngăncách giữa thành thị và nông thôn, giữa dân thành thị và dân nông thôn Đây làmột trạng thái xã hội mà các nhà nghiên cứu gọi là “cơ cấu xã hội nhịnguyên”
“Cơ cấu xã hội nhị nguyên” là trạng thái xã hội chỉ sự tách biệt giữathành thị và nông thôn, sự tách biệt rõ rệt về thân phận của dân thành thị vớidân nông thôn do nền kinh tế kế hoạch Trung Quốc tạo ra Trong trạng thái xãhội này, thành thị và nông thôn giống nh hai hệ thống xã hội độc lập khép kín,tạo thành hai bộ phận lớn trong xã hội, c dân ở mỗi bộ phận không đợc phéptuỳ ý làm việc, kiếm sống ở những lĩnh vực của bộ phận kia Nhng điều nàykhông có nghĩa là hai bộ phận lớn trong cơ cấu xã hội nhị nguyên là songsong hoặc bình đẳng, ngợc lại chúng không song song không bình đẳng.Trong đó thành thị u việt hơn nông thôn, vì vậy c dân thành thị sẽ khá dễ dàngnếu muốn kiếm sống và sinh sống lâu dài ở nông thôn bằng các con đờngchính đáng, và sẽ đợc coi là từ chỗ cao đi xuống chỗ thấp Còn nông thôn lại
Trang 25yếu thế hơn thành thị, vì vậy c dân nông thôn sẽ gặp nhiều khó khăn khi muốnvào thành phố kiếm sống làm việc và định c qua những con đờng chính đáng,
và bị coi là từ chỗ thấp ngoi lên chỗ cao Do đó, cho dù là tự nguyện hay bịphạt đều xuống nông thôn để sản xuất nông nghiệp thì c dân thành thị đợc ng-
ời ta gọi là “xuống cơ sở” (hạ phóng), còn c dân nông thôn nếu nhờ vào cốgắng của bản thân hoặc do sự sắp đặt của nhà nớc mà vào làm việc ở cácthành phố thì sẽ đợc coi là “vợt đợc long môn” (cá chép hoá rồng) [5, 147]
Sở dĩ, cơ cấu xã hội nhị nguyên của Trung Quốc ở thời điểm này nhằmcản trở nông dân tự ý lu động ra thành thị kiếm việc làm cũng nh sinh sống.Tuy nhiên cơ cấu xã hội đó đã làm cho giữa nông thôn và thành thị trở thànhhai loại xã hội hoàn toàn trái ngợc nhau và tách biệt nhau Điều đó không chỉ
ảnh hởng đến tình hình xã hội mà còn ảnh hởng tới sự phân biệt giữ ngời ởnông thôn và ngời thành thị
Vô hình chung đây là kiểu phân biệt xã hội dới một hình thức biểu hiện mới
Để bổ sung vào sự tách biệt đó, năm 1958, chính phủ Trung Quốc lập rachế độ đăng ký hộ khẩu, cấm nông dân dồn về thành phố trong khi cho phépdân thành thị chuyển về nông thôn Dĩ nhiên cuộc di c sau chẳng bao giờ là tựphát cả Sự tăng cờng các biện pháp cảnh sát nhằm kiểm soát hộ khẩu kéo dàiviệc chia cách giữa thành thị và nông thôn và giảm hẳn làn sóng nông dân tràn
về thành phố trong một thời gian dài [3, 35] Sau này, nhà nớc lại thực hiệnchế độ hộ tịch phân biệt khắt khe giữa dân thành thị và dân nông thôn, đồngthời thực hiện chế độ quản lý và điều hành việc sử dụng nhân công theo kếhoạch thống nhất ở thành thị, việc sử dụng công nhân của các đơn vị trongthành phố trớc hết và chủ yếu phải xem xét , giải quyết vấn đề việc làm chodân c thành thị, còn c dân nông thôn muốn vào thành phố tìm việc làm sẽ phảituân theo phơng thức tuyển nhân công theo kế hoạch của nhà nớc Trong điềukiện phải u tiên xem xét việc làm cho dân thành thị, cùng với việc thúc đẩynhững chế độ và biện pháp đó, Trung Quốc lại tiếp tục thực thi một loạt nhữngquy định và chế độ có sự phân biệt giữa thành thị và nông thôn trên các mặt:nhà ở, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ, bảo hộ lao động, hu trí, dỡng lão,thậm chí là hôn nhân Kết quả là không những khiến cho thành thị và nôngthôn Trung Quốc trở thành hai khu vực độc lập, khép kín mà còn tạo ra hailoại công dân khác nhau [5,151-152]
Tuy nhiên, dẫn tới trạng thái xã hội nhị nguyên “ trong thời kỳ thể chếkinh tế kế hoạch đợc phát triển triệt để, chúng ta cần phải tìm hiểu rõ cănnguyên của nó
Trang 26Tính chất xã hội Trung Quốc trớc cuộc cách mạng là xã hội nửa thuộc
địa nửa phong kiến, nửa phong kiến có tình trạng kinh tế hết sức lạc hậu, cònnửa thuộc địa thì các nớc đế quốc bên ngoài đặt ách thống trị của mình vàoTrung Quốc thông qua “vòi thơng nghiệp” chứ không phải trực tiếp cai trị nên
ở những nơi thơng nghiệp phát triển thì xã hội cũng có những sự phát triểnhơn và quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh hơn Vì vậy, nông thôn và thành thị
đã hình thành hai xã hội hoàn toàn khác nhau
Mặt khác, hai xã hội phát triển theo hai chiều hớng hoàn toàn khác vàtrái ngợc nhau, lại đợc đặt trong bối cảnh chịu sự phân phối của Nhà nớc màkhông có sự kinh doanh trao đổi buôn bán nào diễn ra giữa các ngành, cácvùng khác nhau Thành thị phát triển thì cứ phát triển còn nông thôn đã nghèonàn lạc hậu thì cũng cứ nghèo nàn lạc hậu
Phải chăng đó là một tất yếu phải trải qua của việc xây dựng kinh tế-xãhội chủ nghĩa?
Điều đó là sai lầm đối với lí luận kinh tế chính trị, trái với quy luật pháttriển Bởi vì chủ nghĩa xã hội không nhất thiết phải áp dụng những hình thứctiên tiến mà lý luận đa ra với một thực tiễn lạc hậu và nghèo nàn đợc Trongthực tế, đã có rất nhiều nớc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không dẫn tới việcxã hội hoá, tách biệt và độc lập lẫn nhau mà thiếu sự giao lu trao đổi nh vậy.Thực tiễn mới là mảnh đất thực sự màu mỡ để hình thành lý luận và họcthuyết
Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, phải có sự giao lu trao đổi, phải cớ sựliên hệ thì mới làm cho nền kinh tế phát triển đồng đều và hiệu quả hơn Tức
là việc xuất hiện cái gọi là “kinh tế hàng hoá” là rất cần thiết, và kinh tế đóchịu sự điều tiết của nhà nớc thì lại càng có lợi cho việc thúc đẩy nền kinh tếxã hội chủ nghĩa phát triển, phát triển vững chắc Vì khi kinh tế thành thị pháttriển, các nhà máy xí nghiệp mọc lên không những sẽ tạo đợc công ăn việclàm cho dân c thành thị mà còn có thể giải quyết đợc công việc cho số lao
động d thừa đợc chuyển từ nông thôn lên Quá trình dịch chuyển đó trong xãhội là động lực phát triển kinh tế-xã hội
Tuy nhiên, ở Trung Quốc trong thời kỳ kinh tế kế hoạch đã đóng kín haicơ cấu xã hội và còn diễn ra điều luật về việc ngời thành thị hay ngời nông
Trang 27thôn chuyển đến cơ cấu xã hội khác mà mình đang sống Tình trạng đó dẫn tới
sự chênh lệch về phát triển kinh tế cũng nh văn hóa xã hội
Từ chỗ đóng kín giữa hai cơ cấu xã hội ở Trung Quốc đã dẫn tới việckinh tế nông nghiệp không đợc phát triển và chú trọng trong công tác hiện đạihoá, nâng cao trình độ cũng nh trang thiết bị hiện đại cho một nền nôngnghiệp hiện đại, cụ thể:
Tình tình năng suất lao động nông nghiệp, hiệu suất sử dụng đất và tỷ lệ thơng phẩm hoá của nông nghiệp Trung Quốc từ năm 1957-1977:
Nguyên liệu dầu ăn 6.6 4.25 -35.6
Sản lợng trên một đơn
vị diện tích (kg/mẫu)
Nguyên liệu đờng 1861.5 1569 -15.7Năng suất lao động
Trong điều kiện kinh tế xã hội nh vậy, công cuộc phát triển nông nghiệpcoi nh thất bại
Tình trạng trên là nguyên nhân tất yếu dẫn đến một sự kiện hết sức quantrọng khác ở nông thôn Trung Quốc, đó là việc thực hiện chế độ khoán đến hộgia đình
Ngay từ giữa những năm 50, khi phong trào hợp tác hoá nông nghiệp
đang đợc tiến hành rầm rộ trên cả nớc Trung Quốc thì hình thức các gia đìnhnhận khoán ruộng đất và nhiệm vụ sản xuất từ tổ chức tập thể nông nghiệp đãxuất hiện Mặc dù, cách làm này đã đợc chứng minh là một hình thức tổ chức
và sản xuất kinh doanh nông nghiệp có hiệu quả nhng sau đó một thời gian nó
Trang 28vẫn bị coi là hành vi sai lầm và bị cấm hoạt động; trào lu “nhất đại nhị công”trong phong trào công xã hoá cũng khiến cho hình thức sản xuất kinh doanhnày không thể tồn tại và phát triển.
Nhng, chủ trơng “nhất đại nhị công” và thể chế hợp nhất giữa chínhquyền công xã cùng chính sách thu mua nông sản của nhà nớc đã đẩy cáccông xã nhân dân vào tình trạng khó khăn nghiêm trọng Sản xuất nôngnghiệp lại gặp phải những trận thiên tai lớn cha từng có, khiến cho TrungQuốc bị mất mùa, đói kém mấy năm liền
Từ thực tế cay đắng trên, một số nơi ở Trung Quốc lại khôi phục chế độkhoán sản phẩm đến từng hộ gia đình (chế độ khoán sản phẩm) và đã đạt đ ợcnhững thành công vang dội nh ở tỉnh An Huy Sau đó, mặc dù một lần nữa nó
bị coi là chế độ sai lầm bị chụp lên cái mũ “chủ nghĩa t bản”, là “thụt lùi, làm
ăn riêng rẽ” và bị ngăn cản, nhng ngọn lửa của chế độ khoán vẫn cha bao giờ
bị dập tắt
Kế hoạch hoá nổ ra là một dây xích xiết chặt đến nghẹt thở, sinh ra tìnhtrạng đình đốn lãng phí Kinh tế chia cắt thành các khu vực bị quản lý theo lốihành chính, do đó mọi sáng kiến trong sản xuất nông nghiệp hay các lĩnh vựckinh tế khác đều bị thui chột Ngay cả khoán sản phẩm đến hộ gia đình -mộtsáng kiến cho sự đình trệ trong sản xuất cũng bị khép vào tội xa rời là lệch h-ớng xã hội chủ nghĩa
Tóm lại, gần ba mơi năm Trung Quốc thực hiện kinh tế xã hội chủ nghĩatrong nông nghiệp là “công hữu càng cao càng tốt” Cho nên ở Trung Quốc đãdiễn ra quá trình quốc hữu hoá, công hữu hoá ruộng đất, “hợp nhất” và “nângcấp” (hợp nhất hợp tác xã nhỏ thành hợp tác xã lớn, hợp nhất công xã nhândân quy mô thành quy mô liên xã, quy mô huyện và liên huyện; nâng cấp hợptác xã bậc thấp lên hợp tác xã bậc cao, nâng cấp hợp tác xã lên công xã nhândân; trong phạm vi công xã nhân dân thì thực hiện hợp nhất “nông-công-th-
ơng-học-binh”, hợp nhất chính quyền và công xã nhân dân) Cả một vùngnông thôn bao la của Trung Quốc nổi lên “ngọn gió cộng sản” và “quá độnghèo”
Cũng gần ba mơi năm, ở Trung Quốc quan niệm rằng: chỉ có thể điềutiết nền kinh tế kế hoạch, phủ định sản xuất hàng hoá, đem đối lập giữa kinh
tế kế hoạch và kinh tế thị trờng, coi thị trờng là chủ nghĩa t bản còn kế hoạch
là đặc trng của chủ nghĩa xã hội Do đó, đã làm mất tính tích cực sáng tạotrong sản xuất và động lực của sự phát triển nông nghiệp
Bên cạnh đó, cơ chế phân phối thu nhập theo chủ nghĩa bình quân vớiquan niệm phân phối bình quân Đây là quan niệm truyền thống của xã hội
Trang 29Trung Quốc bắt nguồn từ phong trào nông dân Cơ chế phân phối theo nguyêntắc “nồi cơm chung” hay “cái bát sắt” đợc thực hiện trong suốt một thời giandài Trên thực tế nó đã phủ nhận phân phối theo lao động, hình thành tìnhtrạng “làm hay không làm; làm nhiều làm tốt hay làm ít không tốt” cũng đều
đợc phân phối nh nhau Cơ chế phân phối đó đã không kết hợp đợc lợi ích củanhà nớc, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân của ngời lao động Do đó đã cản trở
sự phát triển về chất của lực lợng sản xuất và hiệu quả kinh tế
Ngoài ra, việc hợp nhất chính quyền công xã nhân dân làm lẫn lộn chứcnăng quản lý sản xuất, kinh doanh và chức năng quản lý sản xuất kinh doanhcủa nhà nớc Nhà nớc can thiệp trực tiếp và quá sâu vào công việc sản xuất,kinh doanh của các đơn vị
Vì vậy, nó đã làm cho tốc độ tăng trởng, phát triển và hiện đại hoá trongnông nghiệp chậm chạp, trì trệ, tỉ lệ lơng thực hàng hoá giảm, đời sống nhândân gặp nhiều khó khăn, nhất là nông dân ở nhiều vùng còn bị nạn đói hoànhhành Trong nông nghiệp sai lầm “tả khuynh” nên đã làm cho xã hội rối loạn,lòng dân phân tán, không còn tin tởng vào đờng lối lãnh đạo của Đảng Cộngsản, nông thôn và thành thị lại trở thành hai thế giới tách biệt trong xã hội.Trớc tình hình đó đòi hỏi Đảng và Nhà nớc Trung Quốc phải tìm lốithoát cho mình, đặc biệt là tìm một giải pháp cho phần lớn dân số (90% dânsố) Trung Quốc đủ ăn, đủ mặc
Vậy giải pháp đó là gì?
Đứng trớc sự lựa chọn giữa cải cách hay chịu bó tay để rồi không thể cứuvãn đợc Đảng và Nhà nớc Trung Quốc cùng với vai trò của tổng công trình s
Đặng Tiểu Bình, đã tiến hành sự nghiệp cải cách, mở cửa Vì xét về mặt thời
đại thì cải cách mở cửa là xu thế phát triển tất yếu của thế giới Trải qua gần
ba mơi năm tìm tòi gian khổ bằng máu và nớc mắt thì cải cách và mở cửa là sựlựa chọn tất yếu của quá trình phát triển và hoàn thiện chế độ xã hội chủ nghĩa
ở Trung Quốc Từ đấy, kinh tế Trung Quốc nói chung và nông nghiệp nóiriêng bớc sang một trang mới-một bớc nhảy “thần kỳ”
Chơng 2
nông nghiệp Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay
2.1 Chính sách mở cửa của Trung Quốc trong nông nghiệp
Năm 1978, sau cuộc thảo luận lớn về tiêu chuẩn chân lý và việc uốn nắnsai lầm trên phơng diện lý luận t tởng mang tính toàn quốc, Đảng Cộng sản
Trang 30Trung Quốc đã tiến hành thắng lợi Hội nghị Trung ơng 3 khoá XI Hội nghị
đã thông qua quyết sách chiến lợc, chuyển trọng tâm công tác của toàn Đảngsang xây dựng kinh tế và cải cách mở cửa Nghị quyết đánh dấu b ớc ngoặtmang tính lịch sử thời đại to lớn và là mốc son mới trong lịch sử của Đảng
và đất nớc Trung Quốc, mở ra cục diện mới Trong tiến trình cải cách mởcửa và xây dựng hiện đại hoá ở Trung Quốc [1, 9]
Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng lần thứ 3 (khoá XI) với quyết định
từ bỏ phơng châm chiến lợc sai lầm “tả khuynh'': lấy đấu tranh giai cấp làmchính để chuyển trọng tâm công tác của Đảng và Nhà n ớc sang lĩnh vực xâydựng kinh tế, coi trọng “nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế quốc dân”,
“tập trung tinh lực làm cho nền nông nghiệp lạc hậu mau chóng phát triển”
đã thực sự trở thành sự kiện bớc ngoặt đối với sự phát triển của Trung Quốc.Một trong những nội dung quan trọng trong chính sách nông nghiệp củaTrung Quốc đó là việc thực hiện “khoán” trong nông nghiệp Nghị quyết “vềmột số vấn đề đẩy nhanh phát triển nông nghiệp” tháng 9-1979 nêu rõ xâydựng và kiện toàn chế độ trách nhiệm sản xuất, tổ chức kinh tế các cấp củacông xã nhân dân cần phải thận trọng chấp hành nguyên tắc “làm hết nănglực, phân phối theo lao động”, làm nhiều hởng nhiều, làm ít hởng ít, nam nữlàm việc nh nhau, hởng bằng nhau Tăng cờng quản lý định mức, trả thù laocho ngời lao động căn cứ vào số lợng và chất lợng lao động, xây dựng chế độthởng phạt cần thiết, kiên quyết khắc phục chủ nghĩa bình quân
Từ năm 1980 ở Trung Quốc thực hiện biện pháp khoán sản lợng đếntừng hộ gia đình, biện pháp này bắt đầu có sự chuyển biến mạnh mẽ Đến chỉthị số 1 về công tác nông thôn năm 1982, văn kiện đợc ban hành dới dạng
“Kỷ yếu hội nghị công tác nông thôn toàn quốc” thì hình thức khoán sảnphẩm đến hộ gia đình đã hoàn toàn đợc khẳng định Theo chỉ thị này,
“khoán” tức là khẳng định một cách đầy đủ tác dụng của chế độ trách nhiệm
đến gia đình nông dân khắc phục đợc tình trạng “ ăn nồi cơm chung” đã tồntại lâu dài trong kinh tế tập thể”, “sửa chữa đợc khuyết điểm quản lý tậptrung và phơng thức kinh doanh quá đơn nhất tồn tại trong một thời giandài” Tuỳ theo tình hình cụ thể từng địa phơng có thể áp dụng các hình thức
khoán khác nhau: khoán sản lợng hoặc khoán toàn bộ.
Khoán sản lợng có thể tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế ở mỗi nơi màthực hiện các hình thức khác nhau “ở những nơi mà kinh tế kém phát triển,cha có sự phân công kỹ thuật cao, hơn nữa lại chủ yếu là trồng trọt, nghề phụcủa tập thể ít thì thực hiện khoán ruộng đất theo tỷ lệ lao động hay chia bìnhquân theo sức lao động ở những nơi kinh tế kém phát triển, nhng đã hình
Trang 31thành sự phân công ngành nghề và phân công kỹ thuật tơng đối tỷ mỉ thì thựchiện khoán ngành nghề, theo phân vùng ngành nghề…Trong suốt”
Khoán toàn bộ là khoán giao nộp “xoá bỏ phân phối theo công điểm”.
Khoán toàn bộ “không giống với kinh tế cá thể của chế độ t hữu nhỏ trớc hợptác hoá, mà là một bộ phận của tổ chức kinh tế nông nghiệp xã hội chủnghĩa, theo sự phát triển của sức sản xuất, nó sẽ từng bớc phát triển thànhkinh tế tập thể hoàn thiện hơn”
Theo chỉ thị số 1 năm 1983, văn kiện “Một số vấn đề về chính sách kinh
tế nông thôn hiện nay”, đợc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc thôngqua ngày 31-12-1982 đã tập trung làm rõ vấn đề khoán toàn bộ đến từng hộ
đối với lối làm ăn riêng lẻ của kinh tế cá thể Theo chỉ thị này thì phơng thứckhoán đã thể hiện ba mặt tích cực:
Thứ nhất, chế độ trách nhiệm khoán sản lợng đã thực hiện nguyên tắckết hợp giữa thống nhất kinh doanh và phân tán kinh doanh, khiến cho tính uviệt của tập thể và tính tích cực cá nhân đều đợc phát huy
Thứ hai, đó là sự sáng tạo vĩ đại của nông dân dới sự lãnh đạo của
Đảng, là bớc phát triển mới trong thực tiễn về lý luận hợp tác hoá nôngnghiệp
Thứ ba, chế độ trách nhiệm khoán sản lợng và các chính sách nông thôn
đợc thực hiện đã phá bỏ sự trì trệ trong sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy nôngnghiệp chuyển từ kinh tế tự cấp và nửa tự cấp sang sản xuất hàng hoá
Tuy nhiên, chế độ trách nhiệm sản xuất trong giai đoạn đầu thực hiệnvẫn còn một số tồn đọng cần giải quyết nh: vấn đề xây dựng và kiện toàn chế
độ tài vụ; vấn đề phân chia ruộng đất khoán cha thoả đáng, thiếu các biệnpháp khuyến khích đầu t cải tạo đồng ruộng; vấn đề giúp đỡ thiết thực đốivới các hộ khó khăn trong đời sống; chế độ đãi ngộ cán bộ cha kiện toàn…Trong suốt
Để giải quyết vấn đề đó, văn kiện số 1 năm 1984 tức “Thông tri trung
-ơng Đảng Cộng sản Trung Quốc về công tác nông thôn”, nêu ra những nộidung chủ yếu: “Kéo dài thời hạn khoán ruộng đất, khuyến khích nông dântăng đầu t bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh” “Thời hạn khoán ruộng đấtnói chung nên từ 15 năm trở lên Đối với loại kinh doanh chu kỳ sản xuất dài
có tính chất khai hoang nh vờn quả, rừng, đồi hoang thì thời hạn khoán cầndài hơn nữa Trớc khi kéo dài thời hạn khoán, nếu quần chúng có yêu cầu
điều chỉnh ruộng đất thì có thể dựa vào nguyên tắc “đại ổn định, tiểu điềuchỉnh” nghĩa là về cơ bản ổn định nhng có thể điều chỉnh một bộ phận nhỏruộng đất khoán cha hợp lý, thông qua thơng lợng một cách đầy đủ, sau đótập thể thống nhất điều chỉnh”
Trang 32Trong văn kiện này còn cho phép nông hộ có quyền nhợng ruộng đấtkhoán, đất phần trăm để lại cho xã viên, đất khoán nói chung không chophép mua bán và phát canh thu tô, không cho phép dùng làm đất thổ c vàdùng vào việc khác có tính chất phi nông nghiệp [4, 42]
Tuy nhiên, đến hết năm 1983, bên cạnh những thắng lợi vợt bậc trongnông nghiệp nhiều vấn đề cơ bản vẫn cha đợc giải quyết thoả đáng, tỷ lệhàng hoá nông sản còn thấp, nền nông nghiệp Trung Quốc về thực chất vẫn
ở tình trạng tự cấp, tự túc, thực trạng đó đặt ra những nhiệm vụ mới tronggiai đoạn tiếp theo Để đạt đợc những mục tiêu phát triển sản xuất và luthông hàng hoá trên cơ sở mở rộng kinh tế hộ gia đình, Trung Quốc tiếp tụccải cách cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp thông qua hàng loạt biện pháp
và chính sách cụ thể sau:
- Tăng cờng phát triển lực lợng sản xuất, đẩy mạnh lu thông hàng hoá ởnông thôn; hình thành nhiều hình thức thơng nghiệp, cải cách cơ chế hợp tácxã cung tiêu, thực hiện thu mua theo hợp đồng và mua bán tự do trên thị tr -ờng
- Khuyến khích phát triển hộ chuyên, tạo điều kiện u đãi về vốn, tíndụng cho các gia đình sản xuất chuyên môn hoá để tăng nhanh các sảnphẩm hàng hoá trên thị trờng
- Tạo sự chuyển biến phân công lao động và tận dụng tối đa lao động dthừa ở nông thôn thông qua việc khuyến khích phát triển xí nghiệp h ơng trấn
và dịch vụ
- Đẩy mạnh đầu t cho nông nghiệp, trên cơ sở ổn định diện tích trồngcây lơng thực và cây bông, nhà nớc hỗ trợ đầu t cho các huyện trọng điểmtrong sản xuất lơng thực hàng hoá, thực hiện nguyên tắc “lấy nông nghiệpnuôi nông nghiệp”
- Phát triển và hoàn thiện chế độ hợp tác ở nông thôn, dới ba hình thức:
tổ chức hợp tác mang tính khu vực, tổ chức hợp tác mang tính chuyên mônhoá phục vụ nông nghiệp theo ngành nghề, tổ chức hợp tác liên ngành nông-công-thơng nghiệp
- Tạo mọi điều kiện để đảm bảo cho kinh tế hàng hoá thực sự phát triển,coi trọng cơ chế thị trờng có sự điều tiết bằng các biện pháp kinh tế vĩ môthúc đẩy nông nghiệp đa dạng ngành nghề, chuyên môn hoá [4, 102]
Từ thực tiễn cải cách cơ chế kinh tế nông thôn Trung Quốc, đã dần dầnhình thành cung cách quản lý mới trong nông nghiệp Nhà nớc thay đổi ph-
ơng thức quản lý kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp theo hớng khuyến khíchtính tự chủ, năng động, sáng tạo của các hộ gia đình, các đơn vị sản xuất
Trang 33Đây chính là động lực mạnh mẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trởng của nền nôngnghiệp Trung Quốc, làm cho sản xuất nông nghiệp chuyển dần sang quỹ đạokinh tế hàng hoá, và giải quyết một cách căn bản vấn đề lơng thực.
Bớc vào những năm 90(của thế kỉ XX) , nông nghiệp trên toàn thế giớigặp phải sự thách thức nghiêm trọng, nh: mất cân đối giữa cung và cầu tronglơng thực thế giới, xu hớng ngày càng mở rộng, dân số tăng nhanh tạo thànhsức ép to lớn đối với nông nghiệp Trên cơ sở đó, xu thế phát triển khoa học -
kỹ thuật nông nghiệp thế giới trong những năm 90 có những bớc phát triển
Đứng trớc xu thế đó của thế giới, ở Trung Quốc cho đến năm 2000 làlấy khoa học-kỹ thuật hiện đại và công nghiệp hiện đại làm trụ cột vữngchắc, chuyển từ nông nghiệp truyền thống thành ngành nông nghiệp hiện
đại hoá dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật hiện đại, từng bớc hạ thấp tỷ trọngdân số nông nghiệp, tận dụng tối đa đất đai khai thác và các nguồn lực khác,nâng cao sức lao động và giá trị sản phẩm, xây dựng hệ thống kỹ thuật sảnxuất hiện đại hoá
Trọng điểm chiến lợc phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp TrungQuốc những năm 90(XX) bao gồm: phát triển lực lợng sản xuất nông nghiệp,nâng cao hiệu quả kinh tế, coi trọng kỹ thuật nông nghiệp trong thập niêncòn lại của thế kỷ XX và đầu thế kỷ sau Cuối năm 1989, quốc vụ viện TrungQuốc đã ra quyết định: “dựa vào tiến bộ khoa học-kỹ thuật để chấn hng nôngnghiệp” [12, 62]
Tháng 12-1992, tại buổi tọa đàm về công tác nông nghiệp và nông thôn,Tổng bí th Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân chỉ ra rằng: “Tíchcực tìm ra con đờng cụ thể, xây dựng thể chế kinh tế thị trờng xã hội chủnghĩa, nỗ lực phát triển kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, giải phóng vànâng cao hơn nữa sức sản xuất nông thôn là con đờng tất yếu mà nông dân n-
ớc ta đi đến “tiểu khang” (khá giả), nông nghiệp đi lên hiện đại hoá” [2,211]
Do đó, căn cứ vào yêu cầu xây dựng thể chế kinh tế thị tr ờng xã hội chủnghĩa, Trung Quốc đã và đang tích cực cải cách thể chế kinh tế nông thônvới các nội dung cơ bản sau:
Một là, ổn định lâu dài thể chế kinh doanh lấy kinh doanh khoán gia
đình làm cơ sở Quán triệt thực hiện chính sách khoán ruộng đất mới, sau khithời hạn khoán lần thứ nhất hết hạn, tiếp tục tiến hành khoán lần thứ hai,giao quyền sử dụng đất lâu dài và có bảo đảm cho nông dân Đồng thời,Trung Quốc cũng khuyến khích việc chuyển nhợng quyền kinh doanh khoánruộng đất ở nông thôn
Trang 34Hai là, đi sâu cải cách thể chế lu thông nông sản phẩm, hoàn thiện thịtrờng nông sản phẩm Nghị quyết Hội nghị Trung ơng 3 khoá XV của ĐảngCộng sản Trung Quốc Trung Quốc nêu rõ: đi sâu cải cách thể chế l u thôngnông sản phẩm mở cửa, thống nhất, cạnh tranh có trật tự là động lực tiếp tụcphát triển nông nghiệp Trung Quốc.
Ba là, cải cách và quy phạm chế độ thuế ở nông thôn, giảm nhẹ gánhnặng cho nông dân, đồng thời thực hiện tốt việc kiểm tra chấp hành luậtpháp, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật
Về vấn đề tăng trởng nông nghiệp từ loại hình quảng canh sang loạihình thâm canh, thể hiện trên ba phơng diện
Thứ nhất, theo phơng hớng thị trờng, tích cực thúc đẩy tiến trình kinhdoanh ngành nghề hoá nông nghiệp, tức là sản xuất kinh doanh nhà nớc có
sự nhất thể hoá giữa sản xuất, gia công với tiêu thụ; giữa nông nghiệp, côngnghiệp, khoa học kỹ thuật với mậu dịch xuyên suốt ngành nông nghiệp, côngnghiệp, dịch vụ, lấy sản xuất kinh doanh khoán nông nghiệp làm cơ sở liênkết các ngành nghề sản xuất nông nghiệp lại với nhau trở thành ph ơng thứcquan trọng thúc đẩy quá trình thơng phẩm hoá, chuyên nghiệp hoá, hiện đạihoá nông nghiệp Trung Quốc
Thứ hai, ra sức thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới toàndiện, thực hiện khoa học giáo dục chấn hng nông nghiệp Cụ thể là: Tậptrung tài lực, vật lực, nhân lực, tăng cờng cơ sở nghiên cứu kỹ thuật cao vàmới, ra sức đột phá trên lĩnh vực mấu chốt nh kỹ thuật nông nghiệp sinh học,tranh thủ tài nguyên và bảo vệ sinh thái, mạnh dạn mở rộng ứng dụng kỹthuật, đẩy mạnh áp dụng những thành quả khoa học kỹ thuật, cố gắng đa tỷ
lệ đóng góp của khoa học kỹ thuật đối với sự tăng trởng nông nghiệp lên đến45%, hoàn thiện hệ thống giáo dục kỹ thuật nông nghiệp, ra sức nâng caotrình độ khoa học kỹ thuật và văn hoá của nông dân
Thứ ba, tiếp tục phát triển nông nghiệp, Trung Quốc là nớc rất thiếunguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn đất canh tác, nguồn nớc, nên muốn tiếptục phát triển nông nghiệp cần thực hiện các biện pháp sau: Làm tốt côngtác thuỷ lợi, nâng cao năng lực phòng chống hạn hán, lũ lụt, thiên tai, bảo hộnguồn đất canh tác và tài nguyên rừng theo pháp luật Thực hiện tốt công tácbảo vệ môi trờng, tăng cờng xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội nh khoa học
kỹ thuật, giáo dục, thông tin nông nghiệp
Tiến hành tăng cờng đầu t cho nông nghiệp Trọng điểm đầu t là:
- Xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, cải thiện điều kiện sản xuất nôngnghiệp, đặc biệt là trị thuỷ các sông ngòi lớn, tập trung xây dựng hàng loạt
Trang 35công trình thuỷ lợi cỡ lớn, tập trung xây dựng hàng loạt công trình thuỷ lợi
cỡ vừa, bảo đảm cho nông nghiệp tiếp tục tăng trởng ổn định
- Tăng đầu t cho khoa học kỹ thuật nông nghiệp, kiện toàn hệ thống ứngdụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp, trong đó Trung Quốc chú trọng tới ứngdụng giống tốt, sử dụng phân bón có khoa học, phòng trừ sâu bệnh…Trong suốt chonhững cây trồng nông nghiệp có khả năng tăng sản, hiệu quả cao
- Đầu t cho những dự án nghiên cứu khoa học nông nghiệp đang tiếntriển và có hy vọng vận dụng vào thực tiễn sản xuất trong một thời gianngắn Đồng thời tăng cờng ngoại tệ và vốn đồng bộ cho việc thu hút, mởrộng ứng dụng những sản phẩm loại mới và kỹ thuật mới
- Tăng thêm kinh phí đầu t cho giáo dục nông nghiệp thông qua việc
mở một số trờng kỹ thuật nghề sơ cấp, trung cấp, bồi dỡng số lợng lớn nhântài kỹ thuật cần thiết cho nông thôn và bồi dỡng kỹ thuật cho ngời lao độngnông nghiệp Kết hợp chặt chẽ giữa việc nghiên cứu khoa học trong nôngnghiệp, mở rộng khoa học kỹ thuật nông nghiệp với quá trình sản xuất nôngnghiệp làm cho tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp phát huy đ ợc vai trò trong tăngtrởng nông nghiệp
Để hội nhập vào xu thế mới tự do hoá mậu dịch quốc tế và trào lu cáchmạng khoa học kỹ thuật mới của nông nghiệp thế giới, Trung Quốc đã tiếnhành điều chỉnh chính sách mậu dịch nông sản phẩm, bao gồm:
Thứ nhất, trên phơng diện thuế quan, vận dụng tổng hợp 5 loại phơngthức thuế mà WTO cho phép là: thuế theo lơng thực, thuế theo giá, thuế phứchợp, thuế theo mùa vụ và thuế hạn ngạch Đối với một số sản phẩm thuếquan cao cần thời gian giảm thuế hoặc thay đổi phơng pháp thu thuế
Thứ hai, điều chỉnh chính sách nhập khẩu nông sản phẩm, ngăn chặn sựthâm nhập quá mức của nông sản phẩm nớc ngoài đối với thị trờng trong nớcbằng cách:
- Sử dụng hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp trong các hiệp nghị vềnông nghiệp, luật chống trợ cấp, luật chống bán phá giá Điều này sẽ làmcho Trung Quốc vừa có thể nhập khẩu đợc một số nông sản phẩm với giáthấp, tiết kiệm ngoại tệ, lại vừa ngăn chặn nông sản phẩm nớc ngoài đợc trợcấp tràn vào thị trờng ảnh hởng tới sản xuất trong nớc
- Tranh thủ quy định với vòng đàm phán Urugoay đối với môi trờng vàkiểm dịch động thực vật, tăng cờng công tác kiểm định động thực vật xuấtnhập khẩu, cải tiến phơng pháp kiểm dịch, nâng cao trình độ kiểm dịch đểbảo hộ thị trờng trong nớc, đảm bảo môi trờng trong nớc và sức khoẻ củanhân dân
Trang 36- Xây dựng cơ chế phòng chống ruỉ ro trong mậu dịch nông sản phẩm,lơng thực.
Bên cạnh đó, chính sách nông nghiệp của Trung Quốc đã và đang đợc
điều chỉnh trên cơ sở phân bố hợp lý các yếu tố sản xuất nh ruộng đất, sứclao động và tài nguyên thiên nhiên Cụ thể là:
Nhanh chóng chuyển từ phát triển nông nghiệp phi truyền thống, nửabảo hộ sang đẩy mạnh tăng trởng xuất khấu nông sản phẩm, phát triển cótrọng điểm những ngành sản xuất nông nghiệp có lợi thế so sánh, có khảnăng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế nh ngành chăn nuôi, ngành trồng rausạch, trồng cây ăn quả đặc sản, ngành sản xuất nông sản phẩm và ngành chếbiến thực phẩm
Hai là, chuyển phơng thức can thiệp vào sản xuất nông nghiệp của nhànớc từ can thiệp trực tiếp vào thị trờng và giá cả nông sản phẩm sang tăng c-ờng đầu t cho khoa học kỹ thuật và đầu t xây dựng cơ bản trong nông nghiệp[2, 211-128]
Nội dung chủ yếu và trọng tâm nhất của chính sách cải cách mở cửatrong nông nghiệp ở Trung Quốc đó là chính sách “khoán” đến hộ, có nghĩa
là giao hẳn ruộng đất cho nông dân tự do canh tác, tự do chuyển nh ợng, thờihạn giao khoán từ 15 đến 25 năm và có thể gia hạn thêm
Thực hiện chính sách “khoán” sản phẩm đến từng hộ trong nông nghiệpTrung Quốc đã đa nền nông nghiệp của đất nớc này phát triển một cách toàndiện và đáp ứng đợc đầy đủ yêu cầu của một nền nông nghiệp hiện đại nh:Phát triển kinh tế thị trờng nông nghiệp, kéo theo sự tăng cờng đầu t chonông nghiệp của nhà nớc, cũng nh việc áp dụng một cách nhuần nhuyễn,khép kín giữa các ngành nông nghiệp-công nghiệp-thơng nghiệp Do đó,xuất phát từ mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ
đi sâu xem xét chính sách “khoán” và một số vấn đề cơ bản của quá trìnhhiện đại hóa nông nghiệp Trung Quốc từ sau khi thực hiện cải cách mở cửatrong nông nghiệp đến nay
2.2 Nông nghiệp Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay.
2.2.1 Sự ra đời của chế độ khoán và tác động của nó đối với quá trình hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc
Ngay từ giữa những năm 50( XX), khi phong trào hợp tác hoá nôngnghiệp đang đợc tiến hành rầm rộ trên cả nớc ở Trung Quốc , thì hình thứccác gia đình nhận khoán ruộng đất và nhiệm vụ sản xuất từ tổ chức tập thểnông nghiệp đã xuất hiện Đến nửa cuối năm 1956, các vùng nông thônTrung Quốc thuộc tỉnh Quảng Đông, Chiết Giang và một số tỉnh khác đã có