Bài 12 “Tuyên ngôn độc lập” là bản anh hùng ca của dân tộc Việt nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Những cảm nhận và suy nghĩ của em về bài văn chính luận ấy ? BÀI LÀM Năm 1076, Lý Thường Kiệt đọc “Nam quốc sơn hà…” trên chiến tuyến sông Cầu – Như Nguyệt. Năm 1428, Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo”, áng thiên cổ hùng văn của Đại Việt trong thế kỉ 15. Ngày 291945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” – bản anh hùng ca của dân tộc Việt Nam trong giữa thế kỉ 20. “Phải trăm năm mới có ngày độc lập Ai đếm hết chuỗi người lên máy chém lúc hừng đông Roi vọt Côn Lôn, ngục tù Phú Quốc… Mỗi trang sử đất này đều ngập máu cha ông” 1. Sau gần một thế kỉ đấu tranh vô cùng kiên cường và anh dũng, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ Tịch đã quật khởi đứng lên tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Ngày 1981945, chính quyền ở thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân ta. 2381945, tại Huế và Hải Phòng, chính quyền cách mạng đã được thành lập. Ngày 2581945, một triệu đồng bào Sài Gòn – Chợ Lớn đã khởi nghĩa thành công. Chỉ không đầy 10 ngày, cả nước ta đã giành được chính quyền về tay nhân dân, cuộc cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ. Ngày 268, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ căn cứ địa Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn gác 48 phố Hàng Ngang, Người khởi thảo “Tuyên ngôn độc lập”. Ngày 291945, trước mấy chục vạn đồng bào thủ đô Hà Nội, thay mặt Chính phủ Lâm thời, Hồ Chủ tịch đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thủ tiêu vĩnh viễn chế độ phong kiến và chế độ thực dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỉ nguyên mới : Độc lập Tự do và chủ nghĩa xã hội. 2. Mở đầu Tuyên ngôn độc lập Nếu như “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt mở đầu bằng một lời tuyên ngôn đanh thép : “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi khẳng định sức mạnh nhân nghĩa Đại Việt : “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”, thì “Tuyên ngôn đọc lập”, Hồ Chủ tịch lại mở đầu bằng cách trích dẫn hai câu nổi tiếng trong hai bản “Tuyên ngôn” nổi tiếng trên thế giới. Câu thứ nhất trích dẫn từ bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mĩ : “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đảng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được : trong những quyền ấy, có quyền độc lập sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Câu thứ hai trích dẫn từ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 : “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng và quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bằng cách trích dẫn như vậy bởi lẽ Người có nhiều dụng ý chiến lược và chiến thuật sâu sắc. Trước hết, đứng trên tầm cao thời đại, Người ca ngợi 2 cuộc Cách mạng của Mĩ và Pháp trong thế kỉ 18 là hai cuộc Cách mạng vĩ đại, tư tưởng về nhân quyền và dân quyền như quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc là những tư tưởng vĩ đại. Vì thế, Hồ Chí Minh mới nói : “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Người không chỉ trích dẫn mà còn “suy rộng ra” để bình luận. Quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc không chỉ là nhân quyền và dân quyền, mà sau thế chiến thứ hai còn là quyền thiêng liêng, cao cả của các dân tộc trên thế giới, là khát vọng, là xu thế lịch sử của thời đại. Vì thế Hồ Chủ tịch đã viết : “… Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Giáo sư Singô Sibata trong luận văn “Hồ Chí Minh nhà tư tưởng” đã khẳng định tính chất độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh được biểu hiện trong “Tuyên ngôn độc lập”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng quyền của con người thành quyền của dân tộc “quyền lợi của mỗi cá nhân được coi là cơ sở cho quyền lợi của cách mạng” ; “Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”. Trích dẫn 2 câu nổi tiếng trong 2 bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp, Hồ Chủ tịch muốn khẳng định một chân lí lịch sử và một niềm tự hào dân tộc. Cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân Mĩ sự ra đời bản Tuyên ngôn 1776, cuộc cách mạng Pháp với bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 là vô cùng vĩ đại. Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 với Tuyên ngôn độc lập ngày 291945 của dân tộc Việt Nam đã mang tầm vóc thời đại và vô cùng vĩ đại. Hồ Chủ tịch đã biểu lộ niềm tự hào về Đất nước ta rất anh hùng và có một nền văn hiến lâu đời. Trước tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai nên Hồ Chủ tịch mới mở đầu Tuyên ngôn độc lập như thế. Một mặt, Người dùng chiến thuật “gậy ông đập lưng ông” để vạch trần dã tâm của thực dân Pháp đã chà đạp lên lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái của Cách mạng Pháp đến ăn cướp nước ta trong suốt 80 năm trời, đồng thời để ngăn chặn âm mưu của Đờ Gôn và bè lũ muốn tái chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Mặt khác, Người đề cao tư tưởng nhân đạo và tính pháp lí của văn kiện lịch sử này, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước trong phe Đồng minh, của nhân dân thế giới với cuộc Cách mạng tháng Tám 1945. Tóm lại, với cách mở bài độc đáo, đặc sắc như vậy, Tuyên ngôn độc lập cho thấy trí tuệ uyên bác, tầm nhìn chiến lược sâu sắc rộng lớn của Hồ Chí Minh về chặng đường lịch sử phía trước của nhân dân ta. 3. Tuyên ngôn độc lập là một áng văn chính luận thể hiện phong cách chính luận Hồ Chí Minh. Văn chính luật phải được thể hiện 3 tiêu chí sau : một là lí lẽ, hai là lập luận, ba là bằng chứng. “Tuyên ngôn độc lập” ngoài 3 tiêu chí trên còn có những nét riêng trong cách viết mang dấu ấn văn phong của Hồ Chủ Tịch. Lí lẽ của Hồ Chí Minh rất sắc bén. Ví dụ, sau khi trích dẫn hai bản Tuyên ngôn của Mĩ, Pháp, rồi khẳng định “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”, trên cơ sở đó, Người vạch trần dã tâm và bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp : “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bìng đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Lý lẽ trên đây rất sắc bén, có sức mạnh thuyết phục to lớn, vì tác giả đã xây dựng luận chứng, phát triển lý lẽ trên cở sở “những lẽ phải”, những tư tưởng về nhân quyền, về dân quyền, về quyền tự quyết của các dân tộc. Ví dụ nữa. Vạch trần chân tướng hèn hạ, phải bội và nhục nhã của thực dân Pháp sau cuộc đảo chính 931945 của Nhật, lí lẽ của Hồ Chủ tịch vừa sắc bén vừa châm biếm, khinh bỉ : “Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Lí lẽ trong văn chính luận không phải là sự suy diễn vô căn cứ, không phải là ngụy biện, trái lại, lí lẽ phải xây dựng trên nền tảng hiện thực và chân lí. Lí lẽ trên đây của Hồ Chí Minh xây dựng trên hiện thực cuộc sống và chân lí lịch sử Việt Nam từ 1940 – 931945. Lí lẽ rất sắc bén, đanh thép và hùng hồn là như vậy Cách lập luận trong “Tuyên ngôn độc lập” như thế nào ? Lập luận trong văn nghị luận là nghệ thuật luận chứng xây dựng hệ thống lí lẽ và luận cứ để tạo nên một cấu trúc chặt chẽ, tạo ra những suy luận phán đoán, đi sát chân lí, phù hợp với xu thế đi lên của lịch sử. Cách lập luận của Hồ Chí Minh rất chặt chẽ, hùng biện. Lúc thì từ những luận cứ lịch sử, Người tạo nên suy luận: “Chúng thi hành luật pháp dã man (luận cứ 1). Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc (luận cứ 2) để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta (suy diễn 1), để ngăn cản dân tôc ta đoàn kết” (suy diễn 2). Qua đó, ta thấy : luận cứ gắn chặt với suy diễn ; suy diễn mang tính chất tất yếu, đó là tính lôgích của lập luận. Ví dụ thứ hai. Ca ngợi và khẳng định truyền thống yêu nước, tinh thần gan góc chống ngoại xâm, chống thực dân, chống phát xít của nhân dân ta, tự hào khẳng định nền độc lập của nhân dân ta là kết quả của một quá trình chiến đấu và hi sinh lâu dài, với bao nhiêu xương máu đã đổ xuống, chứ không phải do một thế lực nào ở bên ngoài ban phát cho: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay (luận cứ 1), một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay (luật cứ 2), dân tộc đó phải được tự do (hệ quả 1). Dân tộc đó phải được độc lập (hệ quả 2). Cách lập luận trên đây rất chặt chẽ, độc đáo và hùng biện. Từ luận cứ 1 và luận cứ 2, Người khẳng định hệ quả 1 rồi tăng cấp rút ra hệ quả 2. Nếu viết : “Dân tộc đó phải được tự do và phải được độc lập” thì chất hùng biện đã giảm đi phần lớn. Lối viết trùng điệp, đối xứng cũng góp phần tạo nên một đoạn văn đẹp nổi tiếng của Hồ Chủ tịch. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Đờ Gôn và bọn thực dân Pháp hiếu chiến đưa ra luận điệu : Việt Nam vẫn là thuộc địa của Pháp”, Hồ Chủ tịch đã bác bỏ luận điệu ấy. Tính pháp lí của “Tuyên ngôn độc lập” chính một phần được thể hiện qua đoạn văn và nghệ thuật lập luật chặt chẽ, hùng biện này : “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Luận cứ, bằng chứng trong “Tuyên ngôn độc lập” ? Đó là những bằng chứng lịch sử hiển nhiên không ai có thể chối cãi được. Hồ Chủ tịch đã căm thù lên án 5 tội ác lớn về chính trị và 5 tội ác lớn về kinh tế của thực dân Pháp trong 80 năm thống trị nước ta. Đây là tội ác thứ 3 về chính trị : “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”. Tội ác thứ 5 về kinh tế của thực dân Pháp là trong vòng 5 năm chúng đã bán được nước ta 2 lần cho Nhật, và chúng đã gây ra nạn đói năm 1945, làm hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói Xưa kia trong “Bình ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi căm giận lên án tộc ác quân “cuồng Minh” đã “Nước dân đen trên ngọn lửa hung tàn – Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Tội ác ghê tởm ấy:”Lẽ nào trời đất dung tha – Ai bảo thần dân chịu được ?”Đọc “Tuyên ngôn độc lập” ta cũng có cảm nhận ấy “Tuyên ngôn độc lập” thể hiện cách viết ngắn gọn, súc tích, hùng hồn của Hồ Chí Minh. Cả bản “Tuyên ngôn” hàm chứa biết bao sự kiện lịch sử, bao ý tưởng vĩ đại nhưng áng văn chính luật này chỉ dài 1032 chữ ; trong đó Người dùng 104 chữ “chép” 5 tội ác lớn của thực dân Pháp. Chủ yếu Người sử dụng câu văn ngắn. Có câu chỉ có 9 từ mà nêu lên một cục diện chính trị, một tình thế cách mạng sôi sục : “Pháp chạy, Nhật hàng, vùa bảo Đái thoái vị”. Các động từ, trạng ngữ thể hiện tính chất triệt để của cuộc Cách mạng tháng Tám : …”Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký kết về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Các từ ngữ : “thoát li hẳn”, “xóa bỏ hết”, “xóa bỏ tất cả” là linh hồn của đoạn văn trên, thể hiện cách dùng từ đặt câu của Hồ Chủ tịch : sắc sảo, chính xác, mạnh mẽ. “Tuyên ngôn độc lập:” phản ánh truyền thống yêu nước anh hùng chống ngoại xâm của dân tộc ta, nói lên khát vọng về độc lập, tự do của nhân dân ta. Nó là bản anh hùng ca thời đại. Lời tuyên bố của Chủ tịc Hồ Chí Minh biểu lộ sức mạnh nhân nghĩa trong thời đại mới, đanh thép và hùng hồn : “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền độc lập ấy”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn hồi kí “Những năm tháng không thể nào quên” có viết : “Lịch sử đã sang trang. Một kỉ nguyên mới bắt đầu : Kỷ nguyên Độc lập, Tự do, Hạnh Phúc… Cả dân tộc đã hồi sinh. Vô vàn khó khăn còn ở phía trước mắt. Nhưng đối với bọn đế quốc, muốn phục hồi lại thiên đàng đã mất, mọi việc cũng không còn dễ dàng như xưa…” Hồ Chí Minh đã có lần nói, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chỉ có lúc soạn thảo “Tuyên ngôn độc lập” là “những giờ phút sảng khoái nhất” của Người. Có thể nói, “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện lịch sử trọng đại của nhân dân ta, tiêu biểu nhất cho phong cách chính luận của Hồ Chí Minh : ngắn gọn, súc tích, đanh thép, hùng hồn, lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ đanh thép… Đúng là “Lời Non Nước” cao cả và thiêng liêng. Bài 13 “Nguyên tiêu” (Rằm tháng giêng) là một bài thơ xuân tuyệt tác của Hồ Chí Minh. Hãy phân tích bài thơ. “Đề thi Đại học năm 1997 của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội –Ban C – câu 2 BÀI LÀM “Nguyên tiêu” nằm trong chùm thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh viết trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, tại chiến khu Việt Bắc : “Nguyên tiêu”, “Báo tiệp”, “Thu dại”… Sau chiến thắng Việt Bắc, thu đông năm 1947, sang xuân hè 1948, quân ta lại thắng lớn trên đường số Bốn. Niềm vui thắng trận trần ngập tiền tuyến hậu phương. Trong không khí sôi động và phấn chấn ấy, bài thơ “Nguyên tiêu” của Bác Hồ xuất hiện trên báo “Cứu quốc” như một đóa hoa xuân ngào ngạt và rực rỡ sắc hưởng. Xuân Thủy đã dịch khá hay bài thơ này. Nguyên tác bằng Chứ Hán, viết theo thể thơ thất ngôn tư tuyệt : “Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên ; Yên ba thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.” Đêm nguyên tiêu trăng sáng ngời trên một không gian bao la. Bài thơ nói lên cảm xúc và niềm vui dào dạt trong tâm hồn lãnh tụ đêm nguyên tiêu lịch sử. 1. Hai câu đầu vẽ lên cảnh đẹp tuyệt vời đêm nguyên tiêu. Trên bầu trời, vầng trăng vừa tròn (nguyệt chính viên). Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì mùa xuân làm cho trăng thêm đẹp. Và trăng cũng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình. Đất nước quê hướng bao la một màu xanh bát ngát. Màu xanh lấp lánh của “xuân giang”, màu xanh ngọc bích của “xuân thủy” tiếp nối với màu xanh thanh niên của “xuân thiên”. Ba từ “xuân” trong câu thơ thứ hai là những nét vẽ đặc sắc làm nổi bật cái “thần” của cảnh vật sông, nước và bầu trời : “Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên”. (Sông xuân nước lẫn mầu trời thêm xuân) “Xuân” trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ, là vẻ đẹp xinh tươi. Nó còn gợi tả mùa xuân, của sông nước, đất trời và xuân. Nó thể hiện vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của đất nước ta : trong lửa đạn vẫn dào dạt một sức sống trẻ trung, tiềmtàng. Ngoài giá trị miêu tả cảnh đẹp đêm nguyên tiêu, vần thơ còn biểu hiện tinh tế cảm xúc tự hào, niềm vui sướng mênh mông của một hồn thơ đang rung động giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử, đất nước đang anh dũng kháng chiến. Với Bác Hồ, yêu vẻ đẹp đêm nguyên tiêu, yêu thiên nhiên cũng là yeu đời tha thiết. Bác yêu thiên nhiên nên sông, núi, cỏ cây, hoa lá, tạo vật trong thơ Bác rất hữu tình. Có “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”. Có “Trăng vào cửa sổ đòi thơ” trong niềm vui thắng trận. Bác yêu hoa núi, chim rừng Việt Bắc :”Xem sách, chim rừng vào cửa đậu – Phê văn hoa núi ghé nghiên soi” ; yêu ngọn gió, giọt mưa báo mùa thu chợt đến… Thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh là một trong những yếu tố tạo nên sắc điệu trữ tình “Nguyệt mãn thuyền” là một hình ảnh rất đẹp và trữ tình, nó làm ta nhớ đến những vần cổ thi hoa lệ : “Bạn chơi năm ngoái nào đâu tá ? Trăng nước như xưa chín với mười”. (Triệu Hỗ – Đường thi) “Thuyền mấy lá đông, tây lặng ngắt, Một vầng trăng trong vắt lòng sông…” (Bạhc Cư Dị) “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi, Đêm thanh nguyệt bạc, khác lên lần” (Nguyễn Trãi) v.v… Trở lại bài thơ Hồ Chí Minh, ta thấy con thuyền đang trôi nhẹ trên sông, ẩn hiện trong màn khói sóng, mang theo bao ánh trăng, hiện lên một thủ lĩnh quân sự giàu hồn thơ đang lãnh đạo quân dân ta kháng chiến để giành lại độc lập, tự do, để giữ mãi những đêm nguyên tiêu trăng đầy trời của đất nước quê hương thanh bình. Hình ảnh con thuyền trăng trong bài thơ này cho thấy tâm hồn Bác giàu tình yêu thiên nhiên, trong kháng chiến gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Qua bài thơ “Nguyên tiêu”, ta có thể nói, trăng nước trong những thơ Bác rất đẹp. Chính vầng trăng ấy đã thể hiện phong thái ung dung, tâm hồn thanh cao của vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc mang cốt cách nghệ sĩ, nhà hiền triết phương Đông. “Nguyên tiêu” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, man mác phong vị Đường thi. Bài thơ có đầy đủ những yếu tố của bài thơ cổ : một con thuyền, một vầng trăng, có sông xuân, nước xuân, trời xuân, có khói sóng. Điệu thơ thanh nhẹ. Không gian bao la, yên tĩnh… Chỉ khác một điều, ở giữa khung cảnh thiên nhiên hữu tình ấy, nhà thơ không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thi phú từ chương, mà chỉ “đàm quân sự”. Bài thơ như một đóa hoa xuân đẹp trong vườn hoa dân tộc, là tinh hoa kết tụ từ tâm hồn, trí tuệ, đạo đức của Hồ Chí Minh. Văn tức là người. Thơ là tấm lòng, là tiếng cộng hưởng từ một người đến với muốn người. Thơ Bác Hồ tuy nói đến “trăng, hoa, tuyết, nguyệt…” những đã phản ánh tâm tư, tình cảm, lẽ sống cao đẹp của Bác. Bác yêu nước, thương dân tha thiết nên Bác càng yêu đêm nguyên tiêu với vầng trăng xuân thơ mộng. Trong kháng chiến gian khổ, Bác đã hướng tới vàng trăng rằm tháng giêng, hướng tới bầu trời xuân với tâm hồn trong sáng và phong thái ung dung. Cuộc đời không thể thiếu vầng trăng. Biết yêu trăng cũng là biết sống đẹp. “Nguyên tiêu” là một bài thơ trăng tuyệt tác của nhà thơ Hồ Chí Minh. Con thuyền chở đầy ánh trăng cũng là con thuyền kháng chiến đang hướng tới chiến công và niềm vui thắng trận. Bài 14 Phân tích bài thơ “Báo tiệp” (Tin thắng trận) của Hồ Chí Minh. (Đề thi Đại học năm 1997 của Trường Đại học Công đoàn – câu 2 – Ban C) BÀI LÀM Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn trong thời đại chúng ta. Thơ chữ Hán là phần tinh túy nhất trong sự nghiệp thơ ca của Người. Sau “Nhật kí trong tù”, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại chùm thơ chữ Hán viết tại chiến khu Việt Bắc trong 9 năm kháng chiến chống Pháp xâm lược : “Nguyên tiêu”, “Thu dạ”, “Báo tiệp”, “Tặng Bùi Công”,v.v… Đó là, những bài thơ mang cảm hứng trữ tình, biểu hiện một hồn thơ chiến sĩ tuyệt đẹp. BÁO TIỆP Nguyệt thôi song vấn : Thi thành vị ? Quân vụ nhưng mang vị tố thi. Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng Chính thị Liên khu báo tiệp thì. 1948, Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh sáng tác bài thơ này vào năm 1948, một đêm trăng đẹp giữa núi rừng chiến khu, khi cuộc kháng chiến của quân và dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt. Câu thơ mở bài hết sức tự nhiên. Trăng đẩy cửa sổ hỏi thi nhân : “Thơ xong chưa” ? (thi thành vị ?). Trăng xuất hiện đột ngột, thân tình. Tiếp theo là câu trả lời của Bác : “Vẫn còn bận việc quân, chưa làm thơ được” (Quân vụ nhưng mang vi tố thi). “Trăng vào cửa sổ đòi thơ, Việc quân đang bận xin chờ hôm sau” Sự khất thơ của Bác là hoàn toàn hợp lý. Vì bận việc quân nên chưa có thơ. Trăng hãy vui lòng chờ một dịp khác. Cuộc đối thoại giữa Bác với trăng chứa đựng bao tâm tình của đôi bạn tri âm, tri kỉ. Năm 1948, cuộc kháng chiến chống Pháp bước sang năm thứ ba, quân và dân ta đang gặp bao khó khăn, gian khổ. Việc quân việc nước thu hút tâm trí lãnh tụ suốt đêm ngày. Nhiều bài thơ của Bác đã nói lên điều đó. “Yên ba thâm xứ đàm quân sự” (Giữa dòng bàn bạc việc quân). (“Nguyên tiêu”, 1948) “Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu” (Việc quân, việc nước bàn xong) (“Đối nguyệt”) Trở lại bài “Báo tiệp”, trăng đã xuất hiện, nhưng đối với thi nhân “đêm nay”, thơ cũng chưa thàn “vị” được. Trong tù, không có hoa, có rượu, chỉ có trăng cũng đã thành thơ. Trong hoàn cảnh kháng chiến, phải cần có thêm một vài yếu tố nữa. Câu “chuyển” trong bài tứ tuyệt nói về tiếng chuông ngân lên trên lầu núi, làm lay động giấc mộng đêm thu : “Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng” Tiếng chuông làm Bác “chợt tỉnh giấc thu” chính là tiếng chuông báo tin thắng trận. Aâm thanh ấy ngân nga mãi trong lòng người đang đêm ngày mong đợi tin vui từ các chiến trường bay về. Các thi liệu : “nguyệt”, “song”, “sơn lâu”, “chung hưởng”, “thu mộng” hòa quyện với thực tế cuộc sống kháng chiến bộn bề, gian khổ… tạo nên màu sắc vừa cổ điển vừa hiện đại, vừa thực vừa hư ảo, gợi cảm. Tiếng chuông trong đeêm khuya làm cho không gian núi rừng chiến khu thêm tĩnh lặng và thiêng liêng. Nó gợi ta nhớ đến một tứ thơ của Trương Kế, đời Đường : “Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San” (“Phong kiều dạ bạc”) Tiếng chuông là một thi liệu được nói đến nhiều trong thơ cổ : “Thính vũ” (Nguyễn Trãi) “Nhớ núi Đọi” (Nguyễn Khuyến) v.v… trong “Nhật kí trong tù”, Bác cũng viết : “Chùa xa chuông giục người nhanh bước, Trẻ dẫn trâu về tiếng sáo bay” (“Hoàng hôn”) Mỗi một tiếng chuông là một nỗi niềm. Tiếng chuông trong bài thơ “Báo tiệp” báo tin vui thắng trận. Giấc mộng đêm thu trở thành một giấc mộng đẹp. Tỉnh mộng, Bác đón tin vui : “Chính trị Liên khu báo tiệp thì” (Aáy tin thắng trận Liên khu báo về) Tiếng chuông vang ngân trên lần núi là một nét vẽ hàm súc, cổ điển, lấy động để tả tĩnh, làm cho cảnh đêm trăng chiến khu trở nên tĩnh lặng, trang nghiêm. Trong thời kì khói lửa, có niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận đã trở thành nguồn cảm hứng vút lên thành thơ. Người bạn trăng đã có thơ rồi. Trăng cùng với tin thắng trận đã làm cho “thi thành vị” trong tâm hồn thi nhân. Cấu trúc của bài thơ rất đặc biệt. Lúc đầu trăng đến đòi thơ. Vì bận việc quân nên Bác chưa có thơ. Tiếp theo tiếng chuông reo trên lầu núi, báo tin thắng trận. Thế là “thi thành vị” – một bài thơ trăng rất hay ra đời. Trăng với thi nhân chan hòa trong niều mui sướng : cảnh đẹp thơ mộng, vừa có thơ, vừa có tin vui thắng trận. Bác đã viết nhiều vần thơ nói về tin vui thắng trận. Mỗi vần thơ là một bước đi lên của dân tộc. Mỗi tin thắng trận là một chặng đường lịch sử, đầy máu và hoa. Sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam in dấu son đậm đà trong vần thơ Bác : “Tin vui thắng trận dồn chân ngựa” (“Tặng Bùi Công”) “Tin mừng thắng trận nở như hoa” (“Mừng xuân” 1967) “Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao” (“Không đề”, 1968) “Tin thắng trận” (Báo tiệp) là một trong những bài thơ tứ tuyệt đặc sắc của Bác Hồ. Tâm hồn lãnh tụ can hòa với tâm hồn thi sĩ. Cuộc đối thoại giữa trăng với thi
Trang 1Bài 12
“Tuyên ngôn độc lập” là
bản anh hùng ca của dân tộc
Việt nam trong thời đại Hồ Chí
Kiệt đọc “Nam quốc sơn hà…”
trên chiến tuyến sông Cầu – Như
Nguyệt
Năm 1428, Nguyễn Trãi
viết “Bình Ngô đại cáo”, áng
thiên cổ hùng văn của Đại Việt
lên máy chém lúc hừng đông
Roi vọt Côn Lôn, ngục tù
Phú Quốc…
Mỗi trang sử đất này đều
ngập máu cha ông”
1 Sau gần một thế kỉ đấu
tranh vô cùng kiên cường và anh
dũng, nhân dân Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ
Tịch đã quật khởi đứng lên tổng
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
Ngày 19/8/1945, chính
quyền ở thủ đô Hà Nội đã về tay
nhân dân ta 23/8/1945, tại Huế và
Hải Phòng, chính quyền cách
mạng đã được thành lập Ngày
25/8/1945, một triệu đồng bào Sài
Gòn – Chợ Lớn đã khởi nghĩa
thành công Chỉ không đầy 10
ngày, cả nước ta đã giành được
chính quyền về tay nhân dân, cuộc
cách mạng tháng Tám đã thành
công rực rỡ
Ngày 26/8, Chủ tịch Hồ
Chí Minh từ căn cứ địa Việt Bắc
về tới Hà Nội Tại căn gác 48 phố
Hàng Ngang, Người khởi thảo
“Tuyên ngôn độc lập” Ngày2/9/1945, trước mấy chục vạnđồng bào thủ đô Hà Nội, thay mặtChính phủ Lâm thời, Hồ Chủ tịchđọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên
bố thủ tiêu vĩnh viễn chế độ phong kiến và chế độ thực dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỉ nguyên mới : Độc lập Tự do và chủ nghĩa xã hội.
2 Mở đầu Tuyên ngôn độc lập
Nếu như “Nam quốc sơnhà” của Lý Thường Kiệt mở đầubằng một lời tuyên ngôn đanh thép: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”,
“Bình Ngô đại cáo” của NguyễnTrãi khẳng định sức mạnh nhânnghĩa Đại Việt : “Việc nhân nghĩacốt ở yên dân – Quân điếu phạttrước lo trừ bạo”, thì “Tuyên ngônđọc lập”, Hồ Chủ tịch lại mở đầubằng cách trích dẫn hai câu nổitiếng trong hai bản “Tuyên ngôn”
nổi tiếng trên thế giới
Câu thứ nhất trích dẫn từ
bản Tuyên ngôn độc lập năm
1776 của Mĩ :
“Tất cả mọi người sinh ra
đều có quyền bình đảng Tạo hóa
cho họ những quyền không ai cóthể xâm phạm được : trong những
quyền ấy, có quyền độc lập sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh mởđầu bằng cách trích dẫn như vậybởi lẽ Người có nhiều dụng ýchiến lược và chiến thuật sâu sắc
Trước hết, đứng trên tầmcao thời đại, Người ca ngợi 2 cuộcCách mạng của Mĩ và Pháp trongthế kỉ 18 là hai cuộc Cách mạng vĩ
đại, tư tưởng về nhân quyền và dân
quyền như quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc là
những tư tưởng vĩ đại Vì thế, Hồ
Chí Minh mới nói : “Đó là những
lẽ phải không ai chối cãi được”.
Người không chỉ trích dẫn
mà còn “suy rộng ra” để bình
luận Quyền bình đẳng, quyềnđược sống, quyền tự do và quyềnmưu cầu hạnh phúc không chỉ lànhân quyền và dân quyền, mà sauthế chiến thứ hai còn là quyềnthiêng liêng, cao cả của các dân tộctrên thế giới, là khát vọng, là xuthế lịch sử của thời đại Vì thế HồChủ tịch đã viết : “… Tất cả cácdân tộc trên thế giới đều sinh rabình đẳng, dân tộc nào cũng cóquyền sống, quyền sung sướng vàquyền tự do”
Giáo sư Singô Sibata trongluận văn “Hồ Chí Minh nhà tưtưởng” đã khẳng định tính chất độcđáo của tư tưởng Hồ Chí Minhđược biểu hiện trong “Tuyên ngônđộc lập” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
mở rộng quyền của con ngườithành quyền của dân tộc “quyềnlợi của mỗi cá nhân được coi là cơ
sở cho quyền lợi của cách mạng” ;
“Cống hiến nổi tiếng của Cụ HồChí Minh là ở chỗ Người đã pháttriển quyền lợi của con ngườithành quyền lợi của dân tộc Nhưvậy tất cả mọi dân tộc đều cóquyền tự quyết định lấy vận mệnhcủa mình”
Trích dẫn 2 câu nổi tiếngtrong 2 bản Tuyên ngôn của Mĩ vàPháp, Hồ Chủ tịch muốn khẳngđịnh một chân lí lịch sử và mộtniềm tự hào dân tộc Cuộc chiếntranh giành độc lập của nhân dân
Mĩ sự ra đời bản Tuyên ngôn 1776,cuộc cách mạng Pháp với bảnTuyên ngôn Nhân quyền và Dânquyền năm 1791 là vô cùng vĩ đại.Cuộc cách mạng tháng Tám năm
1945 với Tuyên ngôn độc lập ngày2/9/1945 của dân tộc Việt Nam đã
Trang 2mang tầm vóc thời đại và vô cùng
vĩ đại Hồ Chủ tịch đã biểu lộ niềm
tự hào về Đất nước ta rất anh hùng
và có một nền văn hiến lâu đời
Trước tình hình thế giới
sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
nên Hồ Chủ tịch mới mở đầu
Tuyên ngôn độc lập như thế Một
mặt, Người dùng chiến thuật “gậy
ông đập lưng ông” để vạch trần dã
tâm của thực dân Pháp đã chà đạp
lên lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái
của Cách mạng Pháp đến ăn cướp
nước ta trong suốt 80 năm trời,
đồng thời để ngăn chặn âm mưu
của Đờ Gôn và bè lũ muốn tái
chiếm Việt Nam làm thuộc địa
Mặt khác, Người đề cao tư tưởng
nhân đạo và tính pháp lí của văn
kiện lịch sử này, nhằm tranh thủ sự
ủng hộ của các nước trong phe
Đồng minh, của nhân dân thế giới
với cuộc Cách mạng tháng Tám
1945
Tóm lại, với cách mở bài
độc đáo, đặc sắc như vậy, Tuyên
ngôn độc lập cho thấy trí tuệ uyên
bác, tầm nhìn chiến lược sâu sắc
rộng lớn của Hồ Chí Minh về
chặng đường lịch sử phía trước của
nhân dân ta
3 Tuyên ngôn độc lập là
một áng văn chính luận thể hiện
phong cách chính luận Hồ Chí
Minh.
Văn chính luật phải được
thể hiện 3 tiêu chí sau : một là lí lẽ,
hai là lập luận, ba là bằng chứng.
“Tuyên ngôn độc lập” ngoài 3
tiêu chí trên còn có những nét
riêng trong cách viết mang dấu ấn
văn phong của Hồ Chủ Tịch
Lí lẽ của Hồ Chí Minh
rất sắc bén Ví dụ, sau khi trích
dẫn hai bản Tuyên ngôn của Mĩ,
Pháp, rồi khẳng định “đó là những
lẽ phải không ai chối cãi được”,
trên cơ sở đó, Người vạch trần dã
tâm và bộ mặt xảo quyệt của thực
lẽ phải”, những tư tưởng về nhânquyền, về dân quyền, về quyền tựquyết của các dân tộc
Ví dụ nữa Vạch trần chântướng hèn hạ, phải bội và nhục nhãcủa thực dân Pháp sau cuộc đảochính 9/3/1945 của Nhật, lí lẽ của
Hồ Chủ tịch vừa sắc bén vừa châmbiếm, khinh bỉ :
“Ngày 9 tháng 3 năm nay,Nhật tước khí giới của quân độiPháp Bọn thực dân Pháp hoặc là
bỏ chạy, hoặc là đầu hàng Thế làchẳng những chúng không “bảohộ” được ta, trái lại, trong 5 năm,chúng đã bán nước ta hai lần choNhật”
Lí lẽ trong văn chính luậnkhông phải là sự suy diễn vô căn
cứ, không phải là ngụy biện, tráilại, lí lẽ phải xây dựng trên nềntảng hiện thực và chân lí Lí lẽ trênđây của Hồ Chí Minh xây dựngtrên hiện thực cuộc sống và chân lílịch sử Việt Nam từ 1940 –9/3/1945 Lí lẽ rất sắc bén, đanhthép và hùng hồn là như vậy!
ra những suy luận phán đoán, đisát chân lí, phù hợp với xu thế đi
lên của lịch sử Cách lập luận của
Hồ Chí Minh rất chặt chẽ, hùng biện Lúc thì từ những luận cứ lịch
sử, Người tạo nên suy luận:
“Chúng thi hành luật pháp dã man(luận cứ 1) Chúng lập ba chế độkhác nhau ở Trung, Nam, Bắc(luận cứ 2) để ngăn cản việc thống
nhất nước nhà của ta (suy diễn 1),
để ngăn cản dân tôc ta đoàn kết”(suy diễn 2) Qua đó, ta thấy : luận
cứ gắn chặt với suy diễn ; suy diễnmang tính chất tất yếu, đó là tínhlôgích của lập luận
Ví dụ thứ hai Ca ngợi vàkhẳng định truyền thống yêu nước,tinh thần gan góc chống ngoạixâm, chống thực dân, chống phátxít của nhân dân ta, tự hào khẳngđịnh nền độc lập của nhân dân ta làkết quả của một quá trình chiếnđấu và hi sinh lâu dài, với baonhiêu xương máu đã đổ xuống,chứ không phải do một thế lực nào
ở bên ngoài ban phát cho:
“Một dân tộc đã gan gócchống ách nô lệ của Pháp hơn 80năm nay (luận cứ 1), một dân tộc
đã gan góc đứng về phe Đồngminh chống phát xít mấy năm nay(luật cứ 2), dân tộc đó phải được tự
do ! (hệ quả 1) Dân tộc đó phảiđược độc lập ! (hệ quả 2)
Cách lập luận trên đây rấtchặt chẽ, độc đáo và hùng biện Từluận cứ 1 và luận cứ 2, Ngườikhẳng định hệ quả 1 rồi tăng cấprút ra hệ quả 2 Nếu viết : “Dân tộc
đó phải được tự do và phải đượcđộc lập” thì chất hùng biện đãgiảm đi phần lớn Lối viết trùngđiệp, đối xứng cũng góp phần tạonên một đoạn văn đẹp nổi tiếngcủa Hồ Chủ tịch
Sau chiến tranh thế giớilần thứ 2, Đờ Gôn và bọn thực dânPháp hiếu chiến đưa ra luận điệu :Việt Nam vẫn là thuộc địa củaPháp”, Hồ Chủ tịch đã bác bỏ luậnđiệu ấy Tính pháp lí của “Tuyênngôn độc lập” chính một phầnđược thể hiện qua đoạn văn vànghệ thuật lập luật chặt chẽ, hùngbiện này :
“Sự thật là từ mùa thu năm
1940, nước ta đã thành thuộc địacủa Nhật, chứ không phải thuộcđịa của Pháp nữa Khi Nhật hàngĐồng minh thì nhân dân cả nước ta
đã nổi dậy giành chính quyền, lập
Trang 3nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng
Hòa
Sự thật là dân ta đã lấy lại
nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ
không phải từ tay Pháp”
Luận cứ, bằng chứng
trong “Tuyên ngôn độc lập” ?
Đó là những bằng chứng
lịch sử hiển nhiên không ai có
thể chối cãi được Hồ Chủ tịch đã
căm thù lên án 5 tội ác lớn về
chính trị và 5 tội ác lớn về kinh tế
của thực dân Pháp trong 80 năm
thống trị nước ta Đây là tội ác thứ
3 về chính trị :
“Chúng lập ra nhà tù nhiều
hơn trường học Chúng thẳng tay
chém giết những người yêu nước
thương nòi của ta Chúng tắm các
cuộc khởi nghĩa của ta trong
những bể máu”
Tội ác thứ 5 về kinh tế của
thực dân Pháp là trong vòng 5 năm
chúng đã bán được nước ta 2 lần
cho Nhật, và chúng đã gây ra nạn
đói năm 1945, làm hơn 2 triệu
đồng bào ta bị chết đói !
Xưa kia trong “Bình ngô
đại cáo”, Nguyễn Trãi căm giận
lên án tộc ác quân “cuồng Minh”
đã “Nước dân đen trên ngọn lửa
hung tàn – Vùi con đỏ xuống dưới
hầm tai vạ” Tội ác ghê tởm ấy:”Lẽ
nào trời đất dung tha – Ai bảo thần
dân chịu được ?”Đọc “Tuyên ngôn
độc lập” ta cũng có cảm nhận ấy !
“Tuyên ngôn độc lập”
thể hiện cách viết ngắn gọn, súc
tích, hùng hồn của Hồ Chí Minh.
Cả bản “Tuyên ngôn” hàm chứa
biết bao sự kiện lịch sử, bao ý
tưởng vĩ đại nhưng áng văn chính
luật này chỉ dài 1032 chữ ; trong
đó Người dùng 104 chữ “chép” 5
tội ác lớn của thực dân Pháp Chủ
yếu Người sử dụng câu văn ngắn
Có câu chỉ có 9 từ mà nêu lên một
dân Việt nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà
Pháp đã ký kết về nước Việt Nam,
xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của
Pháp trên đất nước Việt Nam”
Các từ ngữ : “thoát li hẳn”,
“xóa bỏ hết”, “xóa bỏ tất cả” làlinh hồn của đoạn văn trên, thểhiện cách dùng từ đặt câu của HồChủ tịch : sắc sảo, chính xác, mạnhmẽ
“Tuyên ngôn độc lập:”
phản ánh truyền thống yêu nướcanh hùng chống ngoại xâm của dântộc ta, nói lên khát vọng về độclập, tự do của nhân dân ta Nó làbản anh hùng ca thời đại Lờituyên bố của Chủ tịc Hồ Chí Minhbiểu lộ sức mạnh nhân nghĩa trongthời đại mới, đanh thép và hùnghồn :
“Nước Việt Nam có quyềnhưởng tự do và độc lập, và sự thật
đã thành một nước tự do, độc lập
Toàn thể dân tộc Việt Nam quyếtđem tất cả tinh thần và lực lượng,tính mạng và của cải để giữ vữngquyền độc lập ấy”
Đại tướng Võ NguyênGiáp trong cuốn hồi kí “Nhữngnăm tháng không thể nào quên” cóviết :
“Lịch sử đã sang trang
Một kỉ nguyên mới bắt đầu : Kỷnguyên Độc lập, Tự do, HạnhPhúc… Cả dân tộc đã hồi sinh Vôvàn khó khăn còn ở phía trướcmắt Nhưng đối với bọn đế quốc,muốn phục hồi lại thiên đàng đãmất, mọi việc cũng không còn dễdàng như xưa…”
Hồ Chí Minh đã có lầnnói, suốt cuộc đời hoạt động cáchmạng, chỉ có lúc soạn thảo “Tuyên
ngôn độc lập” là “những giờ phút sảng khoái nhất” của Người.
Có thể nói, “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện lịch sử
trọng đại của nhân dân ta, tiêu biểunhất cho phong cách chính luậncủa Hồ Chí Minh : ngắn gọn, súctích, đanh thép, hùng hồn, lí lẽ sắcbén, lập luận chặt chẽ đanh thép…Đúng là “Lời Non Nước” cao cả vàthiêng liêng
Bài 13
“Nguyên tiêu” (Rằm tháng giêng) là một bài thơ xuân tuyệt tác của Hồ Chí Minh Hãy phân tích bài thơ.
“Đề thi Đại học năm 1997của Trường Đại học Quốc gia HàNội –Ban C – câu 2
BÀI LÀM
“Nguyên tiêu” nằm trong
chùm thơ chữ Hán của Hồ ChíMinh viết trong 9 năm kháng chiếnchống Pháp, tại chiến khu Việt Bắc: “Nguyên tiêu”, “Báo tiệp”, “Thudại”… Sau chiến thắng Việt Bắc,thu đông năm 1947, sang xuân hè
1948, quân ta lại thắng lớn trênđường số Bốn Niềm vui thắng trậntrần ngập tiền tuyến hậu phương.Trong không khí sôi động và phấnchấn ấy, bài thơ “Nguyên tiêu” củaBác Hồ xuất hiện trên báo “Cứuquốc” như một đóa hoa xuân ngàongạt và rực rỡ sắc hưởng XuânThủy đã dịch khá hay bài thơ này.Nguyên tác bằng Chứ Hán, viếttheo thể thơ thất ngôn tư tuyệt :
“Kim dạ nguyên tiêunguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thủy tiếpxuân thiên ;
Yên ba thâm xứ đàm quânsự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãnthuyền.”
Đêm nguyên tiêu trăngsáng ngời trên một không gian bao
la Bài thơ nói lên cảm xúc và niềm vui dào dạt trong tâm hồn lãnh tụ đêm nguyên tiêu lịch sử.
1 Hai câu đầu vẽ lên cảnhđẹp tuyệt vời đêm nguyên tiêu.Trên bầu trời, vầng trăng vừa tròn
Trang 4(nguyệt chính viên) Trăng rằm
tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh
khác thường vì mùa xuân làm cho
trăng thêm đẹp Và trăng cũng làm
cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu
tình Đất nước quê hướng bao la
một màu xanh bát ngát Màu xanh
lấp lánh của “xuân giang”, màu
xanh ngọc bích của “xuân thủy”
tiếp nối với màu xanh thanh niên
của “xuân thiên” Ba từ “xuân”
trong câu thơ thứ hai là những nét
vẽ đặc sắc làm nổi bật cái “thần”
của cảnh vật sông, nước và bầu
trời :
“Xuân giang, xuân thủy
tiếp xuân thiên”.
(Sông xuân nước lẫn mầu
trời thêm xuân)
“Xuân” trong câu thơ chữ
Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi
trẻ, là vẻ đẹp xinh tươi Nó còn gợi
tả mùa xuân, của sông nước, đất
trời và xuân Nó thể hiện vẻ đẹp và
sức sống mãnh liệt của đất nước
ta : trong lửa đạn vẫn dào dạt một
sức sống trẻ trung, tiềmtàng Ngoài
giá trị miêu tả cảnh đẹp đêm
nguyên tiêu, vần thơ còn biểu hiện
tinh tế cảm xúc tự hào, niềm vui
sướng mênh mông của một hồn
thơ đang rung động giữa một đêm
xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử,
đất nước đang anh dũng kháng
chiến
Với Bác Hồ, yêu vẻ đẹp
đêm nguyên tiêu, yêu thiên nhiên
cũng là yeu đời tha thiết Bác yêu
thiên nhiên nên sông, núi, cỏ cây,
hoa lá, tạo vật trong thơ Bác rất
hữu tình Có “Trăng lồng cổ thụ,
bóng lồng hoa” Có “Trăng vào
cửa sổ đòi thơ” trong niềm vui
thắng trận Bác yêu hoa núi, chim
rừng Việt Bắc :”Xem sách, chim
rừng vào cửa đậu – Phê văn hoa
núi ghé nghiên soi” ; yêu ngọn gió,
giọt mưa báo mùa thu chợt đến…
Thiên nhiên trong thơ Hồ Chí
Minh là một trong những yếu tố
tạo nên sắc điệu trữ tình
“Nguyệt mãn thuyền” làmột hình ảnh rất đẹp và trữ tình,
nó làm ta nhớ đến những vần cổthi hoa lệ :
- “Bạn chơi năm ngoái nàođâu tá ?
Trăng nước như xưa chínvới mười”
(Triệu Hỗ – Đường thi)
- “Thuyền mấy lá đông,tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắtlòng sông…”
sự giàu hồn thơ đang lãnh đạoquân dân ta kháng chiến để giànhlại độc lập, tự do, để giữ mãinhững đêm nguyên tiêu trăng đầytrời của đất nước quê hương thanhbình Hình ảnh con thuyền trăngtrong bài thơ này cho thấy tâm hồnBác giàu tình yêu thiên nhiên,trong kháng chiến gian khổ vẫn lạcquan yêu đời
Qua bài thơ “Nguyêntiêu”, ta có thể nói, trăng nướctrong những thơ Bác rất đẹp
Chính vầng trăng ấy đã thể hiệnphong thái ung dung, tâm hồnthanh cao của vị lãnh tụ thiên tàicủa dân tộc mang cốt cách nghệ sĩ,nhà hiền triết phương Đông
“Nguyên tiêu” được viếttheo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt,man mác phong vị Đường thi Bàithơ có đầy đủ những yếu tố của bàithơ cổ : một con thuyền, một vầngtrăng, có sông xuân, nước xuân,trời xuân, có khói sóng Điệu thơthanh nhẹ Không gian bao la, yêntĩnh… Chỉ khác một điều, ở giữa
khung cảnh thiên nhiên hữu tình
ấy, nhà thơ không có rượu và hoa
để thưởng trăng, không đàm đạothi phú từ chương, mà chỉ “đàmquân sự” Bài thơ như một đóa hoaxuân đẹp trong vườn hoa dân tộc,
là tinh hoa kết tụ từ tâm hồn, trítuệ, đạo đức của Hồ Chí Minh
Văn tức là người Thơ làtấm lòng, là tiếng cộng hưởng từmột người đến với muốn người.Thơ Bác Hồ tuy nói đến “trăng,hoa, tuyết, nguyệt…” những đãphản ánh tâm tư, tình cảm, lẽ sốngcao đẹp của Bác Bác yêu nước,thương dân tha thiết nên Bác càngyêu đêm nguyên tiêu với vầngtrăng xuân thơ mộng Trong khángchiến gian khổ, Bác đã hướng tớivàng trăng rằm tháng giêng, hướngtới bầu trời xuân với tâm hồn trongsáng và phong thái ung dung Cuộcđời không thể thiếu vầng trăng.Biết yêu trăng cũng là biết sốngđẹp “Nguyên tiêu” là một bài thơtrăng tuyệt tác của nhà thơ Hồ ChíMinh Con thuyền chở đầy ánhtrăng cũng là con thuyền khángchiến đang hướng tới chiến công
và niềm vui thắng trận
Bài 14 Phân tích bài thơ “Báo tiệp” (Tin thắng trận) của Hồ Chí Minh.
(*Đề thi Đại học năm 1997 củaTrường Đại học Công đoàn – câu 2
– Ban C)
BÀI LÀM
Hồ Chí Minh là một nhàthơ lớn trong thời đại chúng ta.Thơ chữ Hán là phần tinh túy nhấttrong sự nghiệp thơ ca của Người
Sau “Nhật kí trong tù”,Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lạichùm thơ chữ Hán viết tại chiếnkhu Việt Bắc trong 9 năm khángchiến chống Pháp xâm lược :
“Nguyên tiêu”, “Thu dạ”, “Báotiệp”, “Tặng Bùi Công”,v.v… Đó
là, những bài thơ mang cảm hứngtrữ tình, biểu hiện một hồn thơchiến sĩ tuyệt đẹp
Trang 5thơ này vào năm 1948, một đêm
trăng đẹp giữa núi rừng chiến khu,
khi cuộc kháng chiến của quân và
dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt
Câu thơ mở bài hết sức tự nhiên
Trăng đẩy cửa sổ hỏi thi nhân :
“Thơ xong chưa” ? (thi thành vị ?)
Trăng xuất hiện đột ngột, thân tình
Tiếp theo là câu trả lời của Bác :
“Vẫn còn bận việc quân, chưa làm
thơ được” (Quân vụ nhưng mang
vi tố thi)
“Trăng vào cửa sổ đòi thơ,
Việc quân đang bận xin
chờ hôm sau”
Sự khất thơ của Bác là
hoàn toàn hợp lý Vì bận việc quân
nên chưa có thơ Trăng hãy vui
lòng chờ một dịp khác Cuộc đối
thoại giữa Bác với trăng chứa đựng
bao tâm tình của đôi bạn tri âm, tri
kỉ
Năm 1948, cuộc kháng
chiến chống Pháp bước sang năm
thứ ba, quân và dân ta đang gặp
bao khó khăn, gian khổ Việc quân
việc nước thu hút tâm trí lãnh tụ
suốt đêm ngày Nhiều bài thơ của
Bác đã nói lên điều đó
“Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng”
Tiếng chuông làm Bác
“chợt tỉnh giấc thu” chính là tiếngchuông báo tin thắng trận Aâmthanh ấy ngân nga mãi trong lòngngười đang đêm ngày mong đợi tinvui từ các chiến trường bay về
Các thi liệu : “nguyệt”, “song”,
“sơn lâu”, “chung hưởng”, “thumộng” hòa quyện với thực tế cuộcsống kháng chiến bộn bề, giankhổ… tạo nên màu sắc vừa cổ điểnvừa hiện đại, vừa thực vừa hư ảo,gợi cảm
Tiếng chuông trong đeêmkhuya làm cho không gian núirừng chiến khu thêm tĩnh lặng vàthiêng liêng Nó gợi ta nhớ đếnmột tứ thơ của Trương Kế, đờiĐường :
“Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San”
“Chùa xa chuông giục người nhanh bước,
Trẻ dẫn trâu về tiếng sáo bay”
(“Hoàng hôn”)
Mỗi một tiếng chuông làmột nỗi niềm Tiếng chuông trongbài thơ “Báo tiệp” báo tin vuithắng trận Giấc mộng đêm thu trở
thành một giấc mộng đẹp Tỉnhmộng, Bác đón tin vui :
“Chính trị Liên khu báo tiệp thì”
(Aáy tin thắng trận Liên khu báo về)
Tiếng chuông vang ngântrên lần núi là một nét vẽ hàm súc,
cổ điển, lấy động để tả tĩnh, làmcho cảnh đêm trăng chiến khu trởnên tĩnh lặng, trang nghiêm
Trong thời kì khói lửa, cóniềm vui nào lớn hơn niềm vuithắng trận đã trở thành nguồn cảmhứng vút lên thành thơ Người bạntrăng đã có thơ rồi Trăng cùng vớitin thắng trận đã làm cho “thithành vị” trong tâm hồn thi nhân
Cấu trúc của bài thơ rấtđặc biệt Lúc đầu trăng đến đòithơ Vì bận việc quân nên Bácchưa có thơ Tiếp theo tiếngchuông reo trên lầu núi, báo tinthắng trận Thế là “thi thành vị” –một bài thơ trăng rất hay ra đời.Trăng với thi nhân chan hòa trongniều mui sướng : cảnh đẹp thơmộng, vừa có thơ, vừa có tin vuithắng trận
Bác đã viết nhiều vần thơnói về tin vui thắng trận Mỗi vầnthơ là một bước đi lên của dân tộc.Mỗi tin thắng trận là một chặngđường lịch sử, đầy máu và hoa.Sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam indấu son đậm đà trong vần thơBác :
- “Tin vui thắng trận dồn chân ngựa”
(“Tặng Bùi Công”)
- “Tin mừng thắng trận nở như hoa”
(“Mừng xuân” 1967)
“Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao”
(“Không đề”, 1968)
“Tin thắng trận” (Báo
tiệp) là một trong những bài thơ tứtuyệt đặc sắc của Bác Hồ Tâm hồnlãnh tụ can hòa với tâm hồn thi sĩ.Cuộc đối thoại giữa trăng với thinhân tạo nên vẻ đẹp trữ tình, trong
Trang 6sáng và hồn nhiên đầy chất thơ.
Thi liệu chọn lọc, tinh tế trong biểu
hiện và biểu cảm Đọc bài thơ ỘTin
thắng trậnỢ, ta thêm yêu tâm hồn
lãnh tụ : trong kháng chiến gian
khổ vẫn lạc quan yêu đời, yêu
thiên nhiên, yêu vầng trăng đẹp
Trăng xưa đến thăm Bác trong
cảnh lao tù, cùng chiasẽ với Bác
nỗi đau mất tự do ỘTrăng nayỢ
đến với Bác nơi núi rừng chiến
khu để cùng với Bác vui mừng đón
tin thắng trận ỘTin thắng trậnỢ là
một bài thơ trăng rất độc đáo của
nhà thơ Hồ Chắ Minh Tiếng
chuông trong bài thơ như một tắn
hiệu báo tin một giai đoạn mới của
cuộc kháng chiến đã mở ra, quân
và dân ta đang xốc tới với sức
quan tâm lãnh đạo văn hóa nghệ
thuật Đường lối văn nghệ của
Đảng được thể hiện trong nhiều
Nghị quyết, trong những bài viết
của Chủ tịch Hồ Chắ Minh Năm
1951, giữa lúc cuộc kháng chiến
chống Pháp xâm lược đang
@ỵĐỊẺÈÚ@ìẻỡ@ỈẻưÂ@ìÃƠỵ@
ĐưỡỈ@ỵỴĐẺÈ@èĐêÃÈè@èảỡỵỴ@ƯĐÃịỵỴ@ỈĐỊẺÂỵXAâưÀỵỴ@èĐéđỊ@ỈĐÌ@ảÂ@ỈĐưỈAãắịỵỴ@PìÂỊ@èảưđ@ìÃđ@ắả@èăÚR
@ỈẻưÂ@ìÃƠỵ@ỵỴĐẺÈ@ẫỉ@èảỡỵỴ@ỈÃịỈĐ@ÚÃỡỵỴ@ìÃđ@èĐéđỊAâÃỡỊ@ỹéịỊ\
@ẤÃịỈ@ỒưÀ@ỵưịỊ@ỈÃẢê@ỵÃđị@ƯĐỊ@ỈêưÈỈ@ƯĐÃịỵỴ@ỈĐỊÊán đã giành được nhiều thắng lợi,nhưng còn đầy gian khổ, hy sinh,chân trời thắng lợi còn ở xa phắatrước Cuộc kháng chiến ấy mangtắnh chất toàn dân và toàn diện vôcùng sâu sắc Toàn dân là chiến sĩ
Ta đánh giặc trên tất cả các mặttrận và phương diện : quân sự,chắnh trị, ngoại giao, kinh tế, vănhóa nghệ thuật v.vẦ
ỘVăn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trậnỢ Bác nhấn
mạnh đến nhiệu vụ cao cả, thiêngliêng, đến tắnh chất quyết liệt củacuộc đấu tranh trên mặt trận này
Tuy không có tiếng súng, không có
kẻ thù trực tiếp nhưng tắnh chấtcủa nó vô cùng phức tạp và quyếtliệt Mặt trận này diễn ra trênphương diện tư tưởng tình cảm củathời đại Văn học nghệ thuật thểhiện tư tưởng, tâm ly giai cấp, tâmhồn dân tộc, là vũ khắ đấu tranhsắc bén Trước cách mạng nó vạchtrần tộ ác Pháp, Nhật là lũ tay saibán nước, khắch lệ lòng yêu nướccăm thù giặc, cổ vũ nhân dân đứnglên giành tự do Trong kháng chiến
nó góp phần to lớn trong sự nghiệpcách mạng, vì độc lập, tư do, vìcơm áo hòa bình của dân tộc Khiquân xâm lược dùng mọi mưu machước quỷ gieo rắc tư tưởng chiếnbại, chia rẽ đồng bào ta thì văn họcnghệ thuật là vũ khắ tuyên truyền,
là bài ca yêu nước, là khúc tráng caxung trận và chiến thắng, khắch lệ
sĩ khắ toàn dân và toàn quân ta tiếnlên :ỢẦ Quân ta khắ mạnh nuốnNgưu Đẩu Ờ Thề diệt xâm lăng lũ
sói cầyỢ (ỘLên núiỢ Ờ Hồ ChắMinh, 1950)
ỘVăn hóa nghệ thuật cũng
là một mặt trậnỢ vì ở đó luôn luôndiễn ra cuộc đấu tranh gay gắt, liêntục giữa các lạc hậu và cái tiến bộ,giữa cách mạng và phản cáchmạng, giữa nhân dân ta và kẻ thù,giữa cái mới và cái cũ kỹ, trì trệ.Câu nói của Bác chỉ rõ tác dụnglớn lao của văn hóa nghệ thuật Nó
là món ăn tinh thần không thểthiếu đối với chiến sĩ và đồng bào
Ngay trong ỘNhật kắ trongtuỢ (1942 Ờ 1943), Bác Hồ đã từngviết :
ỘNay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phongỢ
Thơ ca hiện đại phải có
ỘthépỢ, nhà thơ phải là người chiến
sĩ Ộbiết xung phongỢ trên mặt trậnvăn hóa nghệ thuật Chất ỘthépỢ làtắnh chiến đấu, là nội dung cáchmạng của thơ ca nói riêng, đồngthời cũng là bản chất của văn hóanghệ thuật phục vụ công nôngbinh, góp phần tuyên truyền đườnglối kháng chiến Văn hóa nghệthuật có sức mạnh vô cùng to lớnnhư nhà thơ Sóng Hồng đã viết :
ỘLấy bút làm đòn chuyển xoay chế độ
Mỗi vần thơ : bom đạn phá cường quyềnỢ
ỘVăn hóa nghệ thuật làmột mặt trậnỢ, không những thế vịtrắ và vai trò của người nghệ sĩ
chân chắnh rất vẻ vang : ỘAnh chị
em là chiến sĩ trên mặt trận ấyỢ.
Văn nghệ sĩ không thể ngồi trêntháp ngà, thoát li cuộc sống để làmnghệ thuật Họ không thể Ộngủ yêntrong đời chậtỢ để Ộgậm nhấm vănchươngỢ Trái lại, họ phải là ngườilắnh, người trắ thức, người nghệ sĩcủa thời đại Ộđau nỗi đau củagiống nòi, vui niềm vui của ngườilắnhỢ Họ tư nguyện đứng tronghàng ngũ nhân dân lấy ngòi bút vàtác phẩm để phục vụ chắnh trị,
Trang 7phục vụ công nông binh, ngợi ca
chiến đấu và chiến thắng của dân
tộc
“Anh chị em là chiến sĩ
trên mặt trận ấy”, có biết bao
niềmtin yêu chứa đựng trong câu
nói ấy Bác khẳng định trách
nhiệm nặng nề những hết sức vẻ
vang của nhà văn, nhà thơ, họa
sĩ… Trong thời máu lửa, câu khẩu
hiệu : “Văn hóa hóa kháng chiến,
kháng chiến hóa văn hóa” đã trở
thành phương châm sống và sáng
tác của các văn nghệ sĩ Các nhà
văn, nhà thơ như Nam cao, Tố
Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn
Tuân,… đã cùng bộ đội tham gia
các chiến dịch Có một số nhà văn,
nhà thơ đã ngã xuống trên chiến
trường như Trần Đăng, Nam Cao,
Hoàng Lộc… và sau này là Lê
Anh Xuân, Nguyễn Thi, Dương
Thị Xuân Quí…
Nhà thơ Xuân Diệu đã viết
một cách thấm thía tình cảm của
người nghệ sĩ gắn hồn mình, gắn
trang văn câu thơ với nhịp đập của
trái tim nhân dân một thời gian khổ
:
…”Tôi cũng xương thịt với
nhân dân của tôi,
Vai trò công dân, tư thế
chiến sĩ của người nghệ sĩ là sự
Pháp, chống Mĩ của nhân dân ta đã
toàn thắng Cùng vói xương máu
của đồng bào, chiến sĩ, nhữngtrang thơ văn, những thước phim,bức họa, bản nhạc… của văn nghệ
sĩ đã góp phần làm nên bản tìnhanh hùng ca thời đại
Thấm nhuần lời dạy củaChủ tịch hồ Chí Minh, văn nghệ sĩ
đã xứng đáng là người chiến sĩ trên
“mặt trận văn hóa nghệ thuật” Với
sứ mệnh lớn lao, nặng nề, nhưng
vẻ vang, họ đã góp phần xứngđáng làm đẹp, làm giàu nền vănhóa Việt Nam Đất nước đangchuyển động đi lên phía trước, vănnghệ Việt Nam đổi mới và cónhiều khởi sắc Câu nói nổi tiếngtrên đây của Chủ tịch Hồ ChíMinh vẫn có ý nghĩa động viênvăn nghệ sĩ bồi dưỡng cái tâm vàcái tà, khám phá và sáng tạo nênnhiều tác phẩm hay và tốt để phục
vụ Tổ quốc, tô đẹp nền văn hiếnViệt Nam
Bài 15 Phân tích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng.
BÀI LÀM
Quang Dũng là một hồnthơ chiến sĩ thời lửa máu oai hùng!
“Tây Tiến” là bài thơ củangười lính nói về người lính – anh
Vệ quốc quân thời 9 năm khángchiến chống Pháp Quang Dũngvừa cầm súng đánh giặc vừa làmthơ nên thơ ông rất chân thực vàhào sảng, dư ba Bài thơ được viếtvào năm 1948, khi cuộc khángchiến thần thánh của dân tộc bướcsang năm thứ ba, chặng đườngkháng chiến còn đầy thử tháchgian lao
“Tây Tiến” nói lên nỗi nhớ
và niềm tự hào của Quang Dũng
về đồng đội thân yêu, cùng vàosanh ra tử một thời trận mạc
1 Mở đầu bài thơ là mộttiếng gọi làm nao lòng người Nỗinhớ thương, nỗi nhớ như nén chặt,bỗng trào dâng :
“Sông Mã xa rồi, Tây Tiến
ơi !
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”
Từ “ơi” bắt vần với từ láy
“chơi vơi” làm cho âm điệu câuthơ trở nên tha thiết sâu lắng, bồihồi Hai chữ “nhớ” như hai nốtnhấn gợi tả nỗi nhớ “chơi vơi”cháy bỏng khôn nguôi Từ PhùLưu Chanh, ông nhớ dòng sông
Mã, nhớ núi rừng miền Tây, nhớđoàn quan Tây Tiến – một đơn vị
bộ đội đã hoạt động tại vùng rừngnúi miền tây Thanh Hóa, Hòa Bình– biên giới Việt Lào trong nhữngnăm đầu kháng chiến Bao kỉ niệmđẹp một thời chinh chiến bỗngsống dấy, gần gũi và thân thiết vôcùng Những tên bản, tên mườngcủa rừng xưa núi cũ yêu thươnghiện về, bỗng trở nên gần gũi, làmxao xuyến hồn người chiến sĩ :
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Những Sài Khao, MườngLát… những địa danh vời vợinghìn trùng từng in dấu chân đoànchiến binh Tây Tiến Trong “sươnglấp”, trong “đêm hơi” mịt mù, lạnhlẽo, đoàn dũng sĩ đã vượt quanhững nẻo đường hành quân vôcùng gian khổ Ngày nối ngày,đêm nối đêm, trải qua bao dãi dầu
“đoàn quân mỏi” Giữa cái biểnsương mù của núi rừng, “đoànquân mỏi” tưởng như bị lấp đi, bịtrĩu xuống trong mỏi mệt, giantruân, nhưng thật bất nhờ, trongcảnh tưởng bỗng xuất hiện “hoa vềtrong đêm hơi” Cái mỏi mệt, cáigian khổ như đã tiêu tan Sáu thanhbằng liên tiếp diễn tả cái nhẹnhàng, cái lâng lâng trong tâm hồnngười lính trẻ đi tới đích sau nhữngchặng đường dài hành quân đầythử thách : “Mường Lát hoa vềtrong đêm hơi”
Cuộc chiến đấu diễn ra ácliệt giữa núi rừng miền Tây.Những đèo dốc “khúc khuỷu”,
“thăm thẳm” chưa từng in dấu
Trang 8chân người !Những “cồn mây heo
hút Những tầm cao của núi, những
chiều sâu của lũng, của suối thử
thách chí can trường, như chặn
đồng đội phải vượt qua trong
những tháng ngày “Aùo vải chân
khơng đi lùng giặc đánh !” (Hồng
Nguyên) “Súng ngửi trời” là một
hình ảnh nhân hĩa phản ánh một
cách nĩi, một cách cảm nhiều ngộ
nghĩnh, đầy chất lính hồn nhiên,
trẻ trung và yêu đời Cĩ câu thơ
gồm hai về tiểu đối, bản lĩnh kiên
cường của người chiến sĩ Tây Tiến
được “đo” bằng : “Ngàn thước lên
cao // ngàn thước xuống” Núi tiếp
núi, đèo nối đèo, hết lên cao, lại
xuống thấp, đồn quân đi trong mù
sương, trong màn mưa rừng Từ
những đỉnh cao “ngàn thước”, các
chiến binh dõi tầm mắt nhìn xa
Những bản mường, những nhà sàn
thấp thống ẩn hiện Câu thơ thất
ngơn, tồn thanh bằng gợi tả niềm
tươi vui, sự lân lâng trong tâm hồn
người lính trẻ, lạc quan yên đời :
“Nhà ai Pha Luơng mưa xa khơi”
Những gì đả xảy r trên
những nẻo đường trường chinh lửa
máu và gian khổ ? Aâm điệu câu
thơ bỗng trĩu xuống, nao nao :
“Anh bạn dãi dầu khơng
bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên
đời !”.
Hai tiếng “anh bạn” cất lên
như một tiếng khĩ thầm Trong
gian khổ “dãi dầu” trong nhữngngày dài hành quân và chiến đấu,
cĩ đồng đội thân yêu đã “khơngbước nữa”, vĩnh biệt đồn binh,
“bỏ quên đời”, bỏ quên đồng chíbạn bè, nằm lại chân đèo, gĩc núi
Bốn chữ “gục lên súng mũ” thểhiện một sự hy sinh vơ cùng bitráng : ngã xuống, gục xuống, trênđường hành quân, giữa trận đánh,súng cịn cầm trên tay, mũ cịn độitrên đầu Mặc dù Quang Dũng đãthay thế từ “chết”, từ “hy sinh”
bằng những từ “khơng bước nữa”,
“gục lên”…, “bỏ quên đời”, nhưngvẫn trào lên bao nỗi xĩt xa, thươngtiếc Sự thật chiến tranh xưa nayvẫn thế ! Cĩ điều là vần thơ củaQuang Dũng tuy nĩi đến cái chếtcủa người lính nhưng khơng gợiQuang Dũng tuy nĩi đến cái chếtcủa người lính nhưng khơng gợi ra
bi lụy, thảm thương, mà trái lại,trong sự tiếc thương cĩ tự hàokhẳng định : vì độc lập, tự do mà
cĩ biết bao chiến sĩ anh hùng đãngã xuống trên các chiến trườn,trong tư thế lẫm liệt “gục lên súngmũ…” như vậy !
Cảnh tượng chiến trườngđâu chỉ cĩ đèo cao, cồn mây, dốcthẳm, đâu chỉ cĩ mưa ngàn, muỗirừng vắt núi, mà cịn cĩ biết baothử thách của rừng thiêng tự ngànđời mang cái vẻ hoang sơ, bí mật,hùng vĩ và oai nghiêm Chiều nốichiều, đêm tiếp đêm, chiến khuvang động tiếng “gầm thét” củathác, của “cọp trêu người” Trênmột khơng gian mênh mơng củachốn đại ngàn, từ Pha Luơng đếnMường Hịch hoang vu, cái chếtđang rình rập đe dọa Chốn rừngthiêng ẩn dấu nhiều bí mật “oailinh”, được nhân hĩa như tăngthêm phần dữ dội Thác thì “gầmthét”, cọp thì “trêu người” như đểthử thách chí can trường các chiếnbinh Tây Tiến :
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trên người”
Vượt lên gian khổ, hysinh, hành trang người lính đầy ắpnhững kỉ niệm đẹp của tình quândân Quên sao được “cơm lênkhĩi”, hương vị đậm đà của bátcơm tỏa khĩi, của hương nếp xơicịn quyện theo bao tình sâu nghĩanặng của bà con dân bản MaiChâu, của “em” Hai tiếng “nhớơi” gợi lên nhiều bâng khuâng,vương vấn, thấm thía và ngọtngào :
“Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khĩi
Mai Châu mùa em thơm nếp xơi”.
2 Phần thứ hai bài “TâyTiến” gồm cĩ 8 câu nĩi về “hộiđuốc hoa” và những chiều sươngcao nguyên Châu Mộc Giọng thơmang mác, bâng khuâng Nhà thơ
tự hỏi mình “cĩ thấy” và “cĩ nhớ”.Chất tài tử, tài hoa và lãng mạn củanhững chàng lính chiến được nĩiđến thật hay trong đêm “hội đuốchoa” Chữ “kia” là đại từ để trỏ từ
xa, gọi nhiều ngạc nhiên, tình tứ.Trong ánh lửa đuốc bập bùng, sửxuất hiện những cơ gái Thái miềnTây Bắc, những cơ phù – xao Làotrong bộ xiêm áo dân tộc rực rỡ đãđem đến cho đồn binh Tây Tiếnbao niềm vui, tình cảm của tìnhquân dân Cĩ tiếng khèn “manđiệu” của núi rừng, cĩ khúc nhạc
du dương “xây hồn thơ” Cĩ dángđiệu duyên dáng “e ấp” của
“nàng”, của những “bơng hoa rừngđang múa xịe, đang múa lăm –vơng :
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ, Khèn lên man điệu nàng e ấp,
Nhạc về Viên chăn xây hơn thơ”
Chữ “bừng” là một nét vẽ
cĩ thần “Bừng” là sáng bừng lên,cháy rực lên từ những ngọn đuốc
Trang 9trong đêm “hội đuốc hoa” Cũng
cĩ nghĩa là tưng bừng rộn ràng qua
tiếng khèn “man điệu”, qua giọng
hát tình tứ, mê say của bài dân ca
Thái, dân ca Lào
người trên độc mộc”, nhớ khơng
bao giờ quên “Trơi dịng nước lũ
hoa đong đưa” Nếu khơng sống
mạnh mẽ, sống hết mình của đời
người lính trẻ một thời trận mạc
gian nan thì khơng thể nào viết
được những vần thơ mang hương
sắc núi rừng xa lạ, tươi đẹp và thơ
mộng như thế Aâm điệu đoạn thơ
trầm bổng, lâng lâng như đang ru
hồn ta vào cõi mộng Chất nhạc,
chất thơ, chất họa tốt lên từ vần
thơ, cho thấy tính thẩm mĩ độc đáo
của ngịi bút thơ Quang Dũng,
đồng thời khắc họa vẻ đẹp tâm hồn
các chiến sĩ Tây Tiến : trong gian
khổ và thử thách, trong gian truân
diễn tả tinh tế, tài hoa vẻ đẹp thiên
nhiên và tình người, đồng thời lại
rất mực hồn nhiên, từng làm mê
say người đọc :
“Người đi Châu Mộc
chiều sương ấy,
Cĩ thấy hồn lau nẻo bến
Dũng đã dựng lên một tượng đài
hùng vị, bi tráng về đồn binh Tây
Tiến Đồn quân luồng rừng đi
trong biển sương mù, trong những
cồn mây, trong màn mưa, vượt qua
bao núi cao, đèo cao, dốc thẳm
“Aùo vải chân khơng đi lùng giặcđánh”, bỗng bất ngờ xuất hiện :
“Tây Tiến đồn binh khơng mọc tĩc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua bên biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Đoạn thơ ghi lại một cáchchân thật, hào hùng cái khốc liệt
dữ dội của chiến tranh, của mộtdân tộc quật khởi đứng lên dùng
98 h gậy tầm vơng chống trả lại sắtthép quân thù Hình tượng thơ ấyđược đặt trong thế tương phản đốilập để khẳng định chí khí hiênngang, anh hùng, những tâm hồnvới bao mộng mơ tuyệt đẹp “Đồnbinh khơng mọc tĩc”, “quân xanhmàu lá”, cĩ vẻ tiều tụy, ốm đau vìbệnh sốt rét rừng, nhưng tư thế vơcùng oai phong lẫm liệt : “dự oaihùm” Cũng là một cách nĩi truyềnthống trong thơ ca dân tộc ngợi casức mạnh Việt Nam : “Tâm quân tì
hổ khí thơn Ngưu” (Phạm NgũLão), “Tỳ hổ ba quân – Giáo gươmsáng chĩi” (Trương Hán Siêu), “Sĩtốt kén tay tì hổ – Bề tơi chọn kẻvuốt nanh” (Nguyễn Trãi)… Vànhững năm đầu kháng chiến chốngPháp, “anh bộ đội Cụ Hồ” mangsức mạnh Việt Nam từ nghìn xưa
ra trận với chí khí lẫm liệt vơsong : “Quân xanh màu lá dữ oaihùm” Trải qua những năm dàichiến đấu ác liệt, nếm trải biết baocay đắng ngọt bùi, bao thiếu thốngian truân, từng đánh những trậnđánh đẫm máu giữa rừng, QuangDũng đã kế thừa và sáng tạo thơ ca
cổ điển dân tộc để viết nên nhữngvần thơ hào sảng như vậy !
Đồn binh Tây Tiến phầnlớn cán bộ và chiến sĩ là thanhniên, học sinh, sinh viên của 36phố phường, nơi ngàn năm vănvật Là “Những chàng trai chưatrắng nợ anh hùng…” ra đi đánh
giặc với bao “mộng” và “mơ”tuyệt đẹp” :
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Mộng chiến cơng Mộngđánh tan đồn giặc, cướng súng giặcgiết giặc “Mắt trừng” gợi tả một
tư thế chiến đấu lẫm liệt vơ songkhi đánh giáp lá cà, khi tung hồnhtrong đồn giặc ! Đồng thời tronghành trang và trong tâm hồn ngườilính trẻ cịn mang theo những giấc
mơ tuyệt vời Nhớ về phố cũtrường xưa, mơ về một tà áo đẹp,một “dáng kiều thơm”, nơ Hà Nộithây yêu Câu thơ “Đêm mơ HàNội dáng kiều thơm” thể hiện chấttài tử, hào hoa của người lính TâyTiến Cịn người chiến sĩ trong bài
“Đồng chí” của Chính Hữu, thì nỗinhớ hướng về ruộng nương, về
“gian nhà khơng mặc kệ giĩ lunglay”, về giếng nước gốc đa… Nỗinhớ của anh Vệ quốc quân trongbài thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên là
cả một mối tình quê trang trải, đằmthắm, sâu nặng, thiết tha :
…” Ba năm rồi gửi lại quê hương,
Mái lều gianh, Tiếng mõ đêm trường, Luống cày đất đỏ.
Ít nhiều người vợ trẻ Mịn chân bên cối gạo khuya…
Qua đĩ, ta thấy nỗi nhớ,cái mộng mở của người lính thờitrận mạc là nơng dân, hay tiểu tưsản thành thị đều đẹp và đáng yêu
vì nỗi nhớ, cái mộng mơ ấy đềubiểu lộ một tình yêu quê hươngthắm thiết Nếu cĩ ai đĩ cho rằngcâu thơ của Quang Dũng mangtheo cái mộng rớt, buồn rớt, cáiđuơi tiểu tư sản… thì mới thậtbuồn thay Thời gian và độc giảhơn nửa thế kỷ qua đã khẳng địnhcái hay riêng của thơ Quang Dũng
vì nĩ gĩp phần làm phong phúthêm chân dung “anh bộ đội Cụ
Trang 10Hồ” trong kháng chiến chống
Pháp
Cái giá của độc lập, tự do
được đo bằng tầm vóc lớn lao và
khí phách của dân tộc, được ghi
nhận bằng xương máu của nhân
dân, mà trước hết là xương máu
của hàng ngàn, hàng vạn người
lính trên chiến trường Cái lý
tưởng cao đẹp : “Tổ quốc hay là
Có biết bao đồng đội thân
yêu của nhà thơ đã ngã xuống
trong lửa đạn Với “áo bào thay
chiếu” rất bình dị, chẳng có “da
ngựa bọc thây” như những tráng sĩ
thời xưa, các anh đã thanh thản “về
đất” vĩnh viễn nằm trong lòng Mẹ
– Tổ Quốc thân yêu Các anh đã
“quyết tử cho Tổ Quốc quyết
sinh” Hai chữ “về đất” rất sáng
tạo Tiếng thác sông Mã “gầm
lên” vang vọng giữa núi rừng như
dội lên trầm hùng trong lòng đồng
đội Nó như tiếng kèn trong bài
“Chiêu hồn liệt sĩ”, như loạt đại
bác nổ xé trời giữa núi rừng chiến
khu, mang sắc thái của một lời thề
cao cả, thiêng liêng Đặt cái chết
của những anh hùng bao vô danh
giữa một không gian rộng lớn,
giữa một thiên nhiên bao la hùng
vĩ, câu thơ “rải rác biên cương mồ
viễn xứ” đã làm cho nỗi đau mất
mát hy sinh càng thêm mênh
mang, càng được nâng lên tầm lẫm
liệt, bi tráng Cao cả hơn nữa là lý
tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do
của Tổ quốc được khẳng định như
một lời thề, một niềm tin mạnh liệt
: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời
xanh”
“Vóc nhà thơ đứng ngangtầm chiến lũy” (Chế Lan Viên)
Những câu thơ trên đây của QuangDũng thực sự ngang tầm vóc vớicác chiến sĩ Tây Tiến, với nhữngđồng đội đã bỏ mình vì Tổ quốc,
đã oanh liệt hy sinh giữa núi rừngbiên cương Việt – Lào QuangDũng đã miêu tả và ngợi ca ngườilính Tây Tiến mang chí khí nhữnganh hùng vô danh, những anh hùngthời đại, ra trận với “tình sôngnúi”, với quyết tâm “Chiến trường
đi chẳng tiếc đời xanh” Họ đã đitiếp con đường tổ tiên, ông cha đãđem máu xương ra giữ vững sơn
hà xã tắc Họ đã sống bình dị, yêuđời, biết mơ khát khao, rất hồnnhiên lạc quan Họ đã sống anhdũng, chết vẻ vang, sẵn sàng đemxương máu và cả “đời xanh” hiếndâng cho nhân dân và đất nước
Nhà thơ đã làm rung lên niềmthương tiếc, tự hào !
Sau này trong bài thơ
“Sông Lào” cũng nói về những
“nấm mồ viễn xứ” của những đứacon ưu tú khắp mọi miền quê, ChếLan viên xúc động, nghẹn ngào :
…”Tôi qua những con sông Lào đâu chỉ uống vào thơ
Chàng trai Nghĩa Bình ngủ ở Xê – kông
Nén hương thơm lẫn với hương rừng
Những cô gái Lào đến thăm phần mộ
Các anh chứa từng cầm tay và múa lăm – vông…”
Đúng là “Có cái chết hóathành bất tử” (Tố Hữu) Nhiều nhàthơ Việt Nam, trong đó có QuangDũng đã viết nên những bài ca nói
lên ý chí chiến đấu quả cảm và sự
hy sinh oanh liệt của người chiến
sĩ Vệ quốc trong thời đại Hồ ChíMinh !
Khổ cuối bài thơ, âm điệutrở nên tha thiết sâu lắng, bồi hồi.Vẫn là tiếng lòng rung lên theohoài niệm Biết bao thương nhớkhôn nguôi :
“Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
Mùa xuân ấy, khi “Tiếngkèn kháng chiến vang dậy nonsông” (Hồ Chí Minh), đoàn binhTây Tiến xuất quân Họ đã tiến ra
sa trường với lời hẹn ước : “Nhấtkhứ bất phục hoàn” Đó là lời thề,
là quyết tâm của cả một thế hệ
“Chiến trường đi chẳng tiếc đờixanh” Các anh đã giã biệt quêhương Những ai còn ai mất saunhững tháng ngày đầy máu lửa ?Bạn bè, đồng đội thân yêu, những
ai đó “Hồn về Sầm Nứa chẳng vềxuô” Nhưng quê hương vẫn đờiđời ôm ấp bóng hình anh, ngườichiến sĩ trong binh đoàn Tay Tiến.Bài thơ đã khép lại mà âm điệu của
nó vẫn bồi hồi vang vọng trongtâm hồn ta
Có những bài thơ một thờinhưng cũng có một số bài thơ mãimãi Thơ hay không có tuổi cũngnhư mùa xuân không ngày tháng
Đó là “Đèo Cả” của Hữu Loan, là
“Nhớ” của Hồng Nguyên, “ĐồngChí” của Chính Hữu, “Tây Tiến”của Quang Dũng, và…
“Tây Tiến” là một trongnhững bài thơ hay nhất viết vềngười chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổquốc, tiêu biểu cho thơ ca ViệtNam thời kháng chiến chống Pháp.Với bút pháp lãng mạn, với cốtcách tài hoa, phong độ hào hùngcủa nhà thơ – chiến sĩ, Quang
Trang 11Dũng đã khắc chạm vào thời gian,
vào thơ ca và lòng người hình ảnh
người chiến sĩ vô danh của Thăng
Long – Hà Nội, của dân tộc Việt
Nam anh hùng Trước linh hồn
người liệt sĩ, ta thắp lên nén tâm
hương, nghiêng mình với tình cảm
biết ơn và kính phục nhà thơ và
những chiến sĩ vinh quang trong
đoàn binh Tây Tiến
Bài 16
Bình giảng đoạn thơ sau
trong bài “Tây Tiến” của Quang
chiến của quân và dân ta chống
thực dân Pháp bước sang năm thứ
3 Ta vừa thắng lớn trên chiến
trường Việt Bắc thu đông 1947
Chặng đường lịch sử phía trước
của dân tộc còn đây thử thách gian
nan Cuộc kháng chiến đã
chuyểnsng một giai đoạn mới
Tiền tuyến và hậu phương trànngập tinh thần phấn chấn và quyếtthắng
Thời gian này, văn nghệkháng chiến thu được một số thànhtựu xuất sắc Một số bài thơ hayviết về “anh bộ đội Cụ Hồ” nốitiếp nhau xuất hiện : “Lên TâyBắc” (Tố Hữu), “Đồng chí” (ChínhHữu), “Nhớ” (Hồng Nguyên)… và
“Tây Tiến” của Quang Dũng
Quang Dũng viết “Tây Tiến” và năm 1948, tại Phù Lưu
Chanh, một làng ven con sông Đáyhiền hòa Cảm hứng chủ đạo của
bài thơ là nỗi nhớ : nhớ đồng đội thân yêu, nhớ đoàn binh Tây Tiến, nhớ bản mường và núi rừng miền Tây, nhớ kỉ niệm đẹp một thời trận mạc… Nói về nỗi
nhớ ấy, bài thơ đã ghi lại hào khílãng mạn của tuổi trẻ Việt Nam,của “bao chiến sĩ anh hùng” trongbuổi đầu kháng chiến chống Pháp
vô cùng gian khổ mà vinh quang
“Tây Tiến” là phiên hiệucủa một đơn vị bộ đội hoạt độngtại biên giới Việt – Lào, miền tâytỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình
Quang Dũng là một cán bộ đại độicủa “đoàn binh không mọc tóc” ấy,
đã từng vào sinh ra tử với đồng độithân yêu,
Hai câu thơ đầu nói lên nổi nhớ, nhớ miền Tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã thương yêu :
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến
ơi !
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”.
Đã “xa rồi” nên nỗi nhớkhông thể nào nguôi được, nhớ dadiết đến quặn lòng, đó là nỗi nhớ
“chơi vơi” Tiếng gọi “Tây Tiến ơi
!” vang lên tha thiết như tiếng gọingười thân yêu Từ cảm “ơi!” bắtvần với từ láy “chơi vơi” tạo nên
âm hưởng câu thơ sâu lắng, bồihồi, ngân dài, từ lòng người vọngvào thời gian năm tháng, lan rộnglan xa trong không gian Hai chữ
“xa rồi” như một tiếng thở dài đầythương nhớ, hô ứng với điệp từ
“nhớ” trong câu thơ thứ hai thểhiện một tâm tình đẹp của ngườichiến binh Tây Tiến đối với dòngsông Mã và núi rừng miền Tây.Sau tiếng gọi ấy, biết bao hoàiniệm về một thời gian khổ hiện vềtrong tâm tưởng
Những câu thơ tiếp theonói về chặng đường hành quân đầythử thách gian nan mà đoàn binhTây Tiến từng nếm trải Các tênbản, tên mường : Sài Khao,Mường Lát, Pha Luông, Mườnghịch, Mai Châu… được nhắc đến,không chỉ gợi lên bao thương nhớvơi đầy mà còn để lại nhiều ấntượng về sự xa xôi, heo hút, hoang
dã, thâm sơn cùng cốc,… Nó gợitrí tò mò và háo hức của nhữngchàng trai “Từ thuở mang gươm đigiữa nước – Nghìn năm thươngnhớ đất Thăng Long” Đoàn binhhành quân trong sương mù giữanúi rừng trùng điệp :
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.
Bao núi ca, đèo cao, dốcthẳm dựng thành phía trước mà cácchiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua.Dốc lên thì “khúc khuỷu” gậpghềnh, dốc xuống thì “thăm thẳm”như dẫn đến vực sâu Các từ láy :
“khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heohút” đặc tả gian khổ, giang truâncủa nẻo đường hành quân chiếnđấu : “Dốc lên khúc khuỷu, dốcthăm thẳm – Heo hút cồn mâysúng ngửi trời” Đỉnh núi mùsương cao vút Mũi súng của ngườichiến binh được nhân hóa tạo nênmột hình ảnh : “súng ngửi trời”giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảmhứng lãng mạn cho nhiều thi vị
Nó khẳng định chí khí và quyếttâm của người chiến sĩ chiếm lĩnhmọi tầm cao mà đi tới “Khó khănnào cũng vượt qua – Kẻ thù nàocũng đánh thắng !” Thiên nhiên
Trang 12núi đèo xuất hiện như để thử thách
lòng người : “ngàn thước lên cao,
ngàn thước xuống” Hết lên lại
xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo
nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt
Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu
đối : “Ngàn thước lên cao // ngàn
thước xuống”, hình tượng thơ cân
xứng hai hòa, cảnh tượng núi rừng
hùng vĩ được đặc tả, thể hiện một
ngòi bút đầy chất hào khí của nhà
thơ chiến sĩ
Có cảnh đoàn quân đi
trong mưa : “Nhà ai Pha Luông
mưa xa khơi” Câu thơ được dệt
bằng những thanh bằng liên tiếp,
gợi tả sự êm dịu, tươi mát của tâm
những mái nhà dân hiền lành và
yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến,
đem xương máu và lòng dũng cảm
để bảo vệ và giữ gìn
Trước đây Đặng Trần Côn,
trong “Chinh phụ ngâm” cũng đã
viết về cảnh tượng chiến trường :
lệ tượng trưng, những tưởng tượng
của nàng chinh phụ Chàng chinh
phu mới ngày nào đó còn “Thét
roi, Cầu Vị ào ào gió thu”, thì nay
đã mệt mỏ, nỗi nhớ quê, nhớ nhà,
nhớ vợcon héo hon cả ruột Có đặt
2 đoạn thơ canh nhau, ta mới cảmnhận được vẻ đẹp tráng chí củaanh bộ đội Cụ Hồ, cảm nhận đượccảm hứng lãng mạn trong thơQuang Dũng
Ta trở lại đoạn thơ trên,gian khổ không chỉ là núi cao dốcthẳm, không chỉ là mưa lũ thácngàn mà còn có tiếng gầm của cọpbeo nơi rừng thiêng nước, nơi đạingàn hoang vu :
“Chiếu chiều oai lĩnh thác gầm thét
Đêm đêm Mường hịch cọp trêu người”.
“Chiều chiều…” rồi “đêmđêm” những âm thanh ấy, “thácgầm thét”, “cọp trêu người”, luônkhẳng định cái bí mật, cái uy lựckhủng khiếp ngàn đời của chốnrừng thiêng Chất hào sảng trongthơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnhnúi rừng miền Tây hiểm nguy để
tô đậm và khắc họa chí khí anhhùng của đoàn quân Tây Tiến Mỗivần thơ đã để lại trong tâm trí
người đọc một ấn tượng : gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc ! Đoàn quân vẫn tiến bước,
người nối người, băng lên phíatrước Uy lực thiên nhiên như bịgiảm xuống và giá trị con ngườinhư được nâng cao hẳn lên mộttầm vóc mới Quang Dũng cũngnói đến sự hy sinh của đồng độitrên những chặng đường hànhquân vô cùng gian khổ :
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời…”
Hiện thực chiến tranh xưanay vốn như thế ! Sự hy sinh củangười chiến sĩ là tất yếu Xươngmáu đổ xuống để đài tự do Vầnthơ nói đến cái mất mát, hy sinhnhưng không chút bi lụy, thảmthương
Hai câu cuối đoạn thơ,cảm xúc bồi hồi tha thiết Như lờinhắn gửi của một khúc tâm tình
Như tiếng hát của một bài ca hoàiniệm vừa bâng khuâng, vừa tựhào :
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
“Nhớ ôi !” tình cảm dạtdào, đó là tiếng lòng của các chiến
sĩ Tây Tiến “đoàn binh không mọctóc” Câu thơ đậm đà tình quândân Hương vị bản mường với
“cơm lên khói”, với “mùa em thơmnếp xôi” có bao giờ quên ? Haitiếng “mùa em” là một sáng tạođộc đáo về ngôn ngữ thi ca, nóhàm chưa bao tình thương nỗi nhớ,điệu thơ trở nên uyển chuyển,mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp.Cũng nói về hương nếp, hươngxôi, về “mùa em” và tình quândân, sau này Chế Lan Viên viếttrong bài “Tiếng hát con tàu” :
“Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu con tỏa nhớ mùi hương”
“Nhớ mùi hương”, nhớ
“cơm lên khói”, nhớ “thơm nếpxôi” là nhớ hương vị núi từng TâyBắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòngcao cả của đồng bào Tây Bắc thânyêu
Mười bốn câu thơ trên đây
là phần đầu bài “Tây Tiến”, mộttrong những bài thơ hay nhất viết
về người lính trong 9 năm khángchiến chống Pháp Bức tranh thiênnhiên hoành tráng, trên đó nổi bậtlên hình ảnh người chiến sĩ cantrường và lạc quan, đang dấn thânvào máu lửa với niềm kiêu hãnh
“Chiến trường đi chẳng tiếc đờixanh…” Đoạn thơ để lại một dấu
ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến
mà sự thành công, là kết hợp hàihòa giữa khuynh hướng sử thi vàcảm hứng lãng mạn Nửa thế kỉ đã
Trang 13trôi qua, bài thơ “Tây Tiến” của
Quang Dũng, ngày một thêm sáng
giá
Bài 17
Bình giảng đoạn thơ sau
trong bài “Tây Tiến” của Quang
Dũng :
“… Doanh trại bừng lên
hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e
trận của anh Vệ quốc quân năm
xưa, những anh hùng buổi đầu
kháng chiến “áo vải chân không đi
lùng giặc đánh” (“Nhớ” – Hồng
Nguyên), những tráng sĩ ra trận nói
với lời thề “Chiến trường đi chẳng
tiếc đời xanh”
Quang Dũng viết bài thơ
“Tây Tiến” vào năm 1948, tại Phù
Lưu Chanh bên bờ dòng sông Đáythương yêu : “Sông Đáy chạmnguồn qua Phủ Quốc – Sáo diềukhuya khoắt thổi đêm trăng” (Mắtngười Sơn Tây – 1949) Tây Tiến
là một đơn vị quân đội thành lậpvào năm 1947, hoạt động và chiếnđấu ở thượng nguồn sông Mã,miền Tây Hòa Bình, Thanh Hóasang Sầm Nứa, trên dải biên cươngViệt – Lào Quang Dũng là một đạiđội trưởng trong đoàn binh TâyTiến, đồng đội anh nhiều người lànhững chành trai Hà Nội yêu nước,dũng cảm, hào hoa Bài thơ “TâyTiến” nói lên nỗi nhớ của tác giảsau một thời gian xa rời đơn vị :
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! –Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi…”
Bài thơ gồm có 4 phần
Phần đầu nói về nỗi nhớ, nhớ sông
Mã, nhớ núi rừng miền Tây, nhớđoàn binh Tây Tiến với những nẻođường hành quân chiến đấu vôcùng gian khổ… Đoạn thơ trên đâygồm 16 câu thơ, là phần 2 và phần
3 của bài thơ ghi lại những kỉ niệm đẹp một thời gian khổ, những hình ảnh đầy tự hào về đồng đội thân yêu.
Ở phầu đầu, sau hình ảnh
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa– Gục lên súng mũ bỏ quên đời”,người đọc ngạc nhiên, xúc độngtrước vần thơ ấm áp, man mác,tình tứ, tài hoa :
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Bài cơm tỏa khói nặng tìnhquân dân, tỏa hương của “thơmnếp xôi”, hương của núi rừng, củaMai Châu,… và hương của tìnhthương mến
Mở đầu phần hai là sự
nối tiếp cái hương vị “thơm nếpxôi” ấy “Hội đuốc hoa” đã trởthành kỉ niệm đẹp trong lòng nhàthơ, và đã trở thành trang trongtâm hồn các chiến binh Tây Tiến:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.
“Đuốc hao” là cây nến đốtlên trong phòng cưới, đêm tân hôn,
từ ngữ được dùng văn học cũ:
“Đuốc hoa chẳng thẹn với chàngmai xưa” (Truyện Kiều – 3096).Quang Dũng đã có mộg sự nhào
nặn lại : hội đuốc hoa – đêm lửa
trại, đêm liên hoan trong doanh trạiđoàn binh Tây Tiến “Bừng” chỉánh sáng của đuốc hoa, của lửa trạisáng bừng lên ; cũng còn có nghĩa
là tiếng khèn, tiếng hát, tiếng cườitưng bừng rộn rã Sự xuất hiện của
“em”, của “nàng” làm cho hộiđuốc hoa mãi mãi là kỉ niệm đẹpmột thời chinh chiến Những thiếu
nữ Mường, những thiếu nữ Thái,những cô phù xao Lào xinh đẹp,duyên dáng “e ấp”, xuất hiện trong
bộ xiêm áo rực rỡ, cùng với tiếngkhèn “man điệu” đã “xây hồn thơ”trong lòng các chành lính trẻ Chữ
“kìa” là đại từ để trỏ, đứng đầu câu
“Kìa em xiêm áo tự bao giờ” nhưmột tiếng trầm trồ, ngạc nhiên, tình
tứ Mọi gian khổ, mọi thử thách,…như đã bị đẩy lùi và tiêu tan
Xa Tây Tiến mới có baongày thế mà nhà thơ “nhớ chơivơi”, nhớ “hội đuốc hoa”, nhớ
“chiều sương Châu Mộc ấy” Hỏi
“người đi” hay tự hỏi mình “cóthấy” và “có nhớ” Bao kỉ niệmsâu sắc và thơ mộng lại hiện lên và
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Chứ “ấy” bắt vần với chữ
“thấy”, một vần lưng thần tình, âm
Trang 14điệu cđu thơ trĩu xuống như một
nốt nhấn, một sự nhắc nhở trong
hoăi niệm nhiều bđng khuđng Nữ
sĩ xưa nhớ kinh thănh Thăng Long
lă nhớ “hồn thu thảo”, nay Quang
Dũng nhớ lă nhớ “hồn lau”, nhớ
câi xăo xạc của gió, nhớ những cờ
lau trắng trời Có “nhớ về rừng
núi, nhớ chơi vơi” thì mới có nhớ
vă “có thấy hồn lau” trong kỉ niệm
“Có thấy”… rồi lại “có nhớ”, một
lối viết uyển chuyển tăi hoa, đúng
lă “cđu thơ trước gọi cđu thơ sau”
như những kỉ niệm trở về… Nhớ
cảnh (hồn lau) rồi nhớ người (nhớ
dâng người) cùng con thuyền độc
mộc “trôi dòng nước lũ hoa đong
đưa” Hình ảnh “hoa đong đưa” lă
một nĩt vẽ lêng mạn gợi tả câi
“dâng người trín độc mộc” trôi
theo thời gian vă dòng hoăi niệm
Đoạn thơ gợi lín một vẻ đẹp mơ
hồ, thấp thoâng, gần xa, hư ảo trín
câi nền “chiều sương ấy” Cảnh vă
người được thấy vă nhớ mang
nhiều man mâc bđng khuđng Bút
phâp, thi phâp của chủ nghĩa lêng
mạn để lại dấu ấn tăi hoa qua đoạn
thơ năy Giữa những “bến bờ”,
“độc mộc”, “dòng nước lũ” lă “hồn
lau”, lă “dâng người”, lă “hoa
đong đưa” tất cả được phủ mờ bởi
nín bức chđn dung những đồng đội
thđn yíu của mình Ở phần một nói
về con đường hănh quđn vô cùng
gian khổ để khắc họa chí khí anh
hùng câc chiến sĩ Tđy Tiến ; phần
hai, đi sđu miíu tả vẻ đẹp lêng mạn
của những chiến binh hăo hoa, yíu
đời Phần ba năy, người đọc cảm
thấy nhă thơ đang nhơ, đang ngắm
nhìn, đang hồi tưởng, đang nghĩ
về từng gương mặt thđn yíu, đê
cùng mình văo sinh ra tử, nếm trải
nhiều gian khổ một thời trận mạc
Như một đoạn phim cận cảnh gợi
tả câi dữ dội, câi khốc liệt một thờimâu lửa oai hùng Chủ nghĩa yíunước của dđn tộc hu đúc qua 4000năm lịch sử được nđng lín tầm vócmới của chủ nghĩa anh hùng câchmạng trong thời đại Hồ Chí Minh :
“Tđy Tiến đoăn binh
¢íÊỘ@ðĐÜÐ@ÚÊðí@ØÊị@Ĩí í@ÞĐỊ@ÐịðÚšÊỊỉ@ỉởðÜỴ@Ïíư Ị@ÚßỈÜỴ@đíĐ@ÔỊỊỘ@ỴĨĩịỊ
¢ỊỐ@Ûỉ@Êð@œßỈỊ@ỈÊịÜỴ
@ƯỊỊĂí@ỉĐỉÛ(\
œĐííÜỴ@ìÊĂÜ@ỉĐỉ@ÜỴßĂÜ
@ÜỴßỈÜ@ỈÐÊĐỉ@ÐỊỊỈÜ@ỉĐíÞỈX@ÝíưĐ@ỉÐỊĐ@Ưĩư@ỉĐí
@ÚÊð@ÜÏíĩðỊAđßÞỈ@ìÊỈÜ@ỈÊưÚ@ỉÐÊĐị@ỉôÞÜỴ@ƯÐßịỊ@ÙíưĐX@ỉôÞÜỴ@ÊỐ@ìĐÜỴ@ỈịưĐ@ỉỊỊĐÜỴ@ỉịịÜỴX@ÜĐííÜỴ@ÏíỉÜỴ@ÚÊƯỉ@ƯỊỊÔí@ÐịðÜỴ@ỈịưĐAđÞÊðÜ@ỈịíÜỴ@ìỉ
@¨ÊÔị@¨ỊỊĐÜ\
A'¢ÞÊðÜ@ÔỊÜÐ@ƯÐßỘỴ@ÚßÞỈ@ỉßịÌ(XA&đíÊỘ@ðĐÜÐ
“Tướng sĩ kĩn tay tì hổ – Bề tôichọn kẻ vuốt nanh” lă tầm vóc củacâc nghĩa sĩ Lam Sơn “Quđn xanhmău lâ dữ oai hùm” lă chí khí lẫmliệt hiín ngang của anh bộ đội Cụ
Hồ trong 9 năm khâng chiến chốngPhâp Gian khổ vă âc liệt thế,
nhưng họ vẫn mộng vẫn mơ “Mẵt
trừng gửi mộng qua biín giới” ;mộng giết giặc, đânh tan lũ xđmlăng “xâc thù chất đống xđy thănhchiến công” Trín chiến trường,trong lửa đạn thì “mắt trừng”, giữa
đím khuya trong doanh trại lạ cónhững cơn mơ đẹp : “Đím mơ HăNội dâng kiều thơm” Ba chư “dângkiều thơm” từng in dấu vết trongthơ văn lêng mạn thời tiền chiến,được Quang Dũng đưa văo vần thơmình diễn tả thật “đắt” câi phong
độ hăo hoa, đa tình của nhữngchiến binh Tđy Tiến, những chăngtrai của đất nghìn năm văn vật,giữa khói lửa chiến trường vẫn
mơ, vẫn nhớ về một mâi trường
xưa, một góc phố cũ, một tă âotrắng, một “dâng kiều thơm” Ngòibút của Quang Dũng biến hóa, lúcthì bình dị mộc mạc, lúc thì một ảonín thơ, vă đó chính lă vẻ đẹp hăohùng, tăi hoa của một hồn thơchiến sĩ
Bốn cđu thơ tiếp theo ở cuối phần 3, một lần nữa nhă thơ
nói về sự hy sinh trâng liệt củanhững anh hùng vô danh trong
đoăn Tđy Tiến Cđu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” vang lín như một lời thề “Quyết
tử cho Tổ quốc quyết sinh” Có
biết bao chiến sĩ đê ngả xuống nơigóc rừng, bín bờ suối, vì độc lập,
tự do của Tổ quốc Một trờithương nhớ mính mang : “Rải râcbiín cương mồ viễn xứ…” Câc
anh đê “về đất” một câch thanh
thản, bình dị ; yíu nghỉ trong lòng
Mẹ, giấc ngủ nghìn thu Chẳng có
“da ngựa bọc thđy” như câc trâng
sĩ ngăy xưa, chỉ có “âo băo thaychiếu anh về đất”, nhưng Tổ quốc
vă nhđn dđn đời đời ghi nhớ công
ơn câc anh Tiếng thâc sông Mê
“gầm lín” như một loạt đại bâc nổ
xĩ trời, “khúc độc hănh” ấy đê tạonín không khí thiíng liíng, bitrâng vă cao cả :
“Rải râc biín cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Aùo băo thay chiếu anh về đất
Sông Mê gầm lín khúc độc hănh”.
Trang 15Cõc từ Hõn Việt xuất hiện
bất ngờ trong đoạn thơ (biởn
cương viễn xứ, chiến trường, õo
bỏo, khỷc độc hỏnh) gợi lởn mỏu
sắc cổ kợnh, trõng liệt vỏ uy
nghiởm Cụ mất mõt hy sinh Cụ
xụt xa thương tiếc Khừng bi lụy
yếu mềm, bởi lẽ sự hy sinh đọ
được khẳng định bằng một lời thề:
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời
xanh” Biết bao xụt thương vỏ tự
hỏo ẩn chứa trong vần thơ Quang
Dũng lỏ một trong những nhỏ thơ
đầu tiởn của nền thơ ca khõng
chiến nụi rất cảm động về sự hy
sinh anh dũng của cõc chiến sĩ vừ
danh Hơn 20 năm sau, những thi
sĩ thời chống Mĩ mới viết được
đọ “lấy đõ ven rừng chờp chiến
cừng” ? “Cổ lai chinh chiến kỉ
nhón hồi ?” – xưa nay, buổi chiều
chiến tranh, mấy ai đi chinh chiếm
cún trở về ?
Đoạn thơ trởn cho thấy cõi
tóm đẹp vỏ cõi tỏi hoa của Quọng
Dũng Nếu Chợnh Hưũ, qua bỏi
“Đồng chợ” đọ nụi rất hay về người
nừng dón mặc õo lợnh, thớ Quang
Dũng, với bỏi thơ “Tóy Tiến” đọ
dựng lởn một tượng đỏi hỳng vĩ uy
nghiởm về những chỏng trai Hỏ
Nội “mang gươm đi giữ nước”
dũng cảm, cạn trường, trong gian
khổ chiến đấu hy sinh vẫn lạc quan
yởu đời Anh hỳng, hỏo hoa lỏ hớnh
ảnh đoỏn binh Tóy Tiến
Hai đoạn thơ trởn đóy thể
hiện cốt cõch vỏ bỷt phõp lọng
mạn, hồn thơ tỏi hoa của Quang
Dũng Nếu “thơ lỏ sự thể hiện con
người vỏ thời đại một cõch cao
đẹp” thớ “Tóy Tiến” đọ cho ta cảmnhận vỏ ấn tượng ấy “Tóy Tiến”
đọ mang vẻ đẹp độc đõo của mộtbỏi thơ viết về người lợnh – anh bộ
độ Cụ Hồ những năm đầu khõngchiến chống Phõp Bỏi thơ hội tụmọi vẻ đẹp vỏ bản sắc của thơ cakhõng chiến ca ngợi chủ nghĩa yởunước vỏ chủ nghĩa anh hỳng cõchmạng Việt Nam
Bỏi 18 Phón tợch bỏi thơ “Bởn kia sừng Đuống” của Hoỏng Cầm.
BáI LáM
Hoỏng Cầm, nhỏ thơ củamiền quở Kinh Bắc
Oóng sinh năm 1922
Oóng nụi về quở Mẹ đất Cha :
“Từi người Quan Họ Quở mẹ bởn nỏy sừng Cõch quở cha một dúng sừng
“Sực nhớ cha vú vử tuyết sương
Con khục thỏnh tia sao Thương cắt ngang đường sao băng”
hõt để thương, để nhớ cho đời
Hoỏng Cầm viết bỏi thơ
“Bởn kia sừng Đuống” vỏo một
đởm thõng 4 năm 1948 tại chiếnkhu Việt Bắc Xỷc động trỏo dóngsau khi được nghe những tin tứcquở nhỏ bị giặc chiếm đụng, tỏnphõ, dưới ngọn độn dầu sở, trongtiếng vọng của tiếng sỷng, ừng viếtthóu canh, cho đến lỷc gỏ gõy sõng
thớ xong bỏi thơ “Bởn kia sừng Đuống” lỏ một trong những bỏi
thơ hay nhất viết về đề tỏi quởhương của thơ ca khõng chiếnchống Phõp ; thi phẩm nỏy đọ lỏm
vẻ vang cho nhỏ thơ Hoỏng Cầm.Trỏn ngập bỏi thơ lỏ cõi tớnh quở,hồn quở dỏo dạt Nỗi thương nhớ,
tự hỏo quở Mẹ đất Cha, nỗi xụt xa,căm giận, nuối tiếc… quở hươngđang bị quón thỳ giỏy xờo, lỏ cảmxỷc chủ đạo của õng thơ nỏy Với
134 dúng thơ sóu lắng, thiết tha,bồn chồn… húa quyện vỏo nhau,
cứ ngón nga rung động hoỏi trongtóm trợ người đọc Hoỏng Cầm đọ
cụ lần tóm sự về “Bởn kia sừng Đuống” : “Hương vị dón tộc, chất tớnh tứ, hư ảo của những cóu ca Quan Họ đọ thấm đẫm trong hồn từi từ những ngỏy nhỏ dại” Chợnh hương vị ấy, chất tớnh
tứ, hư ảo ấy đọ dệt nởn sắc điệu trữtớnh của bỏi ca quở hương nỏy
1 – Mở đầu bỏi thơ lỏ một tiếng gọi mơ hồ, xa xăm vọng lởn từ tóm tưởng, trong hoỏi niệm, nhiều bồi hồi, xa xuyến Như an ủi, như vỗ về, như
như thương nhớ, tủi sầu :
“Em ơi buồn lỏm chi
em@ớậá@ỉòẵịỴA
đởòằịỴœỴẳðị@đớằ@Ỉẳịộ@ộồẳỊ ịỴ@ỏÐẳơịỴ@ỉỉ(†Þị@ỉòẵị
Ỵ@ộởòấỊ@ộĐộA&Ỉẳịộ@ộồẳƠịỴ@ỏÐẳơịỴ@ỉỉ(@ìẳð@ỈòẩỊ
@ịỴởòáị@Ỉỡưằ@ịòỈỊ@ẵởòáịX@ịòỈỊ@ịĐờị@Ỉỡưằ@ằịÐ
@ớẳð@ấĩX@Ỉỡưằ@ịỴẳðị@đớằX@Ỉỡưằ@ịẳƠĩ@ộÐẳịịỴ\
@Šĩ@ìẳð@ốợÞ@ỏÐẳẵị@ộÐẳẵị@Ỉỡưằ@ịÐẳð@ịĐộX@Ð
Trang 16để “anh” giãi bày, để khơi gợi
nguồn thơ Đó là chất tình tứ, hư
ảo trong thơ Hoàng Cầm mà ta
cảm nhận được
Cùng với em là hình ảnh
con sông Đuống thương yêu xuất
hiện Dòng sông thơ ấu từ hoài
niệm “Ngày xưa cát trăng phẳng
lì” trôi theo dòng lịch sử mà hiện
về trong thương nhớ, với màu sắc,
với dáng hình thân thuộc :
“Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng
trong kháng chiến trường kì”
Hai tiếng “trôi đi…” gợi
lên cái êm đềm, cái man mác
“nước chảy lơ lửng” “Một dòng
sông lấp lánh” vì cát trắng, vì
gương sông chở ánh hồng bình
minh, chở trăng sao những đêm
thu đẹp Đó là dòng sông thơ
mộng Dáng sông trong hiện tại
chẳng uốn lượn như hình con long
của con sông “làng ta” (ca dao) mà
đã “Nằm nghiên nghiêng trong
kháng chiến trường kì” Một câu
thơ hay để ta cảm xúc, đọc lên
nhận vào hồn mình với bao nhiêu
nhã thú, thi vị Tưởng như tác giả
viết bằng bút pháp siêu thực ?
Tưởng như câu thơ được cấu tạo
nên bằng kĩ thuật điện ảnh tân kì ?
Đó là một sáng tạo thi ca độc đáo
của thi sĩ tài hoa Hoàng Cầm
Sông Đuống là sông của
tuổi thơ, sông của hoài niệm Màu
“xanh xanh” của bãi mía bờ dâu,
màu “biêng biếc” của ngô khoai là
màu xanh của miền thơ ấu, là hìnhbóng quê hương Bức tranh quêtươi tắn, đầy sức sống… Nhớ quêhương nơi chôn rau cắt rốn củamình, đứa con ly hương “đứng bênnày sông” nhìn về “bên kia sôngĐuống”, từ vùng tự do tả ngạnnhìn về hữu ngạn, nơi “tâm hồn tathấm đất”, nỗi nhớ, nỗi đau khôngthể nào kể xiết :
“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bày tay”
“Sao nhớ tiếc… sao xótxa…” vì quê hương đang chìmtrong máu lửa Nỗi nhở, nỗi đauđến cực độ, làm tê tái cả hồnngười, làm “chết đi” từng phần cơthể Câu thơ “Sao xót xa như rụngbàn tay” đã cụ thể hóa nỗi đau đớnxót xa cả về thể xác lẫn tinh thần
Đầu thế kỷ 20, Nguyễn Khuyếnđau đớn khi “chợt nghe” tin bạnchí thân qua đời : “Làm sao bácvội về ngay – chợt nghe tôi bỗngchân tay rụng rời” Một đằng khócbạn, một đằng khóc quê Hai nhàthơ đều mượn cách nói dân gian đểdiển ta một tâm trạng, một nỗi lòngtan nát Có yêu quê hương thathiết, có gắn bó thủy chung với quê
Mẹ đất Cha thì Hoàng Cầm mới cónỗi đau “nhớ tiếc” và “xót xa nhưrụng bàn tay” ấy
Có thể nó, 10 dòng thơtrong phần tiền tấu của khúc caquê hương “Bên kia sông Đuống”
là một cái nhìn đăm đắm “nhớtiếc’, là nỗi đau tê tái “xót xa”, lànỗi nhớ thương khôn nguôi… củađứa con ly hương Vần thơ nhưnhững tiếng khóc thầm, rồi bật lênnhư một tiếng nghẹn nấc: “biêngbiếc… nhớ tiếc… như rụng bàntay”
2 – Phần thứ hai gồm có
118, dòng thơ, chia làm hai đoạn.
Đoạn thứ nhất dài 69 dòng thơ
nói lên nỗi đau, nỗi nhớ tiếc xót xa
về quê hương tươi đẹp, yên vui,
trong thanh bình bỗng bị quânthù kéo tới chiếm đóng, tàn phá
Đoạn thứ hai là 49 dòng nói về
quê hương chiến đấu, xóm thônvùng lên khi bộ đội “bên sông trởvề”
Đoạn thứ nhất cấu trúc
tương phản giữa xa xưa thanh bìnhvới hiện tại tang tóc, điêu tàn Các
câu thơ “Bên kia sông Đuống” và
“Ai về bên kia sông Đuống” nối
tiếp nhau xuất hiện, diễn tả hìnhbóng quê hương hiện lên nhưnhững đợt sóng vỗ vào lòng đứacon xa quê bao nỗi nhớ thương vàcăm giận Một tình quê với đầytrong nỗi nhớ ;
“Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Mùa dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.
“Bên kia sông Đuống” làhuyện Thuận Thành, tỉnh BắcNinh, một miền quê trù phú và cónền văn hóa, văn hiến ngàn nămthuộfc vùng Kinh Bắc Chỉ bằn hainét vẽ mà nhà thơ đã gợi lên
hương sắc quê nhà Ba tiếng “quê
hương ta” vang lên tự hào, layđộng thiết tha Hương lúa nếpthơm nồng của cốm mới, của cánhđồng màu xanh lúa trỗ, hương xôi,hương bánh… trên mâm cỗ tết,trong ngày giỗ trên bàn thờ giatiên Hương lúa nếp thơm nồng đãquyện lấy tâm hồn “anh” và “em”
tự thuở nào Nhớ “quê hương ta” lànhớ mùi “thơm nồng” của lúa nếp,
là nhớ tranh làng Hồ, tranh gà lợn,nhớ nét vẽ tài hoa xinh đẹp “sángbừng trên giấy điệp” óng ánh,mượt mà, Tính yêu quê được gởigắm, được thể hiện qua các thanh
âm (nồng, trong, bừng, điệp…),qua các tính từ phẩm chất đã làmdậy sắc hương của lúa nếp, của
tranh gà lợn : thơm nồng, tươi trong, sáng bừng, điệp Đặc biệt
là hai chữ “sáng bừng” đã thể hiện
Trang 17câi hồn quí nồng năy say đắm, đê
lăm sâng lín cả vần thơ vă hoăi
niệm, đê thổi văo bức tranh quí cả
sức sống vă tình yíu mặn nồng
Cũng như dđn ca Quan Họ, mảng
tranh dđn gian Đông Hồ được tâc
giả nói đến với biết bao yíu mến
tự hăo, từ đề tăi đến chất liệu, từ tư
tưởng đến phong câch nghệ thuật
đều mang vẻ đẹp bình dị, dđn dê,
mến yíu “sâng bừng” mău sắc dđn
tộc
Nhưng giờ đđy còn đđu
nữa ? _ “Quí hương ta từ ngăy
khủng khiếp – Giặc kĩo lín ngùn
nụt lửa hung tăn” “Ngăy khủng
khiếp” kể từ 19 – 12 – 1946, ngăy
toăn quốc khâng chiến, những
miền quí rộng lớn bình yín đê bị
giặc Phâp biến thănh đống tro tăn
“Những cânh đồng quí chảy mâu”,
những đường olăng “xương mâu
tơi bời” cả một không gian bao
la chìm trong mâu lửa, chết chóc
Quđn cướp nước kĩo tới quí
hương ta “Chó ngộ một đăn – Lưỡi
dăi lí sắc mâu” Chúng điín cuồng
đột phâ, bắn giết : ruộng khô, nhă
chây, ngõ thẳm bờ hoang kiệt
cùng Sự sống bị tiíu diệt, cả một
miền quí tan tâc, đau thương ;
Mẹ con đăn lợn đm dương,
Chia lìa đôi ngả
Đâm cưới chuột đang tưng
bừng rộn rê
Bđy giờ tan tâc về đđu.
Ước mơ ấm no, yín vui,
hạnh phúc của “quí hương ta” bao
đời nay bị quđn xđm lược lăm cho
tan nât, chia lìa Từ nỗi đau vật
chất đến nỗi đau tinh thần lă vô
cùng ghí sợ ! Lấy hình ảnh trong
hai bức tranh lăng Hồ, bức tranh
lợn vă bức tranh đâm cưới chuột
để cực tả cảnh đau thương chia lìa,
tan tâc trín quí hương Nhă thơ đê
lay động hồn quí, tình quí ứa mâu,
thấm lệ trong lòng người bấy nay
Vẻ đẹp văn hóa trong lòng người,
trong nếp sống, trong cảnh vật đê
bị “ngọn lửa hung tăn” hủy diệt !
Những cđu thơ ngắn đan xen với
những cđu thơ dăi đê góp phần tôđậm nỗi căm uất, nghẹn ngăo chứachất trong lòng người đang bùnglín dữ dội
Nhớ da diết bồi hồi quíhương, Hoăng Cầm lại tha thiếtnhắn gọi : “Ai về bín kia sôngĐuống – Cho ta gửi tấm the đen…
- Gửi về may âo cho ai…” – Vẫn
lă phiếm chỉ : “ai về…” “cho ai…”, gợi lín một nỗi nhớ bồi hồi
lă nhớ chùa xưa thâp cũ, nhớ hội
hỉ, nhớ nủ Thiín Thai, nhớ chùaBút Thâp, nhớ Lang Tăi, nhớ tiếngchuông chùa ngđn buông Nhớcuộc sống yín vui thanh bình, nhớnhững địa danh, những thắng cảnh,
… đê in dấu đậm đă, đê gắn bónvới tđm hồn đứa con ly hương :
“Mấy trăm năm thấp thoâng mộng bình yín
Những hội hỉ đình đâm (…) Chuông chùa văng vảng nay người ở đđu”.
Tiếng chuông chùa Dđu ,chùa Bút Thâp, chùa Bâch Môn…
chỉ còn “văng vẳng” từ “mấy trămnăm thấp thoâng mộng bình yín”
troÜỴ@ÐßĂÜ@ÜÏíĩðỊAđÊí@ØÊðÚ@ỈÐÞ@ÜßỈỊ@ÜĐĩịX@ÜßỈỊAđĐí@ỉÐỊỐ@ÜĐíịỈ@ÜÐßĐỊX@ÏĩÞỊ@ØỊỘ@ìíÞ@ÐÞĐÜỴ
@ìÊỊÜỴXAđỊỊÔí@ỉÊðÜ@ỈịưĐ
@đíỊÔ@ĐíỉÜỴ@v@ÜßịỊ@ØỊỘ@ÛỉAíĩịỈ@ÜỴÊðÜAêĩðỊAêíĩÞỈ@ỉßĐÜỴ@ÊĐÚ@ÜÞX@ịỊỘ
@ìíỊ@ỉôÞÜỴ@ỉÐĐÜÐ@ƠØÜÐ\
œĐĩị@ỈÊưÜÐ@ôßĂỊ@ÜĐĩị@ÜÏíĩðỊ\
@œßỈỊ@ÜĐĩị@ỉôÊðÜ@ÜỴÊỈăX@ÜĐĩị@ĩíðÜỴ@ỈÊịÜỴ@ĐØÜÐX@ÜĐĩị@ĩíðÜỴ@ÜỊịỉ@ÚÊƯỉX@ÜĐĩị@ØÊðÜ@ÚßÔỊX
@ÜĐĩị@ÚÊịỊ@ỉßịỈX@ÜĐĩị@đíÊĂÜ@ÜÊÔíX@ÜĐĩị@ỈịÞ@ỉÐỊÍX@ÜĐĩị@ÜÐỊỊĂị@†ĐííA&
ÜĐííÜÏ(AđỊỊỈă@ØÊÞỊ@ÜÐỊỊĂí@ØÊĂÜ@ỈỊỊỈÜ@ỉÊư@ÜßÍỊ
@ÜĐĩị@ÚỊỘÐ@ÚĐÜỴX@ðĐÞ@ðíịỊĐÜX@ÔßĂỊ@ÐßĂỊ@t
anh vă của em Ai có nhớ, riíng ta
nhớ lắm Nhớ “từng khuôn mặtbúp sen”, nhớ nụ cười ấm âp, tươivui, rạng rỡ cũa những cô gâi xinhđẹp, tình tứ, dịu dăng Nhó ngườidăng tơ, nhớ nằng dệt sợi, nhớngười thợ nhuộm,… những conngưòi cần mẫn, siíng năng, khĩotay hay lăm, rất đâng yíu, đâng tựhăo Cuộc sống vă con người quíhương hiện hình qua nỗi nhớ lầnlượt nối tiếp xuất hiện trong kí ứcđầy âm ảnh, khôn khuđy :
“Ai về bín kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hăng xĩn răng đen,
Cươi như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen,
Bêi Trầm chỉ người dăng
tơ nghẽn lối
Những năng dệt sợi
Đi bân lụa mău Những người thợ nhuộm Đồng tỉnh, Huí Cầu Bđy giờ đi đđu về đđu”.
Nỗi nhớ ấy vừa thực, vừamộng ảo, gắn bó nhịp sống đờithường nhộn nhịp với câi vẻ tình tứđâng yíu gợi ra trong lòng chúng
ta một trời bđng khuđng thươngnhớ : “Ai lín Đồng Tỉnh, Huí Cầu– Đồng Tỉnh bân thuốc, Huí Cầunhuộm thđm – Dù ai đi chợ ThanhLđm Mua anh một âo vải thđm hạt
đền” Qua đó, ta cảm nhận hương
vị dđn tộc, chất tính tứ, hư ảo đê
lăm nín vẻ đẹp trữ tình trong thơHoăng Cầm
Sau hình ảnh những cô gâixinh đẹp, tình tứ, … Hoăng Cầmnói về bă mẹ vă đăn con thơ với
Trang 18nhiều thương nhớ, đau xót “Mẹ
già nua còm cõi gánh hàng rong”
xuất hiện giữa phiên chợ nghèo,
khi “lũ quỷ mắt xanh” kéo đến
cướp bóc : “Lá đa lá đác trước lều
– vài ba vết máu loang chiều mùa
đông” Bờ tre thì “hun hút”, trời thì
“mưa lạnh”, con đường thì “trơn”,
… cả một không gian tăm tối, lạnh
lão, hãi hùng… Trên trời, cánh cò
xao xác “bay vùn vụt”,… “về
đâu…”.Trên con đường trơn, mẹ
già mái tóc bạc phơ lầm lũi “bước
cao bước thấp” với bao nỗi kinh
hoàng Hình tượng thơ đầy ám
ảnh, nhức nhối đau thương:
Đàn con thơ đang sống
trong cảnh đói rét và sợ hãi Chỉ có
bát cháo ngô cầm hơi, chỉ biết
“chui gầm giường tránh đạn”, đêm
đêm sống trong nỗi kinh hoàng
giữa tiếng súng giặc : “Uùc ớ cơn
mê – Thon thót giật mình”… Hình
ảnh bà mẹ và em thơ trong đoạn
thơ này tiêu biểu cho nỗi đau
thương của những bà mẹ, những
em bé, những nạn nhân trong chiến
tranh Câu thơ khép lại phần hai
này là tiếng thét căm hờn Hoàng
Cầm diễn tả lòng căm thù giặc
Ngoài biện pháp tương
phản đối lập giữa “mấy trăm năm
thấp thoáng mộng bình yêu” với
“Quê hương ta từ ngày khủng
khiếp”, Hoàng Cầm lạp đi lặp lại
các câu thơ : “Bây giờ tan tác về
đâu… Chuông chùa văng vẳng nay
người ở đâu… bây giờ đi đâu về
đâu…” – điệp cú, điệp khúc ấy
không chỉ gợi tả bao nỗi ngơ ngác,
kinh hoàng về nỗi đau thương,tang tóc trong lửa đạn quân thù,
mà còn tạo ra ám ảnh khôn nguôi
về sự tiếc nuối những năm thángthanh bình êm đẹp và thơ mộngcủa quê hương
Giọng thơ thay đổi ở đoạn hai 49 câu này Có niềm vui
gặp gỡ thắm tình quân dân khi “bộđội bên sông đã trở về” Hình ảnh
bà mệ quê hương tượng trưng choniềm vui hồi sinh “bừng lên” saulũy tre điêu tàn một thời “khủngkhiếp” :
“Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng”.
Có biến động “Trại giặcbắt đầu ru trong sương” Cả mộtvùng quê bao la vùng lên đánhgiặc, đem lại màu xanh cho ruộngđồng :
“Gió đưa tiếng hát về gần, Thợ cấy đánh giặc, dân quân cày bừa”.
Có niềm vui “mở hội…”
và niềm vui chiến thắng Câu thơngắn, nhịp thơ hối hả, rộn ràng
Sông Đuống hiện ra giữa một rạngđông tuyệt đẹp :
“Vì nắng sắp lên rồi Chân trời đã tỏ Sông Đuống cuồn cuộn trôi…
Đoạn hai tuy có một sốcâu thơ cảm động, một số hình ảnhgợi cảm nhưng ngôn ngữ thơ dàntrải, yếu tố “kể” lấn át yếu tố trữtình Bài thơ được tác giả viết vàomùa xuân 1948, phải 6 năm saumới có cảnh tượng “bao nhiêu đồngiặc tơi bời” và mới có “chim múahoa cười” trong lòng đứa con xaquê thời khói lửa Do đó , cảmhứng lãng mạn khi nói về quêhương chiến đấu và chiến thắng ít
nhiều dễ dãi, sơ lược.
3 – Phần thứ ba với 6 dòng nói lên niềm mơ ước “bao giờ về ben kiai sông Đuống”
trong ngày hội non sông, trong
niềm vui tái hợp Một lần nữa,
hình ảnh cô gái Kinh Bắc hiện lêntrong vẻ đẹp diệu kỳ và tình tứ :
Sau một chuỗi câu thơngắn 4 tiếng, kết thúc bài thơ là haicâu lục bát có giá trị gợi tả niềmvui ngân nga mãi trong lòng người
“Quê hương nghĩa nặng tình sâu…”, có ai đó đã nói như
vậy ? Tình yêu quê hương là mộttrong những tình cảm sâu sắc nhất,mãnh liệt nhất của con người ViệtNam chúng ta Tình quê hương vớiHoàng Cầm là nỗi nhớ và niềm tựhào ; nhớ cảnh vật, nhớ con người,nhớ dòng sông Đuống “trôi đi mộtdòng lấp lánh”, nhớ núi Thiên thai,nhớ chùa Bút Tháp, nhớ khuônmặt búp sen thiếu nữ, nhớ mùaxuân tưng bừng lễ hội, nhớ mẹ,nhớ đàn con thơ,… Nhớ và tự hào
về một miền quê giàu đẹp, có màuxanh lúa ngô khoai, nương dâu bãimía, có tranh Đông Hồ “gà lợn néttươi trong – màu dân tộc sángbừng trong giấy điệp” Tự hào vềquê hương bất khuất hiên ngang.Tin tưởng về ngày hội non sông,
và ngày vui tái hợp Bài thơ cònchất chứa bao nỗi căm hờn đối vớiquân xâm lược
Thơ của Hoàng Cầm giàunhạc điệu, âm điệu lôi cuốn Cóvang vọng của ca dao, dân ca Bàithơ thấm một tình yêu và hồn quêlai láng Con sông Đuống cô gái
“cười như mùa thu tỏa nắng”… làcủa riêng Hoàng Cầm
Nhưng lạ thay, kỳ diệuthay người đọc gần xa trong nửathế kỷ nay đã tìm thấy một phầnbóng hình quê hương mình và nỗilòng, tình thương, nỗi nhớ của
mình trong bài thơ tuyệt tác “Bên kia sông Đuống” Thơ hay mới
Trang 19cho ta “sự đồng cảm nhiệm màu”
ấy
Bài 19
Bình giảng đoạn thơ sau
trong bài “Bên kia bờ sông
Đuống” của Hoàng Cầm :
…”Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp
thơm nồng,
Tranh Đông Hồ gà lợn nét
tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng
trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày
canh ông sáng tác bài thơ này
“Bên kia sông Đuống” xuất hiện
lần đầu tiên trên báo “Cứu quốc”
tháng 6 – 1948, nó được nhanh
chóng phổ biến từ chiến khu ViệtBắc tới khu Ba, khu Bốn, vào miềnNam và tận nhà tù Côn Đảo Nó làmột trong những bài thơ hay nhấtviết về quê hương đất nước trongthơ ca Việt Nam thời kháng chiến
chống Pháp
Trong phần “Vỹ thanh”
của tập thơ “Về Kinh Bắc” in năm
1994, thi sĩ Hoàng Cầm có viếtmột đôi dòng về bối cảnh và cảmhứng của mình khi sáng tác bài thơ
“Bên kia sông đuống” :
…”tôi đang ở trong trạngthái bồn chồn, thao thức, tâm tư rốibời sau khi nghe báo cáo về quêhương mình bị giặc xâm lược kéolên tàn phá, giết chóc, tôi chưađịnh viết gì, lúc quá nửa đêm vắnglặng, bỗng văng vẳng bên tai bacâu :
“Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về bên kia sôn Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ…”
Tôi chộp lấy, ghi ngay và
cứ thế cảm xúc trào ra một mạchdài, viết rất nhanh, sợ không theokịp những thanh âm làn điệu đangcuồn cuộn dâng lên trong lòngmình Cho đến gần sáng thì xongbài thơ, một trong những bài đượccác bạn già, trẻ, nam, nữ yêu mến
đã gần nửa thế kỷ…” (trang 159)
Mười câu đầu của bài thơ,
thi sĩ nói lên nỗi nhớ thương da diết quê hương gắn liền với con
sông Đuống thân yêu Nỗi nhớthương đau buồn ấy gắn liền với
nỗi “xót xa như rụng bày tay” !
Tiếp đó là phần chính của bài thơ
diễn tả cảnh tan tác, điêu tàn của quê hương yêu dấu :
“Bên kia sông Đuống
Bây giờ tan tác về đâu ?
Đoạn thơ dài 15 câu là sựtrải rộng tấm lòng tha thiết và bồihồi, của đứa con đi xa đối với nơichôn ra cắt rốn của mình Một tìnhquê đằm thắm dào dạt “Bên kia
sông Đuống” – “Bên này” là đất tự
do, nhà thơ hướng lòng mình về
“Bên kia” là vùng bị giặc chiếm
đóng và giày xéo Đó là vùngThuận Thành quê Mẹ đất Cha
“Quê hương ta” đẹp lắm,đáng tự hào biết bao Sông Đuốngtrôi đi êm đềm “một dòng sông lấplánh” nên thơ Một màu xanh bạtngàn như dẫn hồn nhà thơ đi về cõimộng Bức tranh quê “Xanh xanhbãi mía bờ dâu – Ngô khoai biêngbiếc” đã có thể thương để nhớ dadiết cho đứa con tha hương
“Quê hương ta” đẹp lắm.Một miền quê trù phú đáng yêu
“Hương lúa nếp thơm nồng” từnhững cánh đồng quê tươi tốt đãtỏa rộng trong không gian và thờigian, đã thấm sâu vào hồn ngườikhông thể nào phai nhạt được.Hương vị đậm đà của quê nhàchẳng phải là “canh rau muống”với “cà dầm tương” mà là “hươnglúa nếp thơm nồng” – thơm ngàongạt dâng lên trong những ngàymùa, trong hương cốm mới, trênmâm cỗ ngày giỗ ngày tết… đãthấm đượm một mối tình quê vơiđầy Trong khói lửa chiến tranh,đứa con ly hương quên sao được
“hương lúa nếp thơm nồng” củaquê Cha đất Mẹ ?
Kinh Bắc – quê hương yêudấu của Hoàng Cầm là một miềnđất cổ kính có bề dày văn hóa quacác triều đại phong kiến Lý, Trần,
Lê Là quê hương của nhữngvương phi, hoàng hậu, những cànhvàng lá ngọc… Là nơi sinh sản ranhiều trạng nguyên, tiến sĩ của đấtnước ta mà câu đồng dao đã khắcvào năm tháng:
“Một bồ ông cống – Mộtđống ông nghè – Một bè tiến sĩ –Một bị trạng nguyên – Một thuyềnbảng nhỡn…” Là một vùng quê cóbao danh lam thắng cảnh, nhữngnon tiên, núi gấm, những chùachiền… đã đi vào huyền thoại cổtích Là quê hương của những hội
hè đình đám : “Mồng bẩy hội
Trang 20Khâm, mồng tâm hội Dđu – Mồng
chín đđu đđu cũng về hội Gióng”
(tục ngữ) Thương nhớ “quí hương
ta” tiếng thơ của Hoăng Cầm cất
lín tha thiết tự hăo :
“sâng bừng” gợi tả nĩt, gam mău
trong sâng, thanh nhẹ, đẹp tươi…
lăm hiện lín trong tđm hồn chúng
ta những bức tranh dđn gian với đề
tăi bình dị, thđn thuộc được treo
trong ngăy tết đón xuđn sang với
nhiều mơ ước Tranh gă lợn, tranh
đânh đu, đấu vật, tranh Tố Nữ,
thầy đồ Cóc, đâm cưới chuột, tranh
hứng dừa, tranh đânh ghen, tranh
Bă Trưng cưỡi voi ra trận, tranh
Phù Đổng Thiín Vương… Tất cả
đều diễn tả khât vọng, ước mơ
ngăn đời của nhđn dđn ta Cảnh sắc
đồng quí, sinh hoạt lăng xê “mấy
trăm năm thấp thoâng mộng bình
yín…” như “sâng bừng” trong tđm
hồn mỗi chúng ta, “sâng bừng trín
giấy điệp” Tranh Đông hồ thể
hiện bản sắc nền văn hóa Việt
Nam Trín nền giấy dó lâng một
lớp điệp mỏng óng ânh lăm nền ;
chất điệp ấy được chắt luyện vă
tinh chế từ vỏ sò đầy sâng tạo
Mău sắc tranh Đông Hồ : mău son,
mău tím sim, mă cânh sen, mău
văng nghệ, mău xanh rỉ đồng, mău
lâ chuối tơ… đúng lă “mău dđn
tộc” đê lăm “sâng bừng” một tình
quí đậm đă đâng yíu
“Mấy trăm năm thấp
thoâng mộng bình yín”,… còn đđu
nữa ? Từ bồi hồi hoăi niệm, giọng
thơ trở nín đau xót, căm giận,
nghẹn ngăo Cảnh thanh bình trín
quí hương Kinh Bắc vụt tan vỡ
Xóm lăng quí hương chìm trong
bóng giặc Giặc trăn tới xĩo, đốt
phâ vă chĩm giết Bao trùm lín
xóm lăng quí hương lă ngọn “lửa
“Ruộng ta khô Nhă ta chây Chó ngộ một dăn Lưỡi dăi lí sắc mâu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”.
Một không gian bao la bịđốt phâ, bị giầy xĩo, Sự sống bihủy diệt đến “kiệu cùng” Ruộngvườn, nhă cửa của nhđn dđn ta từbao đời nay bỗng chốc bị “lửahung tăn” lăm cho “khô”, lăm cho
“chây” Mău xanh biíng biếc củalúa ngô khoai bị tăn lụi kiệt cùng
Xóm lăng tan hoang “Ngõ thẳm
bờ hoang” vốn lă nơi hẻo lânh,khuất nẻo hoan vu, thế mă tư ngăy
“khủng khiếp” cũng bị lũ giặc tănphâ đến “kiệt cùng”, điíu linh Nếunhư trong “Bình Ngô đại câo”,Nguyễn Trêi căm giận lín ân quđn
“cuồng Minh” lă “hung tăn”, lă
“quđn cường bạo”, cực kỳ ghí tởm: “Thằng hâ miệng, đứa nhe răng,mâu mỡ bấy no ní chưa chân” thì
ở đđy Hoăng Cầm khinh bỉ cămthù gọi giặc Phâp lă bầy “chó ngộ”
– chó điín – “lưỡi dăi lí sắc mâu”
Hình ảnh thơ nói về lũgiặc lă một hình ảnh sâng tạo, đêkhơi dậy bao căm giận đối vớiquđn xđm lược trong nửa thế kỷnay
Giặc kĩo tới chiếm đóng
vă tăn phâ quí hương Nỗi đau vềvật chất cùng với nỗi đau về tinhthần như được nhđn lín nhiều lần
Đình đền, chùa chiền bị đập phâ
Còn đđu nữa những bức tranhĐông Hồ ? “Đăn lợn đm dương”,
“Đâm cưới chuột”,… lă hai bức
tranh nổi tiếng nói lín ước mơ no
ấm, hạnh phúc vă câch ứng xử củanhđn dđn, chẳng có tội tình gì cũng
bị quđn thù hủy diệt đến “kiệtcùng” đau đớn !
“Mẹ con đăn lợn đm dương
Chia lìa đôi ngả Đâm cưới chuột đang tưng bừng rộn rê
Bđy giờ tan tâc về đđu?”
Câcn nói của Hoăng Cầm
vô cùng sđu sắc vă thấm thía Nỗicăm giận khôn nguôi trong lòngngười ! Thực tại vă mộng ảo nhưtrộn lẫn văo nhau, hình ảnh “tantâc” trong tranh trở thănh sự thật
“khủng khiếp” ngoăi đời Trongnhững cđu thơ trín, nỗi đau xót,căm thù được khắc sđu bằng sự đốilập giữa hai cảnh trước vă sau,thanh bình vă chiến tranh, tươngphản giữa ngôn từ – Xưa kia,những năm thâng bình yín thì
“tưng bừng rộn rê”, “bđy giờ”, khigiặc trăn tới thì “chia lìa đôi ngê”,
“tan tâc về đđu?”
Cđu thơ “Bđy giờ tan tâc
về đđu ?” vă “Bđy giờ đi đđu về
đđu” lă những cđu
ỉĐỉ@ÐĐịX@ỈÊưÚAđßỈÜỴXAêíĩÞỈ@ÜÐÊỊỈ@ØÊÞỊ@ÜÐỊỊĂí@ØÊĂÜ@ÜĐì@ÚßỈỉAđỊỊỈă@Ư
ỴĨĩịỊ@ÐÊÞÜ@ÜÊðÞ\
¬ỊỊĐỉ@ìỊĂ@ỉßỈỊ@ÊịỈ@đíÊỘ@ðÊỐ@ÙíĩÞỈX@ÐÊĂí@ÜĐì@ÜÐÊð@ỉĐỉ@ÜÊðÞ@ỈịíÜỴAđỊÍ@ØÊÞỊ@ÜĐííÜỴ@ỈÊÔí@ỉĐỉ@ỉÊỐ@ÐíịỊĐỉ@ØÊðÚ@ðịịỈAđßỈÜỴ@ØßðÜỴ@ÜÏíĩðỊ\A
¢ßị@ØÊðA&ÜĐííÜỴ@ìÊĂÜ@ỉĐỉ@ÚßỈỉ@ỉĐĩðỊ@ìÊð@ÚÊíỊ
@ÚÊíĨ(@t&„ßỈÜỴ@ỈíßĐỊ@Úịð Đ@ỈÐỊỊỐ@đíÊỘ@ỴỊÊƯỈ@ĩĩ ịỊœỴßí@ỈÐịðĐ@ỈÐÊịịAđßư@ÜĐ
Trang 21đòẵĨ(A,@Èỡở@†ằÞR&ỊẳƯỈ@ớ
ậá@ỴỊẳƯỈ@ỈÐỊậằịAóẳu xương
mõu Đau cả lúng sừng, đau cỏ
“Thơ hay lỏ thơ cụ hồn.”
Đoạn thơ trởn đầy từ óm điệu đến
hớnh tượngđọ để lại trong lúng
người đọc những tớnh cảm sóu sắc,
những ấn tượng mạnh mẽ về tớnh
người, tớnh quở hương Cấu trỷc
đoạn thơ thỏnh hai mảnh đối lập :
quõ khứ thanh bớnh, yởn vui, tươi
đẹp với hiện tại đau thương, xụt xa
cụ tõc dụng như một lời kết tội
đanh thờp quón xóm lược Hoỏi
niệm đẹp gắn liền với hiện tại điởu
tỏn, tớnh yởu quở hương cỏng trở
nởn thiết tha cảm động được thể
hiện qua bỷt phõt tỏi hoa vỏ độc
đõo của thi sĩ Hoỏng Cầm Chất
Kinh Bắc lỏm nởn vẻ đẹp thẩm mĩ
bỏi thơ “Bởn kia sừng Đuống” để
ta yởu quý vỏ trón trọng
Bỏi 20
Phón tợch bỏi thơ “Đồng
chợ” của Chợnh Hữu
BáI LáM
“Đồng chợ” lỏ bỏi thơ hay
nhất của Chợnh Hữu viết về người
nừng dón mặc õo lợnh trong những
năm đầu cuộc khõng chiến chống
thực dón Phõp xóm lược Bỏi thơ
được viết vỏo đầu xuón 1948, sau
chiến thắng Việt Bắc thu đừng
1947, nụ đọ đi qua một hỏnh trớnh
nửa thế kỷ, lỏm sang trọng một
hồn thơ chiến sĩ
Hai mươi dúng thơ, với
ngừn ngữ bớnh dị, giọng điệu thủ
1 – Hai cóu thơ đầu cấutrỷc song hỏnh, đối xứng lỏm hiệnlởn hai “gương mặt” người chiến sĩrất trẻ, như đang tóm sự cỳng nhau
Đóy lỏ giọng điệu tóm tớnh thấmthợa của một đừi bạn vừ cỳng thathiết :
“Quở hương anh nước mặn đồng chua,
Lỏng từi nghộo đất cỏy sỏi đõ”
Quở hương anh vỏ lỏng từiđều nghộo khổ, lỏ nơi “nước mặnđồng chua”, lỏng xứ sở “đất cỏylởn sỏi đõ” Mượn tục ngữ, thỏnhngữ để nụi về lỏng quở, nơi chừnrau cắt rốn thón yởu của mớnh lỏmcho lời thơ bớnh dị, chất thơ mộcmạc, đõng yởu như tóm hồn ngườitrai cỏy ra trận đõnh giặc Đồngcảm lỏ cơ sở, lỏ cõi gốc lỏm nởntớnh bạn, tớnh đồng chợ sau nỏy
2- Năm cóu thơ tiếp theo
nụi lởn một quõ trớnh thương mến : từ “đừi người xa lạ” rồi
“thỏnh đừi tri kỷ”, về sau kết thỏnh
“đồng chợ” Cóu thơ biến hụa, cảmxỷc như dồn tụ lại, nờn chặt lại
Những ngỏy đầu đứng dưới lõquón kớ : “Anh với từi đừi người xa
lạ – Tự phương trời chẳng hẹnquen nhau” Năm thõng chiếntranh trừi qua, đừi bạn gắn bụ vớinhau bằng bao kỉ niệm đẹp :
“Sỷng bởn sỷng, đầu sõt bởn đầu,
Đởm rờt chung chăn thỏnh đừi tri kỉ”
Đồng chợ !”
“Sỷng bởn sỷng” lỏ cõch
nụi hỏm sỷc, hớnh tượng : cỳngchung lợ tưởng chiến đấu ; “anh
với từi” cỳng ra trận đõnh giặc đểbảo vệ đất nước quở hương, vớ độclập, tự do vỏ sự sống cún của dón
tộc “Đầu sõt đầu” lỏ hớnh ảnh
diễn tả ý hợp tóm đầu của đừi bạntóm giao Cóu thơ “Đởm rờt chungchăn thỏnh đừi tri kỉ” lỏ một cóuthơ hay vỏ cảm động, đầy ắp kỉniệm một thời gian khổ Chia ngọ
tsẻ bỳi mới “thỏnh đừi tri kỉ” Đừi tri kỉ lỏ đừi bạn rất thón, biết bạn
như biết mớnh Bạn chiến đấu
thỏnh tri kỉ, về sau trở thỏnh đồng chợ Cóu thơ 7,8 từ đột ngột rỷt ngắn lại hai từ “đồng chợ!” diễn tả
niềm tự hỏo, nỗi xỷc động cứ ngónnga mọi trong lúng Xỷc động khinghĩ về một tớnh bạn đẹp Tự hỏo
về mối tớnh đồng chợ cao cả thiởngliởng, cỳng chung lợ tưởng chiếnđấu của những người binh nhớ vốn
lỏ những trai cỏy giỏu lúng yởunước ra nhận đõnh giặc Cõc từngữ được sử dụng lỏm vị ngữ trong
vần thơ : bởn, sõt, chung, thỏnh –
đọ diễn tả sự gắn bụ thiết tha củatớnh tri kỉ, tớnh đồng chợ Cõi tấmchăn mỏng mỏ ấm õp tớnh tri kỉ ;tớnh đồng chợ ấy mọi mọi lỏ kỷniệm đẹp của người lợnh một thờichinh chiến khừng bao giờ cụ thểquởn :
“Oói nỷi thẳm rừng sóu Trung đội cũ về đóu Biết chăng chiều mưa mau Nơi đóy chăn giõ ngắt Nhớ cõi rờt ban đầu Thấm mối tớnh Việt Bắc…”
(“Chiều mưa đường sừ 5”
– Thóm Tóm)
3 – Ba cóu thơ tiếp theonụi lởn hai người đồng chợ cỳngchung một nỗi nhớ : nhớ ruộngnương, nhớ bạn thón cỏy, nhớ giannhỏ, nhớ giếng nước, gốc đa Hớnhảnh nỏo cũng thắm thiết một tớnhquở vơi đầy :
“Ruộng nương anh gửi bạn thón cỏy
Gian nhỏ khừng mặc kệ giụ lung lay
Trang 22Giếng nước, gốc đa nhớ
người ra lính”
Giếng nước, gốc đa lă hình
ảnh thđn thương của lăng quí được
nói nhiều trong ca dao xưa : “Cđy
đa cũ, bến đò xưa… Gốc đa, giếng
nước, sđn đình…”, được Chính
Hưũ vận dụng đưa văo thơ rất đậm
đă, nói ít mă gợi nhiều, thắm thía
Gian nhă, giếng nước, gốc đa được
nhđn hóa, đang đím ngăy dõi theo
bóng hình anh trai căy ra trận ?
Hay “người ra lính” vẫn đím ngăy
ôm ấp hình quí hương ? Có cả 2
nỗi nhớ ở cả 2 phía chđn trời Tình
yíu quí hương đê góp phần hình
thănh tình đồng chí, lăm nền sức
mạnh tinh thần để người lính vượt
qua mọi thử thâch gian lao, âc liệt
thời mâu lửa Cũng nói về nỗi nhớ
ấy, trong băi thơ “Bao giờ trở lại”,
Hoăng Trung Thông viết :
“Bấm tay tính buổi anh đi
Mẹ thường vẫn nhắc : biết
khi năo về ?
Lúa xanh ngắt chđn đí
Anh đi lă để giữ quí quân
ânh hiện thực khâng chiến buổi
đầu Sau 80 mươi năm bị thực dđn
Phâp thống trị, nhđn dđn ta đê quật
khởi đứng lín giănh lại non sông
Rồi với gậy tầm vông, với giâo
mâc,… nhđn dđn phải chống lại xe
tăng, đại bâc của giặc Phâp xđm
lược Những ngăy đầu khâng
chiến, quđn vă dđn ta trải qua
muôn văn khó khăn : thiếu vũ khí,thiếu quđn trang, thiếu lương thực,thuốc men,… Người lính ra trận
“âo vải chđn không đi lùng giặcđânh”, âo quần râch tả tơi, ốm đaubệnh tật, sốt rĩt rừng “sốt runngười vừng trân ướt mồ hôi” :
“Anh với tôi biết từng cơn
ớn lạnh,
Sốt run người vừng trân ướt mồ hôi.
Aùo anh râch vai Quần tôi có văi mảnhvâ
Miệng cười buốt giâ
Chđn không giăy…”
Chữ “biết” trong đoạn thơ
năy nghĩa lă nếm trải, cùng chungchịu gian nan thử thâch Câc chữ :
“anh với tôi”, “âo anh… quần tôi”
xuất hiện trong đoạn thơ như một
sự kết dính, gắn bó keo sơn tìnhđồng chí thắm thiết cao đẹp Cđuthơ 4 tiếng cấu trúc tương phản :
“Miệng cười ><buốt giâ” thể hiện
sđu sắc tinh thần lạc quan của haichiến sĩ, hai đồng chí Đoạn thơđược viết dưới hình thức liệt kí,cảm xúc từ dồn nĩn bỗng ăo lín :
“Thương nhau tay nắm lấy băntay” Tình thương đồng đội, đồngchí được biểu hiện bằng cử chỉthđn thiết, yíu thương : “tay nắmlấy băn tay” Anh nắm lấy tay tôi,tôi nắm lđy băn tay anh, để độngviín nhau, truyền cho nhau tìnhthương vă sức mạnh, để vượt quamọi thử thâch, “đi tới vă lăm nínthắng trận”
5 – Phần cuối băi thơ ghilại cảnh hai người chiến sĩ – haiđồng chí trong chiến đấu Họ cùng
“đứng cạnh bín nhau chờ giặc tới”
.Cảnh tượng chiến trường lă “rừngcạnh bín nhau chờ giặc tới” Cảnhtượng chiến trường lă “rừng hoangsương muối”, một đím đông vôcùng lạnh lẽo hoang vu giữa núirừng chiến khu Trong gian khổ âcliệt, trong căng thẳng “chờ đợiĩĩịĨ(X@ÐĐỊ@ỈÐỊỊĐÜ@ìỉ@ìÊỈÜA'êíịÜỴ@ỈÊÞÜÐ@ÔỊỘ@ÜÐĐị(X@ìÊðÞ@ỉỊÜÐ@ôĐ@ĩíư@Ỉ
ßị@ÜÐĐí\A
¢ßị@ØÊð@ÚßỈỉAđỊỐ@ỉôÊƠÜỴ@ỉôỊỘ@ỈÐỊỊĐÜ@ƯÐí\
@šßỈỉ@ĩíị@ỉĐỉAđỊÞă@ÔÊĐỉ
@ÜÏĩð@ðíÊĐỉ@ÐỊỊỈÜ@t'¢ÊĂí
@ỉịịÜỴ@ỉôÊƠÜỴ@ỉôÍß(\
œÏíĩðỊ@ỈÐỊỊĐÜ@ìỉ@ỉôỊỘAêíĩðÜỴ@ôĐ@ỉôÊỈÜ@ỉĐØ@ỈßịA
&ÊịÜÐ@ỉĐÞAđÊĂí@ỉịịÜỴ@ÔÊÞÜ@ỈịðÜỴ@Úịí@ÜĐÝ(\
@œÏíĩðỊ@ÙÚÜÐAđỊ@ăÐịÞỈ@×ÚỈÐ@ỴỊÊƯỈ@ỴĨííĐ@ÚßỈỉAđỊỐAđßỘỴA&ởðÜỴ@ÐÞĐÜỴ
@ìíỉÜỴ@ÚíßĐĨ(@ỉĐØ@ỈßịA'đÊĂí@ỉịịÜỴ@ỉôÊƠÜỴ@ỉôÍß(\
@†ÊưÜÐ@ííðĐ@ỉĐíÞỈ@ííðĐ@ÚßỈÜỴ\
@¬ỊĂ@ƯÐíịĐ@ỉôÊƠÜỴ@ỉÊðX@ỉôÊƠÜỴ@Ùỉ@ÙíưÜỴ@ỉôỊ
Ộ@ƯÐßỘỴ@ÜĐìAđĐÜỴ@ỉ ôÍÞ@ìÊðÞAđÊĂí@ỉịịÜỴ\
@¬ÊĂÜỴ@trăng lă biểu tượng
cho vẻ đẹp đất nước thanh bình.Súng mang ý nghĩa cuộc chiến đấu
gian khổ hay sinh “Đầu súng trăng treo” lă một hình ảnh thơ
mộng, nói lín trong chiến đấu giankhổ, anh bộ đội vẫn yíu đời, tìnhđồng chí thím keo sơn gắn bó, họcùng mơ ước về một ngăy mai đất
nước thanh bình Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” lă một sâng tạo
mang vẻ đẹp lêng mạn của thơ cakhâng chiến ; đê được Chính Hữulấy nó đặt tín cho tập thơ viếttrong mâu lửa của mình TrăngViệt Bắc, trăng núi ngăn chiếnkhu, trăng trín bầu trời, trăng tỏatrong măn sương muối huyền ảo.Mượn trăng để tả câi vắng lặng củachiến trường, để tô đậm câi tư thế
trầm tĩnh “chờ giặc tới” Mọi gian
lao căng thẳng của trận đânh (sẽdiễn ra ?) đang nhường chỗ cho vẻđẹp huyền diệu, thơ mộng củ vầng
trăng, vă chính đó cũng lă vẻ đẹp
cả thiíng liíng của tình đồng chí, tình chiến đấu.
Băi thơ “Đồng chí” vừa
mang vẻ đẹp giản dị, hình dị khinói về đời sống vật chất của ngườichiến sĩ, lại vừa mang vẻ đẹp cao
Trang 23cả, thiêng liêng, thơ mộng khi nói
về đời sống tâm hồn, về tình đồng
chí của các anh – người lính binh
nhì buổi đầu kháng chiến
Ngôn ngữ thơ hàm súc,
mộc mạc như tiếng nói của người
lính trong lúc tâm sự, tâm tình
Tục ngũ, ca dao được Chính Hữu
vận dụng rất linh hoạt, tạo nên chất
thơ dung dị, hồn nhiên, đậm đà Sự
kết hợp giữa bút phát hiện thực và
màu sắc lãng mạn chung đúc nên
hồn thơ chiến sĩ
“Đồng chí” là bài thơ độc
đáo viết về anh bộ đội Cụ Hồ –
người nông dân mặc áo lính,
những anh hùng áo vải trong thời
đại Hồ Chí Minh Bài thơ là một
tượng đài chiến sĩ tráng lệ cao cả
và thiêng liêng.
Bài 21
Bình giảng đoạn thơ sau
trong bài “Đất nước” của
Nguyễn Đình Thi :
…”Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi
đồi
Gió thổi rừng tre phấp
phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết
Nước những người chưa
bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong
nghệ sĩ đích thực tài hoa và gaìu
sáng tạo Trên các lĩnh vực văn
xuôi, thơ, nhạc, kịch bản văn học,
lý luận phê bình,… ông đều cóthành tựu đáng tự hào Đóng gópnổi bật của Nguyễn Đình Thi trongsáng tác là thơ Thơ Nguyễn Đình
Thi có bản sắc riêng, có những tìm tòi về hình ảnh và ngôn ngữ.
Thơ ông giàu cảm xúc khi viết về đất nước trong chiến tranh.
Bài thơ “Đất nước” trích
trong tập thơ “Người chiến sĩ”, nóđược thai nghén và hình thànhtrong một thời gian khá dài từ năm
1948 – 1955 Từ thực tiễn lịch sử
và sự sống còn của dân tộc, nhàthơ suy ngẫm về đất nước Đây làmột trong những bài thơ hay nhấtviết về đề tài đất nước của nền thơ
ca Việt Nam hiện đại
Biểu lộ niềm vu9i phơiphới của người chiến sĩ cầm súngđánh giặc bảo vệ quê hương, lòngyêu thương tự hào đất nước vềcảnh sắc thiên nhiên, về truyềnthống anh hùng của dân tộc,Nguyên Đình Thi đã viết :
…”Mùa thu nay khác rồi (…)…
Những buổi ngày xưa vọng nói về”…
Cảm hứng yêu nước, tựhào dâng lên dào dạt trong tâm hồnnhà thơ, trong tâm hồn nhữngngười chiến sĩ “đã đứng lên thànhnhững ah hùng” Người chiến sĩ đã
ra đi từ mùa thu ấy, khi “Cả đôthành nghi ngút cháy sau lưng”
(Chính Hữu), giã từ phố cũ thânyêu, dấn thân vào lửa máu
Đối lập với, “những ngàythu đã xa” đẹp mà buồn, là “Mùathu nay khác rồi” Nhà thơ reo lênxung sướng tự hào, một niềm vuiphơi phơi dâng lên Đứng giữa núiđồi chiến khu, say mê ngắm nhìnđất trời, sông núi Thiên nhiên bao
la tươi đẹp như xôn xao niềm vuivới con người Bốn chữ “tôi đứngvui nghe” thể hiện một tư thế, mộtdáng đứng kiêu hãnh tuyệt đẹp
Con người chan hòa cùng cây cỏ
và say đắm trong màu sắc quê
hương Ngọn gió mát lành mùa thuquyện “hương cốm mới” như hát
ca cùng đất nước Hình ảnh “rừngtre phấp phới diễn tả thật hay ngọngió thời đại và sức sống mãnh liệtcủa đất nước quê hương :
“Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi dồi
Gió thổi rừng tre phấp phới…”
Mùa thu lại về với đấtnước trong sắc màu tươi sáng :
“Mùa thu thay áo mới – Trong biếcnói cười thiết tha” Bao trùm đấtnước là cả một không gian bao la,một thiên nhiên đẹp hữu tình đượcnhân hóa, gắn bó hòa hợp với conngười Con người kháng chiến vớikhát vọng tự do, nên tầm nhìncũng cao xa, mênh mông Có lẽ vìthế, nhà thơ đặc biệt chú ý đến bầutrời Năm lần nhà thơ nói đến bầutrời, mỗi lần có một cách nói, cáchcảm nhận đầy khám phá :
Trời thu thay áo mới, Trời xanh đây là của
Cái khác của mùa thu nayđược diễn tả qua vần điệu náo nức,xôn xao, được đặc tả qua hình ảnhsống động, tươi mát : “Gió thổirừng tre phấp phới” ; được thể hiện
ở ánh mắt, nụ cười : “trong biếcnói cười thêít tha” “Biếc” ở trờxanh, “biếc” ở con mắt nhữngchàng trai, cô gái đang say mêngắm trời thu bao la mênh mông
Nguyên nhân của niềm vui
ấy thật sâu xda, to lớn Cách mạngthành công, nhân dân được sốngtrong tự do đã và đang đem tàinăng và xương máu để giữa gìn vàdựng xây đất nước Đất nước làcủa nhân dân Nguyễn Đình Thireo lên, hát lên niềm hạnh phúc tột
Trang 24cùng của những con người đang
chúng ta” vang lín đĩnh đạc, tự
hăo Một dđn tộc đê gan góc đứng
lín đânh Phâp mới có tiếng nói hăo
hùng ấy Tất cả những gì cao qủ,
thiíng liíng trín đất nước thđn yíu
năy lă “của chúng ta”, của nhđn
dđn chúng ta Sau những đím dăi
nô lệ, nước nhă được độc lập, nhđn
dđn ta mới có niềm vui tự hăo
mính mông ấy Khât vọng lăm chủ
đất nước với tất cả niềm tự hăo lă
của bao thế hệ con người Việt
Nam trong suốt bốn nghìn năm
lịch sử : “Của ta, trời đất, đím
ngăy – Núi kia đồi nọ, sông năy
của ta!” (“Hoan hô chiến sĩ Điện
Biín” – Tố Hữu) Với nghệ thuật
diễn tả trùng điệp, với câhc liệt kí,
điệp từ điệp ngữ (của chúng ta,…
đđy lă,… những) giọng thơ lôi
cuốn, hấp dẫn mang đm điệu anh
hùng ca
Dâng hình đất nước trong
thơ Nguyễn Đình Thi hiện lín
sống động qua những vần thơ
trâng lệ Nhă thơ như đang ngước
mắt vă chỉ tay về “trời xanh” vă
“núi rừng”,… mă reo lín sung
sướng Có tình yíu năo lớn hơn
tình yíu nước ? Đất nước bao la,
hùng vĩ với trời cao, biển rộng,
sông dăi… trở nín thđn thiết,
thiíng liíng Đất nước với những
cânh đồng quí mính mông thẳng
cânh cò bay, “thơm ngât” hương
lúa bốn mùa Đất nước với những
con đường xuôi ngược, văo ra “bât
đím@ôÊĂÚ@ôÊỈă@ÜĐì@ØÊð
AđÊĐỉ@ôíÜÏ(@Q&¬ỊỊỈỉ@„ÊỊÌ(R\A
¢ÊĐỉ@ÝíĩịỈ@íĩịỊ@ÜĐííÜỴ@ỈßðÜỴ@ỉßỘỴA,@ỉßỘỴ@ßĂÜỴX@ỉßỘỴA
¢ÊðX@ỉßỘỴ@˜ßÔX@ỉßỘỴ
@šÊíX@‡íưí@˜ÞÜỴ@ỊĐÜÏA'đßư@ÜÊƯÜỴ@ăÐịð@ỉÊ(X@ÔßĂỊAđÊỊă@ÜỊỘ@ÜĐííÜỴ@ỈÊịÜÐAđßĂÜỴ@ÚÊðí@ÛĩíX@
ÜíßÔỊ@ỉßĐÜỴ@ÜÐÊỘ@ỈÊỘ@ỉĐ@ĩíÞ@ÔĐÞAêĩðỊ@ÜĐị\
@†ÊịỈ@ĩÚÜÐ@ĩíð@tA&ðĐÜĐ(
XA&ỉĐỉÚ@ÚÊịĩ(XA&ÔÊịỉ@ÜỴÊịĩ(XA'đßư@ÜÊƯÜÏ(Y@ÌíÞỈ
@ỉÊư@ìỊưAđỊÞă@ìÊð@ìíÞ@íííÜỴ@ÔỊĂÜAđÊĐỉ@ÝíĩịỈXAđßĂÜỴ@ỉĐĩðỊ@ỈÐÞ@ỉÐÊĐị@ÜỴßðỊ@Ôịịỉ@ỉĐỉ@ỉÊðỊ@ÐÞĐXAđỊỊÔí@ØíịỊỈÜ@ỈịưĐ@œỴíịỊỈÜA£ØÜÐ@¨ÐỊ@ỉôÞÜỴ@ÙíÞĐ@ỈÐßÞÜ@ÜỴßỘ@ĩíðAđỊÍ
@ĐØÜÐ@ĩíĩÞÜỴ@ÐßịĐ@ìÊĂÜ@ỉĐỉX@ỉĐïÞ@ÜỊỘ@ỉÊỊỈAđỊỊỈí@ỉởí@ĩØÜÐAđÊÐÚ@ỉÐÊỊÚ\'¢ỊÞă@ìßÔ@ỈịðÜỴ@¨ßÍ@đíßĐỈ@ỉĐAỉỊ@C(@P¨ßĐ@‘íííR\
@†ÊưÚ@ðịịỈ@ỈÊðÞ@ỈÊÞỉ@ÊĐị@ìỊĂAđÊĐỉ@ÝíĩịỈ@Ìíị@ÜỴÊỘ@ÜỴĐ@ÚÊíỊ@ỉôÞÜỴ@ØßðÜỴ@ỈÐịịÜỴ@ỉĐ@ƯÐỊ@ỉỊỊĐă@ỈÊỈÜ@ìÊð@ỈÊưÚ@ỉÐịÞ@
ÜĐííÜỴ@ìÊĂÜ@ỉĐỉ@ỈịưĐ@ỉÊịỈ@ỴỊÊưA&œÏíĩðỊ@ỈÐỊỊĐÜ@
ìì(@ÜßịỊ@ìỊĂ@ỈÊịÜỴ@ĐØÜÐAđÊĐỉ@ÝìßịỈ\
¦Þ@íĩịỊ@Ùĩịă@ÜÐÊð@ỉĐỉAêíỉÜỴ@ỉĐĩðỊX@œỴíịỊỈÜA£ØÜÐ
@¨ÐỊ@ØÊð@ÜĐĩð@ỉĐỉ@Ỉßị@
ỈÊịỊ@ÜĐØÜ@ÛĩịỊ@ÚỊưX@ỉÊÔí@ỉÊỊỈ@ìỊĂAđÊĐỉ@ÝíĩịỈ\
@†ÊưÚ@ĐíịÜỴ@ÙôỈÐ@ìíư@ìÊð@ỉôíịỊĂÜ@ỉÐßĐÜỴAêíĩÞỈ
@ƯỊĐỉ@ĐĩÞă@ÜÐíÊĂÜ@ÜÐíịỊỈÜ@íĩịỊ@ỈÊưÚ@ĐíịÜỴ@ỉĐĩðỊAđÊÞỊ\
@†ĐÚ@ƯĐÚ@đíÊỈỉ@Ìíĩðngcủa tổ tiín từ nghìn xưa như đemđến cho nhđn dđn ta trong thời đại
Hồ Chí Minh một sức mạnh vôbiín mă không một thế lực thù
địch baọ tăn năo có thể khuất phụcđược :
“Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất
Đím đím rỉ rầm trong tiếng đất
Những buổi ngăy xưa vọng nói về”
Ba chữ “nước chúng ta” lă
sự khẳng định ý chí tự cường,niềm tự tôn dđn tộc Đất nước vădđn tộc với lưỡi căy vă thanhgươm cùng chiếc gộc tre “chưabao giờ chịu khuất” “Những buổingăy xưa” mă nhă thơ nhắc đến lănhững năm thâng đau thương văvinh quang của giống nòi Quínsao được ngăy Bă Trưng, Bă Triệuxuất quđn, khi Lý Thường Kiệtviết “Nam quốc sơn hă” trín chiếntuyến Sông Cầu – Như Nguyệt, khiTrần Quốc Tuấn bắt sống Ô MêNhi trín Bặch Đằng Giang, khiLiễu Thăng bị quđn ta chĩm đầutại Chi Lăng, khi Tôn Sĩ Nghịquăng cả ấn tín, triều phục chạythâo thđn qua biín giới,… Nhđndđn ta mêi mêi tự hăo về “nhữngbuổi ngăy xưa” ấy :
“… Khi Nguyễn Trêi lăm thơ vă đânh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thănh văn.
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi
“nguồn thiíng ông cha” đó lătruyền thống anh hùng bất khuấtchống xđm lăng Biín độ cđu thơ,dòng thơ, mẩ, khĩp tăi tình, lúc rútngắn lại 3 từ, lúc chuỗi dăi ra 6,7
Trang 25từ, các câu lục ngôn, thất ngôn đan
chéo vào nhau, cài chặt vào nhau
làm nên tắnh nhạc phong phú của
đoạn thơ Cảm xúc dào dạt, âm
hưởng hào hùng, ngôn ngữ đẹp và
tinh tế Song song với chuỗi hình
ảnh về dáng hình đất nước là sự
phát triển của chuỗi liên tưởng về
quá khứ hào hùng, về sức mạnh
Việt Nam
Đoạn thơ trên đây tiêu
biểu cho vẻ đẹp và cốt càch thơ
Nguyễn Đình Thi Một hồn thơ tài
hoa, bay bổng Một tình yêu nước
sâu nặng và thiết tha Một đất nước
đẹp tươi, hùng vĩ, giàu tiềm năng
và tiề lực, một dân tộc anh hùng
được nhà thơ nói đến và ca ngợi
Chiều dài của lịch sử, tầm cao của
dân tộc, thế đứng bất khuất của
con người Việt Nam là những điều
tốt đẹp nhất được thể hiện qua
đoạn thơ này mà ta đã cảm nhận
được một cách sâu sắc ỀĐất
nướcỂ, bài thơ làm rung động tâm
hồn chúng taẨ, như Ềlắng hồn núi
sông ngàn nămẨỂ
Bài 22
Bình giảing đoạn thơ sau
trong bài ỀĐất NướcỂ của
Nguyễn Đình Thi :
ỀOâi những cánh đồng
quê chảy máu,
Dây thépgai đâm nát trời
xuyến bồi hồi Có những vần thơ
ngọt ngào say đắm Lại có những
quê chảy máu,
Dây thép gai đâm nát trời
chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêuẨỂ
(ỀĐất NướcỂ Ố Nguyễn Đình Thi)
ỀĐất nướcỂ là bài thơ
sáng giá nhất của Nguyễn ĐìnhThi viết trong kháng chiến chốngPháp, cũng là bai thơ kiệt tác viết
về đề tài quê hươn đất nước củanền thơ ca Việt Nam hiện đại Nó
đã được tác giả thai nghén và hìnhthành trong một quá trình lịch sửkhá dài (1948 Ố 1955) Các áng thơ: ỀĐêm mắt tinhỂ, ỀSáng mát trongnhư sáng năm xưaỂ Ố đã khơinguồn cảm hứng để Nguyễn ĐìnhThi khám phá và thể hiện tuyệt đẹptìn yêu nước một cách nồng nàn,say đắm
ỀĐất nướcỂ như một phức
điệu đa thanh nói về cảm xúc mùa
thu quê hương xưa và nay Là
tiếng nói say mê về cảnh giác thiênnhiên tươi đẹp, hùng vĩ, là niềm tựhào về truyền thống bất khuất củadân tộc anh hùng Nó là tiếng nóixót xa, căm giận quân xâm lượcđang giày xéo đất nước thân yêu
Phần cuối bài thơ biểu lộ niềmkiêu hãnh của người chiến sĩ trước
tư thế chiến đấu và chiến thắnglẫm liệt hiêng ngang Ềrũ bùn đứngdậy sáng lòa !Ể của đất nước Đoạnthơ 4 cây trên đây trắch trong phần
thứ 3 của bài ỀĐất nướcỂ.
Nhà thơ Ố người chiến sĩ Ốnhư đang nắm chắc tay súng Ềlắnghồn núi sông ngàn nămỂ, lắngnghe những âm vang của lịch sử,giống nòi Ềrì rầm trong tiếng đấtỂ
tự nghìn xưa, Ềvọng về nóiỂ Ềnhững Bặc Đằng, Chi Lăng, ĐốngĐa bất tử ! Từ quá khứ nghìn xưatrở về hiện tại, câu thơ vút lênnghẹn ngào, đau đơn :
ỀOâi những cách đồng quê chảy máuỂ
Cảnh tưởng đau thương
mà nhà thơ nói đến là mùa thu
1948, khi cuộc kháng chiến chốnggiặc Pháp xâm lược của nhân dân
ta đang diễn ra vô cùng ác liệt !Nhiều đô thị, nhiều vùng nôngthôn rộng lớn của đất nước ta đang
bị giặc Pháp chiếm đóng và giàyxéo Ềđường làng bao xương máutơi bời Ố vườn không nhà trống tànhoangỂ (ỀLàng tôiỂ Ố Văn Cao)
ỀNhững cánh đồng quê chảy máuỂỐ hình ảnh hoán dụ tượng trưngcho đất nước thân yêu, những làngxóm thân thuộc đang bị quân thùcàn quét, bắn giết dã man Máunhững người nông dân hiền lành
đã chảy ngập đường thôn, luốngcàyẨ dưới làn bom đạn của lũcướp nước Xưa kia thuở thanhbình, đất nước là Ềnhững cánhđồng thơm mátẨỂ, Ềxanh xanh bãimắa bờ dâuẨỂ, thì kể từ khi Ềsúnggiặc đất rềnỂ, đã trở nên tangthương, điêu tàn, Ềnhững cánhđồng quê chảy máuỂ Nhân dân ta
bị giặc Pháp tàn sát dã man Haichữ Ềchảy máuỂ lên án tội ác vàchắnh sách tam quan của quâncướp nước : giết sạch, cướp sạch,
đốt sạch ! Từ ỀôiỂ cảm thán diễn tả
nỗi lòng đau đơn, xót xa không thểnào kể xiết !
Từ cái nhìn toàn thể vềkhông gian đau thương, về Ềnhữngcánh đồng quê chảy máuỂ, nhà thơđứng lặng nhìn về các phắa chântrời Một nét vẽ thậm xưng, độcđáo, rất sáng tạo :
ỀDây thép gai đâm nát trời chiềuỂ.
Quân giặc tàn bạo ra sứcbắn giết, càn quét, chiếm đất, dồndân Đồn giặc như nấm độc mọc
lên khắp mọi nơi ỀDây thép gaiỂ
cũng là một hình ảnh hoán dụ n1o
về bốt đồn giặc,sự@ỈƯỊẹÂÚAâßịưỴ@ẻấê@ÚÂư@ỈẽưÂ@âêấẩư@đắéịà@ÝắéịỈ\
@ỵĐắêưỴ@ưẽịỊ@èƯẹịà@ỴÂỊX
@ưĐắêưỴ@ƯấðưỴ@ảấðẺ@ẻấẩị@èƯẹịà@ỴÂỊ@èêÂ@èẽưÂ
@ưƯßẺư@ƯẺấỊè@ẩÂẺ@ẩßẺỈ
@ðêưỴ@âêÂưƯAâßầư@ỴỊấƯỈ@ƯƯßẩưỴ@ỈĐỉ@ưƯấƯÚ@ỈƯßÂưỴAãéê@ưĐắêưỴ@èảấẻư
Trang 26chúng ta” Nhưng từ khi giặc tràn
tới, đồng quê thì chảy máu, trời
chiều thôn trang thì bị dạy thép gai
đâm nát, biết bao đau đớn, căm
hờn ! Tác giả “Đất nước” tạo nên
sự đối lập, tương phản đầy ấn
tượng : xưa và nay, thanh bình
với chiến tranh, hữu tình nên thơ
với điêu tàn, tang tóc – để lên án
tội ác dã man của giặc Pháp mà
trời không thể nào dung tha, người
người đều căm giận ! Sự kết hợp
tài tình các biện pháp tu từ hoán
dụ, cảm thán, thậm xưng và tương phản đã tạo nền vần thơ
giàu hình tượng và biểu cảm Qua
đó, ta cảm nhận được cốt cách thi
sĩ của Nguyễn Đình Thi : hồn thơ đẹp, tài hoa, cảm xúc dồn nén, ngôn từ xức thực, hình tượng sáng tạo Nhà thơ đã dẫn hồn người đọc sống và cảm với thực
hiện thực đất nước một thời khóilửa, mở rộng cho ta một trườngliên tưởng về không gian nghệthuật và thời gian nghệ thuật đểsuy ngẫm về dòng chảy lịch sử vàhành trình bi tráng của dân tộc Và
đó là cái giá của độc lập tự do để
ta nhớ và tự hào !
Gần 50 năm về trước,trong bài thơ “Chạy giặc”, NguyễnĐình Chiểu đã căm giận lên ánquân xâm lược :
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây…
(…) Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây…”
Có biết bao câu thơ xúcđộng làm sôi sục lòng người nhữngnăm tháng đất nước “ra trận” :
“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang…”
(“Bên kia sông Đuống” – Hoầng
Cầm)
Đó là những vần thơ mộtthời và thời gian và lòng người để
ta nhớ mãi
Câu thơ thứ 3 nói lên tâmtrạng người chiến sĩ ra trận :
“Những đêm dài hành quân nung nấu”.
Câu 1 nói về “những cánhđồng quê chảy máu”, câủ tứ thơchỉ rõ “những đêm dài hành quân
nung nấu”, từ không gian đau thương mở ra thời gian căm giận,
không chỉ một đêm, năm, mườiđêm mà là “những đêm dài”… Cấutrúc song hành, điệp lại hai lần chữ
những, chữ nấu gần với chứ máu
(vân chân) đã tạo nên giai điệu,nhạc điệu trầm hùng đang nungnấu tâm hồn người chiến sĩ xungkích trên đường hành quân ra trận
“Nung nấu” vì căm thù dữ dội.Nòng súng nóng bỏng, lưỡi lênhọn hoắt căm thù ! Mối thù đốivới giặc Pháp cướp nước nungnấu, ngùn ngụt bốc lửa, sôi sụctrong lòng, không chỉ trong mộtthời gian hữu hạn mà kéo dài trongthời gian vô hạn “những đêm dàihành quân nung nấu ! Hai chữ
“nung nấu” biểu hiện sâu sắc tìnhyêu nước của những người línhbinh thì trong chiến tranh giữanước : “Oâm đất nước nhữngngười áo vải – Đà đứng lên thànhnhững anh hùng !”
Càng nung nấu căm giậnquân xâm lược bao nhiêu thì cangyêu quê hương đất nước bấy nhiêu.Người lính ra trận nung nấu, sôisục căm thù giặc khi nhìn thấy đấtnước tang tóc, điêu tàn “nhữngcánh đồng chảy máu…”, nhìn thấy
“những bóng thù hắc ám”, nhữngđồn giặc mọc lên với bao “dâythép gai đâm nát trời chiều” Câuthơ thứ 4 tiếp theo là một nét vẽ,nét khắc chiều sâu tâm hồn ngườichiến sĩ ra trận ; nhiều khám phá
và sáng tạo :
“Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”.
“Nung nấu” căm thù và
“bồn chồn nhớ” là 2 nét biểu hiện
của một tâm trạng, làm nên sứcmạnh chiến đấu và chiến thắng củaanh Vệ quốc quân thời khángchiến 9 năm đánh Pháp Anh ratrận với sức mạnh thù giặc, vớitình yêu nước thương dân, với bao
nỗi nhớ Nhớ luống cày mái rạ, nhớ bãi mía nương dâu, nhớ giếng nước gốc đa, nhớ “người tình
Trang 27chung”,… “nhớ mắt người yởu”.
“Mắt người yởu” cũng lỏ một
hớnh ảnh hoõn dụ rất đắt diễn tả
hớnh bụng quở hương, vẻ đẹp
duyởn dõng “người tớnh chung”
sau lũy tre lỏngmỏ anh nhớ lắm :
“Vầng trăng em mang trời
“Nhớ mắt người yởu” với
bao kỷ niệm đẹp một thời trai trẻ
“Xa em năm nhớ – gần em mười
thương” Chỏng trai cỏy ngỏy xưa
nhớ quở nhỏ lỏ nhớ hương viị đậm
đỏ “bõt canh rau muống quả cỏ
giún tan”, lỏ “nhớ ai tõt nước bởn
đường hừm nao” Anh bộ đội Cụ
Hồ giọ từ nơi chừn rau cắt rốn, nơi
“nước mặn đồng chua”, nơi “đất
cỏy lởn sỏi đõ”, cụ người nhớ thầm
: “Bầm ra ruộng cấy bầm run –
Chón lội dưới bỳn, tay cấy mạ
non” Cụ người nhớ “người vợ trẻ
– mún chón bởn cối gạo canh
khuya” Chỏng lợnh trẻ hỏo hoa
trong đoỏn binh Tóy Tiến thớ lại
“Đởm mơ Hỏ Nội dõng kiều
thơm” Cụ trăm nghớn nỗi nhớ quở,
nhớ nhỏ, nhớ người thón thương :
“Anh bỗng nhớ em như đừng về
nhớ rờt – Tớnh yởu ta như cõnh
kiến hoa vỏng” (Chế Lan
Viở),v.v…
Trở lại cóu thơ “Bỗng bồn
chồn nhớ mắt người yởu”, hai chữ
“bồn chồn” nghĩa lỏ nụng ruột,
khừng yởn tóm (Từ điển tiếng
Việt) ; diễn tả nỗi nhớ xừn xao,
rung động, dóng lởn như những đợt
sụng vỗ mọi trong lúng Đọ cụ nỗi
nhớ “bổi hổi bồi hồi” Đọ cụ sự
vấn vương “khừng yởn một bề”
Đọ cụ tóm tớnh khao khõt “nhớ ai,
ai nhớ, bóy giờ nhớ ai…” Cóu thơ
“Bỗng bồn chồn nhớ mắt người
yởu” lỏ một nờt vẽ rất đẹp thể hiệnbỷt phõp tỏi hoa của Nguyễn Đớnh
Thi “Nhớ” lỏ cảm hứng nhiều
mỏu sắc vỏ dõng vẻ đọ lỏm nởnnhững cóu thơ hay, những vần thơđẹp của Nguyễn Đớnh Thi trongtập thơ “Người chiến sĩ” :
“… Anh yởu em như anh yởu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vừ ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn…”.
(Nhớ) Trong cõi chung nhớ ước,
nhớ “nguồn thiởng ừng cha” (Hữu
Loan), lại cụ cõi riởng “bỗng bồn
chồn nhớ mắt người yởu” Cụ nỗi
hờn “nung nấu”, cụ nỗi nhớ “bồn chồn” nởn mới cụ sức mạnh chiến
đấu vỏ niềm tin thắng lợi : “Anhlại tớmem – Em mặc yếu thắm –
Em thắt lụa hồng – Em đi trẩy hộinon sừng – Cười mở õnh sõngmuừn lúng xuón xanh” (HoỏngCầm)
Tớnh cảm lỏ cõi gốc củathơ ca, lỏ ngọn nguồn sõng taọ củathơ ca Thơ chỉ đẹp khi thơ hỷtmỏu mỡ, phỳ sa trong lúng đất –hiện thực cuộc sống – mỏ nảymầm xanh tươi, đơm hoa kết trõidóng hương thơm vị ngọt cho đời
NguyễnAêìịÐ@ẨÐỊ@ịĐớ@ĩòẩộ@ẵòẵịỴ@ÐÞằAóậÞỏ@ộồÞịỴ@ỈẳðịÐ@ÐÞằAóậÞỏAóẳở@
ĩằịỴ@ĐộỊ@ộĐờư@ịòịịỴ@ÐòấỊ@Ỉỡưằ@ộĐờðỊAóẳÞỊX@ĩằịỴ@ờìịÐ@ịậẵở@ĩẳởịÐ@ìỊậẩộ@ỈỡưằAóẳằộ@ÝợờịỈ@ớẳð
@ỈÞị@ịéợờðỊ@ÈỊậẩộ@œằĩ@ộồÞịỴ@ẵằ@ịỴẳðị@ịỴẳðị@
ƯÐòịỊ@ỉợưằ\
đòÞỈAóÞẳÞị@ộĐộ@ộồậẵịX@ộằ@Ỉẳưĩ@ịÐẳẩịAọợờÞỈ@ỏÐẳáị@ịẳðÞ@ớậưAóậÞỏ@Ỉỡưằ@
ỏÐÞịỴ@ỈẳịỈÐ@ịỴÐậẩ@ộÐởẳẩộ@Ỉỡưằ@œỴởịậỈịAêìịÐ@ẨÐỊX@ĩòẩộ@Ðòáị@ộĐộ@ỴỊẳðở
@Ỉẳị@ờĩịÐ@ỉẳịịỴ@ộẳÞÞ\
@Ịậẩị@ộĐợÞỈ@ỈÐỊậằị@ộồằịÐ@tAóẳằộ@ÝợờịỈAóỊậẵở@ộẳðịX@ẩẳẵị@ộòẩỈAóằở@ộĐợộịỴ@ộồÞịỴ@ẵÞĩAóẳÞị@óởẳẵị@ộÐỡðAóẳởAọợờÞỈ@ẩỊậỈị@ộẳư@ĩòẩộ@ỈẳịỈÐ@ộởịậẩộ@ợờðỊ@óởằ@ịĐợởịỴ@ớần thơ hỏmsỷc, biểu cảm vỏ giỏu hớnh tượng
“Cõnh đồng quở chảymõu”, “Dóy thờp gai đóm nõt trờichiều” lỏ những hớnh ảnh thơ mới
mẻ, độc đõo vỏ hay “Bỗng bồnchồn nhớ mắt người yởu” lỏ mộthớnh ảnh mang tợnh kế thừa sõngtạo, thể hiện một hồn thơ chiến sĩcho ta nhiều rung cảm thấm thợa
Đọc “Đất nước” của
Nguyễn Đớnh Thi, tóm hồn ta đượcbồi hồi đắp bao tớnh cảm đẹp, trỡnởn trong sõng vỏ phong phỷ, để tayởu, ta nhớ, ta sống lại vỏ tự hỏo
về những năm thõng hỏo hỳng vỏoanh liệt với ngọn lửa Điện Biởnthầy kỳ của đất nước vỏ dón tộctrong thời đại Hồ Chợ Minh
(Tạ Thanh Sơn Bớng giảng –
phón tợch văn học) Bỏi 23
Bớnh giảng khổ thơ kết thỷc bỏi “Đất nước” của Nguyễn Đớnh Thi sau đóy :
“Sỷng nổ rung trời giận dữ
Người lởn như nước vỗ bờ Nước Việt Nam từ mõu lửa
Rũ bỳn đường dậy sõng lúa”.
BáI LáM
Nguyễn Đớnh Thi cụnhững cóu thơ viết về mỳa thu rấtgợi :
“Sõng mõt trong như sõng năm xưa
Giụ thổi mỳa thu hương cốm mới”.
Cụ những cóu thơ đẹp,giỏu cõ tợnh sõng tạo :
“Những dúng sừng đỏ nặng phỳ sa”.
Thơ Nguyễn Đớnh Thi cụbản sắc riởng, cụ những tớm túi về
Trang 28hình ảnh và ngôn ngữ, dạt dào về
cảm xúc khi ông viết về đất nước
trong chiến tranh :
nước” là hình ảnh nước Việt
Nam – Tổ quốc thân yêu – lẫm
liệt và hiêng ngang, quật khởi và
kieêu hãnh tong tư thế hào hùng
chiến đấu và chiến thắng.
“Súng nổ rung trời giận
dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn, đứng dậy sáng
lòa”.
Đây là khổ thơ trong bài
“Đất nước” được Nguyễn Đình Thi
sử dụng rất sáng tạo thể thơ lục
ngôn thể hiện cảm xúc như bị dồn
nén lại, chất chứa trong lòng đất
nước bấy nay Giọng thơ bừng
bừng vang lên như một khúc ca
chiến trận Đất nước đã trải qua
những năm dài “đau thương chiến
đấu”, biết bao máu đổ xương rơi,
bao hy sinh gian khổ” ngày nắng
đốt theo đêm mưa dội – mỗi bước
đường mỗi bước hy sinh”, thì mới
có cảnh tượng hào hùng này :
“Súng nổ rung trời giận
dữ
Người lên như nước vỡ
bờ”
Cả đất nước đứng lên nổ
súng tiến công quân x6m lược ;
tiếng súng nổ rung trời, quân thù bị
giáng những đòn chí mạng Trên
những con đường chiến dịch, quân
và dân ta ào ào ra trận, “người
người lớp lớp” (Trần Dân), “đêm
đêm rầm rập như là đất rung” (Tố
Hưũ) vì thế trong tổng kích, tổng
phản công mới có cảnh tượng
“súng nổ rung trời giận dữ” như
vậy Đất nước tiến công với sức
mạnh nhân nghĩa bốn nghìn năm,
quyết “đem đại nghĩa để thắng
hung tàn – lấy chí nhân để thay
cường bạo” (Nguyễn Trãi), tất cả
vì sự sống còn của đất nước và dântộc Hai tiếng “rung trời” cảm nhậnthế đánh của đất nước mang tầmvóc kỳ vĩ vụ trụ Đó là thế tiếncông của quân dân ta trong chiếncuộc Đông Xuân 1953 – 1954 màđỉnh cao là trên chiến trường ĐiệnBiên mới có sức mạnh thần kỳ ấy
Tiếng súng ấy còn chứa chất baonỗi căm thù, giận dữ sôi sục Giận
dữ vì quân thù đã giày xéo đấtnước ta, gây ra biết bao tội ác tàytrời : “bát cơm chan đầy nướcmắt”,… “những cánh đồng quêchảy máu”, và đã 9 năm trời đằngđẵng “dây thép gai đâm nát trờichiều” quê hương đất nước ta
“Giận dữ” là sức mạnh chiến đấu
và chiến thắng
Câu thơ “Người lên như nước vỡ bờ” là một câu thơ hàm
súc, khơi nguồn cảm hứng từ mộtthành ngữ – tục ngữ dân gian :
“tức nước vỡ bờ” rồi tạo nên một
so sánh, để hình tượng hóa sứcmạnh chiến đấu vô cùng mạnh mẽ
to lớn của nhân dân ta quyết đánhtan mọi kẻ thù, cuốn phăng mọi thếlực tàn ác trên con đường đất nước
đi tới tương lai tươi sáng Câu thơ
nói ít mà gợi nhiều, thế và lực của
đất nước dồn nén và tích tụ, bật lên
và phóng tới như một mũi tên từcánh cung thần của một anh hùngthần thoại Sức mạnh của thời đại
Hồ Chí Minh, của 9 năm khángchiến chống Pháp của đất nước ta
đã truyền cho ngòi bút NguyễnĐình Thi niềm tin tưởng tự hào đểviêt nên những vần thơ hà sảng,cho ta nhiều liên tưởng và cảm xúc
về sức mạnh quật khởi của đấtnước anh hùng
Hai câu cuối như một tổngkết về hành trình lịch sử của đấtnước Có “rũ bùn” mới có “đứngdậy”, từ “máu lửa” mới có cảnhtượng “sáng lòa” Câu thơ như mộtlời đúc kết về chiến tranh cáchmạng về một chân lý lịch sử của
đất nước ta trong thời đại Hồ ChíMinh :
“Nước Việt Nam từ máu lửa,
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
Chữ “từ” trong câu thơ nóilên một quá trình, một sự thay đổilớn lao của đất nước Ba tiếng
“Nước Việt Nam” cất lên, vang
lên trong vần thơ biểu lộ niềm vuisướng tự hào vô hạn của tác giả.Mười sáu năm sau, trên chiếntrường Trị Thiên giữa những ngàysôi sục đánh Mỹ, kết thúc bài thơ
“Đất nước” – chương V bảntrường ca “Mặt đường khát vọng”,nhà thơ trẻ Nguyễn Khoa Điềm,
với cảm hứng tự hào ấy đã gọi tên
Đất Nước :
“Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón
ta vào
Ta nghẹn ngào : Đất nước Việt Nam ơi !”
từ những năm dài kháng chiến
“một gốc tre ba đời đánh giặc”
“Từ máu lửa” là từ nô lệ lầmthan
mà nhân dân “rũ bùn đứng dậy”
trong tư thề lẫm liệt chiến thắng vả
vang : “sáng lòa” Câu thơ từ nhịp
6 chuyển sang nhịp 2 diễn tả dánhđứng Việt Nam hào hùng :
“Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn / đứng dậy / sáng lòa”
“Đứng dậy”, thể hiện sức
mạnh quật khởi của đất nước, khátvọng tự do của nhân dân cầm vũkhí chiến đấu với quyết tâm “thà
hy sinh tất cả, chứ nhất định khôngchịu mất nước, nhất định khôngchịu làm nô lệ !” (Hồ Chí Minh)
“Từ máu lửa” đến “rũ bùn đứng dậy” mới có cảnh tượng huy
Trang 29hoàng : “sáng lòa” Từ thơ này
được viết ra bằng cảm hứng lãng
mạn nói về viễn cảnh của đất nước
ta sau ngày đánh thắng quân xâm
lược, bước vào một kỷ nguyên mới
: độc lập, tự do, thịnh vượng Câu
thơ còn mang một hàm nghĩa lịch
sử : cái giá của độc lập, tự do và
niềm tự hào lớn lao về đất nước
và kháng chiến.
Đoạn thơ trên đây mang vẻ
đẹp hàm súc về ngôn ngữ, vẻ đẹp
tráng lệ về niềm tự hào đất nước,
về kháng chiến Ý thơ khái quát
nâng lên tầm trí tuệ : khẳng định
và ngợi ca sức mạnh nhân nghĩa
Việt Nam trong thời đại Bác Hồ
Đoạn thơ cho ta niềm tin về đất
Bình giảng đoạn thơ sau
trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu
Bài thơ “Việt Bắc” dài 150
câu thơ lục bát ra đời vào tháng 10
– 1954, rút trong tập “Việt Bắc” –tập thơ kháng chiến của Tố Hữu
Sau hơn ba ngàn ngày khỏi lửa, HồChủ tịch cùng đoàn quân chiếnthắng tiến về thủ đô Trong bốicảnh lịch sử hào hùng ấy, Tố Hữu
đã sáng tác bài thơ này Đây là mộttrong những đoạn thơ tiêu biểunhất trong bài “Việt Bắc” thể hiệnmột cách tập trung vẻ đẹp giá trị tưtưởng và phong cách nghệ thuậtcủa Tố Hữu
Bao trùm lên toàn bộ đoạnthơ là nỗi nhớ của người cán bộkháng chiến đối với cảnh ngườiViệt Bắc Nỗi nhớ tha thiết, bồi hồithể hiện tình cảm thủy chung, nặngtình nặng nghĩa giũa “ta” với
“mình”, giữa kẻ ở người về, giữangười cán bộ kháng chiến vớingười dân Việt Bắc :
“Ta về mình có nhớ ta, (…)…
… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.
Chữ “nhớ” như một luyếnláy trong khúc ca tâm tình làm chovần thơ lục bát trở nên ngọt ngào,thiết tha sâu lắng
Trong 10 câu thơ của đoạntrích thì 2 câu đầu mang ý nghĩakhái quát : “Ta về, mình có nhớ ta– Ta về, ta nhớ những hoa cùngngười” Như vậy, nỗi nhớ củangười cán bộ kháng chiến hướngtới “những hoa cùng người”,hướng tới thiên nhiên và con ngườiViệt Bắc 8 câu thơ còn lại miêu tả
cụ thể “hoa cùng người” Câu nàocũng có hình ảnh thiên nhiên ViệtBắc, câu nào cũng có hình ảnh conngười Việt Bắc
Hình ảnh thiên nhiên trongđoạn thơ của Tố Hữu đẹp đẽ, tươisáng, thơ mộng, đầy sức sống đến
lạ thường Nhà phê bình văn họcHoài Thanh nhận xét : “Những câuthơ của Tố Hữu viết về thiên nhiêntrong “Việt Bắc” có thể sánh vớibất kỳ đoạn văn thơ miêu tả thiênnhiên nào trong văn học cổ điển”
Thiên nhiên trng thơ Tố Hữu đa
dạng độc đáo 8 câu thơ là bứctranh bốn mùa trong một năm, mỗimùa lại mang một sắc thái riêngbiệt Đoạn thơ làm ta liên tưởngđến bức tranh tứ bình trong
“Truyện Kiều” qua ngòi bút thiêntài của thi hào Nguyễn Du :
“Sen tàn, cúc lại nở hoa, Sầu dài ngày ngắn, đông
đà sang xuân”.
Với Tố Hữu, cảnh rừngViệt Bắc khi mùa đông đến là mộtmàu xanh bạt ngàn, điểm tô, thắpsáng bởi “hoa chuối đỏ tươi” Thơnên họa đã làm hiện lên vẻ đẹphoang sơ và tráng lệ của nhữngcánh rừng Việt Bắc Khi mùa xuânđến “mơ nở trắng rừng”, một vẻđẹp trong trắng, thanh khiết, tinhkhôi gợi cảm giác thơ mộng vàbâng khuâng – một sức sống bừngdậy “trắng rừng” làm đổi thayquang cảnh thiên nhiên chiến khu
Và mùa hè “Ve kêu rừng phách đổvàng” Chỉ có Việt Bắc mới córừng phách vàng rực trong mùa hè
Sự chuyển động của thời gian, sựcuyển vần từ xuân qua hè, đượcthể hiện qua âm thanh tiếng ve,được diễn tả qua một từ “đổ” Câuhay vì thời gian cũng mang màusắc Trước mắt người đọc là nhữngrừng phách đang ngả dần sang màuvàng rực khi mùa hè đến trong âmthanh rộn rã tiếng ve ngân suốtđêm ngày – Chũ “đổ” là một nhãn
tự làm ta nhớ đến câu thơ củaXuân Diệu trong bài “Thơduyên” : Đổ trời xanh ngọc quamuôn lá – Thu đến nơi nơi độngtiếng huyền” Mùa thu chiến khu,quên sao được “Rừng thu trăng rọihòa bình” Rừng cây, núi đá, khesuố, “bản khói cùng sương” càngđáng yêu hơn dưới vầng trăngxanh hòa bình dịu mát Ta bồi hồinhớ lại câu thơ trăng của Bác viếtnhững năm đầu kháng chiến :
“Trăng lồng cổ thụ bóng lồnghoa”
Bức tranh thiên nhiêntrong thơ Tố Hữu tươi sáng, gợi
Trang 30cảm thơ mộng vă đầy mău sắc
thẩm mỹ Mỗi cđu thơ lă một phiín
cảnh với mảng mău vă nĩt vẽ tăi
hoa Mău xanh của rừng giă mùa
đông, mău đỏ tươi của hoa chuối,
mău trắng của hoa mơ mùa xuđn,
mău văng rực của rừng phâp mùa
hạ, mău xanh hòa bình dịu mât của
ânh trăng thu Nghệ thuật phối sắc
tăi tình của Tố Hữu trong miíu tả
đê lăm hiện lín bức tranh thiín
nhiín tươ đẹp, đầy sức sống như
Bâc Hồ đê viết :
“Cảnh rừng Việt Bắc thật
lă hay”…
(“Cảnh rừng Việt Bắc”)
Thiín nhiín Việt Bắc còn
đẹp trong sự hòa hợp gắn bó với
con người Giữa cảnh thiín nhiín
bao giờ cũng có hình ảnh con
người đang sống vă hoạt động Vì
vậy, thiín nhiín Việt Bắc không
hoang vu buồn tẻ mă trâi lại, nó
trăn đầy sức sống – sức sống mênh
liệt của một đất nước đang khâng
chiến Con người được nói tới
trong đoạn thơ năy rất đẹp vă hữu
tình Trước hết lă con người xuất
hiện trong khung cảnh lao động,
trong sự hòa hợp vă chan hòa với
thiín nhiín
“Đỉo cao nắng ânh dao găi
thắt lưng” – lă một trong những
cđu thơ đặc sắc của đoạn thơ Cđu
thơ được coi lă sự phât hiện độc
đâo của Tố Hũu mang mău sắc “rất
Việt Bắc” như câch nói của Xuđn
Diệu Đồng băo Việt Bắc lúc đi
rừng thăm rẫy, lăm nương đều găi
dao ở thắt lưng Trín tầm cao của
đỉo, ânh sâng mặt trời chiếu văo
những con dao ấy, tạo nín sự phản
quang rực rỡ, lấp lânh Chỉ một
cđu thơ thôi mă người đọc có thể
cảm nhận được hình ảnh mạnh mẽ,
hăo hùng của con người Việt Bắc
trong tư thế lao động, lăm chủ
thiín nhiín, trong tư thế vận động
đi lín phía trước Phải có một tđm
hồn thi sĩ tinh tế, có sự quan sât
sắc sảo mới viết được những cđu
thơ hay như vậy Con người khâng
chiến mang tầm vóc thời đại lăngười sản xuất hay người chiến sĩđều mang tư thuế hăo hùng :
“Núi không đỉ nổi vai vươn tới
Lâ ngụy trang reo với gió đỉo”.
(“Lín Tđy Bắc”)
Nhớ “mơ nở trắng rừng”
trong những ngăy xuđn cũng lă sựbồi hồi “Nhớ người đan nón chuốttừng sợi dang” Tâc giả viết về conngười Việt Bắc trong một khungcảnh cụ thể, một công việc cụ thể
Từ “chuốt” trong cđu thơ lă trauchuốt, lăm bóng lín, lăm đẹp thímlín Chữ “từng” (từng sợi dđy” gợi
tả đức tính cần mẫn, câch lăm tỉ mỉ
vă chịu khó Có khĩo tay mới
“chuốt từng sợi dang” mỏng văbóng để đan thănh những chiếcnón xinh xắn, một trong những vậtphầm mỹ nghệ thủ công đặc trưngcủa Việt Bắc Con người cần cù vătăi hoa ấy thật đâng “nhớ” vì nhưNguyễn Đình Thi đê từng ca ngợi
“Tay người như có phĩp tiín –Trín tre lâ cũng dệt nghìn băithơ”… Thế lă cùng với chiếc nónbăi thơ của xứ Huế được nói đếntrong dđn ca, ta biết thím câc chiếcnón đan bằng sợi dang của ViệtBắc qua thơ Tố Hữu
Cđu thơ “Nhớ cô em gâihâi măng một mình” lă cđu thơ hay
ở vần điệu, sự hiệp vần : “gâi –hâi” (vần lưng) vă câch sử dụngphụ đm “m” liín tiếp của câc từ
“măng – một – mình” tạo cho cđuthơ đa thanh, mang tính nhạc hấpdẫn Cô gâi Việt Bắc trẻ trung,xinh tươi, lạc quan yíu đời, đi hâimăng giữa rừng vầu, rừng nứa mộtmình trong khúc nhạc rừng, tuy chỉ
có “một mình” mă chẳng cô đơn
Con người ấy đang lăm chủ thiínnhiín, lăm chủ cuộc đời Giữa mộtkhông gian nghệ thuật đầy mău sắc
vă đm thanh của suối rừng, cô gâiViệt Bắc xuất hiện thật hồn nhiín
vă đâng yíu lạ ! Cđu kết của đoạnthơ : “Nhớ ai tiếng hât đn tình thủy
chung” nói lín vẻ đẹp tđm hồn con
“‚Ĩ(@ØÊðAđÊÞỊ@ĩíð@ăÐỊỊĐÚ
@ỈĐÌ@ÏĩÞỊ@ØỊỘ@ÔĐÞ@ÐÞÊðỊ@ÜỊỊỈÚX@ÔÊỘỴ@ƯÐíÊỘỴ@ÜỴĐỉĐ@ĩØÜÐ@ỉÐịưị
@ỴĨĩð@Ỉßị@ỉÐỊÍ@đíỊỘAêíĩÞỈ\
¢ÞÊÞÜ@ỉĐỉ@ỈịưĐ@¨ßĐ@‘ííí
@ìỊỊĐỉ@ìỊĂ@ỉÐỊỊỘ@ÜÐỊỊỘ@ìÊð@ỈÞÜ@ÜÏíĩðỊ@¬ỊỊỈỉ
@„ÊỊỈ@ØÊðAđÞÊÞÜ@ỉĐỉ@ỉôÊĂÜAđÊĂị@ĩØÜÐ@ỈÊưÚ@ÜĐĩị@ÜÐíÜỴ@ìÊð@ỉĐíỉÜỴ@ÚỊĐÜ@íĩịỊ@ÔĐÞ@ÜỊỊĂÚ@ĩíÞ
@ÐÊðÞAđßĐỊ@íĩịỊ@¬ỊỊỈỉ@„ÊỊỈA&
¢íỊÔ@ĐíơÜỴ@ỈÊịỈÐ@@ÚÊÞÜỴ@ĨíÞÜỴ@ÜỊỘ@ỈßỈÜỴ@ÐßðÊ(@ìÊð@ỈÐỊỊĐÜ@ƯÐí@ÔÊĐỉ@ƯÐÊư@ðÊỐ@ăÐÊÞÚA&
¥íðÜỴ@ỈÐÍ@ÔßỈAđßỈỊ@ởðÜỴ@ìÊÔị@đíÊỘ@ỉÐịđ(\
@†ßị@ỉÐỊÍ@ÜßịỊX@¨ßĐ@‘ííí
@ƯÐßỘỴ@ỈĐÌ@ỈĐ@ÜÏĩÞỊ@¬ỊỊỈỉ@„ÊỊỈ@ÚÊð@ỈßðÜ@ìỊỊĐỉ
@ÜỊỘ@ÜĐííÜỴ@ìÊĂÜ@ỉĐỉAđỊÞă@ÜÐÊĐỉ@ỈĐ@ÜÏĩÞỊAđÊĐỉ@ÝíĩịỈ@ìÊð@ỈÞÜ@ÜÏíĩðỊ
@¬ỊỊỈỉ@œĐÚ@ỉôÞÜỴ@ÙíưĐAđÊÞÜ\
¢ÞÊÞÜ@ỉĐỉ@ỉÐÊĐÚAđÊỈÚ@ĩØÜÐ@ÜÏíĩðỊ\
@œßỈỊ@ÜĐĩị@ỉÐỊỊĐỉ@ỉÐĐAđÊí@ỉÐÊĐÚ@ỉÊÔí@ìÊðÞ@ỈÊưÜÐ@ìÊỈỉX@ìÊðÞ@ØßðÜỴ@ÜÏíĩðỊA,@ƯỊưAĩư@ÜÏíĩðỊ@ìỊĂ\
@¬ÊƠÜ@ỉĐỉ@ØịÞỈ@ÔÊịỉ@íĩịỊ@ÊỐAđỊỊỈí@ÜỴßÞỉ@ÜỴÊðÞX@ÔßĂỊ@ÐßĂỊ@ÜĐì@ỈÊÔí
@ÐÊịỉ@ỴỊĐÞ@ỈíịỊỘA&ÛØÜÐA,@ỉÊ(@ỉÐịĩưAnăo Chữ
Trang 31“nhớ” được điệp lại nhiều lần diễn
tả tình thương nỗi nhớ vơi đầy, dào
dạt…
“Việt Bắc” là một trong
những bài thơ lục bát hay nhất của
Tố Hữu Đoạn thơ trên tiêu biểu
chó cái hay, cái đẹp của “Việt
Bắc” Ngòi bút nghệ thuật của Tố
Hữu mang tính kế thừa và sáng tạo
độc đáo Từ cảnh vật đến con
người, từ mình đến ta, từ âm điệu,
sắc điệu trữ tình đậm đà chất ca
dao dân ca đến bút pháp tả cảnh
ngụ tình đều mang tính nhân dân
sâu sắc Cảnh núi rừng chiến khu
và con người kháng chiến đều đẹp
và đáng yêu Cấu trúc đoạn thơ
chặt chẽ, cân xứng, hài hòa cho ta
Bình giảng đoạn thơ sau
trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu
ngày mai lên
Tin vui chiến thắng trăm
miền
Hòa Bình, Tây Bắc, ĐiệnBiên vui về
Vui từ Đồng Tháp, AnKhê
Vui lên Việt Bắc, đè De,núi Hồng”
BÀI LÀM
“Việt Bắc” là một trong
những thành tựu thi ca xuất sắc, làđỉnh cao nhất tập thơ kháng chiếncủa nhà thơ lớn Tố Hữu Sau chiếnthắng Điện Biên oai hùng, hiệpnghị Giơ – ne – vơ được ký kết,miền Bắc được hoàn toàn giảiphóng : “Hồ gươm xanh thắmquanh bờ – Thiên thu hồn nướcmong chờ bấy nay…” (Lại về)
Tháng 10 – 1954, sau 9 năm khóilửa, Hồ Chủ tịch cùng đoàn quânthắng trận trở lại thủ đô Hà Nội
Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu ra
đòi trong hoàn cảnh lịch sử trọngđại ấy
“Việt Bắc” được viết bằng
thể thơ lục bát, dài 150 câu thơ
Phần đầu bài thơ tái hiện một thờigian khổ mà oanh liệt của cáchmạng và kháng chiến ở chiến khuViệt Bắc nay đã trở thành những
kỷ niệm sâu nặng trong lòngngười Phần sau nói lên sự gắn bógiữa miền ngược và miền xuôitrongmột viễn cảnh hòa bình tươisáng của đất nước, và kết thúcbằng lời ngợi ca công ơ Bác Hồ vàcủa Đảng đối với dân tộc Đoạnthơ này dài 16 câu (từ câu 59 đếncâu 74), trích trong phần đầu bài
“Việt Bắc” Bao trùm đoạn thơ là
một nỗi nhớ với tất cả niềm tự hào,nhớ chiến công, nhớ những conđường chiến dịch, nhớ đoàn quân,nhớ dân công, nhớ ngọn đuốc, nhớngọn đèn pha của đoàn xe ra trận,
… Aâm điệu hào hùng, niềm vui
dào dạt, sáng bừng vần thờ là sự ca ngợi sức sống mãnh liệt của đất nước và con người Việt Nam trong máu lửa.
1 Bốn câu đầu là “hỏi – đáp” giữa mình với ta, giữa kẻ ở với người về.
đà tình nghĩa Sau câu hỏi “ai về ai
có nhớ không ?” là câu trả lời :
“Ta về ta nhớ…”, cấu trúc vần thơcân xứng, thượng, hạ hô ứng nhịpnhàng Người về xuôi giàu tình
nghĩa thủy chung mới có tiếng nói
ấy, tấm lòng ấy, và nỗi nhớ ấy :
thiết tha trả lời Nỗi nhớ bao trùm,nhớ đèo, nhớ sông, nhớ phố, nhớnhững trận đánh đẫm máu, nhớnhững chiến công oai hùng mộtthời oanh liệt Nhớ trận PhủThông, đèo Giàng, với lưỡi mác vàngọn giáo búp đa, anh bộ đội Cụ
Hồ trong tư thế dũng sĩ lẫm liệt đãlàm cho giặc Pháp bạt vía kinh hồnnhững năm đầu kháng chiến “Nhớsông Lô” là nhớ chiến thắng ViệtBắc thu đông 1947 : “Tàu giặcđắm sông Lô – Tha hồ mà uốngnước – Máu tanh đến bây giờ –Chưa tan mùi bữa trước” (Cánước) Nhớ phố Ràng, nhớ trậncông kiên chiến có pháp binh thamgia vào cuối năm 1949, đánh dấubước trưởng thành trong khói lửacủa quân đội ta, để từ đó, tiến lênđánh lớn và thắng lớn trong chiếndịch Biên giới giải phóng CaoBằng, Lạng Sơn : Nhớ từ Cao
Lạng, nhớ sang Nhị Hà” “Nhớ từ… nhớ sang…” nỗi nhớ dào
dạt, mênh mông, nhớ tha thiết, bồihồi Đoạn thơ với những địa danhPhủ Thông, đèo Giàng, sông Lô,
Trang 32phố Ràng, Cao Lạng, Nhị HàẦ
như những trang ký sự chiến
trường nối tiếp xuất hiện, để lại
bao tự hào trong lòng người đọc về
bước đi lên của lịch sử dân tộc
trong thời đại Hồ Chắ Minh Có
biết bao máu đổ xương rơi, bao
chiến sĩ anh hùng ngã xuống mới
có thể đưa những tên núi, tên sông,
tên đèo vào lịch sử, vào thơ ca, tạc
vào lòng ta nỗi nhớ ấy Phép đối
xứng được Tố Hữu vận dụng sáng
tạo gợi lên vẻ đẹp thi ca, làm cho
câu thơ, vần thơ hài hòa, cân xứng,
diễn tả những bước đi lên hào
hùng của dân tộc kháng chiến : ỘAi
về ai nhớẦỢ, ỘTa về ta nhớẦỢ
Câu thơ lục bát được ngắt thành 2
vế 3/3 và 4/4 đối nhau, đọc lên ấn
Ộnhư là đất rungỢ đã gợi tả thật
hay, thật hào hùng âm vang cuộc
kháng chiến thần thánh và sức
mạnh nhân nghĩa 4.000 năm của
dân tộc Khắ thế chiến đấu thần kỳ
của quân và dân ta làm rung đất
chuyển trời, không một thế lực tàn
bạo nào có thể ngăn cản được ! Cả
một dân tộc ào ào ra trận Chúng ta
tự hào về các tráng sĩ đời Trần
mang chắ căm thù ỘSát ThátỢ,
quyết chiến và quyết thắng :
ỘChương Dương cướp giáo giặc Ờ
cuộc kháng chiến nhân dân thần
thánh của thời đại Hồ Chắ Minh :
ỘQuân đi điệp điệp trùng
tứ thơ sáng tạo, vừa hiện thực vừamộng ảo Aùnh sao đêm phảnchiếu vào nòng súng thép Aùnhsao của bầu trời Việt Bắc, ánh sao
lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự
do như soi sáng nẻo đường hànhquân ra trận của anh bộ đội Đặcbiệt các phụ âm ỘđỢ (đi, điệp điệp,
đầu, đỏ đuốc, đoàn) với 2 chữ Ộnát đáỢ góp phần tạo nên âm điệu anh
hùng ca, gợi tả sức mạnh ViệtNam trong kháng chiến chốngPháp Ta càng đánh, càng mạnh vàchiến thắng giòn giã Những ngàyđầu kháng chiến, quân và dân ta
@ÈÃđị
ằẺđỵ@àĐÂ@ẢÃÈè@ỉÃịỵỴ@ỵĐ ì@ỵỴÃđị@ÚÂỊ@ửẺẢÝ(\
ỦỴưỡỵAâẺđỵ@àĐÂ@ỈẻưÂAâỡÃđỵ@đÊ@ƯẺịỡ@àĐÃịỡX@ỈẻưÂAâỡÃđỵ@đÊ@ìÃÈỵ@èÃưỊA&
ẢÃÈè@ỉÃịỵỳ(@àĐÃị@èÂỵ@ỵĐắêỵỴ@ÙéịàA&ẫắèỵỴ@ÈÃđĩ(XAâÃÊị@ửẻđỊ@ỵĐắêỵỴ@èĐỊẺÂê@èĐưÂỵX@ƯĐưị@ƯĐÃƠỵX
@ỉỡỊ@ỉÃịỵỴ@ỈỡỵAãắéđỵỴ@ƯĐÃịỵỴ@ỈĐỊẺÂỵXA&ỵĐì@ỵỴÃđị@ÚÂỊ@ửÊânỢ, một bìnhminh chiến thắng ! Hình ảnh thơmang ý nghĩa tượng trưng cho mộttương lai tươi sáng của đất nước.Con đường Việt Bắc, con đường ratrận đầy máu lửa và chiến công,
cũng là con đường đi tới mai huy hoàng, tráng lệ
3 Bốn câu cuối đoạn thơ,
một lần nữa Tố Hữu lại gọi tên cácđịa danh Ộchiến thắng trăm miềnỢtrên đất nước thân yêu Là HòaBình, Tây Bắc, Điện Biên LàĐồng Tháp, An Khê Là Đèo De,núi Hồng Mỗi địa danh ghi lại mộtchiến công Nhà thơ có một cáchnói rất hay, rất biến hóa để diễn tảniềm vui chiến thắng dồn dập, giòngiã : ỘTin vui chiến thắngẦ vuivềẦ vui từẦ vui lênỢ ; không chỉ
có một hai nơi rời rạc, lẻ tẻ mà là
Ộtrăm miềnỢ, khắp mọi miền đấtnước :
ỘTin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi HồngỢ.
Đọc thơ Tố Hữu, ta nhiềulần bắt gặp các địa danh Trong bàiViệt Bắc hơn 10 lần nhà thơ dùngcách gọi tên đó Chế Lan Viên đã
có nhận xét rất tinh tế về biện phápnghệ thuật gọi tên các địa danhtrong thơ Tố Hữu :ỢẦ hãy đọc tolên, hãy để cho hồn thơ, nhạc điệulôi cuốn ta đi, ta sẽ thấy rằng nhạcđiệu ở đây đã tạo cho ta một tìnhcảm rất sâu : đó là lòng yêu đắmsay đất nước, yêu như tát mãikhông cạn, gọi mãi không cùng,yêu như muốn nêu mãi tên lên màgọi, chỉ một cái tên thôi cũng đủchấn động lên rồiỢ (Thơ Tố Hữu)
Có thể nói, cách gọi tên các địadanh đã tạo nên nét đẹp riêng trongthơ Tố Hữu, đã thể hiện tình yêusông núi và niềm tự hào dân tộc
Trang 33Và đĩ cũng là một nét đẹp trong
đoạn thơ này
Nếu “thơ là sự thể hiện
con người và thời đại một cách cao
đẹp”, thì đoạn thơ trên đây của Tố
Hữu giúp ta cảm nhận ý kiến ấy
Đây là một đoạn thơ hay và đẹp
trong bài “Việt Bắc” Đoạn thơ
vang lên như một khúc ca thắng
trận Aâm điệu thơ lục bát vốn nhẹ
nhàng, êm ái nhưng ở đây, Tố Hữu
đã chọn từ, dùng điệp âm, điệp
thanh, gọi tên các địa danh – nên
đã tạo nên một giọng điệu mạnh
mẽ, mang âm điệu anh hùng ca, cĩ
sức lơi cuốn hấp dẫn kỳ lạ
Những con đường Việt
Bắc thời máu lửa cũng là con
đường vui, con đường thơ, nĩ đã
tỏa sáng hồn ta ngọn lửa Điện Biên
thần kỳ, để ta yêu thêm, từ hào hơn
Việt Bắc, “quê hương Cách mạng
dựng nên cộng hịa” Nửa thế kỷ
đã đi qua, đọc đoạn thơ trên, âm
vang lịch sử, âm vang “quân đi
điệp điệp trùng trùng…” ra nỗi
nhớ đẹp ; nỗi nhớ của một tình yêu
lớn : yêu Việt Bắc, yêu kháng
chiến, yêu Đất nước Việt Nam
thân yêu
Bài 26
Phân tích bài thơ “Tiếng
hát con tàu” của Chế Lan Viên.
(Khi đã cĩ hướng rồi)
Khơng biết sinh thời Chế
Lan Viên đã cĩ bao “lời thơ viết
trong nước mắt”, nhưng cĩ nhiều
bài thơ đẹp như “một cánh hoa ”.
“Tiếng hát con tàu” là một bài thơ
như thế ! Sáng tác vào năm 1960,
“Tiếng hát con tàu” là một giị
phong lan trong tập “Aùnh sáng và
phù sa” của Chế Lan Viên “tập
thơ đã gây một tiếng vang cực lớn… đã thành cái mốc chuyển biến quan trọng trong thơ của Chế Lan Viên nĩi riêng, của thơ Việt Nam nĩi chung… đã xuất hiện một thi pháp mới, một giọng điệu mới, một cách nghĩ, cách cảm mới” (Người làm vườn
vĩnh cửu – Trần Mạnh Hảo)
Bài thơ, ngồi 4 câu đề từcịn cĩ 15 khổ thơ, gồm 60 câu thơ,chủ yếu mỗi dịng thơ 8 từ, chỉ cĩmột câu 12 từ, đĩ là diện mạo của
“Tiếng hát con tàu”
Năm 1960, miền Bắc bướcvào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất,xây dựng và phát triên kinh tế, vănhĩa Cuộc vận động đồng bàomiền xuơi đi xây dựng kinh tếmiền núi trở thành một phong tràocách mạng rộng lớn để biến “TâyBắc thành hịn ngọc ngày mai của
Tổ quốc” (Phạm Văn Đồng) Bàithơ “Tiếng hát con tàu” đã chấtthời sự mà trở thành ca khúc thể
hiện đắm say khát vọng lên đường, gắn bĩ với cuộc sống sơi động bằng tình yêu Tổ quốc và nhân dân, để lao động, khán khám phá và sáng tạo Chất suy tưởng giàu cĩ, ĩng ánh vẻ đẹp trí tuệ, sự biện luận sắc sảo và hình tượng mới lạ, độc đáo… đã hội
tụ và kết tinh làm nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật đích thức của bài thơ kiệt tác này.
1 Trước hết nĩi về khổthơ đề tư rất độc đáo và tài hoa
Cấu trúc vần thơ dưới hình thứchỏi – đáp Khơng chỉ hỏi bằng câuhỏi mà đáp cũng bằng câu hỏi
Giọng điệu ngân vang, say mê, hàohứng :
“Tây Bắc ư ? Cĩ riêng gì Tây Bắc
Kh lịng ta đã hĩa thành những con tàu,
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ cịn đâu ?”
Bao trùm lời đề từ là niềm
tự hào về một tình yêu lớn của nhàthơ Hỏi – đáp để tự khẳng định sựthức nhận của tâm hồn mình Câu
1 nĩi lên tình cảm đẹp, rộng lớn :khơng chỉ yêu riêng Tây Bắc mànhà thơ cịn hướng tâm hồn mìnhđến mọi miền của đất nước bao lavới tất cả tình yêu thương thiết tha.Câu thứ hai thứ ba chỉ rõ nguồngốc của tình cảm cao đẹp đĩ Điềukiện chủ quan là “khi lịng ta đãhĩa những con tàu”, tư thân “ta”
đã sống với một khát vọng đẹpmuốn đi tới mọi miền của Tổ quốcthân yêu để hiến dâng và phục vụ.Điều kiện khách quan là hiện thực
xã hội, là khơng khí của thời đại :
“Khi Tố quốc bốn bề lên tiếnghát” Đĩ là một thời kỳ rất đẹp, rấtsơi động trên miền Bắc nước ta.Nhân dân phấn khởi, hào hứng xâydựng đất nước và cuộc sống mới.Một nhà thơ khác đã ca ngợi là “…bài thơ miền Bắc rất – tự do nêntươi nhạc, tươi vần” Câu thơ thứ 4
là hệ quả tất yếu mà điều kiện chủquan và khách quan đưa tới : “Tâmhồn ta là Tây Bắc chứ cịn đâu ?”Câu hỏi tu từ vang lên kiêu hãnhbiểu lộ tâm hồn mình đã hịa nhập,
đã gắn bĩ, đề mến yêu nồng hậu.Tây Bắc Cách so sánh và cách nĩimới mẻ, hấp dẫn Khổ thơ đề từkhơng chỉ nĩi lên tình yêu TâyBắc, tình yêu Tổ quốc mà cịn thểhiện sự biện luận sắc sảo – một nétđẹp trong thi pháp của Chế LanViên
2 “Anh đi chăng ?” hay
“anh giữ trời Hà Nội” ? “Anh cĩ nghe…?”, và “Tàu gọi anh đi, sao anh chửa ra đi ?” – Đĩ là tâm
trạng, là nỗi niềm băn khoăn về
chuyện đi và ở lại ? Tâm trạng
ngại đi xa, sợ khĩ khăn gian khổ,
… là một sự thật của lịng người,khơng chỉ riêng nhà thơ trongnhững tháng ngày hịa bình sau 9năm kháng chiến chống Pháp.Cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ratrong mỗi con người, đĩ là một sự
Trang 34phóng tơi những không gian,
những chân trời Nó chưa phải là
“tiếng hát con tàu” Đó là sự tinh
tế trong tư duy nghệ thuật của Chế
Lan Viên
3 Chín khổ thơ tiếp theo
hàm chứa những tư tưởng tình
cảm đẹp khi nhà thơ nghĩ về Tây
Bắc và con người Tây Bắc với
bao kỷ niệm sâu sắc, cảm động.
Bài học về nghĩa tình thủy chung
đối với đất nước và nhân dân làm
cho ta lớn lên về mặt tâm hồn và
để ta nhớ mãi Ngọn lửa kháng
chiến thầy kỳ, những bản, những
con đèo, dòng suối, những anh du
kích, em bé liên lạc, bà mế, cô gái
Tây Bắc với “vắt xôi nuôi quân”
đã trở thành kỷ niệm, để thương để
nhớ, đã hóa thành tâm hồn người
cán bộ miền xuôi, nhà thơ,…
Tây Bắc là hồn thiêng
sông núi, là nơi rực cháy ngọn lửa
kháng chiến, ngọn lửa Điện Biên
thần kỳ, là “xứ thiêng liêng rừngnúi đã anh hùng”, là mảnh đất yêuthương “Nơi máu rỏ tâm hồn tathấm đất – Nay dạt dào đã chín tráiđầu xuân” Tự hào mà hướng vềtương lai với bao niềm tin sángngời :
“Ơi kháng chiến ! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường”.
Nhận thức ấy đã khai sángtâm hồn, nhận thức về con đường
đi tới còn nhiều gian khổ mà tự ýthức “con cần vượt nữa” để đượctrở về cội nguồn “cho con về gặp
lại Mẹ yêu thương” “Mẹ” được
viết hoa, một mĩ từ, là hình ảnhcao đẹp của Bà Mẹ Tổ quốc muônquý nghìn yêu Nghệ thuật sử dụngngôn ngữ chính xác, biểu cảm sángtạo hình ảnh đã làm cho vần thơ
“Tiếng hát con tàu” cất cánh : “xứthiêng liêng”, “nơi máu rỏ”, “tráichín đầu xuân”, “ngọn lửa… soiđường”, “Mẹ yêu thương” Cái số
từ chỉ lượng thời gian : “mười nămqua”, “nghìn năm sau” là một cáchnói mang tính triết luận về mộtchiêm nghiệm lịch sử vô cùngthấm thía
Với Chế Lan Viên thìđược gặp lại nhân dân là một niềmvui lớn, một khao khát lớn lao, mộtniềm hạnh phúc lớn :
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ,
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
Một cách nói vừa quenvừa là lạ Năm hình ảnh so sánhliên tiếp xuất hiện để cụ thể hóa,hình tượng hóa niềm vui, niềmhạnh púc to lớn “Con gặp lại nhândân” Có hình ảnh về thế giới thiênnhiên, có hình ảnh về cõi đời, tuổithơ Nhân dân là cội nguồn của sựsống và hạnh phúc, là suối mát
mùa xuân đón bầy nai đói khát trở
về chốn cũ yêu thương, là hơi ấmmùa xuân đem lại màu xanh vàhương mật cho cỏ, là ánh thiềuquang cho chim én sánh đôi kếtđàn, là dòng sữa ngọt cho bé thơđói lòng, là cánh tay nhẹ đưa nôimềm đem lại giấc ngủ say, cơn mơđẹp cho em nhỏ… Có hình ảnh thơmộng Có hình ảnhấm áp sâu nặngnghia tình Những so sánh ấy còngmang một ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc
: về với nhân dân là trở về ngọn nguồn hạnh phúc, là hợp đạo lý
và đúng lẽ tự nhiên Triết luận ấy
càng trở nên sâu sắc, thấm thía vì
nó được thể hiện bằng một thứngôn ngữ chọn lọc, hình tượng, gợicảm, thi vị
Với Chế Lan Viên thì gặplại nhân dân, trở về trong lòngnhân dân là để soi lại lòng mình, là
để đền ơn đáp nghĩa, sống thủychung trong tình người Nhân dân
đã hy sinh, đã tận tình, đã cưumang và san sẻ Cách mạng, anh
bộ đội, anh cán bộ đã được nhândân nuôi dưỡng và đùm bọc trongtình thương Nhân dân được nhàthơ nói đến là những con người cụthể tiêu biểu cho một tầng lớptrong cộng đồng dân tộc với baophẩm chất đẹp như vàng mười,sáng như ngọc Nhân dân cần lao
và anh hùng, đó là “anh con, ngườianh du kích”, trước lúc ra trận, với
“chiếc áo nâu anh mặc đêm côngđồn – Chiếc áo nâu suốt một đời
vá rách – Đêm cuối cùng anh cởilại cho con” Là “em con, thằng
em liên lạc” như con thoi giữarừng sâu đầy bóng giặc, “Sáng bản
Na, chiều em qua bản Bắc – Mườinăm tròn chưa mất một phongthư”… Là bà mế Tây Bắc :
“Con nhớ mế Lửa hồng soi tóc bạc,
Năm con đau, mế thức một mùa dài,
Con với mế không phải hòn máu cắt