Với cái Tôi ngông nghênh xuất hiện trên văn đàn trong Giấc mộng con 1, Tản Đà đã bị Phạm Quỳnh phê phán một cách nặng nề rằng: không những là không có ích mà còn có hại, là đánh thuốc độ
Trang 1Mở đầu.
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Nhắc tới nền văn học Việt Nam thì chúng ta không thể không nhắc tới
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu Bởi Tản Đà là một phong cách lớn, giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Ông là con ngời của buổi giao thời - cái buổi mà nền văn học mới cha đợc định hình rõ mà văn học cũ thì đã đi vào bế tắc, hết vai trò lịch sử Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chính là dấu nối giữa hai nền văn học trung đại và hiện đại Tên tuổi của ông gắn liền với thời kì văn học mang tính chất giao thời ấy Tản Đà có ảnh hởng rất lớn đến quá trình vận động và phát triển của văn học, đặc biệt là lĩnh vực thơ ca Ông chính là một hiện tợng hấp dẫn, mới mẻ đối với giới phê bình nghiên cứu Nhng bản thân con ngời cũng
nh sáng tác của Tản Đà vốn rất phức tạp dẫn đến nhiều hớng tiếp cận, nhiều cách
đánh giá khác nhau Và ở ông vẫn còn nhiều vấn đề cha đợc đề cập tới Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu về hiện tợng văn học này cần phải đợc tiếp tục để
đảm bảo một cái nhìn đúng đắn, thống nhất
1.2 Cái Tôi tác giả là một phạm trù rất quan trọng trong sáng tác văn học
viết Đây là yếu tố cơ bản trong hệ thống các yếu tố hình thành nên phong cách của một tác giả
Cái Tôi trong sáng tác của Tản Đà quả thực là một hiện tợng rất độc đáo trong văn học Việt Nam Đi sâu tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi hy vọng nhằm đi
đến xác định một phơng diện quan trọng trong phong cách của tác giả, tìm ra
đ-ợc dấu ấn riêng đặc sắc mà nhà thơ đã để lại trong lịch sử văn học dân tộc
1.3 Từ thập niên bốn mơi của thế kỷ XX, thơ Tản Đà đã đợc đa vào giảng
dạy trong nhà trờng phổ thông và đại học Hiện nay, ở Trung học phổ thông, thơ Tản Đà đợc chọn giảng bài Thề non nớc Đây là một trong những bài thơ hay nhất của ông và cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến tranh cãi, không thống nhất
Nh vâỵ, chúng ta thấy rằng Tản Đà là một tác giả có vị trí đặc biệt không chỉ trong lịch sử văn học dân tộc mà cả trong các chơng trình giảng dạy văn học ở học đờng Vì thế, việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này, hy vọng sẽ có đóng góp
ít nhiều vào công tác giảng dạy, học tập về Tản Đà ở nhà trờng phổ thông
2 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài.
2.1 Đối tợng nghiên cứu:
Trang 2Nh tên đề tài đã xác định, đối tợng nghiên cứu mà đề tài hớng tới ở đây là:
Cái tôi ngông trong thơ Tản Đà.
2.2 Phạm vi, giới hạn của đề tài:
Sau gần ba mơi năm sáng tác, Tản Đà đã để lại cho đời một khối lợng tác phẩm khá lớn với nhiều thể loại khác nhau: thơ, văn xuôi, kịch Tuy nhiên, khi nhắc đến Tản Đà, chúng ta nhớ đến ông nhiều nhất với t cách là một nhà thơ ở lĩnh vực này, Tản Đà đã có những đóng góp nhất định Bởi vậy,luận văn chủ yếu khảo sát, tìm hiểu những biểu hiện và đặc điểm của cái Tôi “ngông” trong thơ Tản Đà Trong quá trình nghiên cứu, tiếp cận với cái Tôi “ngông” trong thơ Tản
Đà, luận văn có thể so sánh nó với toàn bộ cái Tôi trong sáng tác văn xuôi của
ông để làm nổi bật hơn cái Tôi ngông trong thơ
Tài liệu mà luận văn khảo sát là các sáng tác thơ của Tản Đà Chúng tôi dựa vào cuốn Tản Đà - Thơ và đời do Nguyễn Khắc Xơng su tầm và biên soạn (N.x.b Văn học - Hà Nội), kết hợp với các yếu tố thuộc về thời đại, về hoàn cảnh riêng, về con ngời của tác giả để tìm hiểu, nghiên cứu
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
3.1 Tản Đà là một hiện tợng văn học lớn trong văn học Việt Nam Lịch
trình nghiên cứu về Tản Đà đã có khoảng tám mơi năm và cho đến nay đã có hơn một trăm bài viết nghiên cứu về ông Nhiều vấn đề đã đợc các tác giả đề cập đến Nhng nhìn chung, việc đánh giá, nhìn nhận về Tản Đà còn có nhiều ý kiến trái ngợc nhau và đến tận bây giờ vẫn cha đợc thống nhất
Lịch sử nghiên cứu về Tản Đà có thể chia làm ba thời kỳ:
đem cái “ngông” mà phô diễn Với cái Tôi ngông nghênh xuất hiện trên văn
đàn trong Giấc mộng con 1, Tản Đà đã bị Phạm Quỳnh phê phán một cách nặng
nề rằng: không những là không có ích mà còn có hại, là đánh thuốc độc cho cả nớc, là phạm tội diệt vong Bên cạnh đó, Phạm Quỳnh lại tỏ ý ca ngợi những cuốn nh Đài kinh, Lên sáu vì đã phổ thông luân lý cho đàn bà con gái, vì đã
chuyên chú về đờng giáo dục Giống nh Phạm Quỳnh, một số nhà nghiên cứu
Trang 3khác, họ bất bình với cái Tôi của nhà thơ bộc lộ một cách ngang nhiên nh vậy và
họ đã đồng tình với những Đài kinh, Lên sáu Vì theo họ, văn phải là “vỏ bọc của
“kỷ niệm” của độc giả
Năm 1934, Tản Đà tranh luận về thơ cũ và thơ Mới với các nhà thơ trẻ Ông
bị báo Ngày nay và nhóm Tự lực văn đoàn đa ra làm trò Cũng để bảo vệ thơ Mới, nhà thơ trẻ Lu Trọng L đã có những lời lẽ “xấc xợc” và thiếu tôn trọng đối với Tản Đà: “Nàng thơ ấm Hiếu mũi thò lò”
Nhìn chung, ở thời kỳ này, Tản Đà không đợc đánh giá một cách đúng mức.Nhng đến năm 1939, sau khi Tản Đà mất, mọi ngời mới nhìn nhận lại và giá trị văn học, cũng nh vai trò của Tản Đà đối với văn đàn đợc đánh giá lại một cách xác đáng hơn Trên báo Ngày nay số 166, Tao Đàn số dặc biệt về Tản Đà, Tản Đà lại đợc đề cao Các nhà thơ Mới nh đã hồi tâm lại, hối lỗi bởi sự quá khích của mình nên đã đứng về phái khẳng định vị trí của Tản Đà trong nền văn học dân tộc Xuân Diệu với “Công của thi sĩ Tản Đà” đã viết: “Tản Đà là ngời thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại Tản Đà là ngời thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ một cách đờng hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám có một cái “Tôi”; dám cho trái tim và linh hồn đợc có quyền sống cái đời riêng của chúng Tản Đà còn là một thi sĩ rất An Nam” [29,73]
Một số nhà văn khác nh Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Khái Hng đã nhìn Tản Đà với “những nét cá tính ngang tàng, phóng túng, tài hoa, dị thờng” [29,515] Lu Trọng L cũng viết về chân dung Tản Đà với những phẩm chất nh vậy Trúc Khê viết về một Tản Đà triết học Nguyễn Xuân Huy
đánh giá tài năng Tản Đà qua việc dịch văn thơ
Đến 1942 với Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân [24] và Nhà
văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan [15] thì những giá trị, đóng góp cho văn học của
Tản Đà cũng nh những giới hạn của ông đã đợc tìm hiểu, nghiên cứu và tiếp cận một cách rõ hơn Hoài Thanh - Hoài Chân trong “Cung chiêu anh hồn Tản Đà”
đã viết: “trên hội Tao Đàn chỉ có tiên sinh là ngời của hai thế kỷ; là ngời đã dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đang sắp sửa Có tiên sinh, ngời
ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất
Trang 4cớc không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi”[24,11-12] Nh vậy, Tản Đà
đã đợc Hoài Thanh - Hoài Chân xem nh là dấu nối giữa cái mới và cái cũ Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng văn xuôi của Tản Đà là tang chứng của thời “văn quốc ngữ còn phôi thai” [15]
Cũng trong năm 1942, ở Việt Nam văn học sử yếu [10], Dơng Quảng Hàm nhấn mạnh một số đặc điểm của văn chơng Tản Đà vốn đã đợc nhiều ngời nói
đến nh: ngôn ngữ, nhịp điệu thơ nhẹ nhàng, Việt Nam thuần tuý Ông còn nhấn mạnh tính ngông, phóng túng ở Tản Đà Dơng Quảng Hàm cũng đã đa Tản Đà vào chơng trình dạy văn ở nhà trờng
Nh vậy, ở giai đoạn này, Tản Đà đã đợc đánh giá rất cao, đợc tiếp cận một cách sâu sắc và đa chiều
đối tợng quan tâm số một của các nhà phê bình nghiên cứu Các sáng tác của Tản Đà cũng không tránh khỏi quy luật chung ấy Tản Đà trong suốt thời kỳ này hầu nh không đợc nói đến, có chăng cũng rất ít Suốt một thời gian dài, từ cuối những năm 50 đến những năm 70, Tản Đà đợc tập trung chú ý và đánh giá ở các mặt yêu nớc, giai cấp, thái độ chính trị đối với quân xâm lợc nh thế nào Và cuối cùng tiêu điểm của sự đánh giá, tranh luận về Tản Đà chính là bài thơ Thề non n-
ớc - nó là biểu hiện của lòng yêu nớc hay tình yêu đôi lứa? Với tác phẩm này,
vấn đề yêu nớc của Tản Đà đã đợc một số tác giả nhìn nhận và khẳng định
Không giống nh thời kỳ sau cách mạng tháng Tám đến những năm 60, thời
kỳ 1960 đến 1980 ,Tản Đà đợc nghiên cứu rất nhiều.Vấn đề trung tâm, chủ yếu vẫn là việc đánh giá xem Tản Đà có yêu nớc hay không, Tản Đà t sản hay phong kiến và thái độ của ông với thực dân Pháp nh thế nào qua Thề non nớc
Nguyễn Đình Chú với bài Tản Đà có yêu nớc hay không? đã khẳng định có biểu hiện của lòng yêu nớc ở Tản Đà Nhng một số tác giả khác lại không đồng
ý với nhận định trên
Những năm 70, trên Tạp chí văn học xuất hiện các cuộc tranh luận với ba loại ý kiến: ý kiến một cho rằng Thề non nớc có cả hai chủ đề: yêu nớc và tình yêu đôi lứa; ý kiến hai chỉ thừa nhận chủ đề yêu nớc; và ngợc lại, ý kiến ba lại phủ nhận chủ đề yêu nớc và khẳng định tình yêu đôi lứa Cuối cùng cuộc tranh luận vẫn không kết thúc và cha có sự thống nhất giữa ba ý kiến trên
Trang 5Bên cạnh vấn đề yêu nớc, vấn đề giai cấp ở Tản Đà cũng đợc đặt ra Tầm
D-ơng trong Tản Đà - khối mâu thuẫn lớn (1964) đã cho rằng: t tởng cơ bản ở Tản
Đà là t tởng thuộc ý thức hệ t sản, t tởng phong kiến và tiểu t sản giữ cơng vị thứ yếu [5] Trớc đó thì Minh Tranh và Nguyễn Kim Giang đã xếp Tản Đà vào giai cấp t sản Sau Tầm Dơng, Nguyễn Khắc Xơng và Nguyễn Đình Chú lại xếp Tản
Đà vào tầng lớp nho sĩ Còn Trần Đình Hợu trong Văn học Việt Nam giai đoạn
giao thời (1974) đã đặt Tản Đà vào giai đoạn giao thời và xếp ông vào mẫu nhà
nho tài tử [12]
Tóm lại, thời gian này, Tản Đà đợc nghiên cứu khá nhiều và chủ yếu tiếp cận ở vấn đề giai cấp, vấn đề yêu nớc và xoay xung quanh tác phẩm Thề non nớc của ông
3.1.3 Thời kỳ từ 1980 đến nay:
Cuối những năm 70 - đầu 80, Tản Đà ít đợc bàn thêm Đến 1982, khi viết lời giới thiệu cho cuốn Thơ Tản Đà chọn lọc [4], Xuân Diệu tiếp tục khẳng định công của thi sĩ Tản Đà là đã đa cái tôi cá nhân vào văn học
Năm 1984, trong Từ điển văn học [1], Nguyễn Huệ Chi đã đánh giá Tản Đà
là một hiện tợng đột xuất, vừa độc đáo vừa dồi dào năng lực sáng tạo, là một cây bút phóng khoáng, một nhà thơ giao tiếp giữa hai thế hệ cổ điễn và thơ Mới Đặc biệt năm 1988, khoa Văn trờng đại học Tổng Hợp đã tổ chức một hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thi sĩ Tản Đà ở cuộc hôị thảo này xuất hiện thêm một số gơng mặt mới nh Lê Chí Dũng, Nguyễn Hữu Sơn, Đức Mậu bên cạnh những ngời đã nghiên cứu Tản Đà trớc đây: Trần Đình Hợu, Tầm Dơng, Nguyễn Khắc Xơng Tất cả họ đều khẳng định vị trí của Tản Đà ở giai đoạn văn học Việt Nam cận đại
Qua lịch sử tìm hiểu, tiếp cận Tản Đà, chúng ta có thể kết luận rằng: với lịch sử nghiên cứu khoảng 80 năm, Tản Đà đã đợc đánh giá khá sâu sắc từ nhiều góc độ, bình diện khác nhau Tuy nhiên, ông vẫn là một hiện tợng văn học phức tạp, vẫn khiến cho nhiều nhà phê bình nghiên cứu quan tâm và ông sẽ còn tiếp tục đợc khám phá nữa
3.2 Vấn đề cái Tôi trong sáng tác của Tản Đà nói chung và trong thơ Tản
Đà nói riêng đang là một vấn đề đòi hỏi phải đợc tiếp tục nghiên cứu Tìm hiểu
và nghiên cứu về hiện tợng Tản Đà, trong đó có vấn đề cái Tôi tác giả, đã có một
số tác giả với một số bài viết đã đề cập đến nh Xuân Diệu với “Công của thi sĩ
Tản Đà”, “lời giới thiệu” cho Tuyển tập Tản Đà; Nguyễn Khắc Xơng với Tản
Đà - thơ và đời; Nguyễn Huệ Chi với từ mục “Tản Đà” trong Từ điển văn học Mặc dù cái Tôi trong sáng tác của Tản Đà đã đợc tìm hiểu trên một số ph-
ơng diện nhng thực ra cũng cha có một công trình nào tập trung, chuyên sâu nghiên cứu nó
Trang 63.3 Luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên xét cái Tôi “ngông” trong
thơ Tản Đà nh một đối tợng chuyên biệt với một cái nhìn hệ thống, toàn diện
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Đề tài có nhiệm vụ giới thuyết về khái niệm cái Tôi và cái Tôi ngông
trong sáng tác văn học đến Tản Đà
4.2 Khảo sát, phân tích, xác định những biểu hiện và đặc diểm của cái Tôi
“ngông” trong thơ Tản Đà
4.3 Tìm hiểu, xác định những đóng góp của Tản Đà cho lịch sử văn học
dân tộc qua hiện tợng cái Tôi “ngông” trong thơ tác giả
5 Phơng pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ nhiệm vụ của đề tài, luận văn vận dụng quan điểm của thi pháp học, phong cách học nghệ thuật với nhiều phơng pháp nghiên cứu khác nhau nh thống kê, khảo sát, phân tích, so sánh loại hình, hệ thống để tìm hiểu vấn đề này
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn:
6.1 Đóng góp của luận văn:
Thực hiện tốt đợc các nhiệm vụ với các phơng pháp trên đây, luận văn sẽ đa
ra một cái nhìn hệ thống về cái Tôi “ngông” trong thơ Tản Đà - một biểu hiện cơ bản, độc đáo của phong cách tác giả Cũng từ đây, luận văn hy vọng góp phần vào việc tìm hiểu một hiện tợng lớn của lịch sử văn học dân tộc Và chúng tôi coi
đây nh là một tài liệu hữu ích giúp cho việc giảng dạy tốt hơn thơ văn Tản Đà ở nhà trờng phổ thông
6.2 Cấu trúc của luận văn:
Phù hợp với lôgic của vấn đề đặt ra, luận văn ngoài phần Mở đầu và Kết
luận đợc cấu trúc thành ba chơng nh sau:
Chơng 1: Khái niệm về cái Tôi và cái Tôi “ngông” trong sáng tác văn học
đến Tản Đà.
Chơng 2: Đặc trng cái Tôi “ngông” trong thơ Tản Đà.
Chơng 3: Đóng góp cho lịch sử dân tộc qua hình tợng cái Tôi “ngông” và
sự thể hiện cái Tôi “ngông” của tác giả.
Cuối cùng là Tài liệu tham
Chơng 1 :
Trang 7Khái niệm về cái Tôi và cái Tôi “ngông” trong sáng tác
văn học đến Tản Đà.
1.1 Khái niệm cái Tôi trong sáng tác văn học
1.1.1 Phạm trù cái Tôi trong sáng tác văn học.
Cái Tôi - ý thức về con ngời cá nhân của từng cá nhân xuất hiện và tồn tại
đã từ rất lâu Trong cuộc sống, cái tôi chi phối mỗi hành vi, lời nói của con ngời Mỗi cá nhân, hành động nói năng đều mong muốn thể hiện một cái Tôi Triết học Mác-Lênin khẳng định : “Cái Tôi là trung tâm tinh thần của con ngời, của cá tính con ngời, có quan hệ chặt chẽ, tích cực đối với bản thân mình Chỉ có con ngời độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ
động toàn diện mới có cái Tôi của mình” Nh vậy, cái Tôi là một khái niệm về cấu trúc nhân cách mang tính phổ quát Nó vừa mang tính xã hội- lịch sử vừa phân biệt cái độc đáo và khẳng định tính tích cực của nhân cách cá nhân
Trong sáng tác văn học cũng vậy, phạm trù cái Tôi là phạm trù trung tâm
Hễ nói đến sáng tác văn học viết thì không thể không nhắc tới cái Tôi, đặc biệt là
ở thể loại thơ trữ tình Khi bàn đến phạm trù cái Tôi thì ta thấy nó đợc nhìn nhận
ở hai phơng diện: cái Tôi nhà văn và cái Tôi của nhân vật trữ tình trong thơ Hai khái niệm này chúng không đồng nhất với nhau Cái Tôi của nhân vật trữ tình thực chất là một phơng diện thể hiện cái Tôi của tác giả Một tác phẩm văn học bao giờ cũng là sản phẩm của một quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật và cũng là kết quả của cái Tôi nhà văn Do đặc thù của từng thể loại văn học mà cái tôi có thể đợc bộc lộ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Đối với loại trữ tình, cái Tôi tác giả có khi đợc thể hiện trực tiếp nhng cũng có khi đợc thể hiện gián tiếp.Khái niệm cái Tôi trong sáng tác văn học chỉ con ngời cá nhân, ý thức về con ngời cá nhân của chủ thể sáng tạo (tác giả) Vì vậy mà tác phẩm văn chơng chính là cái nhìn chủ quan của tác giả về hiện thực cuộc sống và phản ánh nó trong tác phẩm của mình Tuy nhiên, cái Tôi tác giả và cái Tôi chủ quan hoàn toàn khác nhau “Nếu cái Tôi chủ quan là đặc trng của hành động sáng tác văn chơng thì cái tôi nhà thơ - cái Tôi của tác giả lại là đối tợng phản ánh của hành
động sáng tác đó Cái Tôi là hình tợng tác giả trong tác phẩm, là sự diễn tả, giãi bày thế giới t tởng, tình cảm riêng t thầm kín của tác giả Nhìn từ góc độ phản
ánh luận thì cái Tôi là đối tợng phản ánh của bản thân nhà thơ, là kết quả của sự
tự ý thức, tự đánh giá, tự miêu tả của nhà thơ”[19,109] Nh vậy, có nghĩa là nêú xét trong tơng quan với tác giả thì cái Tôi của anh ta cũng là một đối tợng thuộc phạm trù thực tại khách quan, cái đợc thể hiện trong tác phẩm
Trang 8Cũng nhìn nhận từ góc độ ấy, M.Khrapchencô trong Cá tính sáng tạo của
nhà văn và sự phát triển của văn học đã khẳng định “Nhà văn có tài năng có thể
tích luỹ đợc những kiến thức lớn có liên quan đến phạm vi này, phạm vi nọ của cuộc sống, có thể là một con ngời luôn biết lĩnh vực này hay lĩnh vực khác Song nếu thiếu một nhãn quan rộng rãi về cuộc sống thì anh ta sẽ đâm ra bất lực trong việc khám phá ra cái chủ yếu nhất của hiện thực Điều đó có nghĩa là dù có tài năng bao nhiêu nhng thiếu một nhãn quan không có sự sáng tạo nào cả thì chẳng
có ích gì cho việc khai thác hiện thực” [14,98] Nh vậy, cái cơ sở của sự sáng tạo bao giờ cũng bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống Cuộc sống chính là mảnh đất phì nhiêu cho sự sáng tạo của nhà văn Mỗi nhà văn có một cách nhìn, cách đánh giá riêng của mình Có thể từ một hiện thực cuộc sống song qua lăng kính chủ quan của mỗi ngời mà hiện thực ấy đợc thể hiện khác nhau, không ai giống ai cả Đó chính là cái riêng của mỗi nhà văn Nhà văn có một cá tính sáng tạo độc lập và đi vào quá trình văn học với những đặc tính đó của mình Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt không thể tìm thấy ở bất kỳ ngời nào khác Nhà văn chỉ có thể nói một lời nói mới mẻ, khi anh ta có
đợc tiếng nói riêng Tiếng nói đó càng mạnh bao nhiêu, cá tính sáng tạo của nhà nghệ sỹ càng rõ nét bao nhiêu thì cống hiến của anh ta vào nghệ thuật càng lớn bấy nhiêu Nh vậy, mỗi sáng tác văn chơng đều thể hiện một cái Tôi, một bản ngã, sự ý thức về con ngời, cá nhân của chính chủ thể sáng tạo Khi chủ thể sáng tạo ý thức sâu sắc về vai trò bản ngã của con ngời cá nhân trong mình tức là con ngời cá nhân đợc nhìn nhận trong quan hệ với chính nó Con ngời cá nhân ấy ý thức sâu sắc về mình “phân biệt mình với ngời khác, khẳng định mình là một thực thể duy nhất, không lặp lại : Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất! Cá nhân sẽ hoàn toàn tan rã nếu bị tớc mất cái riêng biệt ấy, cái cá tính ấy” [22,20]
Mỗi sáng tác văn học viết bao giờ cũng là sáng tạo của từng cá nhân Một tác phẩm văn chơng bao giờ cũng gắn liền với tên tuổi của một tác giả cụ thể Chính vì vậy mà nó là một dạng hoạt động mang tính chất chủ quan cao độ Thực tại đợc phản ánh trong tác phẩm không thể không thông qua cái nhìn chủ quan của tác giả, trí tởng tợng, năng lực h cấu, sự lựa chọn đề tài, chủ đề, sự vận dụng các thủ pháp nghệ thuật tất cả đều đợm màu sắc chủ quan Cái chủ quan
ấy nó bộc lộ ở mọi nơi, mọi lúc trong tác phẩm, trên mọi cấp độ của quá trình sáng tạo
Đặc biệt đối với loại hình thơ ca thì vai trò của yếu tố chủ quan nhà thơ bao giờ cũng hết sức quan trọng, nó đóng vai trò quyết định Sự biểu hiện tính chủ quan trong thơ chính là cái tôi trữ tình
Trang 9Dù loại nhân vật trữ tình nào thì phẩm chất là cá tính của nhà thơ cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong tác phẩm Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái Tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Yếu tố chủ quan của nhà thơ đợc thể hiện dới nhiều hình thức khác nhau: có khi nó là sự xuất hiện trực tiếp của cái Tôi tác giả qua đại từ nhân xng “Tôi” hoặc “Ta” (hay “Ngã”, “Ngô”, “D” trong thơ chữ Hán ) Dù xuất hiện dới hình thức nào thì cái Tôi ấy cũng mang
đậm dấu ấn cá nhân, bởi vì nó là sản phẩm sáng tạo của chính cá nhân đó
Nh đã nói ở trên, cái Tôi cá nhân xuất hiện trong lịch sử văn học ở cả hai bình diện: thứ nhất, cái Tôi là cá tính sáng tạo của nhà văn - thuộc về chủ thể; và thứ hai, cái Tôi cá nhân với t cách là đối tợng sáng tác Nhng phải đến một thời
đại nào đó trong lịch sử t tởng và lịch sử văn học, ý thức về cá nhân mới có thể trở thành một thế giới độc lập (ví nh ở phơng Tây thì đến thời kỳ Phục hng con ngời - cá nhân mới đơc nhận thức một cách tự giác : Tồn tại hay không tồn tại (Sêcxpia) Đềcac(1596-1650) đã kế thừa và phát huy con ngời cá nhân của thời
đại Phục hng bằng một luận điểm nổi tiếng “Tôi t duy ấy là tôi tồn tại”) Và nói
nh Biện Minh Điền : “Vấn đề là nó đợc nhận thức tự giác hay cha tự giác, đậm hay nhạt, có giá trị biểu hiện phong cách hay không mà thôi” (Con ngời, cá
nhân, bản ngã trong sáng tác Nguyễn Khuyến) Nh vậy, dù ít hay nhiều, đợc thể
hiện trực tiếp hay gián tiếp thì sáng tác văn chơng đều thể hiện con ngời cá nhân
- bản ngã của chủ thể sáng tạo, dấu ấn mà chủ thể sáng tạo để lại trong tác phẩm của mình có thể là cái Tôi tự biểu hiện, cũng có thể là cái một cái Tôi hiện ra nhmột đối tợng nhận thức - khách thể Có khi tác giả biểu hiện cái Tôi của mình bằng cách vô nhân xng nhng dấu ấn của cái Tôi ấy để lại vẫn khiến chúng ta dễ dàng xác định đợc nó
Tóm lại, cũng nh toàn bộ các loại hình sáng tác văn học, thơ chịu sự chi phối thống nhất ở một điểm đó là vai trò bản ngã, con ngời, nhà thơ “Dù ở thời
đại nào thì mỗi dòng mỗi chữ đợc sáng tạo ra cũng là kết quả của sự chiêm nghiệm và đợc lựa chọn, sàng lọc thông qua lăng kính chủ quan của nhà văn Và
điều đó có nghĩa: dù mức độ đậm nhạt có khác nhau, tác phẩm bao giờ cũng ít nhiều in dấu ấn cá nhân, những kỹ năng sáng tạo riêng biệt- nhất là những phong cách lớn, những nhà văn lớn”[19,24]
1.1.2 Khái niệm cái Tôi trong văn học Việt Nam
Văn học dân gian là loại hình văn học đợc tạo ra bởi tác giả tập thể Vì vậy, nên cái Tôi cá nhân, cá thể bị chìm đi trong cái Ta chung Cái Tôi ấy không đợc bộc lộ nh một cái Tôi cá nhân riêng biệt mà xuất hiện với t cách là một con ngời xã hội, con ngời của cộng đồng
Trang 10Khác với văn học dân gian truyền miệng, văn học viết xuất hiện không phải
là sản phẩm trực tiếp của nhân dân mà nó là kết quả của quá trình sáng tạo của mỗi nhà văn cụ thể Bởi thế nên dù ở thời đại nào thì cái Tôi mỗi thời mỗi khác
và có qúa trình lịch sử của nó
Văn học trung đại, do ảnh hởng của lịch sử, vấn đề cái Tôi (ngã) về cơ bản cha đợc phát hiện, nghiên cứu một cách đầy đủ, thấu đáo, có nhiều ý kiến thiên lệch Có những ngời cho rằng : văn học trung đại là văn học “phi ngã” Nh vậy là ngời ta đã phủ nhận sự tồn tại của cái Tôi trong văn học Điều này dờng nh cũng
có lý do của nó Tác giả cuả nền văn học trung đại là tăng lữ, quan liêu, quý tộc, vua chúa Họ chịu ảnh hởng nhiều của t tởng Nho giáo và Phật giáo ý thức hệ phong kiến cũng không khuyến khích sự phát triển của con ngời cá nhân Nếu họ thừa nhận, khẳng định sự tồn tại của cái Tôi cá nhân, cá thể thì đơng nhiên họ đã phủ nhận sự tồn tại và quyền lực của vua chúa (mà điều này lại không thể có) Vì vậy, để phát triển cái Tôi trong xã hội phong kiến không dễ gì thực hiện đợc.Nhng một khi đã nghiên cứu về vấn đề này thì vấn đề đặt ra đối với giới phê bình nghiên cứu là liệu đã có sự xuất hiện cuả con ngời cá nhân trong văn học trung đại hay cha? Ranh giới và vai trò chủ thể sáng tạo đợc xác định đến đâu? Mức độ đậm nhạt của sự thể hiện đó ra sao? Và chúng tuân theo những nguyên tắc, cách thức phản ánh nào? Do chịu ảnh hởng mạnh mẽ của t tởng “phi ngã”,
“vô ngã” trong các học thuyết Nho giáo và Phật giáo, cái Tôi cá nhân trong việc
tự bộc lộ đã bị hạn chế rất nhiều, dờng nh nó đã bị phủ nhận Nho giáo không thừa nhận cái Tôi cá thể, chủ trơng hi sinh cái Tôi cho chữ “Lễ” Cái Tôi cá nhân phải gắn liền mình với quyền lợi của vua chúa, của giai cấp
Phật giáo cũng vậy Nó phủ nhận cái Tôi bản ngã và khẳng định con ngời
“vô ngã” Điều này đã chi phối, cản trở văn học trong việc phát hiện, khám phá cái Tôi cá thể theo ý nghĩa chính đáng, cần thiết của nó
Song một điều chúng ta cần thấy ở văn học trung đại là dù có chịu ảnh hởng của t tởng Nho giáo, Phật giáo thì vẫn cha quyết định toàn bộ số phận và thực trạng của nó Nguyễn Đình Chú đã “một tác phẩm văn học, dù ở thời đại nào, dù
đã tự giác hay cha tự giác, nhận thức cái Tôi thì trớc hết vẫn là sản phẩm, là con
đẻ của một cá thể, một “thằng Tôi”, không ai giống ai ngoài những điều họ đã chung nhau - một thằng Tôi trớc khi trở thành “thằng Tôi nghệ sỹ” đã là thằng tôi cá nhân, cá thể nh bất cứ ai giữa cuộc đời” (Vấn đề ngã và “ ” “phi ngã” trong
Văn học Việt Nam trung - cận đại) [3] Chính thực tế văn học đã chứng minh
đ-ợc điều này Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Cao Bá Quát mỗi ngời mỗi vẻ, không ai giống ai cả ở họ, mỗi ngời một cá tính nghệ thuật, không thể
Trang 11lẫn vào nhau đợc Cá tính sáng tạo là chuyện mà thời nào cũng có Nó chính là biểu hiện cao nhất của cái Tôi tác giả Đó chính là yếu tố hạt nhân tạo nên phong cách của một nhà văn.
Từ đó, ta có thể thấy đợc là trong văn học trung đại đã xuất hiện vai trò của chủ thể sáng tạo, mặc dù nó cha đợc phát hiện, khám phá một cách đầy đủ bởi sự chi phối của t tởng “phi ngã”, “vô ngã” Cái Tôi cá nhân đã có mặt dù chậm nh-
ng khá “xinh xắn và kháu khỉnh” rồi ngay sau đó nó lại biến mất đi vì thời đại không khuyến khích, vì trớc sự xâm lợc của thực dân Pháp, số phận cái Tôi phải nhờng chỗ cho số phận cái Ta, số phận dân tộc
Đến nửa đầu thế kỷ XX, ảnh hởng t tởng và nền kinh tế chủ nghĩa t bản, cái Tôi cá nhân lại tiếp tục hiện diện và có phần tự do hơn Cái Tôi cá nhân chớm lên ở thơ văn Tản Đà, ở tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách Đặc biệt hơn với sự xuất hiện của Tự lực văn đoàn và phong trào thơ Mới thì cái Tôi cá nhân đợc khẳng định một cách mạnh mẽ Sự bùng nổ của thơ Mới và văn xuôi
Tự lực văn đoàn đã đánh dấu sự hình thành đến độ chín của quan niệm về con ngời cá nhân trong văn học Hoài Thanh đã nhận định : lần đầu tiên chữ “Tôi” đã xuất hiện trên thi đàn Việt Nam Nó bỡ ngỡ, nh lạc loài nơi đất khách, bởi nó mang theo một quan niệm cha từng thấy ở xứ này: quan niệm “cá nhân” [24.45] Tuy nhiên, một điều dễ thấy là không phải chỉ đến thơ Mới và văn xuôi Tự lực Văn đoàn, con ngời cá nhân trong văn học Việt Nam mới xuất hiện Chúng ta cũng biết rằng, từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, con ngời cá nhân đã xuất hiện với nhu cầu hởng hạnh phúc lứa đôi, nhng đó cũng chỉ là những biểu hiện ớc ao trong khuôn khổ xã hội phong kiến Đến lúc này đây, cái Tôi mới hiện diện một cách tự giác, có ý thức Đúng nh Phan C Đệ đã từng khẳng định: thơ Mới đã góp phần giải phóng bản ngã, mở rộng thế giới tâm hồn bên trong của con ngời Nó
đã khẳng định cái Tôi nh bản lĩnh tích cực trong cuộc sống, nh một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật [6] Kiểu thi nhân của thơ Mới đã đem đến một cái Tôi tự biểu hiện, cái Tôi đó khác với cái Tôi truyền thống ở chỗ dám coi cái tôi
nh một quan điểm, một t cách nhìn đời và nói với ngời khác Cái Tôi trong giai
đoạn văn học này đã thức tỉnh, làm trỗi dậy ý thức trong con ngời về quyền lợi sống Văn học cận- hiện đại đã không chỉ đòi hỏi tình yêu tự do cho con ngời mà quan trọng hơn là nó đã đi sâu khám phá thể hiện đời sống riêng t, đời sống tâm linh phong phú của con ngời cá nhân, cá thể Tuy vậy, cái Tôi cá nhân trong giai
đoạn này cũng có những hạn chế nhất định là cha tạo ra đợc một sự kết hợp thích
đáng với cái Ta chung của dân tộc, của nhân dân Nó phát huy, tách rời đời sống cộng đồng, tập thể
Trang 12Những năm sau này, cái Tôi của các văn nghệ sỹ đợc thể hiện một cách khá
đậm nét và hết sức độc đáo Trong văn học cách mạng, cái Tôi cá nhân đợc kết hợp hài hoà với cái Ta chung của cộng đồng Tác phẩm của họ gắn liền với vận mệnh của nớc nhà, hớng tới đông đảo quần chúng nhân dân Tình cảm riêng t bao giờ cũng gắn liền với tình cảm chung của cả dân tộc, của cả thế hệ Tuy vậy, vai trò của cá tính sáng tạo vẫn hết sức căn bản Trớc nhiệm vụ chung của đất n-
ớc, các văn nghệ sỹ vẫn ý thức rất rõ về cái phần riêng t của mình Cái Tôi của các nhà thơ đợc bộc lộ hết sức tự do, không hề bị trói buộc bởi bất cứ một công thức, chuẩn mực nào, họ thể hiện một cái Tôi đầy nhiệt huyết, thanh cao Đến ngày nay, cái Tôi của chủ thể sáng tạo đã hoàn toàn đợc giải phóng, nhà văn có thể bộc lộ cái Tôi cá nhân của mình một cách thoải mái, không ngần ngại, dè dặt khi nói lên những ớc mơ, khát vọng của mình
Nh vậy, cái Tôi không phải là sản phẩm hiện đại, nó là biểu hiện của ý thức
về con ngời cá nhân và với t cách đó, nó đã xuất hiện từ trong văn học cổ- trung
đại và có sự tiếp nối trong loại hình văn học viết nói chung ở những mức độ đậm nhạt khác nhau
1.2 Khái niệm cái Tôi “ngông” trong sáng tác đến Tản Đà.
1.2.1 “Ngông” và “cái Tôi ngông”
“Ngông” là một thuộc tính độc đáo, phong phú của nhân cách con ngời
“Ngông” đợc biểu hiện bằng những hành động khác đời, gây đợc sự chú ý của số
đông ngời, nó vợt ra ngoài cái khuôn khổ bình thờng của xã hội “Ngời ngông thờng chạy theo cá tính tự do, thích cực đoan Ngời ngông coi khinh lễ, phép, ghét tục, ngạo đời, nói năng ngang tàng Trong thực tế, ngời ngông là kẻ đã làm tan rã các phép tắc giả tạo, trói buộc con ngời, mở ra một luồng gió mát giàu sinh khí ” [21,200] Ngông là trạng thái mà con ngời đặt mình ra ngoài lẽ phải thông thờng đựơc mọi ngời thừa nhận, dám làm cái đời không ai dám làm, dám nói điều mà đời không ai dám nói Ta thấy rằng, ngông không chỉ là biểu hiện của một tính cách mà nó còn là cách sống của một số ngời mang t tởng bất mãn, bất cần đời với mọi ngời và đối với thực trạng quanh mình Thờng thì những ngời
có tài, có bản lĩnh, bất mãn, đối kháng với cuộc đời, với xã hội thì mới ngông Nhng cũng có những ngời muốn đợc nổi trội, muốn đợc hơn ngời, hơn đời mới
có những hành động ngông cuồng Chính vì thế mà có nhiều loại ngông: có những loại ngông thì làm cho ngời ta khó chịu, “chớng tai gai mắt”, nhng cũng
có những loại ngông thì lại chứng tỏ đợc bản lĩnh, cá tính sắc sảo, tài năng nổi bật, phẩm chất thanh cao của mình
Trang 13Vậy “ngông” là gì? “Ngông” là đi ngợc lại những quy luật thông thờng dựa trên tài đức, trí tuệ, thiên lơng hơn đời, hơn ngời của chủ thể sáng tạo Đúng nh Nguyễn Khắc Xơng đã khẳng định: “Ngông trớc hết là một tính cách” [28,100] Ngông là một tính cách mà tính cách này thì không phải ở ngời nào cũng có Chỉ
có những con ngời có tài, có bản lĩnh, có cá tính mạnh mẽ thì mới có thể
“ngông” đợc
Đi vào lịch sử văn học, đời sống văn học, nhiều nhà văn, nhà thơ tạo cho mình, cho văn chơng một t thế ngông, một phong cách ngông độc đáo Các nhà văn, nhà thơ nh Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Trần Tế Xơng, Nguyễn Tuân, đã khẳng định đợc vị trí của mình trên văn đàn, trong lòng ngời
đọc bởi chính giá trị con ngời cũng nh văn chơng Họ đã đa đến cho văn học những cái Tôi độc đáo, khác ngời, ta có thể gọi đó là cái Tôi ngông Vậy cái
“Tôi ngông” là gì?
Đó là cái Tôi xuất hiện trong văn học với những đặc điểm khác lạ nhng có ý nghĩa xã hội, thẩm mỹ sâu sắc Cái Tôi ngông này làm nổi rõ cá tính, bản ngã của chủ thể sáng tác Họ ý thức đợc cái Tôi của mình và luôn luôn muốn khẳng
định nó trớc cuộc đời Họ bất mãn với thời cuộc bởi thời đại không đề cao vị trí của cá nhân con ngời, cái Tôi mà họ muốn khẳng định Họ chỉ còn một cách đó
là tự khẳng định mình bằng những biểu hiện phi chuẩn, ngoài chuẩn Họ không tuân theo những chuẩn mực, những luân lý đạo đức của xã hội Cái Tôi của những con ngời ấy, chính vì vậy mà đợc gọi là những cái Tôi ngông
1.2.2 Những biểu hiện cái Tôi ngông độc đáo trong văn học Việt Nam
tr-ớc Tản Đà.
Trong văn học, không phải đến thời hiện đại thì mới xuất hiện cái tôi cá nhân Cái Tôi cá nhân, cá tính thì thời đại nào cũng có Nhng cái Tôi trong thời trung đại lại tự ý thức và khẳng định mình trong cái chuẩn mực “vô ngã” Bởi vậy nên cái Tôi cá nhân trong thời kỳ này bị gò bó, chèn ép Các văn nghệ sĩ thu mình bởi lễ giáo phong kiến Nhng trong số đó đã có một số ngời không chấp nhận nh vậy Họ tách mình ra khỏi số đông, xuất hiện và nổi lên gọi là những ngời ngông “Lễ giáo phong kiến dạy ngời ta trung dung, an phận nhng những ngời ngông thì đi theo lối cực đoan, đòi hỏi tự do cá tính, tự do t tởng, khinh th-ờng lễ giáo” [21, 219] Ngông là một biểu hiện cá tính độc đáo của thời trung
đại ở Việt Nam, các nhà văn, nhà thơ từ Nguyễn Trãi đã có yếu tố ngông Nhng phải bớc sang giai đoạn phong kiến suy tàn thì nhân cách ngông mới thật sự biểu hiện nhiêù mặt ở nhiều tác giả Giai đoạn trớc Tản Đà có rất nhiều ngời đợc mệnh danh là ngông, trong đó nổi lên một số hiện tợng tiêu biểu: Hồ Xuân H-
Trang 14ơng, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xơng ở họ, không ai là không ngông, mỗi ngời ngông một vẻ.
Hồ Xuân Hơng là một trong những nhà thơ Nôm xuất sắc và có cá tính độc
đáo nhất trong lịch sử văn học dân tộc Khi đọc thơ bà, có một điều không ai có thể chối cãi đợc đó là thơ Hồ Xuân Hơng có một cái gì đó rất khác thờng Một con ngời yêu đời, tài hoa và giàu sức sống nhng lại bị câu thúc, chèn ép không chỉ về mặt tinh thần, tình cảm mà cả về đời sống bản năng, hạnh phúc lứa đôi
Điều đó làm cho khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc lứa đôi trong bà luôn trỗi dậy Một điều đặc biệt ở Hồ Xuân Hơng là bà không chỉ biết ớc mơ nh một số nhà thơ khác mà với một cá tính mạnh mẽ, ngang tàng, bà đã dám nói lên cái mà
đời ít ngời dám nói trong thơ Hồ Xuân Hơng đã thể hiện những tình cảm, những khát vọng ái ân của mình hết sức chân thực, không dấu diếm Hơn thế nữa, bà còn thẳng tay tát vào mặt của bè lũ phong kiến một cách thẳng thừng, không nể nang Nhà thơ đã xé toạc hết các mặt nạ giả dối, lột trần hết những tấm áo đạo
đức cũn cỡn để chúng lộ nguyên hình là một lũ bịp bợm, dối đời và dốt nát Với xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ lúc bấy giờ, Hồ Xuân Hơng là phận nữ nhi nhng đã luôn tìm cách khẳng định vị trí của mình một cách ngang tàng, thách thức Bà lên án, chế giễu những cái mà xã hội lúc ấy trọng dụng: bậc hiền nhân quân tử, những công tử th sinh Bà đã không ngần ngại khi thốt lên:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ,
Đối với Hồ Xuân Hơng, chúng chỉ là những kẻ phàm tục dốt nát Bà chế giễu, khinh bỉ chúng Hồ Xuân Hơng đã nói những điều cấm kỵ một cách thẳng thắn, dứt khoát và rất quyết liệt Bà xứng đáng đợc xếp vào hàng ngũ của những nhà thơ “ngông”
Cũng giống nh Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ ý thức đợc tài năng và muốn khẳng định đợc vị trí của bản thân mình trong xã hội Nguyễn Công Trứ xem xã hội nh một môi trờng để ông thi thố tài năng và tự khẳng định bản thân
Trang 15chứ không tuân theo những quy tắc, trật tự của xã hội Theo ông, đời ngời quý ở chỗ là sống phù hợp với ý muốn của mình và ông cho rằng: con ngời sống ở đời nhất thiết phải có ích cho đời:
Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.
Nguyễn Công Trứ đã không phủ nhận vai trò của con ngời mà khẳng định
nó, khẳng định một cách dứt khoát Trong thơ ông, ngoài ý thức về bổn phận thì vai trò cá nhân rất đợc coi trọng, đề cao Ông đã từng tuyên bố:
Có những lúc ma tuôn sóng vỗ Chỉ những toan xẻ núi lấp sông Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ.
hay:
Giang sơn đành có cậy trông mình
Mà vội nửa anh hùng chi bấy nhẽ.
Đọc những câu thơ nh thế, ta thấy nhà thơ đặc biệt tin tởng vào năng lực và
ý chí của mình Ông hết sức đề cao vai trò của cá nhân, rất mực tin ở bản thân
Đây cũng chính là điểm mâu thuẫn gay gắt với quan điểm của xã hội đơng thời
Là một ngời tài hoa, khí phách nhng Nguyễn Công Trứ lại bị cuộc đời đối xử một cách phũ phàng Và ông đã phải quên cái bất công của xã hội bằng cách say, bằng rợu, bằng thơ, bằng sự hởng lạc.Với Nguyễn Công Trứ thì sự hởng lạc chính là sự khẳng định bản thể của cá nhân - sự tự khẳng định mình trong một thời gian hữu hạn của đời ngời Ông đã từng về làng cỡi trên lng con bò vàng cổ
đeo lục lạc, sau lng theo một cô gái trẻ - đây là một sự thách thức, buộc ngời đời phải thừa nhận cái ngất ngởng của cá nhân mình Cái ý nghĩa đời ngời của cá nhân chỉ mình mình biết:
Thú yên hà trời đất có riêng ta
Nào ai, ai biết chăng là
ở đây có một sự khẳng định cá nhân hơn ngời, hết sức riêng t, không đợc
và không cần ngời đời biết, không khớp với khuôn thớc có sẵn ở Nguyễn Công Trứ, cái riêng t, tự cho mình là đủ, là hơn ngời đợc khẳng định một cách rõ nét
và đó chính là bản chất phát triển của ý thức cá nhân mà không phải ở thời đại của ông ai cũng có
Khi nhắc đến hiện tợng ngông trong làng văn thì chúng ta không thể không nhớ tới Cao Bá Quát ở Cao Bá Quát, ta bắt gặp một con ngời, một cá tính mạnh
mẽ, ngang tàng, sống ngoài thói tục Ông tài cao nhng chí không ở công danh,
Trang 16dám làm điều cấm kỵ Trong thơ văn Cao Bá Quát, ta luôn bắt gặp một con ngời
có bản lĩnh, tin vào chính mình, chính mình phải hành động để thay đổi cuộc đời mình Ông xuất hiện là một con ngời không chịu vào khuôn phép:
Bớc tới trờng danh chẳng cúi đầu.
Cao Bá Quát tự so sánh mình với những ngời sống tự do nh Trang Tử, Tôn
Tử, Khuất Nguyên Ông luôn khao khát đợc chắp thêm đôi cánh để bay lên tận tầng mây tía để “thoát khỏi lới trần” Ông cũng không ngần ngại khi chửi thẳng vào mặt Tự Đức - ông vua nổi tiếng là hay chữ nhng nhu nhợc, bán nớc Cuộc
đời và thơ văn Cao Bá Quát làm hiện lên con ngời bất khuất, không chịu luồn cúi khuất phục, luôn ngang tàng, đầy thách thức:
Mà vẫn phong lu suốt cả đời.
Hay có lúc ông đã tự nhận mình với dáng bộ ngang tàng, ngông nghênh:
Đất biết bao giờ sang vận đỏ Trời làm cho bõ lúc chơi ngông.
Tú Xơng luôn tự khẳng định mình, khẳng định cái Tôi của mình Ngay cả trong bài Tự trào, cời về cái thói ăn chơi của mình, nhà thơ cũng đã khoe khoang, kiêu hãnh về cái thói ăn chơi, về con ngời ăn chơi ấy:
Vị Xuyên có Tú Xơng
Dở dở lại ơng ơng Cao lâu thờng ăn quỵt Thổ đĩ lại chơi lờng.
Giọng văn ở đây không chỉ là sự chế giễu mà còn khoe khoang Đó vừa là một sự phủ định nhng đồng thời lại có cả sự khẳng định Trong thơ Tú Xơng, ta thấy con ngời nhà thơ nh sống giữa đờng biên của cái khuôn phép và phi khuôn phép Ông dùng tiếng cời để níu cái ngời khuôn phép, để nó không đi quá xa,
Trang 17không vợt quá giới hạn Cái xã hội mà Tú Xơng sống là một xã hội nhố nhăng, mọi giá trị đều bị đảo ngợc Ông nhìn thấy điều đó và chế nhạo, lên án nó Ông dám nói toạc ra những điều mà mọi ngời dè dặt Chính vì thế mà thơ ông có một giọng ngông, một phong cách ngông.
Trở lên, chúng ta mới chỉ điểm qua một vài phong cách độc đáo Họ đều là những nhà thơ đợc liệt vào “làng ngông”, đều là “những tâm hồn nổi loạn, những con ngời có điều bất hoà với hiện thực xã hội Cái ngông của những ngời ấy là cái ngông có chiều sâu t tởng, có sóng triều vật vã của những tâm hồn cao thợng khí khái bị đày ải vào một thực tại rất khác vơí t tởng, với quan niệm của mình Cái thực tại ấy đã chà đạp lên tài và tình, đã quá nhố nhăng, tạp loạn nên họ ngông” [19,101-102] Ngông ở đây chính là thái độ bất mãn với thực tại cuộc sống, bất cần nó và bất đắc chí cho số phận của bản thân mình Họ ngông “để chửi đời, để thách đời và để chua chát với đời” Đó cũng chính là sự phản ứng tiêu cực, là sự bất lực trớc thời và thế
Từ đó, ta có thể thấy rằng những cái Tôi ngông ấy chính là cái Tôi ngông của lọai hình nhà nho tài tử, là cái ngông của tầng lớp Nho học trong “hội tài tình” Đó là cái ngông của những con ngời thị tài (coi trọng cái tài), đa tình Họ coi giá trị cuộc đời là ở tài và tình Tâm hồn của họ phóng khoáng, tự do và lãng mạn Họ là “những kẻ lấy ngông làm tài, tài thoát ra thói tục, vì vậy mà nó gắn chặt với tài tình” [21,198]
Và Tản Đà cũng là một hiện tợng thuộc dòng mạch nhà nho tài tử, cũng là một nhà thơ ngông
1.2.3 Cái Tôi ngông trong sáng tác của Tản Đà.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc nhà Lê, cha là Nguyễn Danh Kế - một nhà nho tài tử, mẹ là cô đào hát có tiếng thời bấy giờ - một bậc nữ tài học thức , hát hay, ngời đẹp, có lẽ chính vì vậy mà ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Khắc Hiếu đã có những biểu hiện của một nghệ sĩ tài hoa, phong nhã Năm Tản Đà lên bốn tuổi, cha mất, mẹ bỏ nhà trở lại chốn Bình Khang, kể từ đó cuộc đời ấm Hiếu là một cuộc đời bơ vơ, phiêu bạt Tản Đà tự giới thiệu về mình:
Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hơng thời có, cửa nhà thời không Nửa đời Nam - Bắc, Tây - Đông Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly.
Trang 18(Thú ăn chơi).
Tản Đà sống thời tuổi trẻ với ngời anh trai cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tái Tích - ngời có ảnh hởng sâu sắc về nhân sinh quan và đạo đức Nho giáo đối với Tản Đà
Sau lần đi thi thất bại và tình duyên trắc trở, Tản Đà không theo nghiệp khoa cử nữa Ông không đi theo con đờng của cha anh - làm quan mà lại quyết tâm lao vào một nghề hoàn toàn mơí mẻ, đó là viết văn để kiếm sống Vợ dại, con thơ, sự sinh hoạt của gia đình, tất cả trông nhờ vào ngòi bút của Tản Đà:
Bán văn, buôn chữ kiếm tiền tiêu.
Tản Đà là nhà văn chuyên nghiệp đầu tiên của nớc ta nhng nghề viết văn đã không mang lại cho ông một cuộc sống bình thờng nh bao ngời khác Gia đình
ông lúc nào cũng nghèo đói, rách nát Viết văn, làm báo, xuất bản sách tất cả những nghề đó đã không đem lại cho ông và gia đình một cuộc sống khá hơn mà nghèo vẫn hoàn nghèo
Tản Đà bớc vào cuộc đời với một chuỗi bi kịch lớn Cả cuộc đời Tản Đà là thất bại, là long đong, nghèo túng Nhng nhìn vào con ngời Tản Đà và nếu không hiểu thì ngời ta lại không nghĩ nh vậy Bởi ông luôn là một con ngời lạc quan, ham sống, ham vui thú Cũng có lúc Tản Đà đã kêu lên: đời đang chán nh-
ng đó lại chính là lúc ông cảm thấy yêu đời nhất Tản Đà còn là một kẻ đa tình, thích giang hồ, xê dịch, thích nay đây mai đó Ông còn là ngời thích rợu, thích
ăn ngon Đối với nhà thơ, rợu không chỉ để quên mà còn để gợi hứng, để tìm cảm xúc
Một con ngời tràn đầy nhiệt tình, yêu cuộc sống, yêu con ngời, ôm ấp nhiều hoài bão lớn nhng dờng nh cuộc đời lại không trọng dụng ông Tản Đà đem cái tài và tình của mình muốn góp mặt với đời nhng cuộc đời lại không dung đợc cái tài và tình ấy Vốn là con ngời sống phóng khoáng, ngang tàng, không bao giờ chịu luồn cúi, uốn mình theo thói tục, Tản Đà giữ cho mình một bản ngã, một cái Tôi, một nhân cách cao đẹp: “đời đục tiên sinh sáng, đời quay cuồng trong nhân dục t lợi, tiên sinh sống ở thế giới tinh thần Những nỗi vật chất của cuộc sống tầm thờng không hề làm bợn đợc linh hồn cao khiết của tiên sinh” [29] Sống nh thế, luôn là mình, sống hết bản ngã của mình nhng cuộc đời lại luôn bạc bẽo đối với ông Tản Đà luôn đóng vai của một kẻ bất đắc chí, bất cần đời, khinh thế ngạo vật Nói đến cái Tôi, cái bản ngã của Tản Đà thì ngời ta không thể không nói tới cái ngông của ông
Nguyễn Khắc Xơng khẳng định rằng: “cả cuộc sống của Tản Đà là một cuộc ngông” [28,105] Cái ngông của Tản Đà có rất nhiều sắc thái biểu hiện, nó
Trang 19phản ánh đợc một tính cách đa dạng một tâm hồn phong phú Rợu và say là biểu hiện nổi bật của cái ngôngTản Đà Nói đến Tản Đà là nói đến rợu, nếu không có rợu thì Tản Đà không còn là Tản Đà nữa Cả cuộc đời của Tản Đà là một cuộc say Tản Đà sống đã mang tiếng là một kẻ say Nhng cái say của Tản Đà với những nguyên nhân xã hội của nó chỉ có thể lý giải và phân biệt đợc với cái say của những ngời bình thờng bằng sự nghiệp sáng tác của Tản Đà mà ở phần sau chúng ta sẽ đề cập đến.
“Đức tiêu tiền” nh Nguyễn Khắc Xơng nhận xét, cũng là một biểu hiện của cái ngông Tản Đà Nó có thể đặt ngang với tài thơ - rợu của thi sĩ Là ngời dờng
nh lúc nào cũng thiếu tiền trong tay lại tiêu nh những kẻ phong lu , “có tiền nghìn bạc vạn mới đủ” [28,105]
Thi sĩ ngông của chúng ta không dừng lại ở đó - ở cái tài thơ rợu, ở cái đức tiêu tiền hơn ngời mà trong cuộc sống xử thế, thi sĩ cũng ngông vô cùng Việc
đến thăm mộ vua Tây Sơn phải rời Bình Định, rồi phải bỏ cái cơ nghiệp đồ sộ ở Dốc Láp - Vĩnh Yên, tất cả đều từ cái ngông mà ra
Ghét sự cầu cạnh luồn cúi, bon chen, Tản Đà sống phóng túng, khoáng đạt
Ông tự nhận mình là “ngời trong màn ảnh đem bản ngã đùa cợt với đời”[28,52] Thi sĩ cuả núi Tản sông Đà đã xem mình là ngời đóng phim , còn thiên hạ là những ngời xem phim Ngời xem phim thì biết ngời trên màn ảnh còn ngời trên màn ảnh thì làm sao biết đợc ai là ngơì xem mình Chính vì vậy, sự yêu -ghét, khen - chê đối với Tản Đà chỉ là sự thừa Ông đã bất cần tất cả và đã sống theo cách riêng của mình với một bản ngã sắc cạnh Đã có lần ông nói với Nguyễn Tuân: “ở đời có hai thái độ sống, thánh hiền và hào kiệt, nhng sống theo hào kiệt vẫn thích hơn,cuộc sống ấy mới thật là ồ ạt” [29,31] Đó cũng chính là quan niệm sống của tác giả
Tản Đà không chỉ ngông với đời, trong đời mà ông còn ngông với tác phẩm Với Tản Đà, văn chơng là nơi để ông bộc lộ hết cái Tôi cá nhân - bản ngã, cái ngông của mình Trong tác phẩm, Tản Đà hiện lên là “một bản ngã hiện diện,phô bày, xuyên suốt mọi tác phẩm, một bản ngã lần đầu tiên tự xng danh, nói về mình, đặt mình là nhân vật trung tâm của tác phẩm, lấy mình mà đối thoại với ngời đọc mình” [30,437] Thơ văn Tản Đà là sự phát hiện ra con ngời cá nhân của mình Ông là nhà văn đầu tiên dám đa thân thế của mình làm đối tợng sáng tạo một cách công khai và ngạo nghễ Không chỉ trong thơ, cái ngông của Tản Đà mới đợc bộc lộ và bộc lộ một cách rõ nét mà cả trong văn xuôi cũng thế Tản Đà xem đời mình là một Giấc mộng lớn Trong Giấc mộng lớn có những
Giấc mộng con Trong mộng, Tản Đà có thể sống hết mình Ông đã đa ngời đọc
đến một thế giới mới, một xã hội mới mà ở đó con ngời có một cuộc sống thoải mái Cũng chỉ đến Tản Đà, ngời đọc mới đợc chứng kiến cuộc sống thiên đình
Trang 20lãng mạn, hạnh phúc Tản Đà đa cái ngông của mình nhảy lên trời, ngang dọc trên thợng giới, đi chơi chợ trời, gặp Đông Phơng Sóc, đùa với Cuội , chơi thuyền với ngời đẹp Chu Kiều Oanh trên dòng Ngân Hà, hầu chuyện Khổng Tử và Nguyễn Trãi, làm báo trên trời với cụ Hàn Thuyên và nghiêng ngả trong một tiệc rợu thần tiên có Chiêu Quân đánh đàn tì bà, Dơng Quý Phi say rợu múa và Tây Thi hát Mộng chính là cách biểu hiện ngông của Tản Đà Tản Đà sống với mộng, bằng mộng để mà ngông Cái ngông của Tản Đà chính là ở chỗ đó Đó chính là cái riêng, cái độc đáo chỉ có ở Tản Đà mà thôi.
Nh vậy, do ảnh hởng của thời đại, đến Tản Đà thì cái “ngông” đã khác hơn nhiều so với các nhà thơ lớp trớc Trong cái ngông ấy có cả sự chống đối, phá phách, sự khinh mạn, nó đợc bộc lộ một cách tự do, ngạo nghễ hơn
Chơng 2:
đặc trng cái tôi ngông trong thơ tản đà.
Về cái Tôi trong thơ Tản Đà, Phong Lê nhận xét: “Điều đặc sắc trong nội dung thơ Tản Đà là sự đi sâu vào cái Tôi, là việc mạnh dạn, dũng cảm đa cái Tôi vào thơ văn trong rợu và say, trong những cơn sầu dài, trong câu chuyện lên tiên
và hầu trời, trong các cuộc chu du vào quá khứ hoặc đến các xứ sở xa lạ, trong cả
Trang 21những lo toan về cuộc mu sinh không lúc nào không chật vật, trong những tự thuật, tự trào và tự thú về mình, Tản Đà đã đa ra một cái Tôi - chân dung cực kỳ thành thật, không xấu hổ, không che đậy” [29,393] Quả đúng nh vậy, trong quá khứ thì cha có một cái Tôi nào đợc đa lên vị trí cao, đợc phô ra nhiều góc cạnh
và đợc đào sâu vào nhiều tầng bậc nh Tản Đà “Cái Tôi Tản Đà - đó là sự hiện diện và khẳng định của cá nhân - những nhu cầu tinh thần của con ngời hiện đại” [29,393] Với ông, cái Tôi không còn rụt rè, e thẹn nữa mà đã dám tự khẳng
định, thậm chí có lúc nó dám hiên ngang thách thức với hoàn cảnh trong cái
“ngông” của mình “Nh một đòi hỏi giải phóng và nh một nhu cầu phát triển, cái Tôi ấy ở Tản Đà đã phản ứng lại mọi câu thúc, kiềm toả, bóp nghẹt của hoàn cảnh bằng sự tung hoành trên những giới hạn thật phóng khoáng của không ít
đam mê, khát vọng” [29,394] Đó là một cái Tôi “ngông” hết sức độc đáo, nó
đ-ợc biểu hiện ở nhiều phơng diện khác nhau nhng chủ yếu ở các mặt sau đây:
2.1 Cái Tôi ngông - “trích tiên”.
2.1.1 Khái niệm “trích tiên” của Tản Đà:
Tản Đà bớc chân vào cuộc sống giao thời đầu thế kỷ XX một cách vừa tự nhiên vừa nh một ngời quá chân lạc bớc, bị lôi cuốn, bị xô đẩy Trong cuộc sống
ấy, Tản Đà luôn phải trải qua những thất vọng và thất bại Ông chỉ là một con ngời cô đơn, “một tâm hồn ngây thơ lạc loài trong xã hội ngời lớn – một xã hội ngời lớn tinh khôn” Ông bất mãn và bất bình với xã hội ấy Ông chán ghét nó và
ớc ao một cuộc sống khác tốt đẹp hơn Không giống nh những ngời tài tử khi gặp cảnh ngộ cùng quẫn, bất hạnh và bất mãn với cuộc đời thì họ thờng hớng đến triết học Trang Chu: coi cuộc đời là mộng ảo, là bụi bặm, thây kệ nó, sống một cách cuồng phóng, cô độc, thoát ly cuộc sống trần thế ởTản Đà lại khác, ông cũng thoát ly cuộc đời, xem nó là cõi trần, là cõi tục nhng lại không thoát tục Tản Đà bất mãn, bất đắc chí và ông tìm đến với mộng, với rợu và thơ để lãng quên thói tục Ông bất bình, phản ứng lại cuộc đời theo cách riêng của mình Tản
Đà luôn ý thức để khẳng định cái Tôi, cái bản ngã của cá nhân mình bằng lối sống ngông nghênh, thách thức với cuộc đời Nhng cái ngông của Tản Đà không giống với cái ngông của Cao Bá Quát, của Nguyễn Công Trứ hay Trần Tế Xơng
Mà nó, cái ngông của Tản Đà, là một cái ngông riêng - cái ngông “trích tiên”.Cũng giống nh Lý Bạch, Tản Đà tự coi mình là một trích tiên:
Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống
Theo đờng không khí về trần ai.
(Hầu Trời).
Hơn thế nữa là một vị tiên bị đày xuống cõi trần vì tội ngông:
-Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Trang 22Đày xuống hạ giới vì tội ngông!
(Hầu Trời).
Ngời trích tiên thờng mơ ớc ngày đợc Thợng Đế cho trở lại Đế Khuyết nhng với Tản Đà, ông lại hình dung mình là ngời đợc giao nhiệm vụ nên vẫn không chừa ngông nghênh, không chịu tu tỉnh để chống mãn hạn đi đày Thiên tiên ấy
bị lu đày chỉ vì phải thực hiện một nhiệm vụ đợc giao phó “Trích tiên”, “Tiên trời đày” này đã phải lăn lóc khắp chốn thế gian lầm bụi mong hoàn thành trách nhiệm của mình
Trên đây là quan niệm của Tản Đà về khái niệm “trích tiên” Và chính bởi quan niệm này đã làm cho Tản Đà sống trong đó mà vẫn chân trong chân ngoài, không thể nhập cuộc đợc Ông trở nên lạc lõng giữa cuộc đời và xa rời chính nó
2.1.2 Những biểu hiện và đặc điểm của cái Tôi ngông “trích tiên” Tản Đà.
Sống giữa cõi đời phàm tục chán ghét và muốn xa rời nó, Tản Đà nh lạc loài vào một thế giới khác không giống nh thế giới của mình Cái thế giới mà ông
đang sống ấy, chính ông không thể hoà nhập đợc bởi ông là một cốt cách tiên, mang những phẩm chất của tiên Là tiên nhng vì nhiệm vụ nên phải đầy xuống trần thế:
Trời rằng: không phải là trời đày
Trời định sai con một việc này
Là việc thiên lơng của nhân loại
(Hầu Trời).
Lãnh nhiệm vụ truyền bá thuyết “thiên lơng” cho con ngời, thực hiện sứ mệnh thiêng liêng mà trời đã giao phó nhng Tản Đà không hoàn thành đợc trách nhiệm của mình Xã hội ấy không tạo điều kiện cho ông Nó chỉ đem lại cho ông những chán ngán, sầu tủi và thất vọng Chính vì vậy mà ông luôn muốn đợc siêu thoát, đợc lánh xa cõi trần tục luỵ Cái sầu trần thế cứ da diết nên muốn thoát lên tiên, muốn làm thằng Cuội luôn là ớc mơ của nhà thơ Tâm hồn ông hớng lên th-ợng giới, nơi đó là thế giới, là cuộc sống đích thực của ông ở đây ông sẽ tìm đ-
ợc tri âm tri kỷ của mình Bởi thế nên ông gạ gẫm với thiên nhiên:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi, Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
(Muốn làm thằng Cuội)
và nữa:
Trông khắp trần gian hết thú chơi Thèm trông con hạc nó lên trời
Trang 23Hạc kia bay bổng tuyệt vời Hỏi thăm cung Nguyệt cho ngời trọ không?
(Trông hạc bay).
Tản Đà thèm muốn vị trí của chú Cuội, ớc có đợc vị thế của con chim hạc
Ông muốn đợc bay cao, bay xa Tất cả những điều này phán ảnh một tính cách tự
do, yêu phóng túng của nhà thơ núi Tản sông Đà
Thế gian này nhỏ hẹp, cuộc đời chỉ là mộng tởng, ngời đời chỉ là những kẻ chuộng h danh, không hiểu đợc giá trị cái chân tài của ông, không đợc hiểu đợc cái hay của thơ văn ông nên Tản Đà đã gánh văn lên bán chợ trời Và chỉ ở nơi
đó thì giá trị của chúng mới đợc đánh giá một cách chân thực, chính xác:
Văn đã giàu thay, lại lắm lối Chủ tiên ao ớc tranh nhau dặn Anh gánh lên đây bán chợ trời.
Tri kỷ trông lên đứng tận trời.
(Tây Hồ vọng nguyệt).
Vì thế mà tâm hồn Tản Đà bao giờ cũng hớng về trời Ông mong ớc hoàn thành trách nhiệm, trả đợc nợ đời để mãn hạn đi đày, trở lại là một thiên tiên
2.2 Cái Tôi ngông “xê dịch”, “còn chơi”.
2.2.1 Khái niệm “xê dịch”, “còn chơi” ở Tản Đà.
Sống trong xã hội t sản - xã hội mà đồng tiền đã làm chủ tất cả - bản thân Tản Đà không thể hoà mình vào đó đợc Xã hội ấy đã biến ông thành một con ngời cô đơn, một kẻ lạc bầy Ngay chính ông cũng không muốn nhập cuộc:
“Cuộc đời thực trái với những mộng tởng đẹp đẽ mà ông ôm ấp Ông không thể nhập cuộc vì cuộc đời đòi hỏi ông nhiều cái xa lạ mà ông không có.” [12,346] Tản Đà lên án cuộc đời, phản ứng lại nó bằng cách than vãn, chê trách nhân tình thế thái và chủ trơng hởng thụ Kinh tế t bản chủ nghĩa không có chỗ cho cuộc sống ẩn dật mà ngời tài tử laị không thể sống ẩn dật, không thể sống cuộc đời của một ẩn sỹ nh các nhà nho chính thống khi xa Cho nên Tản Đà sống và hành
động theo suy nghĩ và ý thích của riêng mình Cuộc sống trớc mắt đối với ông là vô nghĩa, nhng đời ngời lại ngắn ngủi trớc thời gian vô hạn Vì thế, Tản Đà sợ
Trang 24thời gian nó trôi nhanh Ông tiếc nuối và cố níu kéo nó, van lạy nó đừng vội trôi qua để cho ông sống thoả chí mình Chính thế nên Tản Đà chủ trơng sẽ chơi sao cho thoả thích, chơi mãi thì thôi Cái Tôi ngông của đấng trích tiên ấy là vậy, đó
là cái Tôi ngông “xê dịch”, “còn chơi”
Với tâm hồn phóng khoáng, rộng mở, tính cách phóng túng, ngời tài tử trong xã hội t sản tôn thờ cuộc sống tự do, nay đây mai đó, sống theo sở thích của cá nhân mình Thi sĩ núi Tản sông Đà của chúng ta cũng vậy, cuộc sống của
ông đợc trải lên trang thơ:
Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hơng thời có, cửa nhà thời không Nửa đời nam, bắc, tây, đông Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt li Túi thơ đeo khắp ba kỳ Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng.
(Thú ăn chơi).
Cả cuộc đời Tản Đà là một cuộc chơi Thi sĩ chơi, chơi mãi:
Trăm năm hai chữ Tản Đà Còn sông, còn núi, còn là ăn chơi
Dở hay không muôn sự ở đời Mây bay nớc chảy mặc ngời thế gian.
(Thú ăn chơi).
Tản Đà quan niệm “chơi” là sự hởng thụ trong sự biết thởng thức và biết yêu, biết trân trọng những thú vui vật chất và tinh thần, trong những biểu hiện tích cực khác nhau của hiện thực làm cho cuộc đời con ngời giàu thêm và đẹp hơn Theo ông, chơi và hởng lạc là biết sống có nghệ thuật, đem lại cho cuộc sống một giá trị thẩm mỹ Tản Đà vui chơi, thăm thú quê hơng đất nớc, hởng lạc thực chất là thởng thức và hởng thụ cuộc sống một cách nghệ thuật Ta thấy rằng, khái niệm “xê dịch”, “còn chơi” là những nội dung nghiêng về lĩnh vực tinh thần
“Xê dịch”, “còn chơi” thực chất ở đây là mang nội dung hởng lạc Nhng quan niệm hởng thụ của Tản Đà lại mang nét riêng và đợc biểu hiện một cách
độc đáo trong thơ ông
2.2.2 Những biểu hiện và đặc điểm của cái Tôi ngông “xê dịch”, “còn
chơi” của Tản Đà.
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là một nhà thơ thuộc tầng lớp nho sỹ cho nên
ông không thể không mang thế giới quan, nhân sinh quan của giai cấp mình
Ông cũng chủ trơng “nhân sinh thích chí”, phải hởng thụ bởi thời gian của một
đời ngời quá ngắn ngủi Tản Đà chủ trơng chơi Nhng cái chơi của ông không
Trang 25phải là cái chơi cho qua ngày đoạn tháng, cho hết cuộc đời mà ông bàn đến cái
thú ăn chơi, đa nó ra hăm hở, say sa, thách thức:
Chơi cho biết mặt sơn hà Cho sơn hà biết ai là mặt chơi.
(Chơi Huế).
Tản Đà với túi thơ trải khắp ba kỳ, nơi đâu ông cũng đến Ông tự hào về sự từng trải trong “thú ăn chơi” của mình:
Túi thơ đeo khắp ba kỳ Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng
Tớ muốn chơi cho mãn đời Đời cha thật mãn tớ còn chơi Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng
Dù chóng hay lâu tớ hãy chơi.
(Còn chơi).
Tản Đà sẽ cứ chơi, còn chơi và chơi mãi, chơi cho đến lúc:
ức triệu ngàn năm đời nhớ tớ Đời thôi tớ cũng hãy còn chơi.
(Còn chơi).
Tản Đà không bao giờ ngừng chơi, bởi cái “thú ăn chơi” nó đã ngấm vào máu thịt của ông Đi đến đâu ông cũng có thể vui chơi Cuộc đời nh là một sân chơi của ông vậy Ta hãy xem ông tự thú nhận:
Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hơng thời có cửa nhà thời không.
(Thú ăn chơi).
Dờng nh số mệnh đã sắp đặt sẵn, Tản Đà phải mang trong mình cái nghiệp của một một khách chơi và ông chấp nhận điều đó Ông sống hết mình và đi tới
Trang 26cùng trong mỗi cuộc chơi “Với Tản Đà, với con ngời coi bốn phơng là nhà, với
kẻ đã mang túi thơ đi khắp thiên hạ, với kẻ dám mang cái ngông của mình thách thức với cả núi sông, phải chăng cuộc đời này là một cuộc chơi không giới hạn.” [29,330]
Tuy nhiên với Tản Đà khi nói đến cái chơi là nói đến một vui thú tinh thần trong sáng Ông chơi vì sự nghiệp, chơi cho một lý tởng mà ông theo đuổi bấy lâu:
Ngời đời ai có hay nh tớ Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi.
tự coi mình vừa là một thi sĩ, lại vừa là một tửu đồ - ngời hay rợu:
Trăm năm thơ túi rợu vò Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai?
(Ngày xuân thơ rợu).
Thơ và rợu là những thứ không thể thiếu đợc trong cuộc sống của nhà thơ
Đó là duyên nợ, là lẽ sống của Tản Đà Không có thơ và rợu thì cuộc đời của thi
sĩ không còn một ý nghĩa gì nữa hết Thơ và rợu là những thứ tối cần thiết trong cuộc đời Nếu nh thơ đem đến cho Tản Đà những phút giây th thái, yên tĩnh trong tâm hồn thì rợu - nó đã đem đến cho thi sĩ những giờ phút say sa, khoái lạc
đến nỗi:
Khi vui vui lấy kẻo là Cơn men dốc cả giang hà cha say.
(Cha say).
Cha say nên phải uống để mà say Đến lúc say thì:
Khi vui quên cả cái già Khi say chẳng dốc giang hà cũng say.
(Say).
Cái say nó thú đến vậy nên dù biết rằng:
Trang 27Kiếp say sa đã chấm sổ thiên đình Càng đắm sắc mê thinh càng mải miết Say lắm vẻ: say mệt, say mê,say nhừ,say tít
Trong làng say ai biết nhất ai say?
(Say).
Rợu là bạn đờngcủa nhà thơ nhng thực ra nó cũng chỉ là một cái cớ giúp cho Tản Đà đợc vùng vẫy trong cuộc chơi rộng lớn ấy Rợu là một trò chơi và say là một cách chơi Tản Đà dùng rợu và say để nói lên tiếng nói của mình cũng
nh để thể hiện một cách sống của ông trong cuộc đời Với Tản Đà, cuộc đời là một cuộc chơi không giới hạn và ông đã sống, đã đùa cợt đời mình Trong cuộc chơi đó, Tản Đà cha bao giờ lùi bớc:
Say chẳng biết phen này là mấy Nhìn non xanh chẳng thấy lại là say
(Lại say).
Tản Đà say sa, chuyếnh chóang trong men rợu Tuy nhiên cái say của Tản
Đà lại là cái say ngông nghênh, khác biệt Giọng Tản Đà là giọng say, giọng ngông Nguyễn Công Trứ cũng đã từng Đánh ba chén rợu khoanh tay giấc, hay Cao Bá Quát “uống mấy chung lếu láo” cho tiêu sầu, nhng cha ai uống rợu và say đến nh Tản Đà khi muốn lôi cả trời đất vào một cuộc đỏ mặt lăn quay Ngông đến vậy là cùng!
Nh vậy, ta thấy rằng qua rợu và say đã bộc lộ đợc khá rõ cái phong cách, bản ngã, cái riêng của hồn thơ Tản Đà mà không thể lẫn lộn với bất cứ ngời nào khác Những vần thơ say, những vần thơ cất ủ men rợu của Tản Đà là những vần thơ hay nhất, sẽ sống mãi với sự nghiệp của nhà thơ
Song chúng ta cũng phải hiểu một điều rằng: Tản Đà triền miên trong những cuộc chơi nay đây mai đó khắp mọi miền của Tổ Quốc, tự do tung bay cho thoả chí; tìm đến với rợu, với cái say để mà quên đời, tỏ thái độ bất bình, phản ứng với cuộc đời Tản Đà say để quên đi thế giới buồn khổ, gạt bỏ những nỗi đau nơi trần thế:
Cảnh đời gió gió ma ma
Buồn trông ta lại say sa đỡ buồn
Trang 28(Cha say).
Có lúc, say với Tản Đà hình nh vẫn cha đủ Ông say để mà điên:
Đợc lúc gần say, say hẳn lấy Say thời say, say vậy để mà điên.
(Cha say).
Tìm đến rợu để quên đi những nỗi đau riêng t trong cuộc đời Rợu đến với
ông để an ủi, để giải thoát ông ra khỏi bi kịch Ông và rợu gặp nhau cũng bởi vì thế Khi đọc những dòng thơ say của Tản Đà thì ngoài cái giọng say, giọng ngông ấy còn có một cái gì đó chua chát, bất mãn:
Nam bắc đã nên ngời duyệt lịch Giang hồ đáng chán vị chua cay Mời ba năm đó bao dâu bể Góp lại canh trừơng một cuộc say.
2.3 Cái Tôi ngông - đa tình.
2.3.1 Khái niệm “đa tình” ở Tản Đà.
Có thể nói cái Tôi đa tình là một trong ba chất liệu cơ bản cấu thành một bản ngã có tự hiệu là Tản Đà Nó là đặc trng không thể thiếu để tạo nên một hồn thơ Tản Đà phong phú, độc đáo và riêng biệt - giống nh chất ngông và chất mộng vậy Đa tình, là có nhiều tình cảm, tâm hồn dễ dàng rung động những sợi dây tình cảm và chan chứa tình yêu Đa tình cũng có nghĩa là “phong tình”, là tình cảm trong tình yêu đôi lứa Với Tản Đà, ông xem đa tình nh một phẩm chất, một nét tính cách trong con ngời ông Tản Đà tự nhận cái chất đa tình của mình
là có di truyền, là thuộc giống loài:
Cái giống đa tình ta có một.
(Lại tơng t).
Tản Đà tự xng mình là cái giống đa tình, xem mình thuộc loại tình chủng
Ông lấy hai chữ tài tình gắn với số kiếp của mình Nhng đa tình, theo Tản Đà thì
đó không chỉ đơn thuần là tình yêu đôi lứa mà nó còn là tình yêu đất nớc, tình yêu giống nòi Song cái cốt yếu, cái cơ bản nhất đó vẫn là tình yêu trai gái Chính vì vậy mà cái Tôi ngông của đấng “trích tiên” này mang đậm sắc thái
Trang 29phong tình Ông đã công nhiên nói lên cái tình của mình - tình yêu đôi lứa mà không phải là tình nghĩa vợ chồng - nói lên cái ái tình của riêng ông Đặc điểm này phải chăng ai cũng có?
2.3.2 Những biểu hiện và đặc điểm của cái Tôi ngông - đa tình của Tản Đà
Điểm mặt các nhân vật trong làng ngông của nền văn học dân tộc, ít ai đa tình nh Tản Đà Nho gia xa đã từng đem tình ái vào văn mình: “cái tình là cái chi chi Dẫu chi chi cũng chi chi với tình” Nguyễn Công Trứ vì thích “chi chi với tình” nên đi vào miên man bao nhiêu trận giang sơn điên đảo Cao Bá Quát cũng vì đa tình nên hay dan díu với những bông hoa ở chốn Bình Khang Song cũng chỉ đến thế mà thôi Còn Tản Đà thì sao? Ông mơ tởng những cuộc hội ngộ với Tây Thi, với Chiêu Quân, viết th hỏi trời xin cới Hằng Nga, tơng t với cả những ngời tình nhân cha quen biết Thơ xa cũng hay viết về cái sầu, viết về thiên nhiên, tuy vậy ít có ai nh Tản Đà cảm từ một cánh bèo trôi, một chiếc lá rụng Bản chất đa tình, nó nh ngấm sâu vào tâm hồn cuả Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và
đợc ông thể hiện rất rõ qua nhiều câu thơ chứa chan tình cảm và âm điệu đặc sắc của mình
Là một con ngời có tính cách cực kỳ phóng túng, nhng Tản Đà lại mang một hồn thơ hết sức nhạy cảm, tinh tế Chỉ với mấy chiếc lá vàng rơi cũng đủ làm cho thi sĩ của chúng ta có những rung cảm thật tế nhị, tinh vi:
Trận gió thu phong rụng lá vàng Lá rơi hàng xóm lá bay sang ( )Hồng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không.
(Gió thu).
Cái tình của ông nhiều khi lại bao la, trải rộng, bền vững nh tình non nớc:
Nớc non nặng một lời thề Nớc đi đi mãi không về cùng non.
Nhớ lời nguyện nớc thề non Nớc đi cha lại non còn đứng không Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
(Thề non nớc).
Đó là một tình cảm gắn bó khăng khít, vĩnh hằng không gì có thể ngăn cách
đợc Một niềm tin tởng hiếm có trong cuộc sống của nhà thơ:
Dù cho sông cạn đá mòn Còn non còn nớc hãy còn thề xa Non cao đã biết hay cha?
Nớc đi ra bể lại ma về nguồn.
(Thề non nớc).