Phần 2 gồm 5 khổ thơ,

Một phần của tài liệu Những bài làm văn hay lớp 12 (Trang 48 - 51)

quằn quại đau khổ trong những biến động và bế tắc không tìm được lối ra” :

Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão

Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời

Là cha ông đó bằng xương máu Đã khổ không yên cả đứng ngồi”.

Nhóm tượng La Hán được khắc, được chạm rất tinh xả như được gửi gắm, được kí thác bao tâm sự, bao nỗi lòng của người nghệ sĩ dân gian. Nỗi đau khổ, quằn quại và bế tắc của cả một cộng đồng, một thời đại như hiện hình trên gương mặt và hình hài các pho tượng La Hán. Một xã hội quằn quại trong bi kịch :

“Cha ông năm tháng đè lưng nặng

Những bạn đương thời của Nguyễn Du

Nung nấu tâm can vò võ trán,

Đau đời có cứu được đời đâu”.

Các nghệ sĩ tạc tượng dân gian, “những bạn đương thời của Nguyễn Du” là những nhà nhân đạo chủ nghĩa mang nỗi đau đứt ruột “đoạn trường”, nhưng bất lực, bế tắc “đau đời có cứu được đời đâu”. Khái quát ấy, ý tưởng ấy đã tô đậm ý nghĩa hiện thực của những công trình nghệ thuật tương La Hán. Thật ra, trong thế giới Phật, trong các tượng La Hán cũng có nhiều có nhiều hình hài phốp pháp, có không ít nụ cười huyền bí,.. nhưng Huy Cận chỉ đi sâu và nét bi kịch, đau khổ của các gương mặt tương La Hán, đó là cách giải thích ảnh hưởng thời đại đến thân phận, số phận đầy bi kịch của con người, của cha ông khi “hoàng hôn thế kỉ phủ bao la…” Văn học nghệ thuật không mang tính tự thân, trái lại nó luôn luôn gắn bó máu thịt với thời đại, mang dấu vết thời đại

đã sản sinh ra nó. “”Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” (Biêlinxki). Huy Cận đã bộc lộ sự trân trọng, đồng cảm sâu sắc đối với nỗi đau đơi, những dằn vặt, bế tắc của ông cha trong những thế kỉ trước, điều đó đã khẳng định giá trị hiện thực nhưng tượng La Hán trong chùa Tây Phương, biểu lộ niềm tin vui đối với chế độ mới đang “nở hoa”, và “bài thơ cuộc đời” đang ngân nga trong lòng người.

Tóm lại, những khổ thơ miêu tả các pho tượng La Hán chùa Tây Phương đích thực là những bức tượng chạm bằng một thứ ngôn ngữ giàu hình tượng và truyền cảm. Ngòi bút thơ của Huy Cận đạt đến trình độ điêu luyện trong những đường nét tạo hình.

Tượng gỗ vốn vô cảm, vô hồn bỗng trở nên sống động, có gương mặt buồn và gầy khắc khổ, có dáng ngồi bất động, có cái nhìn huyền bí, có đôi tai kì dị, và có một cõi tâm linh vật vã, trăn trở trong bế tắc. Các pho tượng La Hán này là hình ảnh những vị tu hành đang trên đường tu tới Phật. Trong hình hài, nét mặt, tâm can vẫn mang những khổ đau quằn quại, như muốn trút bỏ mọi dục vọng và cảm giác để đạt tới sự tịch diệt, sự thanh thản yên tĩnh vĩnh hằng của cõi Phật. Bài thơ của Huy Cận cho ta cảm nhận ấy.

Nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả các vị La Hán trong bài thơ này là tính trí tuệ, triết lý luôn được khoác chiếc áo hình tượng và cảm xúc nên đã để lại nhiều ám ảnh xúc động cho người đọc. Đọc và “ngắm nhìn” những pho tượng bằng thơ này, ta thấy Huy Cận có một cái nhìn sâu và đăm, một tấm lòng nhân hậu đã trân trọng và cảm thông vói những nỗi đau đời và khát vọng đi tìm hạnh phúc của cha ông. Nếu phần đầu, một không khí “đau thương”

bao phủ hình hài, gương mặt tượng

thì phần cuối giọng thơ trở nên ấm áp, chưa chan tình đời và tình người. Ta cảm thấy “thớ gỗ” và màu thời gian trên gương mặt tượng bỗng ánh lên, tươi lên trên

“vạn dặm đường xuân” của thời đại mới. Thơ bay lên, chất lãng mạn bay lên, hồn thơ của Huy Cận bay lên trong “Bài thơ cuộc đời” :

“Những bước mất đi thớ gỗ, Về đây, tươi vạn dặm đường xuân”.

PHẦN THƯ BA Truyện Ký Việt Nam

(1945 – 1975) Bài 32

Trong truyện “Đôi mắt”, nhà văn Nam Cao đã để cho nhân vật Độ nhận xét về người bạn của mình – văn sĩ Hoàng :

“Anh đã đã quen nhìn đời và nhìn người một phía thôi”. Và từ đó đi đến kết luận:

“Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn người một phía thôi”. Và càng quan sát lắm, ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản”.

Anh (chị) dựa vào nhận xét này để phân tích tính cách nhân vật Hoàng và hãy phát biểu của thiên truyện ngắn “Đôi mắt”.

BÀI LÀM

“Anh Hoàng đi ra. Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả bởi vì người khí to béo quá, vừa bước vừa bơi cánh tay kềnh kệnh ra hai bên, những khối thịt ở bên dưới nách kềnh ra trông tun ngủn như ngắn quá… trên mép một cái vành móng ngựa ria, như một cái bàn chải nhỏ…” – Đoạn văn này là những nét vẽ truyền thần chân dung Hoàng trong truyện “Đôi mắt”.

Nam Cao viết truyện ngắn

“Đôi mắt” vào năm 1948, giữa thời kì đầy khó khăn và thử thách của quân và dân ta. Nhà văn Tô Hoài

cho rằng tác phẩm này là một

tuyên ngôn nghệ thuật” của thế hệ văn nghệ sĩ đang “tìm đường”

và “nhận đường” trong những ngày đầu tham gia kháng chiến.

Truyện “Đôi mắt” như một “lời tâm sự, giãi bày” của nhà văn trước thời cuộc, đồng thời tiếp tục viết về người trí thức ở chặng đường mới của lịch sử dân tộc. Tác giả kể về chuyện gặp nhau giữa Độ và Hoàng, đôi bạn văn chương, tại một vùng tản cư, các xa Hà Nội vài trăm cây số. Mỗi người có một cách nghĩ, cách nhìn rất khác nhau đối với nông dân, đối với bộ đội và kháng chiến. Nhà văn Độ với tấm lòng nhân hậu, với đôi mắt tinh tường, đã có một nghĩ, cách nhìn rất khác nhau đối với nông dân, đối với bộ đội kháng chiến. Nhà văn Độ với tấm lòng nhân hậu, với đôi mắt tinh tường, đã có một cách nghĩ, cách nhìn mới mẻ, tiến bộ.

Bên cạnh anh là văn sĩ Hoàng – một con người đang sống gần như lạc lõng trước bước ngoặt lịch sử của dân tộc.

Cái thời lộn xộn Nhật – Tây, dân ta một cổ hai tròng, Hoàng là một nhà văn, nhưng đồng chí cũng là “một tay chợ đen rất tài tình”. Trong lúc bạn bè của anh

“chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết bán cho ai” giữa cái hồi đói khủng khiếp ấy, thế mà “Hoàng vẫn phong lưu”, vẫn có thể nuôi cho béc giê bằng thịt bò. Tính khí của Hoàng cũng kì lạ, thất thường ! Anh hay

“đá bạn” vì đố kị tài năng. Thậm chí, sau cách mạng, anh lại ra một tờ báo hàng ngày chửi những bạn bè của mình có tên trên những tờ báo của phong trào giải phóng quốc gia được hoan nghênh, làm anh ta ngứa mắt ! Nhân cách của Hoàng thời “tiền chiến” ở Hà Nội được tác giả gói gọn trong một câu : “Có lẽ anh Hoàng biết cái giới văn nghệ sĩ Hà Nội chửi anh nhiều quá !”.

Tuy vậy, Hoàng không phải là người hoàn toàn xấu. Anh có niềm tin lớn lao vào “Oâng cụ”.

Anh cũng bỏ nhà dcao cửa rộng nơi thủ đô, dắt dìu vợ con tản cư về nông thôn. Gặp lại bạn văn chương cũ, vợ chồng anh đón tiếp niềm nở, vui mừng thật sự, chuyện trò cởi mở thân tình. Độ đã trở thành người thân của Hoàng dốc bầu tâm sự đầy vơi trong lòng bấy nay. Hoàng đi tản cư không phải đi kháng chiến mà là một cuộc chạy loạn. Tản cư về sống giữa nông thôn, chất khinh bạc trong con người anh ta lại càng bộc lộ rõ. Với Hoàng, bà con nông dân

“toàn là những người ngu độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam ; bần tiện cả”. Anh gọi một cách xách mé các cán bộ công nông nào là “cái thằng chủ tịch ủy ban khu phố ở Hà Nội… một anh hào cháo lòng…”, nào là “mấy ông ủy ban với các bố tự vệ…” Hoàng khinh người nhà quê là là nhiêu khê, tò mò, khinh

“các ông thanh niên, các bà phụ nữ, mấy bố tự vệ” là dốt nát lại hay nói chính trị rối rít cả lên, hễ cứ

“mở miệng ra là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo…” chẳng khác nào con vẹt biết nói. Anh kể xấu người dân cày “vừa ngố vừa nhặng xị”, đã dốt nát lại hay hỏi giấy tờ “họ đánh vần xong một cái giấy ít nhất cũng phải mất mười lăm phút”. Nói về họ, lúc thì Hoàng “bĩu môi dài thườn thượt”, lúc thì “tức tối cười gằn”… Vợ chồng anh thi nhau kể tội người nhà quê đu thứ ; “nỗi khinh bỉ của anh phì cả ra ngoài, theo cái biũ môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối”.

Qua đó, ta thấy Hoàng không chỉ khinh bạc mà còn rất nhẫn tâm với người nông dân ! Khi vợ chồng, con cái anh đang được sống bình yên trong làng xóm họ giữa thời bom đạn, trong lúc vợ chồng anh được ăn “khoai vùi”, “mía ướp hoa

bưởi” – những thứ do họ làm ra, thế nhưng anh đã đối xử với họ quá tệ. Hoàng đã nói nới Độ : “Từ trước đến nay, tôi chỉ toàn ở Hà Nội, thành thử chỉ mới biết những người nhà quê qua những truyện ngắn của anh. Bây giờ gần họ, tôi quả là thấy không chịu được.

Không chịu được !” Điều đó cho thấy, đôi mắt, cách nhìn, cách nghĩ của Hoàng cũng là cách sống và cách nhìn của một trí thức cũ, lạc hậu, lạc lõng trước thời cuộc.

Hoàng là một nhà văn, là một người có học nhưng thiếu hẳn một tấm lòng nhân hậu trong ứng xử !

Anh đã quen nhìn đời và nhìn người một phía thôi !”

Cổ nhân có câu : “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Đất nước và dân tộc đang kháng chiến, toàn dân đã đứng lên quyết tâm đem tất cả “tinh thần và lực lượng” để giữ vững nền độc lập. Thế nhưng Hoàng đã sống một cách bàng quan như người ngoài cuộc ! Ngôi nhà gạch vợ chồng anh ở “luôn luôn đóng kín cổng”.

Anh chẳng thèm làm một công việc gì gọi là giúp ích cho nhân dân và để phục vụ kháng chiến.

Trong lúc nhiều nhà văn đi làm phóng viên mặt trận, nhiều nghệ sĩ tham gia các đoàn Văn hóa kháng chiến, trong lúc Độ – bạn anh, có thể mặc bộ quần áo tàng tàng, làm

“anh tuyên truyền viên nhãi nhép”, thì Hoàng nhởn nhơ đứng ngoài cuộc. Chủ tịch xã – nơi anh đến tản cư – đã mời anh dạy bình dân, làm công tác tuyên truyền, nhưng anh đều từ chối. Vì theo Hoàng “công tác làm sao được” với những người dốt nát, xấu xa như vậy “thà đành để các ông ấy gọi là phản động” ! Lúc bấy giờ, hai tiếng “Việt gian”,

“phản động” là ghê ghớm và đáng sợ lắm ! Thế nhưng, Hoàng sẵn sàng chấp nhận nếu bị mọi người gọi như thế, chứ không thèm công tác với nông dân. Điều đó chứng tỏ anh đã sống một cách kỳ quặc,

định kiến của anh về người nông dân đã tới mức cực đoan, rất đáng chê trách. Anh đã và đang sống trong chua chát chán nản. Anh than thở với Độ : “Aáy đấy, tôi bi lắm !”. Vai trò công dân của một nhà văn đứng trước cuộc kháng chiến của dân tộc đã bị Hoàng tự vứt bỏ. Có đặt vào bối cảnh lịch sử và không khí thời đại “văn hóa hóa kháng chiến”, “kháng chiến hóa văn hóa”, ta mới thấy rõ nhân cách của các văn sĩ Hoàng. Đúng như Độ đã nghĩ về anh ta : “Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm , ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản…”

Trong lúc Độ thấy “vô số anh răng đen mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm”, thì trái lại, Hoàng chỉ thấy, “nhiều ông tự vệ hay cả Vệ quốc quân táy máy nghịch súng, lựu đạn làm chết người như bỡn”. Trong lúc nhiều văn nghệ sĩ dấn thân vào khói lửa thì Hoàng vẫn giữ một nếp sống nhàn hạ, phong lưu không hợp thời, không hợp cảnh. Một cơ ngơi riêng ; có chó tây giữ nhà ; ăn uống cầu kỳ, sang trọng : “trà đặc, hút thuốc lá thơm”, vẫn giữ thói quen “đọc tiểu thuyết Tàu trước khi đi ngủ”. Toàn dân kháng chiến gian khổ, thiếu cơm ăn áo mặc, bộ đội ra trận thiếu vũ khí, quân trang, thuuốc men… thế nhưng Hoàng vẫn yên ngủ trong “chiếc giường sạch sẽ”, áo quần, chăn chiếu “sực nức mùi nước hoa”, “màn tuyn trắng toát”, vân vân.

Hoàng tâm sự với Độ :

“Tôi chẳng có việc gì làm, lắm lúc cũng buồn”. Anh đã khinh và ngoảnh lưng với bà con nông dân.

Anh chỉ giao du với đám “căn bã của giới thượng lưu trí thức”, đó là

“một ông tuần phủ về hưu, một ông đốc học bị thải hồi… một cụ phán già… một mụ Yến Ký “đệ tử

tổ tom hạng nặng”. Anh “chẳng ưa gì họ” vì anh đã biết đủ thứ “thối nát, rởm đời, ngu ngốc, gàn dở…

của từng người một”. Những Hoàng cho rằng “nếu chẳng giao thiệp với họ thì cũng chẳng biết đến nhà ai chơi được nữa”. Hoàng đã trở thành một kẻ cô đơn ! Tâm hồn anh trống rỗng. Anh xa rời dân cuộc sống, anh đánh mất dần bạn bè. Cũng là một hạng đời thừa kiểu mới ! Và Hoàng chỉ biết “đón kín cổng”, tìm thú vui trong tiểu thuyết Tàu, khoái chá vỗ đùi khen:

“Tài thật ! Tài thật ! Tài đến thế là cùng ! Tiên sư anh Tào

Tháo !”. Sống giữa một thời kỳ oanh liệt của dân tộc : “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió. Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”, thế mà một trí thức, một văn sĩ như Hoàng đã nhìn đời, nhìn người và hành động như vậy mới đáng buồn, đáng chê trách.

Trong nhân vật Hoàng, cái xấu, cái tốt đan cài vào nhau. Anh bạn ta là một con người có “góc cạnh”. Anh ta nói chuyện với bạn một cách thành thật, thẳng thắn, cởi mở. Anh đã dành những lời tốt đẹp nhất để ca ngợi lãnh tụ. Có lẽ vì thế mà anh đưa vợ con đi tản cư chăng ? Hoàng ca ngợi lãnh tụ theo kiểu sùng bái cá nhân mà chưa nhìn thấy vai trò của nhân dân trong kháng chiến. Anh đã nói với bạn : “Tôi bi lắm. Cứ quan sát kỹ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ vì tôi tin vào Oâng cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay, chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia mới xứng tài. Phải cứu một nước như mình kể cũng khổ cho Oâng cụ lắm…” Nhật xét của Hoàng khá sắc sảo và chân thành, nhưng ít nhiều trong nhận xét ấy cũng thể hiện sự lệch lạc.

Trog thực tế, những trí thức, những nhà văn nhừ Hoàng

không nhiều. Nhưng cũng không phải là không có. Một vài dòng tên tuổi đã “bỏ cuộc”, đã “dinh tê”.

Với Hoàng cũng vậy, nếu anh không bị “lột xác”, nếu anh không thay đổi cách sống, cách nhìn, nếp nghĩ, thì trước sau, anh cũng sẽ bị kháng chiến loại bỏ, sự nghiệp văn chương của anh cũng chẳng vẻ vang gì !

Sau các nhân vật Hộ (“Đời thừa”) Điền (“Trăng sáng”), Thứ (“Sống mòn”)…, nhân vật Hoàng, nhân vật Độ trong “Đôi mắt” đã chứng tỏ nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nam Cao rất đặc sắc Hoàng đã trở thành một chân dung văn học thật hơn con người thật trong cuộc đời. Hoàng là một nhân vật tư tưởng độc đáo, không đơn điệu, công thức, vừa mang tính điển hình khái quát cao, vừa có cá tính. Một lý lịch, một gia cảnh sắc sảo, khinh bạc…, nhân vật Hoàng trở nên sống động, tiêu biểu cho lớp trí thức, văn nghệ sĩ cũ, lạc hậu đang lạc lõng đứng trước thời cuộc, đứng trước ngã ba đường…

Có thể nói, Nam Cao đã

“sống” với nhân vật, đã “thổi hồn”

cho nhân vật, đã xây dựng nhân vật Hoàng trở thành một nhân vật điển hình, chân thực, độc đáo ! Đặc biệt , Nam Cao đã sử dụng cấu trúc song hành tương phản. Độ và Hoàng là đôi bạn văn chương thời “tiền chiến”, nhưng nay đứng trước vận hội mới của dân tộc, người thì “nhập cuộc” một cách tích cực, kẻ thì sống bàng quan, nhìn đời, nhìn kháng chiến, nhìn người rất lệch lạc. Đặc Độ cạnh Hoàng, nhờ thế đã làm nổi bật nhân cách, quan điểm nghệ thuậ và quan niệm nhân sinh vừa cũ kỹ, vừa lạc hậu của Hoàng, làm cho nhân vật Hoàng rất “sống” và chân thực. Có thể nói, nét vẽ đẹp chân dung văn học trong truyện “Đôi mắt” của Nam Cao vô cùng sắc sảo, độc đáo.

“Đôi mắt ấy” của văn sĩ Hoàng chỉ “quen nhìn đời và nhìn người một phía mà thôi”. Chính vì thế nên Hoàng mới chế giễu anh thanh niên trong lúc “vội lắm” còn đọc cho người hỏi thăm đường đi chợ nghe bài chính trị “ba giai đoạn” dài đến 5 trang giấy như một con vẹt biết nói, mà chưa nhìn thấy bó tre anh ta vác đi để ngăn quân thù. Hoàng chỉ nhìn thấy “cái ngố bề ngoài” mà không nhìn thấy

“cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong” của anh thanh niên tích cực tham gia kháng chiến.

Thật ra, Hoàng chưa đi nhiều, chưa quan sát gì cả. Anh tự giam mình trong 3 gian nhà nơi tản cư như con ốc cuộn mình trong vỏ ! Hoàng chưa quan sát hoặc chưa biết nhìn, nhìn thiên lệch ! Với người nông dân, Hoàng chỉ mới biết họ qua một số truyện của Độ. Người nông dân vẫn còn là một thế giới xa lạ đối với Hoàng.

Nhà văn phải có cái tâm đẹp, nhân hậu, phải gắn bó với cuộc sống nhân dân, phải đem ngòi bút ra phục vụ cách mạng và kháng chiến. Hoàng chưa có tấm lòng ấy, đôi mắt ấy, chưa gắn bó với nhân dân và kháng chiến. Nhân vật Hoàng là một nét vẽ sắc sảo của Nam Cao giúp ta cảm nhận “tuyên ngôn nghệ thuật” của thế hệ nhà văn buổi đầu đi kháng chiến qua truyện “Đôi mắt”./.

Bài 33

Một phần của tài liệu Những bài làm văn hay lớp 12 (Trang 48 - 51)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(69 trang)
w