Bản thân tôi là một giáo viên dạy Ngữ văn, trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, tôi rất tâm đắc và có niềm yêu thích, đam mê đặc biệt với cuộc đời, con người và sự nghiệp thơ ca của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN
PHONG VỊ AN NAM TRONG THƠ TẢN ĐÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN
PHONG VỊ AN NAM TRONG THƠ TẢN ĐÀ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHẠM THỊ PHƯƠNG THÁI
Thái Nguyên – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Phương Thái Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN Hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ này, tác giả xin chân thành bày tỏ
lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô giáo trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên đã truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Đặc biệt, với tất cả tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Thị Phương Thái, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu trường THPT Nguyễn Huệ, Đại Từ, Thái Nguyên - nơi tác giả công tác; cùng bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành luận văn nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Yến
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……….……i
LỜI CẢM ƠN……… ………ii
MỤC LỤC………iii
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
4 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 8
7 KẾT CẤU ĐỀ TÀI 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: PHONG VỊ AN NAM TRONG THƠ TẢN ĐÀ QUA CẢNH SẮC THIÊN NHIÊN VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 9
1.1 Tản Đà và sự nghiệp sáng tác……… ……… 9
1.2 Khái lược về “phong vị” và “phong vị” trong thơ ca 11
1.3 Phong vị An Nam trong thơ Tản Đà qua cảnh sắc thiên nhiên 14
1.3.1 Địa danh An Nam 14
1.3.2 Cảnh sắc bốn mùa 21
1.4 Phong vị An Nam trong thơ Tản Đà qua đời sống xã hội 31
1.4.1 Ẩm thực An Nam 31
1.4.2 Phong tục, tập quán 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 47
CHƯƠNG 2: PHONG VỊ AN NAM TRONG THƠ TẢN ĐÀ QUA VĂN HÓA ỨNG XỬ 48
2.1 Bức tranh xã hội An Nam buổi giao thời 48
Trang 62.2 Văn hóa ứng xử của người An Nam 57
2.2.1 Ứng xử với gia đình, người thân 58
2.2.2 Ứng xử với bạn bè……… …59
2.2.3 Ứng xử với xã hội 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84
CHƯƠNG 3: PHONG VỊ AN NAM QUA NGHỆ THUẬT THƠ TẢN ĐÀ 86 3.1 Ngôn ngữ thơ Tản Đà 86
3.1.1 Từ ngữ 86
3.1.2 Cách diễn đạt 92
3.1.3 Giọng điệu 96
3.2 Thể thơ 103
3.2.1 Thể thất ngôn Đường luật 104
3.2.2 Thể lục bát và song thất lục bát 106
3.3 Biểu tượng 115
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 121
KẾT LUẬN 122
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 128
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Tản Đà (1889 - 1939) là gương mặt tiêu biểu của nền văn học Việt Nam giai đoạn giao thời Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông có ảnh hưởng
lớn tới nhiều nhà văn, nhà thơ khác Với vai trò là cầu nối hai thế kỉ thơ văn;
người báo tin xuân cho phong trào Thơ Mới, là nốt nhạc dạo đầu cho thơ ca
Việt Nam hiện đại [44] Tản Đà đã ghi dấu ấn trên thi đàn với một phong cách sáng tác đặc biệt
Sáng tác của Tản Đà rất phong phú (bao gồm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, luận thuyết, du kí), nhưng thơ ca mới là lĩnh vực đưa ông lên vị trí ngôi sao sáng trên thi đàn Việt Nam đầu thế kỉ XX Là nhà nho đi tiên phong trong
việc thay đổi diện mạo của lối thơ cũ, Tản Đà đã thể hiện cái tôi phóng khoáng,
lãng mạn của một hồn thơ tài năng, tâm huyết Mỗi vần thơ của Tản Đà là nỗi niềm chan chứa trong ông Tản Đà làm rung động lòng người bằng những vần thơ tứ nhiều, tràn đầy cảm xúc Chất liệu làm nên thơ ca Tản Đà được chắt lọc
từ chính cuộc sống bản thân, với tất cả cái ngông, cái mộng, cái đa tình và xê dịch đầy bản lĩnh Đồng thời, nó toát lên từ tâm hồn phong phú, nhạy cảm trước những biến đổi tinh vi của thiên nhiên, vũ trụ, con người, bằng cả những trải nghiệm vừa hiện thực, vừa thi vị của cuộc đời thi sĩ
Thơ Tản Đà là thứ thơ có bản sắc riêng, không giống ai Ông là người đặt những viên gạch đầu tiên trong quá trình xây dựng nền văn thơ đầu thế
kỷ Dù chưa phải là một nhà thơ mới, Tản Đà vẫn có những đóng góp đáng kể
cho quá trình cách tân thơ ca Thơ ông vừa có phong vị cổ thi vừa có cảm xúc hiện đại, vừa truyền thống, vừa mới mẻ Tư tưởng đổi mới của ông có ảnh hưởng sâu sắc tới lớp nhà thơ cùng thời và những nhà thơ thế hệ sau
Trang 81.2 Đọc thơ Tản Đà, ta thấy phảng phất màu sắc rất riêng của sông núi, quê hương Với Tản Đà, nơi đâu trên dải đất chữ S ông đã đến, đã qua, cũng là quê hương, xứ sở Ta dễ dàng bắt gặp một nét quê hương, đất nước ngay trên những trang thơ Tản Đà Tất cả như hiện hữu, thân thuộc, gần gũi xiết bao Mỗi đóa hoa, mỗi cánh chim, mỗi dòng sông, bến nước, mỗi khoảng trời đầy sắc xuân hay cái heo may chớm thu đều gợi một ý vị đặc biệt Phải chăng cái bản sắc riêng có của ông đã góp phần làm nên những màu sắc mới lạ, độc đáo mang cốt cách và bản lĩnh An Nam
1.3 Bản thân tôi là một giáo viên dạy Ngữ văn, trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, tôi rất tâm đắc và có niềm yêu thích, đam mê đặc biệt với cuộc đời, con người và sự nghiệp thơ ca của Tản Đà, nhất là mảng thơ ca mang phong vị làng quê của ông Tôi nhận thấy, mỗi tên đất, tên làng, mỗi nét đẹp
ẩm thực, mỗi phong tục, tập quán đậm chất An Nam đều được bộc lộ rõ nét qua thơ ca Tản Đà bằng một giọng điệu và ngôn ngữ vừa quen thuộc, truyền thống, vừa cá tính và hiện đại
Vì những lý do trên, tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu “phong vị An Nam” trong thơ Tản Đà Tuy hiểu biết và năng lực còn nhiều hạn chế, song tôi hi vọng, bằng tấm lòng yêu thơ, ý thức giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, cùng khát khao học hỏi, cá nhân tôi sẽ góp thêm một tiếng nói vào công trình nghiên cứu về thơ ca Tản Đà, để thêm một lần nữa, khẳng định tài năng, phong
cách thơ ca ông
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Có thể nói, trong số các tác giả của văn học Việt Nam hiện đại, Tản Đà
có một vị trí đặc biệt, tầm ảnh hưởng vô cùng sâu sắc, rộng lớn Tản Đà mang dáng dấp của một tâm hồn tài tử, có tư tưởng cách tân, hiện đại hóa táo bạo Cuộc đời, con người và di sản văn học của ông trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học đồ sộ
Trang 9Đã có hàng trăm bài viết, đề tài khoa học, luận văn nghiên cứu, đánh giá về cuộc đời, con người và sự nghiệp thơ văn Tản Đà, có thể kể đến một số bài viết:
Bàn về phong cách nghệ thuật thơ văn Tản Đà [50]; Hình ảnh và nhạc điệu trong thơ Tản Đà [30]; Cảm hứng thế sự trong thơ Tản Đà [2]; Ẩm thực với Tản Đà
[40]; Các kiểu giọng điệu trong thơ Tản Đà [41]; Tình yêu quê hương đất nước
trong thơ Tản Đà [19]; Tính hiện đại và truyền thống trong thơ Tản Đà [53]; Thơ chơi của Tản Đà từ góc nhìn tư duy nghệ thuật [20]; Hình ảnh con đường trong thơ Tản Đà [14]; Quan niệm văn chương của Tản Đà [48]
Như vậy, cuộc đời, con người và sự nghiệp thơ văn của Tản Đà là địa hạt quan trọng, thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả Không thể thống
kê trọn vẹn và đầy đủ các bài viết, công trình nghiên cứu lớn, nhỏ về Tản Đà, đặc biệt là về sự nghiệp thơ văn của ông; Song có thể nhận thấy điểm chung trong hầu hết các bài viết là sự đánh giá và ghi nhận những nét phẩm chất cao quý trong con người Tản Đà, giá trị văn chương đặc sắc, cũng như những đóng góp to lớn của ông cho quá trình hiện đại hóa văn học nói riêng, cho nền văn học dân tộc nói chung
Nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Diễm trong bài viết Địa vị thi ca Tản Đà
với nền văn chương nước nhà nhận định: “Về phần tư tưởng, thơ ca của Tản
Đà rất mực phong phú Là một nhà Nho, tuy lỡ thời nhưng vì đã hấp thụ những
tư tưởng duy tân của Đông kinh Nghĩa thục, của Lương Khải Siêu cũng như tư tưởng của một số nhà văn cách mạng Pháp Tiên sinh luôn tỏ ra thiết tha với
sự văn minh, tiến bộ Cũng vì Tiên sinh là môn đệ của Nho giáo nên Tiên sinh
ôm ấp chủ trương đem hết tài lực ra để làm công việc ích quốc lợi dân, dẫn con người vào đường lương thiện, ngõ hầu làm tròn cái sứ mệnh hành đạo của
mình ” [32, tr.727]
Trong bài Cung chiêu anh hồn Tản Đà, Hoài Thanh khẳng định: “Tiên
sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp
Trang 10sửa Với chúng tôi, tiên sinh vẫn là một bậc đàn anh Tiên sinh còn giữ được của thời trước cái phong thái vững vàng, cái cốt cách ung dung Tiên sinh đã đi qua giữa cái hỗn độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20 với tấm lòng bình thản của một người thời trước Những cảnh éo le thường phô bày ra trước mặt không làm bợn được linh hồn cao khiết của tiên sinh Cái dáng điệu ngang tàng chúng tôi thường thấy ở các nhà thơ xưa, ở tiên sinh không có vẻ vay mượn Cái buồn chán của tiên sinh cũng là cái buồn chán của một người trượng phu…” [44, tr.11] Cho dù cái không khí khai hội Tao Đàn có náo nhiệt đến đâu thì cũng không vì thế mà Hoài Thanh quá cao hứng để dành cho Tản Đà những lời khen
tặng danh giá nhất, gọi ông là con người của hai thế kỷ và trích đăng tới hai bài thơ của Tản Đà để mở màn cho Hội Tao Đàn Thơ Mới, đó là bài Thề non
nước và bài Tống biệt! Quả là Hoài Thanh có “con mắt xanh” khi đánh giá thơ
Tản Đà
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương trong bài viết Tính dân tộc và tính
hiện đại, truyền thống và cách tân qua nhà thơ Tản Đà, nhận định: “Nhìn tổng
quát, Tản Đà đã nối tiếp loạt chủ đề, đề tài truyền thống, đồng thời mở rộng ra, đưa thêm vào đó những tình huống mới, những sắc thái mới và luôn luôn tìm
ra một cách nói mới, vừa có sự gần gũi với các tác giả nổi danh trong truyền
thống, nhưng cũng phát hiện nhiều giọng điệu, sắc thái cách tân” [53]
Nhà nghiên cứu Trương Tửu từng nhận định: “Tản Đà điều khiển cái máy từ ngữ Việt Nam với một tự chủ đứng trên tất cả các lời khen Tiên sinh hiểu kĩ then chốt bí mật của nó, hơn tất cả các thi sĩ hiện đại Thơ Tản Đà là một toán pháp mà con số là những chữ hình tượng và âm điệu Trong thơ Tản
Đà, có nhiều chữ mà tôi muốn gọi là chữ thần Những chữ đó là thần lực của
bài thơ” [43]
Về vấn đề ẩm thực của Tản Đà, tác giả Hồ Sỹ Tá, trên báo Dulich.net.vn viết: “Nói đến sự ăn, đối với Tản Ðà không phải là gặp sao ăn vậy như ta vẫn
Trang 11làm Ông không những đã nâng ăn lên thành nghệ thuật mà còn kèm theo triết lý
“Ăn là cả một nghệ thuật, mà nghệ thuật ăn nhiều khi lại khó hơn nghệ thuật viết văn” Ngoài việc viết văn ông luôn nghĩ cách chế biến, gia giảm thế nào cho các món ăn được tinh xảo hơn” [40] Bài viết kể lại một số giai thoại về chuyện ẩm thực của thi sĩ Tản Đà, từ đó, giúp độc giả làm phong phú thêm hương vị cuộc sống và cũng hiểu sâu thêm “cái sự ăn” của các cụ ta xưa
Bàn về ngôn ngữ trong thơ Tản Đà, tác giả Nguyễn Thị Thủy trong đề
tài nghiên cứu Phong cách thơ Tản Đà, nhấn mạnh: “Trong thơ Tản Đà, ngôn
ngữ dân tộc, giọng điệu dân tộc được thể hiện đậm nét Nhà thơ dùng nhiều từ
đa nghĩa, phát huy nhạc tính, âm điệu của ca dao tạo thành những tác phẩm đỉnh cao nghệ thuật Tản Đà đã kết hợp được hai nền văn chương bác học và bình dân, tạo nên nét hấp dẫn riêng biệt Ông là cây bút vừa hiện thực vừa lãng mạn” [50]
Nói về tính giao thời trong thơ Tản Đà, tác giả Nguyễn Thị Ly A nhấn mạnh: “Là nhà thơ trưởng thành trong buổi giao thời, Tản Đà chịu không ít những chi phối của hoàn cảnh xã hội Vì thế trong thơ ông đã có những biểu hiện rõ rệt của tính giao thời Trong sáng tác của mình, Tản Đà đã thể hiện cùng lúc hai yếu tố cũ và mới, cổ điển và hiện đại, Đông và Tây Điều đó được thể hiện ở hai khía cạnh: nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Sự kết hợp nhuần nhuyễn ấy đã làm nên phong cách Tản Đà” [1]
Điểm qua một vài bài viết và công trình nghiên cứu về Tản Đà cũng như
sự nghiệp thơ văn của ông để khẳng định thêm tầm ảnh hưởng và sức sống lâu bền của một đời người, một đời thơ đến nền văn học hiện đại của dân tộc Có thể thấy hầu hết các bài viết trên đều khẳng định vị trí tiên phong của Tản Đà trong nền văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, cũng như tầm ảnh hưởng của ông tới thi pháp sáng tác của các tác giả khác Mặc dù nhận định Tản Đà là nhà cách tân, người dẫn đầu trong xu thế cái mới lạ, độc đáo, nhưng các nhà
Trang 12nghiên cứu không thể phủ nhận thơ văn Tản Đà vẫn kế thừa một cách sâu sắc những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, từ nội dung cảm hứng đến đề tài, thi liệu
Tuy vậy chúng tôi nhận thấy, các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến một vài biểu hiện của màu sắc An Nam trong thơ Tản Đà một cách mờ nhạt, còn rất chung chung, chưa thành hệ thống Bởi vậy, trong khuôn khổ của luận văn khoa học này, chúng tôi mong muốn được đi sâu tìm hiểu thêm về
Tản Đà và vấn đề phong vị An Nam trong thơ ông, với hi vọng sẽ góp thêm
một góc nhìn về giá trị phong phú, đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật thơ văn Tản Đà
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Phong vị An Nam trong thơ Tản Đà Các biểu hiện của phong vị An Nam trong thơ Tản Đà trên các phương diện:
Về nội dung: làm rõ biểu hiện của phong vị An Nam qua địa danh đất Việt, cảnh sắc bốn mùa, nét văn hóa ẩm thực, phong tục tập quán, lối giao tiếp, ứng xử của người An Nam với bạn bè, gia đình và xã hội
Về nghệ thuật: Phong vị An Nam biểu hiện qua ngôn ngữ thơ và thể thơ
3.2 Phạm vi nghiên cứu: “Tuyển tập Tản Đà” (Nhà xuất bản Hội nhà văn, HN
2001); “Tản Đà vận văn” toàn tập (NXB Hương Sơn, 1949) Trong đó, đặc biệt chú ý mảng thơ viết về quê hương đất nước, cảnh sắc thiên nhiên và tâm tình làng
quê của tác giả
4 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đi
sâu tìm hiểu phong vị An Nam trong thơ Tản Đà; Từ đó làm nổi bật màu sắc dân
tộc, bản sắc An Nam qua cảnh sắc thiên nhiên, phong tục tập quán, lối giao tiếp,
ứng xử của người An Nam và ngôn ngữ, thể loại thơ của tác giả
Trang 134.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Sưu tầm, tổng hợp tư liệu tham khảo; thu thập các ngữ liệu phục vụ quá trình nghiên cứu
+ Phân tích, so sánh làm nổi bật các biểu hiện của phong vị An Nam trong thơ Tản Đà
+ Qua kết quả nghiên cứu, giúp người đọc hiểu sâu sắc thêm về đặc điểm nội dung, nghệ thuật và phong cách thơ Tản Đà
+ Giúp bản thân và người đọc bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa dân tộc
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
5.1 Nghiên cứu liên ngành
Đặt vấn đề phong vị An Nam trong thơ Tản Đà trong mối quan hệ liên
ngành với các lĩnh vực khác như: lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, ẩm thực của người Việt
5.2 Nghiên cứu dưới góc nhìn văn hóa
Tôi áp dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu, nhằm khai thác một cách toàn diện các biểu hiện của phong vị An Nam trong thơ Tản Đà
5.3 Thống kê, phân loại
Tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát một cách đầy đủ, hệ thống các ngữ liệu liên quan đến biểu hiện của phong vị An Nam trong thơ Tản Đà
5.4 Phân tích, tổng hợp
Trang 14Từ những ngữ liệu thu thập, được thống kê và phân loại, tôi tiến hành phân tích, tổng hợp và rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu
5.5 So sánh, đối chiếu
Tôi sử dụng phương pháp này để mở rộng vấn đề nghiên cứu, đặt những biểu hiện của phong vị An Nam trong thơ Tản Đà bên cạnh màu sắc dân tộc trong thơ văn của những tác giả khác Từ đó, giúp người đọc thấy được vị trí, vai trò và đóng góp của Tản Đà trong nền văn hóa, văn học dân tộc
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng, thêm một lần nữa khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo - một phương diện trong đặc điểm sáng tác thơ của Tản Đà, đặc biệt là mảng thơ trữ tình viết về quê hương đất nước
và tâm tình làng quê Qua đó, góp phần thiết thực trong công tác giảng dạy của
cá nhân và đồng nghiệp tại các nhà trường phổ thông
Chương 1: Phong vị An Nam qua cảnh sắc thiên nhiên và đời sống xã hội
Chương 2: Phong vị An Nam qua văn hóa ứng xử
Chương 3: Phong vị An Nam qua nghệ thuật thơ
Phần kết luận
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1: PHONG VỊ AN NAM TRONG THƠ TẢN ĐÀ
QUA CẢNH SẮC THIÊN NHIÊN VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1.1 Tản Đà và sự nghiệp sáng tác
Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu (1889 - 1939), người làng Khê Thượng, xã Sơn Đà (Ba Vì, Hà Tây, nay là Hà Nội) Trong nền văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn giao thời, Tản Đà là một hiện tượng đặc biệt Thuở nhỏ, Tản Đà từng theo học chữ Nho, bởi vậy, ông mang tâm tư và thần thái của một nhà Nho nặng lòng với đất nước Trước luồng văn hóa phương Tây ồ ạt Trong bối cảnh đất nước nhiều dâu bể biến thiên, Tản Đà không tránh khỏi cảm giác buồn chán,
cô đơn, tuy nhiên, cái buồn đó ở ông không hề bi lụy, không đối lập lại với thực tại, ngược lại đó là nỗi buồn nhập thế, ông trải lòng mình với tất cả mọi biến thái tinh vi của con người và cuộc đời Khác với hầu hết những nhà nho xưa, Tản Đà không chọn con đường an hưởng cảnh nhàn hay làm ngơ trước sự đời giả dối, lật lọng Ở ông có một cá tính độc đáo, ông thả hồn mình trong “giấc mộng con”, “giấc mộng lớn”, làm một cuộc viễn du vòng quanh thế giới để tìm hiểu tận cội rễ cái mới mẻ của nền tân học Tản Đà đã làm một cuộc cách mạng trong tâm hồn, tư tưởng liền biến đổi, thu ngắn khoảng cách trước bước tiến của lớp trẻ; tiếng lòng thi nhân được diễn đạt thành tiếng tơ réo rắt giữa cái tân
kì của lớp người mới [35, tr 131]
Nói đến phong cách thơ của Tản Đà, ta thường nói nhiều đến cái “say”, cái “mộng” và cái “ngông” Với những bài thơ có tư tưởng cách tân, vượt ra ngoài lối thơ niêm luật gò bó, Tản Đà được coi là người mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện đại Thơ ông thể hiện lòng yêu nước kín đáo mà sâu sắc, nồng nàn, thấm đượm phong vị làng quê
Trang 16Tác giả Kiều Thu Hoạch trong bài viết “Tản Đà, người mở đầu thơ Việt
Nam hiện đại” có viết: “Tác phẩm đầu tiên của Tản Đà được công bố trước
công chúng là những bài tản văn đăng ở tạp chí Đông Dương năm 1915 Ngay
từ đó, thơ Tản Đà đã trở nên nổi tiếng, đến mức Đông Dương tạp chí phải mở
riêng một mục Tản Đà văn tập chuyên đăng tải văn của ông Tòa soạn đã ghi
nhận xét rằng: Bản quán duyệt qua tập văn ấy thì thấy ông Nguyễn Khắc Hiếu cũng là một văn sĩ có biệt tài, có lý tưởng riêng, ngắm cảnh vật một cách kì khôi, lạ thay cho một bậc thiếu niên!” [35]
Đời người và đời thơ Tản Đà không dài nhưng có thể thấy, kể từ khi cho
ra đời những tác phẩm đầu tay, đến khi từ biệt trần thế, Tản Đà sáng tác liên tục, không mệt mỏi, với một khối lượng tác phẩm đồ sộ, có giá trị đặc sắc ở nhiều thể loại như thơ, văn, ca kịch, truyện, dân ca, từ khúc, diễn ca Có thể
điểm qua một số tác phẩm tiêu biểu của thi sĩ: văn Giấc mộng con I (1917),
Giấc mộng con II (1932), Giấc mộng lớn (1932), Thề non nước (1922), Tản Đà văn tập (1932), thơ Khối tình con I (1916), Khối tình con II (1918), Tản Đà xuân sắc (1918), Khối tình con III (1932), kịch Tây Thi (1922), Tống biệt (1922), dịch thuật: Liêu trai chí dị (1934), nghiên cứu Vương Thuý Kiều chú giải (1938) và nhiều bài báo khác
Thơ văn Tản Đà vừa giàu giá trị hiện thực, vừa chan chứa tình cảm nhân đạo chủ nghĩa, thể hiện niềm cảm thương sâu sắc với nỗi thống khổ của nhân dân ta dưới gót giày thực dân Tất cả được thể hiện bằng lối văn giàu nghệ thuật với nhiều sáng tạo mới lạ, ngôn ngữ thơ giản dị mà trong sáng, gợi cảm, hết sức điêu luyện, sắc sảo, mang bản lĩnh và bản sắc riêng của tác giả
Bởi những đóng góp không thể phủ nhận cho nền văn học nước nhà giai đoạn giao thời, Tản Đà xứng đáng được tôn vinh là nhà thơ, nhà văn của hai thế kỉ, người mở đầu cho văn học Việt Nam hiện đại, có tầm ảnh hưởng vô
Trang 17cùng sâu sắc và to lớn đối với lớp nhà văn đương thời và hậu thế Nhiều văn sĩ như Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Tú Mỡ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Triệu Luật (nhà viết tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng) đều thừa nhận mình chịu ảnh hưởng nhiều
từ Tản Đà [35, tr 151] “Cơn gió lạ Tản Đà” [53] thực sự đã mang đến cho thi đàn văn học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX một không khí tươi mới, giàu sức sống
1.2 Khái lược về “phong vị” và “phong vị” trong thơ ca
“Phong vị” (風味)vốn là một từ Hán Việt Theo Từ điển của tác giả
Nguyễn Quốc Hùng, “phong vị” chỉ sự thích thú và ý nghĩa cao đẹp của một sự việc nào đó Truyện “Hoa Tiên” có câu: “Nói chi phong vị lâu đài, vả trong
khách huống lữ hoài biết sao” Trong trường hợp khác, “phong” được hiểu là
gió; “vị” là mùi, mùi thơm: “Nam Trung quất cam, thái chi phong vị chiếu toạ”
(Nam trung quýt ngọt, hái xuống hương thơm ngào ngạt cả chỗ ngồi ) “Phong
vị” lại có nghĩa người phong lưu học thức rộng Tống thơ: “Bá Ngọc ôn nhã
hữu phong vị, hòa nhi năng biện, dự nhân cộng sự giai vi thâm giao”(Bá Ngọc
người ôn hòa, thanh nhã, có phong vị, người hòa nhã có tài biện luận, cùng
cộng sự với ai đều trở nên thâm giao cả) [56]
Theo từ điển Tiếng Việt [51]“phong vị” là nét sắc thái riêng, đặc sắc, có
thể cảm nhận được, ví dụ “phong vị làng quê”, “phong vị Tết cổ truyền”, “phong
vị ca dao” [51, tr.783] Từ đó, có thể hiểu: “phong vị” là màu sắc, dáng vẻ, hương
vị độc đáo, khác lạ, tạo thành bản sắc của một đối tượng nào đó
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn cách định nghĩa theo Từ điển Tiếng Việt [51] để lý giải và bàn luận về “phong vị” trong sáng tác của các tác giả văn học, đặc biệt là “phong vị An Nam” trong thơ ca Tản Đà
Văn học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX phát triển trong sự kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của văn học dân tộc, đồng thời các tác giả
Trang 18chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây đã tìm cho mình một phương thức sáng tác mới lạ khi chuyển tải những đề tài xưa cũ Trong cuộc cách tân ấy, mỗi tác giả lại lựa chọn một phương thức diễn đạt, một giọng điệu riêng, tạo
nên bản sắc của mỗi người Phan Bội Châu - lãnh tụ của phong trào Duy tân có
những trang thơ văn yêu nước cùng những cách tân văn chương độc đáo, đã trở thành khuôn thước cho một giai đoạn sáng tác Các nhà thơ khác như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà, lại lựa chọn thơ trào phúng cùng những hình thức biểu hiện mới để dự góp vào sự phát triển của nền văn học nghệ thuật nước nhà trong bối cảnh xã hội mới Họ thực sự đã làm một cuộc cách tân trong thơ ca, tạo tiền đề cho sự phát triển như vũ bão của phong trào Thơ Mới đầu thế kỉ XX với những tên tuổi nổi danh như: Xuân Diệu, Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên Song, điều đáng nói, cho dù lựa chọn hình thức diễn đạt mới mẻ, khác lạ như thế nào thì mỗi nhà thơ đều có ý thức gìn giữ “phong vị” dân tộc - điều làm nên bản sắc riêng
có của quê hương xứ sở
Trong thơ ca truyền thống từ cổ chí kim, “phong vị” dân tộc được thể hiện rất rõ trong sáng tác của nhiều nhà thơ như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tản Đà hay Tố Hữu
Tác giả Nguyễn Khuyến, người được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, nổi tiếng với nhiều bài thơ thấm đẫm phong vị quê hương, xứ sở,
đặc biệt là chùm thơ thu ba bài Thu điếu (Mùa thu câu cá), Thu ẩm (Thu uống rượu), Thu vịnh (Vịnh thu) Màu sắc làng quê đồng bằng Bắc Bộ hiện lên mộc
mạc, chân thực, sinh động, rất đỗi quen thuộc qua hình ảnh: ao thu, chiếc thuyền câu bé tẻo teo, ngõ trúc quanh co Người đọc ấn tượng với màu xanh rợn ngợp (xanh nước, xanh trời, xanh lá, xanh bèo, xanh trúc, ), điểm vào đó là sắc
vàng của chiếc lá thu rơi (Thu điếu) Đó là “Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt/
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” (Thu ẩm); là bầu trời thu cao rộng thăm thẳm:
Trang 19Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao/ Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu (Thu vịnh) Khung
cảnh làng quê hiện lên với những nét chấm phá thực đơn giản mà hài hòa, toàn bích; từ đường nét, hình ảnh, màu sắc, âm thanh đều sinh động, giàu sức sống, gần gũi với mỗi người thôn quê Trên nền không gian ấy, con người xuất hiện với nỗi niềm thế sự Cảnh thu đẹp nhưng buồn Song điều đáng nói, nỗi buồn
ấy không bi lụy, sầu thảm, ngược lại, đó là nỗi buồn của một con người có trí tuệ, nhân cách và phẩm chất cao đẹp Cảnh thu và tình thu ấy là đặc trưng riêng
có của xứ An Nam ta
Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta cũng bắt gặp phong vị làng quê qua những hình ảnh đời thường, gần gũi Vốn là một nhà nho, sống giữa thời loạn lạc, chứng kiến những giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn, Nguyễn Bỉnh Khiêm lựa chọn cuộc sống nơi điền viên sơn thủy, thuận theo tự nhiên và gắn
bó với tự nhiên Đó là không gian sinh hoạt làng quê với những công việc lao
động hằng ngày: Một mai, một cuốc, một cần câu; những món ăn bình dị nhưng không kém phần thanh cao: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá; những thú vui không thể tìm thấy ở chốn phồn hoa, bon chen: Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
(“Nhàn”) Trở về với thôn quê cũng chính là sự lựa chọn cách sống gạn đục, khơi trong; chọn lối sống nhàn để lánh xa những ô hợp Đó là thái độ xử thế cầu nhàn, không cầu danh lợi, thể hiện sâu sắc triết lý sống: vinh hoa phú quý chỉ là phù du, mộng ảo; rời xa chốn hư danh, giữ khí tiết trong sạch, đó mới là bậc đại tài, đại trí, đại nghĩa
Tố Hữu là nhà thơ trữ tình cách mạng Thơ ông là cuốn “biên niên sử” ghi lại những chặng đường cách mạng của đất nước Điều khiến chúng ta ấn tượng trong phong cách sáng tác của Tố Hữu là tính dân tộc đậm đà, thấm nhuần trong thơ ông Có thể thấy rõ điều đó trong hầu hết tác phẩm của Tố Hữu, đặc biệt là bài thơ “Việt Bắc” “Việt Bắc” là nỗi nhớ dài, nhớ cảnh, nhớ người, nhớ chiến khu, nhớ những kỉ niệm kháng chiến Nỗi nhớ ấy xuất phát
Trang 20từ lối sống nghĩa tình của người Việt Nam ta từ bao đời nay Những tên đất, tên làng gắn bó máu thịt với con người kháng chiến, trở thành tình cảm thiêng liêng với quê hương, đất nước, con người Việt Nam:
Nhớ gì như nhớ người yêu, Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương, Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Ta bắt gặp tình cảm ấy trong thơ ca truyền thống, trong ca dao dân ca, tất cả như quen như lạ, vô cùng gần gũi, thân thuộc
Màu sắc dân gian trong “Việt Bắc” của Tố Hữu còn được biểu hiện ở thể thơ lục bát 6/8 thuần dân tộc, cùng lối kết cấu đối đáp, giao duyên thường thấy
trong ca dao, dân ca; cách dùng đại từ xưng hô mình - ta tạo cảm giác vừa gần
gũi, vừa trang trọng; đặc biệt là âm điệu ngọt ngào, trữ tình, tha thiết, quyến luyến, đưa người đọc vào thế giới của những kỉ niệm Chính phong vị dân tộc
đó đã làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm trong lòng người đọc Việt Nam bao thế hệ
Riêng về Tản Đà, có thể thấy gia tài văn chương đồ sộ của thi sĩ thấm
đượm phong vị An Nam Nói phong vị An Nam trong thơ Tản Đà là nói đến
hương vị, màu sắc riêng biệt, độc đáo, riêng có của xứ An Nam được Tản Đà
mô tả, phân biệt với các không gian, vùng miền, khu vực khác Phong vị ấy được thể hiện qua bức tranh thiên nhiên và đời sống xã hội; qua văn hóa ứng
xử của con người An Nam, đặc biệt là qua nghệ thuật thơ ca Tản Đà
1.3 Phong vị An Nam trong thơ Tản Đà qua cảnh sắc thiên nhiên
1.3.1 Địa danh An Nam
Trang 21Nước Nam ta trải dài theo địa hình chữ S, ẩn giấu bao điều kì diệu Được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu ôn hòa, ta có đất liền, có biển đảo, có sông ngòi và đồi núi bao quanh Trong thơ văn Tản Đà, không khó để nhận thấy, các địa danh đất Việt được nhắc đến rất nhiều Có thể liệt kê những địa danh quen thuộc: Hòa Bình, Yên Bái, Ba Đình, Tây Hồ, Hòn Gai (Quảng Ninh) Đồng Sành (Hải Phòng), Ninh Bình, Hàm Rồng (Thanh Hóa), Nghệ An, Hương Tích (Hà Tĩnh), Hải Vân, Huế, Sài Gòn, Chợ Lớn, Nha Trang, Phú Yên, Long Xuyên, Mỗi địa danh nơi ông đi qua lại mang một đặc trưng khác biệt về thiên nhiên, ẩm thực và con người Tất cả góp phần làm sinh động, phong phú
thêm vẻ đẹp đa dạng của non sông gấm vóc
Từ Bắc vào Nam, mỗi dải đất non sông hiện diện trong thơ Tản Đà đều
để lại trong lòng du khách những ấn tượng đặc biệt về cảnh non nước vừa hùng
vĩ vừa thơ mộng, hữu tình
Trước hết là miền quê Bắc bộ: Tản Đà sinh ra bên núi Tản, sông Đà
hùng vĩ, bút danh Tản Đà mà ông lựa chọn ấp ủ khát vọng và tình yêu quê hương đất nước:
để lại sự nghiệp, tên tuổi cho đời
Ông đã đi khắp đất nước, nhưng sông núi quê hương vẫn là nơi ông luôn muốn trở về:
Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay,
Trang 22Gió đưa người cũ lại về đây
Ba Vì Tây Lĩnh non thêm trẻ, Một dải thu giang, nước vẫn đầy
(Về quê cảm tác)
Có thể nói, núi Tản sông Đà thường trực trong thi sĩ, là tâm hồn và cơ thể ông:
Mạch nước sông Đà tim róc rách,
Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ
(Ngày xuân thơ rượu)
Đứng trước sông núi quê hương, mảnh đất gắn bó như máu thịt cuộc đời, Tản Đà không khỏi xao xuyến, bùi ngùi xúc động Trong mạch thơ về quê hương, đất nước, sự hùng vĩ, khoáng đạt của thiên nhiên đã gợi cảm hứng cho thi sĩ, hay chính chất phóng túng, tài hoa của thi sĩ làm cho cảnh sắc thiên nhiên thêm phần kì vĩ, ấn tượng:
Con đường vô hạn, khách đông tây,
Ta nhớ ai mà đứng mãi đây?
Nước rợn sông Đà con cá nhẩy,
Mây trùm non Tản cái diều bay
(Quê nhà chơi mát cảm hứng)
Khung cảnh quê hương được gợi lên từ nỗi nhớ da diết và cảm xúc bâng
khuâng khi gặp lại sau mười ba năm Tản Đà lang thang bầu rượu túi thơ, chu
du thiên hạ:
Mười ba năm đó bao dâu bể, Góp lại canh trường một cuộc say!
(Về quê cảm tác)
Trang 23Vẫn cảnh cũ, người xưa, vẫn núi non hùng vĩ, trùng điệp, vẫn dòng Đà giang ăm ắp nhớ thương, sau bao năm gặp lại cảm xúc vẫn vẹn nguyên, vẫn say sưa không tưởng Phải chăng, chính tấm lòng gắn bó với thiên nhiên, đất trời
đã làm nên nguồn cảm hứng bất tận trước vẻ đẹp của non sông gấm vóc ở Tản
Đà Vẻ đẹp ấy gắn với chất hùng vĩ, phóng khoáng trong thơ Tản Đà, qua đó
gửi gắm ước mơ bay bỏng, khát vọng giải phóng cá nhân, giải phóng cái Tôi
đầy ý thức:
Gió hỡi gió phong trần ta đã chán, Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong
(Hỏi gió) Trở lên vùng Tây Bắc Tổ quốc, có dịp ghé chơi Hòa Bình, nhìn ngắm
phong cảnh nên thơ, thi nhân tức cảnh sinh tình:
Non Tượng giời cho bao tuổi lẻ?
Sông Đà ai vặn một dòng quanh?
Lơ thơ hàng phố mươi nhà đỏ, Phấp phới cô nàng chiếc váy xanh
(Chơi Hòa Bình)
Tản Đà đứng trên núi Tản Viên nhìn xuống và bắt gặp cảnh: Sông Đà ai
vặn một dòng quanh Dòng sông tự vặn mình để ôm quanh núi, lưu giữ một
mối tình ngang trái Đà giang phần trung lưu và hạ lưu, tự chuyển mình, mềm như một dải lụa Trong cảm hứng bất tận của thi nhân, xứ Hòa Bình - một phần máu thịt của giang sơn đất nước được điểm tô bởi núi Tượng, sông Đà Một nét rất riêng, rất Tây Bắc nhưng dường như lại quen thuộc quá đỗi khi nó hiện lên trong con mắt đắm say của thi sĩ
Trang 24Những địa danh ở miền Trung bộ cũng hiện diện trong thơ Tản Đà
Nhiều dịp ghé thăm dải đất miền trung cát trắng nắng vàng, Tản Đà dừng chân tại Thanh Hóa, đến với con sông Mã anh hùng, ngày đêm cuộn chảy hùng vĩ, nơi có cây cầu Hàm Rồng án ngữ Hơn một thế kỉ trôi qua, Hàm Rồng vẫn kiêu hãnh cùng non sông trong những vần thơ của thi sĩ:
Hàm Rồng nay lại qua Thanh, Dưới cầu nước biếc in hình thi nhân
Người đâu sương tuyết phong trần, Non xanh nước biếc bao lần vãng lai
Dư đồ còn đó chưa phai,
Còn non, còn nước, còn người nước non
(Qua cầu Hàm Rồng)
Ở một bài thơ khác, Tản Đà cũng không giấu nổi niềm xúc động khi gặp lại cầu Hàm Rồng Hàm Rồng được nhân hóa như một tình nhân, một cố nhân mang tình sâu nghĩa nặng:
Ai xui ta nhớ Hàm Rồng, Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây, Lấy ai viếng cảnh bây giờ,
Mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!
(Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng)
Chỉ còn biết thổ lộ niềm ước mong của mình, “ước sao” cảnh Hàm Rồng không biến đổi trong dòng chảy thời gian, trong bể dâu cuộc đời; sông Mã “cứ còn sâu”; núi Ngọc Sơn “còn cứ giữ màu xanh xanh”, cầu Hàm Rồng “còn cứ
Trang 25như tranh” bền đẹp mãi mãi Cuộc sống vẫn nhộn nhịp, trên cầu, dưới sông, vạn vật náo nức, tràn đầy sức sống:
“Khung cầu còn cứ như tranh, Hỏa xa cứ chạy, bộ hành cứ đi
Xuân sang cỏ cứ xanh rì, Thuyền ai chài lưới con chì cứ tung”
(Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng)
Hàm Rồng mãi vững bền, trường tồn, hữu tình, xinh đẹp, nên thơ Có yêu thương, quý mến Hàm Rồng nồng nàn, da diết, mới có niềm mong ước ấy Tạm biệt Hàm Rồng, hẹn ngày tái ngộ tương phùng, Hàm Rồng “đợi ta”, hãy
“giữ nguyên phong cảnh” Nhớ cảnh Hàm Rồng là bài thơ lục bát kiệt tác của
Tản Đà Cảm hứng từ một địa danh cụ thể, nhưng có sức khái quát và lan tỏa, trở thành cảm xúc về quê hương đất nước, thể hiện hồn thơ lãng mạn, tài hoa,
đa tình của Tản Đà thi sĩ Đó là bài ca quê hương, thắm tình non nước
Trên hành trình khám phá non sông đất nước, thi sĩ Tản Đà đưa bước chân du khách đến với Hà Tĩnh, ghé thăm chùa Hương Tích Đây là ngôi
chùa cổ, có danh hiệu Hoan Châu đệ nhất danh thắng, xếp vào hàng 21 thắng
cảnh nước Nam xưa kia Chùa nằm ở độ cao 650 m so với mặt nước biển, tọa lạc trên lưng chừng đỉnh Hương Tích, một trong những ngọn núi đẹp nhất của dãy núi Hồng Lĩnh thuộc xã ThiênLộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh [56] Trong một lần dừng chân bên ngôi chùa nổi tiếng này, Tản Đà thốt lên kinh ngạc:
Chùa Hương giời điểm lại giời tô, Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại xuân đi không dấu vết,
Trang 26Ai về ai nhớ vẫn thơm tho
Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt
(Chơi Chùa Hương Tích)
Bàn tay tạo hóa quả khéo léo, mang bao tinh túy đất trời điểm tô cho vạn vật tự nhiên Bức tranh sơn thủy hữu tình trải qua bao thời gian, thậm chí là biến cố, nhưng điều đáng ngưỡng mộ là Chùa Hương Tích vẫn giữ được những nét vừa cổ kính, linh thiêng, vừa nên thơ nên họa
Trong một dịp Chơi Huế, Tản Đà dừng xe trên đỉnh đèo Ngang và ngắm
nhìn vẻ đẹp hùng vĩ của sông núi quê hương:
Dừng xe trên đỉnh ta trông, Mặt ngoài bể nước, bên trong núi rừng
Nước xuân sóng lục vô chừng,
“Lục ba xuân thuỷ” ai từng học chưa?
Trang 27Huế tự ngàn đời nay vẫn vậy, như một nàng thiếu nữ mơ màng, khi thì bẽn lẽn làm duyên, lúc lại kiêu sa, đài các Mẹ thiên nhiên ưu ái, ban tặng cho
Huế bao tinh túy Bức tranh họa đồ, sơn thủy hữu tình làm nức lòng du khách ghé thăm vào một buổi chiều xuân êm ả như ru Có lẽ, hình ảnh dòng sông
trắng, lá cây xanh sẽ mãi in đậm trong tâm trí những người từng yêu và gắn bó
với Huế
Xuôi về phương Nam, ta thêm ấn tượng với mỗi tên đất, tên miền, nào
là Bình Định, Phú Yên, Nha Trang, Sài Gòn, Long Xuyên, gắn với những nét độc đáo trong cảnh vật và ẩm thực (chén mắm - Long Xuyên; cá tra - Sài Gòn; hát tuồng - Bình Định; ), góp phần tạo ra đặc trưng cho mỗi vùng miền, đồng thời làm phong phú đa dạng thêm bản sắc văn hóa dân tộc
Như vậy, suốt chiều dài không gian đất nước từ Bắc chí Nam, cảnh đẹp núi sông tãi ra trên mỗi cung đường, trong mỗi bức tranh thủy mặc Bên cạnh nét đẹp hùng vĩ, tráng lệ, thiên nhiên đất Việt còn nổi tiếng với vẻ đẹp trữ tình, nên thơ Có khi là một địa danh cụ thể, có khi chỉ phiếm định, nhưng đọc thơ Tản Đà, mỗi người như được khơi lại nỗi niềm thương nhớ quê hương xứ sở Một nhịp cầu, một màu sơn, một con thuyền đánh cá, một nét non xanh, cỏ
dại đều mang theo một nỗi nhớ quê hương thường trực Trong cảm hứng bất
tận của trái tim thi sĩ giàu cảm xúc, mỗi tên đất, tên làng đều gần gũi, mến thương, gợi nỗi niềm hoài cảm Phải chăng, chính tình yêu quê hương đất nước
và khao khát khám phá, thưởng ngoạn đã giúp Tản Đà có được những vần thơ
về địa danh đất Việt sống mãi với thời gian
1.3.2 Cảnh sắc bốn mùa
Lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới nhưng khí hậu lại phân
bố thành các vùng riêng biệt Miền Bắc gồm bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Miền Nam thường có hai mùa: mùa mưa và mùa khô Sự đa dạng của khí hậu
đã tạo ra sự phong phú, độc đáo của cảnh sắc thiên nhiên nước Nam ta Không
Trang 28biết tự bao giờ, vẻ đẹp bốn mùa đã đi vào thơ ca, nhạc, họa với đầy đủ những những nét tinh túy nhất
Khi tìm hiểu cảnh sắc bốn mùa An Nam trong thơ Tản Đà, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 376 bài thơ của ông, kết quả thu được, có tới 65 bài thơ tả mùa, cụ thể: 40 bài viết về mùa xuân, 3 bài viết về mùa hạ, 20 bài viết về mùa thu và 2 bài viết về mùa đông [Phụ lục 1]
Trong thơ Tản Đà, mỗi nét quê đều được trải dài trong sắc xuân, hơi thu, trên không gian của đồng ruộng, cánh cò, của dòng sông, bến nước, cánh bèo, của cánh diều, của bóng nhạn, bóng hạc hay bóng trăng thu Một tiếng ếch kêu, một tiếng cuốc gọi cũng đau đáu một nỗi niềm quê hương đất nước Điều đó lý giải vì sao, trong nhiều bài thơ của Tản Đà, không có câu thơ tả mùa nào nhưng người đọc vẫn nhận ra dấu hiệu của mùa qua những tín hiệu
và hình ảnh đặc trưng
Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông trở đi trở lại trong thơ Tản Đà Mỗi mùa mỗi sắc vẻ đặc trưng nhưng có lẽ điểm chung dễ nhận thấy trong hầu hết những bài thơ viết về bốn mùa là tình yêu quê hương đất nước, sự gắn bó và giao hòa với cảnh vật, đặc biệt là những tâm tư thầm kín
Mùa xuân vốn là mùa của lộc non đâm chồi, vạn vật sinh sôi, là mùa của
những náo nức yêu thương, của hi vọng và sự sống ngập tràn Với mỗi người
An Nam, mùa xuân gắn liền với những khoái cảm thẩm mĩ về sự tinh khôi, thuần khiết, của sự khởi đầu nhiều hi vọng, chờ mong Mùa xuân gieo hạt, để chờ đón sự sinh sôi, hứa hẹn mùa màng bội thu Xuân đến thường gợi ý vị về
sự đoàn viên, sum vầy, sung túc và khát vọng về cuộc sống tương lai Từ lâu, mùa xuân đã trở thành nguồn đề tài bất tận cho người nghệ sĩ thỏa chí sáng tạo
Thi sĩ Tản Đà đã dành hẳn một tập Tản Đà xuân sắc để gửi hồn mình vào tình xuân mỗi khi Tết đến Ông đã viết hàng loạt bài thơ về mùa xuân như: Gặp
xuân, Xuân cảm, Xuân sầu, Nhớ xuân, Khóc xuân, Xuân tứ, Ngày xuân chúc
Trang 29quốc dân, Ngày xuân thơ rượu… Trong thơ Tản Đà, sắc xuân hiện diện với tất
Non sông như vẽ cỏ hoa tươi, Xuân mới năm nay đã đến rồi
Chín chục thiều quang giời ngó lại, Bốn nghìn lịch sử nước trôi xuôi
Trang 30Tình xuân vì thế cũng nảy nở trong lòng người, đó có thể là nỗi nhớ
“quan hà” trong cảnh xa xứ:
Giời xuân hoa thắm non xanh,
Lơ thơ tóc trắng, một mình vào ra
Bắc Nam nhớ bước quan hà,
Xa xa ngàn dặm đâu là cố nhân?
(Ngày xuân nhớ cảnh nhớ người xưa)
Cánh én đưa thoi gợi ý niệm về sự chảy trôi không ngừng của thời gian, thời gian vũ trụ và thời gian tâm cảm như hòa làm một trong tâm hồn người thi
sĩ đa sầu, đa cảm:
Đầu xuân đã thấy thoi đưa én,
Cuối chạp rồi xem tuyết điểm mai
Còn Gặp xuân là gặp được bầu bạn, tri kỉ, tình xuân vì thế cũng thêm
thắm thiết, lan tỏa:
Gặp xuân ta giữ xuân chơi, Câu thơ chén rượu là nơi đi về
Hết xuân, cạn chén, xuân về,
(Gặp xuân) Tác giả Lê Xuân từng nhận định: “Mùa xuân của đất trời cứ theo quy luật của tạo hóa, tới rồi lại đi Nó hiện hữu trên hoa đào, hoa mai khoe sắc, trên
cánh én liệng giữa trời xanh, hay trên má gái chưa chồng Với Tản Đà là còn
rượu, còn thơ trước đã rồi mới còn xuân mãi Nhưng nếu không còn mùa xuân
thì thơ và rượu cũng trở nên vô nghĩa Thế mới biết sắc xuân trong thơ ông
Trang 31mãnh liệt biết dường nào! Bầu rượu túi thơ là niềm vui thanh cao, nguồn thi
hứng của biết bao tao nhân mặc khách ngày trước” [54]:
Còn thơ, còn rượu, còn xuân mãi,
Còn mãi xuân, còn rượu với thơ
(Ngày xuân thơ rượu)
Bởi vậy, khi con cuốc ra rả gọi hè về, lòng thi nhân chợt chênh vênh, nuối tiếc chút dư vị của mùa xuân vương sót:
Ai khuyên con cuốc nó đừng kêu, Xuân đã qua rồi cứ gọi theo
Sao cứ lo ro trong bụi rậm, Lại còn eo óc với trời cao!
(Mắng con cuốc tiếc xuân) Điều đáng nói trong những vần thơ viết về mùa xuân của Tản Đà là mối quan hệ giữa “sắc xuân” và “tình xuân” Tất cả hiện diện trong hơi xuân, khí xuân đậm đà phong vị An Nam Phải chăng, khung cảnh mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp chính là nguồn thi hứng bất tận để thi nhân gửi gắm tâm sự thời thế, vần xoay
Mùa hạ: Nếu như mùa xuân hiện diện với những nét đặc trưng, trong cách
miêu tả trực tiếp của thi sĩ, thì cảnh sắc mùa hạ lại được miêu tả gián tiếp qua hình ảnh dòng sông, cánh diều, hoa sen, Những hình ảnh đó xuất hiện trở đi trở lại rất nhiều, thành những môtíp quen thuộc trong thơ Tản Đà [Phụ lục 3]
Có câu thơ như tiếng reo vui mãn nguyện của thi nhân khi bắt gặp một đóa sen đầu hạ nở sớm:
Trong đầm gì lại đẹp hơn sen,
Trang 32Một đóa kia kìa nở trước tiên
(Hoa sen nở trước nhất ở đầm) Gắn với tuổi thơ mỗi người, gợi kí ức, hoài niệm, khát khao, ước vọng
là những cánh diều no gió trong bầu trời mùa hạ:
Con đường vô ngạn khách đông tây,
Tiếc xuân, cuốc đã gọi hè, ai thương
Chàng ve khóc đòi ăn sương
(Ếch mà) Phải chăng cái oi nồng ngột ngạt vốn có của mùa hạ cũng trở nên dịu dàng hơn trong con mắt và tâm hồn đắm say của thi nhân
Mùa thu: Bên cạnh mùa xuân thì mùa thu cũng xuất hiện với tần số dày
đặc trong thơ Tản Đà [Phụ lục 3] Đặc trưng mùa thu An Nam là bầu trời trong xanh, thoáng đãng; tiết trời nhẹ nhàng, dễ chịu Thu là mùa của hương cốm nồng nàn hòa trong đắm say hoa sữa Thu là mùa của sắc hoa phơi phới khoe màu; mùa của lòng người xốn xang, dịu dàng Với nhiều người, nhất là người nghệ sĩ đa sầu, đa cảm, mùa thu thường gợi cảm xúc buồn man mác, dịu ngọt Viết về thu là cả một thách thức không hề nhỏ, bởi Đông, Tây, kim, cổ, đã có
nhiều bài trở thành tuyệt tác Ta hẳn không thể quên sắc thu trong Truyện Kiều
của đại thi hào Nguyễn Du hay chùm thơ thu ba bài của tác gia Nguyễn Khuyến
Trang 33Trên cơ sở kế thừa tinh hoa của những nhà thơ lớp trước, Tản Đà lựa chọn cho mình một hướng đi khác biệt, độc đáo, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc khi viết về đề tài mùa thu An Nam
Thu đến, mang theo khí thu và tiết thu nhẹ nhàng, xua tan bầu không khí ngột ngạt, oi nồng của mùa hạ:
Từ vào thu đến nay, Sương thu lạnh
Trăng thu bạch, Khói thu xây thành
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
(Cảm thu, tiễn thu) Thu là khúc giao mùa giữa hạ và đông Trời thu mát mẻ, trong xanh, hơi thu lành lạnh Ta chứng kiến một cuộc chuyển mình của đất trời trong khoảnh khắc vạn vật đất trời thay áo mới:
Trận gió thu phong rụng lá vàng,
Lá rơi hàng xóm, lá bay sang
(Gió thu) Lòng người vì thế cũng trở nên dịu nhẹ, man mác, chất chứa nhiều tâm
sự Điều đáng nói, hơi thu và khí thu ấy là chất xúc tác khiến cho tình thu hòa quyện trong lòng thi sĩ
Tác giả Đỗ Hà, trên báo Văn nghệ Vĩnh Phúc nhận định: “Trước cách mạng tháng Tám (năm 1945), cả dân tộc còn chìm trong cảnh lầm than, nô
lệ, nước mất nhà tan, dưới gót giầy thực dân, bao trùm lên các bài thơ thu của Tản Đà trong thời gian này là tâm trạng chung của những người dân
mất nước
Trang 34“Những rơi rụng biến đổi, mai một của thiên nhiên và cuộc đời khiến
Tản Đà luôn mang trong lòng nỗi buồn man mác mỗi độ thu sang Người
buồn nên nhìn cảnh vật đâu đâu cũng buồn, cũng nhuốm màu tê tái Trời thu
ảm đạm, gió thu hiu hắt, lòng ngổn ngang trăm mối muộn phiền “Cảm thu,
tiễn thu” ra đời khi đó, là một trong những bài thơ hay nhất của người thi sĩ
Ở một bài thơ khác, mùa thu cũng được Tản Đà nhắc đến như một chất xúc tác gợi nỗi buồn vô định, khó tả trong lòng người:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi
Cung quế đã ai ngồi đó chửa, Cành đa xin chị nhắc lên chơi
(Muốn làm thằng Cuội)
Trang 35Thơ Tản Đà có không ít bài nói về nỗi buồn Không buồn sao được khi mang thân phận người dân mất nước Đó phải chăng cũng là nỗi buồn chung của thời đại Có điều, những văn nghệ sĩ như Tản Đà thường nhạy cảm hơn nên nỗi buồn vì thế cũng thấm thía và dai dẳng hơn Nhiều lần, thi sĩ muốn thoát tục lên tiên, lánh xa trần thế nhiễu nhương, đảo điên Ý muốn có phần táo bạo
là được lên cung trăng với chị Hằng, có lẽ cũng chỉ có ở Tản Đà Gọi chị Hằng
là chị và xưng em - Tản Đà như muốn nối gần khoảng cách thân tình Nhưng hơn thế, ta thấy được cái ngông độc đáo trong tư tưởng của thi nhân Buồn
nhưng không bi lụy, đó là nỗi buồn của nhà nho ưu thời mẫn thế, đồng thời là của một trí thức bắt kịp xu thế thời đại Điều này, hoàn toàn phù hợp với phong thái và phong cách thơ Tản Đà
Mùa đông: xuất hiện với tần số ít hơn cả trong thơ viết về bốn mùa của
thi sĩ Tản Đà, mùa đông vẫn có được những nét đặc trưng vốn có Mùa đông
An Nam là nét đặc trưng của miền Bắc và Bắc Trung Bộ, thường kéo dài từ tháng mười đến hết tháng mười hai âm lịch hằng năm Lúc này, tiết trời chuyển từ mát mẻ sang se lạnh và đỉnh điểm là buốt giá Vạn vật, cây cối đã trút hết lá, bỏ lại cành cây trơ trụi, khẳng khiu trong gió rét Đêm đông dường như cũng dài hơn, lòng người vì thế dường như cũng mang nhiều tâm sự, đặc biệt là thi nhân:
Trăm năm nghĩ đời người có mấy, Một đêm đông sao thấy dài thay
Đêm trường nghĩ vẩn vơ lo, Cái lo vô tận bao giờ là xong
(Đêm đông hoài cảm) Cũng trong mạch cảm xúc về nỗi lo canh cánh của đấng nam nhi trong buổi đông về Ở một bài thơ khác, Tản Đà giãi bày:
Trang 36Lo đời chưa đã lại lo đông,
Lo mãi cho mình hủ chẳng xong
Mặt nước khói tan chìm vía cá, Đầu non sương phủ rạn thân tùng
(Hủ nho lo mùa đông)
Đằng sau nỗi lo mùa đông của Tản Đà là nỗi lo dân nước trước cảnh lầm than nô lệ Đó là nỗi buồn lo của một con người có nhân cách và cốt cách
Khi khảo sát thơ bốn mùa của Tản Đà, chúng tôi đặc biệt ấn tượng với
bài thơ “Đề tranh ở nhà một quan án sát, họ Mai” Đây thực chất là chùm thơ bốn bài, viết theo thể thơ vặt (một thể thơ của Tản Đà) Nguyên văn chùm thơ
như sau:
Cưỡi ngựa đi thăm bạn (Xuân)
Xanh xanh cỏ mọc chân trời, Xăm xăm trên ngựa nọ người đâu ta?
Tri âm ai đó?
Dặm đường còn xa
Trên ao sen chơi hoa (Hạ)
Hỏi hoa, hoa chẳng nói, Trông hoa hoa lại cười
Hoa nô cũng giống chơi bời, Yêu hoa hoa có yêu người hay không?
Nước xanh càng tỏ thức hồng
Trên bờ sông chơi trăng (Thu)
Trang 37Người cũng chưa già, Trăng cũng chưa già Sông thu một khúc mặn mà cả hai
Trần ai, trăng hỡi yêu ai?
Đốt lò sưởi xem sách (Đông)
Tuyết sương lạnh ngắt sự đời, Đốt lò hương hỏi chuyện người đời xưa
Chuyện xưa còn đó trơ trơ, Người xưa còn biết bây giờ là đâu?
Điểm độc đáo trong chùm thơ là cảnh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông được tác giả khéo vịnh Trong cảnh có người, người lồng trong cảnh, chuyện người chuyện cảnh quấn quýt Đó thực sự là bức tranh tâm cảm, bức tranh tứ bình nên thơ nên họa
Như vậy, mỗi hình ảnh được gợi tả trong thơ Tản Đà, từ những tên đất, tên làng đến cảnh sắc bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đều thấm đẫm phong vị làng quê thân thuộc, gần gũi, mang hồn cốt và thần thái An Nam Mỗi người đều có thể bắt gặp hình ảnh của mình, của làng quê mình trong mỗi tứ thơ Tản
Đà Điều đó, khiến ta thêm hiểu, thêm yêu, thêm gắn bó với làng quê xứ sở Và phải chăng, đó cũng là sự đồng điệu, tri âm giữa các thế hệ bạn đọc với tâm hồn thi nhân
1.4 Phong vị An Nam qua đời sống xã hội
1.4.1 Ẩm thực An Nam
Một trong những nét độc đáo làm nên bản sắc An Nam chính là ẩm thực của người An Nam So với các nước phương Tây, ta thuộc nền nông nghiệp lúa
Trang 38nước, bởi vậy, trong bữa ăn thường ngày của người An Nam chúng ta không thể thiếu cơm gạo Ngoài cơm gạo là phổ biến, người Việt ta còn rất chú trọng tới các loại gia vị góp phần giúp mâm cơm người Việt thêm phong phú, đậm
đà Cũng chính bởi nét độc đáo đó mà ẩm thực của người An Nam ta ít nhiều
có những nét khác biệt so với bất cứ quốc gia và khu vực nào trên thế giới
Thi sĩ của núi Tản sông Đà từng được coi là người “sành điệu” vào hàng bậc nhất trong nghệ thuật ẩm thực:
Thú ăn chơi cũng gọi rằng,
Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian?
(Thú ăn chơi)
Nói đến sự ăn, đối với Tản Ðà không phải là gặp sao ăn vậy như ta vẫn làm Ông không những đã nâng ăn lên thành nghệ thuật mà còn kèm theo triết
lý “Ăn là cả một nghệ thuật, mà nghệ thuật ăn nhiều khi lại khó hơn nghệ thuật
viết văn” Ngoài việc viết văn ông luôn nghĩ cách chế biến, gia giảm thế nào
cho các món ăn được tinh xảo hơn Có khá nhiều giai thoại thú vị về tài ẩm thực của Tản Đà, kể cả chuyện ông rán đậu hay ngâm măng ớt cũng phải theo công thức “Những món ăn do tự tay thi sĩ chế biến như được thổi vào đó niềm đam mê và tình yêu đối với ẩm thực An Nam, nên nếu gặp những người biết thưởng thức nữa thì quả thực đó là sự gặp gỡ giữa những người tri âm tri kỉ, mà theo Tản Đà: Có món ăn ngon mà không có người biết ăn cùng ăn cũng bực mình như có bài văn hay đọc cho người không biết nghe văn Sự ngon đối với Tản Đà là một sự hạn hữu ở trong đời Muốn ăn ngon cần phải có nhiều điều kiện như: “Đồ ăn ngon, giờ ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon và người cùng ăn phải ngon” Bởi ông quan niệm, có cái ăn đã không dễ, để được ăn ngon còn khó hơn rất nhiều! Muốn ăn ngon cũng cần lắm bao công phu, tâm huyết Vì đã nâng sự ăn lên nghệ thuật mà món ăn thiếu một múi chanh hay quả ớt cũng làm
Trang 39ông khó chịu như đọc một câu văn lạc điệu” [40] Ngẫm lại, cách đây gần trọn thế kỉ mà người thi sĩ của sông núi ấy đã làm phong phú thêm vị giác và thị giác chúng ta bằng các món ăn như: Nem gà, cá nhồi cá, cá dầm dấm, cá bọc
lá chuối nướng, lòng cá, tôm rán, ớt ngâm, đậu rán trong những công thức chế biến hết sức cầu kì, thậm chí có phần phiền phức, mới thấy, quả là thi sĩ đã
có tầm nhìn xa trông rộng, đi trước thời đại
Nhưng thú ăn chơi của Tản Đà cũng không phải là cao lương mĩ vị quá
xa xỉ, tốn kém; mà đơn giản chỉ là những thức quà đặc trưng của mỗi vùng quê, thậm chí chỉ là cơm vừng, nem dê hay chén rượu nồng:
Cơm vừng thơm khác kiểu cơm thường
Nem dê, ngon béo lạ thường, Rượu ngon chuốc chén, hai chàng cùng xơi
(Lưu Nguyễn vào Thiên Thai)
Thi sĩ đã từng tổng hợp lại những món ăn dân dã, mộc mạc, mang phong
vị làng quê của mỗi vùng miền trong một bài thơ dài:
Thú ăn chơi cũng gọi rằng,
Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian
Hà tươi cửa biển Tu Ran, Long Xuyên chén mắm, Nghệ An chén cà
(Thú ăn chơi)
Từ ngọn rau bí Thuận An, đến ngọn rau sắng chùa Hương; từ chén cà xứ Nghệ đến bát mắm Long Xuyên; từ anh hát xẩm đến chị làng chài, đều tỏa
đượm những màu sắc tình ý thực đậm đà, quyến rũ trong văn thơ ông Hà tươi,
nước mắm, cà muối, cá tra, trà xanh, rau bí, cơm tàu, bánh chưng xanh, sơn
Trang 40dương, sò huyết, cá đối, lợn rừng, là những đặc sản từ Bắc chí Nam, khi đi vào
thơ Tản Đà trở nên như quen, như lạ, đánh thức các giác quan du khách gần xa
Nước mắm là một thức gia vị quen thuộc không thể thiếu trong mâm cơm người Việt Để có được bát mắm thơm ngon đúng vị, người dân phải trải qua thời gian ngâm ủ, bảo quản công phu, qua nhiều công đoạn Nếu để ý, ta
sẽ thấy trong mâm cơm người Việt, bao giờ bát nước mắm cũng được đặt ở vị trí trung tâm Chính bản thân điều này đã nói lên giá trị kết nối của bát nước mắm đối với những thành viên trong gia đình Vị mặn đậm đà, thơm ngon của mắm như hội tụ bao tinh túy của đất trời và lòng người
Với mỗi người An Nam, món cà muối không còn xa lạ, thậm chí đã trở nên quá đỗi thân thuộc trong mâm cơm người bình dân Từ trong truyền thuyết Thánh Gióng, quả cà muối của dân ta đã góp phần nuôi Gióng lớn khôn, trở thành chàng trai vạm vỡ, khỏe mạnh, đủ sức, đủ tài xông vào phá tan thế giặc, giải phóng quê hương; đến quả cà dầm tương trong câu ca quen thuộc, thấm đượm nghĩa tình chung thủy sắt son:
Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
(Ca dao)
Trong thơ của Tản Đà, một lần nữa quả cà muối được nâng lên thành đặc sản của một vùng quê, đại diện cho tình làng nghĩa xóm giản dị, mộc mạc mà đậm đà, vương vấn
Bài thơ đã góp phần tổng kết lại thú ăn chơi của Tản Đà, cũng là tổng hợp những đặc sản ẩm thực và thú chơi độc đáo của mỗi vùng quê trên đất nước ta Trên báo Thanh niên, số ra ngày 8/5/2010, tác giả Hà Đình Nguyên có phân tích về bài thơ này của Tản Đà, chúng tôi xin phép được trích lược một đoạn
như sau: " Chính Tản Đà cũng đã nhiều lần "định nghĩa" về ẩm thực: "Đồ ăn