hành công đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Nam những lic, dua ho qua ngưỡng cửa của tối tăm bước tới vùng sáng hai tháng chín, một buổi sáng trời trong với nắng vàng nhân dân trên quảng
Trang 1Dành cho hoc sinh Ban Cơ bản và Nắng cao
Trang 2Chủ tịch Hồ Chí Minh
, cả nước ta tưng bừng trong niềm vui sướng hân hoan
hành công đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Nam những
lic, dua ho qua ngưỡng cửa của tối tăm bước tới vùng sáng
hai tháng chín, một buổi sáng trời trong với nắng vàng
nhân dân trên quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí
ngôn Độc lập, chính thức khai sinh nước Việt Nam mới,
, độc lập và dân chủ Bản tuyên ngôn được Hồ Chủ tịch
, Người đã truyền đến triệu trái tim nhân dân những rung
, đồng thời tuyên bố một cách vững chắc và hào hùng với -
VN liêng trước phút giây trọng đại của dân tộc, bằng
lập có chủ quyển của nước ta
Toàn văn bản tuyên ngôn không dài, chỉ gói gọn trong khoảng chưa đầy một
tranh giành độc lập tha
cũng ra đời trong chiến
thị dân và nông dân ph
chặt chẽ và súc tích Bản tuyên ngôn chia làm ba phần
ién lạc với nhau theo một bố cục chặt chẽ mạch lạc
ngôn nêu lên những chân lý về nhân quyển và dân
hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới, bản Tuyên ngôn
Tuyên ngôn Nhân quyền uè Dân quyên của Pháp là có
lên ngôn Độc lập của Mỹ ra đời sau khi nước Mỹ đã đấu
nh công Bản Tuyên ngôn Nhân quyền uà Dân quyền thắng của cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của những
n kháng lại áp bức, bất công Lời lẽ của hai bản tuyên
ngôn trên tự thân đã nếu lên những chân lí, lại đại diện cho những cuộc cách
mạng có tính chất tiên
nên mang tính công phái
đắn của chúng Ta có sp thấy sự hiểu biết và cân nhắc kĩ càng của vị chủ tịch
hong của những nước có ảnh hưởng lớn trên thé gi
quốc tế, khiến cho không ai có thể phủ nhận tính đúng
khi trích dẫn những chân lí đó Hơn thế Người còn vận dụng sáng tạo, suy rộng
ra, câu ấy có ý nghĩa là:
dân tộc nào cũng có quyê tết cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ru bình đẳng,
sống, quyền sung sướng uà quyên tự do Người đã đi từ
khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát hơn và cũng đây
thuyết phục Điều đáng
dẫn bản Tuyên ngôn Nhị
và tiểm tàng của Tuyên
cho tỉnh thần của Tuyén
hói hơn là ngay ở đoạn đầu này, cũng chính là lời trích
ũn quyền uà Dân quyền đã tỏa sức chiến đấu mạnh mẽ
gôn Độc lập Bởi chính phủ Pháp, chính phủ phụng sự ngôn Nhân quyền đầy lẽ phải kia lai dang thi hành
những hành động trái n ợc hẳn: Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp
lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta
Rõ ràng qua cách lập luận như thế, một sự thật được phơi bày một cách hiển
nhiên: bản chất của thực dân Pháp ở Việt Nam là trái hẳn với nhân đạo và chính
nghĩa Kết thúc phần này là một câu khẳng định ngắn gọn nhưng đầy sức thuyết
phục Đó là những lẽ phải không ai chối cai được
Trang 3Mở rộng hơn, phần hai liệt kê ngắn gọn và đẩy đủ những tội ác mà thực
dân Pháp đã gây ra trên đất nước ta trong suốt gần một trăm năm đô hộ
"Trước tiên, chúng tước đoạt tự do chính trị tuyệt đối không cho nhân dân ta
một chút tự do dân chủ nào Kế để là chúng thì hành những luật pháp dã
man ngăn cản uiệc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn
kết Cả đoạn đày đặc những câu liệt kê định tội, rắn rỏi, tố cáo toàn diện tội
ác của bọn cướp nước Từng câu, từng chữ, đều bật lên bản chất của bọn xâm
lược Thực dân Pháp đã thỉ hành-chính sách ngu dân, tiêu diệt văn hóa, chính
là muốn diệt trừ tận gốc bản sắc dân tộc, ý thức lịch sử và truyền thống dân
tộc bằng cách lập rư nhà tù nhiêu hơn.trường học Chúng đàn áp thẳng tay và
đã man những người yêu nước, ¿ốm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể
máu, cướp đoạt trắng trợn và bất công quyền thiêng liêng nhất của con người:
quyển được sống Đó thực chất là khai hóa, cái gọi là đem uăn mình đến cho
người bản xứ mông muội Chúng còn bóc lột dân ta đến tận xương tủy cướp
không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm
cho dân ta trở nên bần cùng chúng bóc lột công nhân một cách vô cùng tàn
nhãn Hành động của chúng hết sức vô nhân đạo và phi chính nghĩa Hơn nữa,
khi bị Nhật tước khí giới, chúng đã bỏ chạy, đầu hàng, bán nước ta hai lần cho
Nhật Đó thực chất là “bảo hộ” của chúng, sự thật lịch sử tố cáo bản chất dối
trá, hèn nhát, khiếp nhược của bọn xâm lược
Chỉ trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu, tác gid da xé tan chiéu bai khai
Lóa, bảo hộ giả dối và bịp bợm bấy lâu của chúng dùng để che đậy những việc
làm xấu xa độc ác Tác giả dùng liên tiếp những từ biểu thị sắc thái cao độ:
hẳn, tuyệt đối không cho, dã man, thẳng tay, chém giết, tắm trong những bể
máu, bóc lột đến tận xương tủy ngôn từ linh hoạt, sắc bén đầy hình ảnh cụ
thể, chính xác, gợi tả, tỏ rõ thái độ căm giận sâu sắc trước những tội ác man rợ
đó Điệp từ chúng xuất hiện dày đặc, lồng trong những câu song hành, đồng
nghĩa như những nhát búa đập thẳng vào lớp vỏ bọc hoa mỹ bọn thực dân vẫn
tuôn ra bấy lâu, tạo những âm vang sóng dội, nhấn mạnh và trở đi trở lại, như
khắc sâu ghi nhớ, như kết án luận tội đồng thời tỏ rõ sức mạnh của chúng ta,
sức mạnh của chính nghĩa Đối lập với những hành động phi nhân đó của thực
dân Pháp là cuộc đấu tranh đẩy nhân đạo chính nghĩa của nhân dân ta Từ
những hành động tàn nhẫn của thực dân Pháp như khủng bố Việt Minh, giết
chính trị phạm, tác giả đã dẫn dắt chúng ta đến những hành động nhân đạo,
khoan hồng của quân và dân ta: giúp nhiều người Pháp chạy qua biên thùy,
eúu người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, bảo uệ tính mạng uè tài sản cho họ
Điệp ngữ Sự thật là đã khẳng định chiến thắng của ta: ta đã lấy lại đất nước
từ trong tay Nhật, đất nước mà thực dân Pháp đã cướp lấy rồi bán cho phát xít
Nhật Chúng ta chiến đấu chống phát xít, chúng ta đứng về phía mặt trận dân
chủ chống phát xít, chúng ta có vai trd vị trí xứng đáng trước thế giới chính do
sức mạnh tự thân của dân tộc Các nước tiến bộ trên thế giới cũng đồng tình
ủng hộ quyền được hưởng tự do và độc lập một cách chính đáng của dân tộc ta
Câu tuyên bố Pháp chạy, Nhật đầu hàng, uua Bảo Đại thoái vị rất ngắn gọn và
súc tích, nghe như một lời reo vui Câu này cũng có thể làm một ví dụ tiêu biểu
ESếĐr
Trang 4cho van phong Hồ Chí Minh - ngắn gọn, chuẩn xác mà đẩy uy lực, giàu ý
nghĩa Tuyên bố với thế giới việc thành lập của một đất nước mới phải chịu
nhiều đau thương, tác giả đã rất đanh thép và triệt để khi dùng những cụm từ
thoát lì hẳn, xóa bỏ hết, xóa bỏ tất cả để nhấn mạnh sự phủ định tuyệt đối mọi
quan hệ lệ thuộc với Pháp, chặt nốt những mắt xích cuối cùng ràng buộc Việt
Nam vào lệ thuộc, để đất nước này đứng lên trong hoàn cảnh tự do hoàn toàn,
xây dựng một cuộc đời mới, một chế độ mới
Tự do vừa giành được ấy thật vô giá Để có được nó, nhân dân ta phải đánh
đổi bao nhiêu hi sinh, bao nhiêu xương máu Ấy thế mà vẫn còn những thế lực
thù trong giặc ngoài đen tối lúc bấy giờ đang lăm le bóp chết sự sống mới hình
thành của nước Việt Nam non trẻ Hiểu được điều đó, Hồ Chí Minh đã thay mặt
nhân dân nêu lên lời tuyên bố trịnh trọng và quyết liệt: Nước Việt Nam có
quyền hưởng tự do uà độc lập, uè s1¿ thật đã thành một nước tự do, độc lập
Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thân uà lực lượng, tính mạng
uờ của cải để giữ uững quyên tự do, độc lập ấy Đó chính 1a tinh than của một,
cả dân tộc anh hùng quyết hi sinh tất cả để giữ lấy độc lập tự do Cum tif ty do
và độc lập được lặp lại ba lần, như khắc sâu vào tâm trí muôn triệu người dân
Việt, vang lên mạnh mẽ và rung động như tiếng kèn xung trận hào hùng Lời
tuyên bố nghe như một lời thề sắt đá và thiêng liêng vừa khích lệ nhân dân ta
vừa cảnh cáo kẻ thù
Đây là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên tuyên bố với thế giới về sự ra đời
của một nhà nước mới, đánh dấu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do
cho một dân tộc bất khuất kiên cường Nó đánh dấu thắng lợi đầu tiên của một
nước thuộc địa ở châu Á Mặt khác, bản Tuyên ngôn Độc lập còn là một áng
văn chính luận mẫu mực, đanh thép và lôi cuốn ở lý lẽ và lập luận chặt chẽ, ở
từ ngữ, hình ảnh dễ cảm, chính xác, mạnh mẽ, ở câu văn ngắn gọn mà sắc,
giản dị mà hùng hồn, đã vừa cảnh cáo, vạch mặt kẻ thù, vừa khích lệ, động
viên tỉnh thần nhân dân và tranh thủ sự đồng tình quốc tế
So với hai bản Tuyên ngôn Độc lập thời trung đại của Lý Thường Kiệt và
Nguyễn Trãi, bản Tuyên ngôn của thời đại mới đã vượt hơn ở tâm vóc hướng ra
thế giới, ở tỉnh thần dân chủ, tự do, đồng thời kế thừa truyền thống nhân đạo,
chính nghĩa và yêu nước của cha ông Tuyên ngôn Độc lập của chủ tịch Hồ Chí
Minh xứng đáng là áng văn bất hủ
Lê Quỳnh Chỉ
(Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong)
ĐỀ BÀI: Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã đánh giá Tuyên ngôn Độc lập
của Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau:
Tai nghệ ở đây là dan dựng được một lập luận chặt chẽ, dưa
ra được những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được Và đằng sau những lí lẽ ấy là một tâm tư tưởng,
tâm oăn hóa lớn, đã tổng bết được trong một oăn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết, kinh nghiệm của nhiều thế hệ
đấu tranh uì độc lập, tự do, uì nhân quyên, dân quyền của
dân tộc uò của nhân loại
Trang 5
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một cây bút nghệ thuật đa phong cách
Từ Truyện uà kí Nguyễn Ái Quốc, người đọc thích thú tiếp cận với những áng
văn xuôi châu Âu hiện đại vừa sắc sảo, vừa sáng tạo, vừa dí dỏm thông minh
với chất trào phúng đây trí tuệ của một cây bút truyện ngắn hiện đại bậc thầy
Nhật kí trong tù lại đi vào lòng người với những vần thơ hàm sức, thâm thúy,
kết hợp nhuân nhuyễn chất cổ điển và hiện đại, bút pháp hiện thực nghiêm
ngặt và lãng mạn bay bổng - những tác phẩm nếu đặt cạnh thi phẩm đời
Đường, đời Tống, ta cũng khó có thể phân biệt được Nếu đến với thơ ca kháng
chiến, ngòi bút Hồ Chí Minh tươi tắn trong cảm xúc hồn nhiên, thì đọc Tuyên
ngôn Độc lập ta lại bắt gặp áng văn chính luận mẫu mực của dân tộc Việt Nam
trong thời đại mới Bản tuyên ngôn có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn người
nghe, người đọc bởi chính tài nghệ của Bác mà (đài nghệ ở đây là dàn dụng
được một lập luận chặt chẽ, đưa ra được những luận điểm, những bằng chúng
không ai chối cãi được Và đằng sau lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tâm uăn hóa
lớn, đã tổng kết được trong một van ban ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết, kinh
nghiệm của nhiều thế kỉ đấu tranh uì độc lập, uì nhân quyền, dân quyền của
dân tộc uò của nhân loại - đúng như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã đánh giá
Tác phẩm không chỉ kết tinh tâm hồn Bác - điểm hội tụ những nét đẹp tỉnh
túy của dân tộc, những tình cảm thiết tha và sâu lắng của thời đại mà hơn hết,
còn tiêu biểu cho phong cách văn chính luận nói riêng, phong cách nghệ thuật
Hồ Chí Minh nói chung, rất độc đáo và đặc sắc
Ngược dòng thời gian, lật lại những trang sử vàng của dân tộc, ta như sống
trong những âm vang náo nức của thời đại anh hùng Soi mình vào tấm gương
văn học trong sáng và trung thực vô ngần, lịch sử đời sống, tâm hồn con người
hiện lên trong ta thật sống động Và mấy ai có thể quên những ngày tháng
Tám năm 1945 sôi nổi, hào hùng, xua tan màn đêm u ám, nặng nề của chế độ
thực dân, phong kiến, thổi vào cuộc đời mỗi kiếp lầm than làn gió hồi sinh
nồng ấm Khi đó, cả dân tộc Việt Nam, từ bùn lầy tăm tối của gông xiểng nô lệ
da ra bun đứng dậy sáng loa, vươn lên địa vị làm chủ đất nước Khi lịch sử
cuộn chảy sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do Nhưng dân tộc ta
không bị ru ngủ trong men say và hào quang chiến thắng mà hơn lúc nào hết
cân phải tỉnh táo nhận thấy tính mệnh ngờn cân treo sợi tóc của đất nước, bởi
núp sau danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật là đế quốc, thực
dân với âm mưu xâm chiếm nước ta một lần nữa, bởi những thế lực phản động
trong nước đang ngóc đầu dậy nhằm lật đổ chính quyển cách mạng còn non trẻ
Chính trong những giờ khắc trọng đại ấy của lịch sử, Tuyên ngôn Độc lập ra
đời, không chỉ là mệnh lệnh trái tim, là sự thôi thúc bên trong của tác giả mà
quan trọng hơn, còn là tiếng nói của lịch sử, đáp ứng yêu cầu đặt nền móng
pháp lí vững chắc đầu tiên xây dựng nước Việt Nam độc lập muôn đời
DO, Co PY|
Trang 6Đối tượng bản tuyên ngôn hướng tới là ai? Trên quảng trường Ba Đình rực
nắng, giữa trời thu xanh cao, giọng của Bác ấm từng tiếng, thấm vao long mong
ước (Tố Hữu) Hỡi đông bào cả nước - Hai tiếng đông bào giản dị mà rưng rưng
một niễm cảm động, yêu thương Nhân dân là những người viết lên trang sử,
những chủ nhân đất nước, nên lẽ tự nhiên, đó là đối tượng đầu tiên Bác hướng
tới, Chưa hết! Thay mặt nhân dân Việt Nam, Bác còn viết cho nhân dân thế
giới, cho công luận quốc tế: Chứng tdi trịnh trọng tuyên bố uới thế giới rằng
Nhưng có lẽ sâu xa hơn và cũng là trước hết, đối tượng thế giới ở đây là trùng
vây đế quốc Mỹ, Anh, Pháp và bè lũ phản động Trung Hoa dân đảng - những
kẻ tung ra những lý lẽ hùng hồn, những luận điệu xảo trá nhằm hợp pháp hóa
cuộc xâm lược nước ta Bản tuyên ngôn, một mặt lật tẩy bản chất xấu xa đê
hèn của chúng, mặt khác đập tan những luận điệu bác bỏ như những lý lẽ của
chúng bằng một hệ thống lập luận chặt chẽ, đưa ra những luận điểm, những
bằng chứng không ai chối cãi được Vừa thuyết phục về khoa học, lý trí, vừa lay
động sâu xa ý thức, tâm hồn người nghe, người đọc, thể văn chính luận trở
thành vũ khí sắc bén và lợi hại vô cùng trong cuộc luận chiến với kẻ thù, kết
tỉnh đỉnh cao tài năng của một ngòi bút sắc sảo, đầy trí tuệ và ẩn đằng sau đó,
lung linh tỏa sáng một tầm tư tưởng, tâm uăn hóa lớn của con người hiện diện
mẫu mực cho tẩm vóc lịch sử, cho sức mạnh trí tuệ của con người Việt Nam, của
thời đại anh hùng
Tốt cả mọi người sinh ra đều có quyên bình đẳng Tạo hóa cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được
sống, quyền được tự do, uè quyền mưu cầu hạnh phúc
Người ta sinh ra tự do uà bình đẳng uề quyền lợi, va phải luôn luôn được
tự do uò bình đẳng uề quyên lợi
Bản 7uyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh mở ra bằng những câu trích
trong hai văn kiện lập quốc: Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên
ngôn Nhân quyên uà Dân quyền của cách mạng Pháp 1791 Những lời bất hủ
ấy về quyền sống bình đẳng, sống tự do, hạnh phúc không ai không có thể công
nhận bởi nó đã được thực tế lịch sử chứng minh, đã trải nghiệm xương máu qua
hai cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ điển hình của nhân loại Bác không
khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc rành rành định phận tại sách trời
(Nam quốc sơn hà - Lý Thường Kiệt), mà chỉ với việc trích dẫn những tuyên
ngôn làm rạng danh truyền thống đấu tranh và văn hóa nước Mỹ và nước
Pháp, những nguyên lí cách mạng có giá trị chân lí muôn đời, Bác đã bắn một
mũi tên trúng được nhiều đích Đế quốc Mỹ núp sau danh nghĩa Đồng Minh
vào nước ta để cướp nước ư? Thực dân Pháp muốn quay trở lại tiếp tục bđo hộ
Đông Dương ư? Thì đây, ngay từ đầu âm mưu của chúng đã bị chặn đứng lại
trước những lời răn dạy, cảnh tỉnh của chính tổ tiên, cha ông chúng Với đôi
mắt sáng suốt, nhìn xa trông rộng, Bác đã thấy kẻ thù cụ thể trước mắt sẽ xâm
lược dân tộc ta là thực dân Pháp, đằng sau đó là đế quốc Mỹ nên mở dau bản
tuyên ngôn, Bác đã rung hồi chuông cảnh báo: nếu chúng xâm lược Việt Nam là
đi ngược lại lời cha ông chúng, là những đứa thất ước Ý nghĩa sâu sắc và đanh
S‹
DO Sbpy
Trang 7thép ấy ẩn dưới cách nói khéo léo, tổ ra tô cao, tran trong những danh ngôn
bất hủ của người Pháp, người Mỹ, nhưng thực chất thể hiện sự mềm dẻo của
sách lược, thắt buộc chúng như /g£ mêm buộc chặt Thật thú vị và cũng đích
đáng biết bao với cú đòn lấy gậy ông đập lưng ông của Đác Với phương pháp
suy lí diễn dịch, câu nói đó là những lẽ phải không ai chối cãi được chốt lại
đình ninh, đanh thép, khẳng định lập trường chính nghĩa và đặt cơ sở pháp lí
vững chắc cho nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam Đúng là đọc tuyên ngôn
phải đọc giữa hai dòng chữ thì mới thấm thía những ý vị sâu xa, mở ra bao
trường liên tưông, phong phú nén chặt trong từng câu, từng chữ, hàm súc,
chắc chắn như đỉnh đóng cột Cảm quan cách mạng nhạy bén, trí tuệ sắc sảo
của nhà tư tưởng lớn Hồ Chí Minh kết đọng tỏa sáng mỗi lời văn của bản
tuyên ngôn
Trích dẫn văn kiện lập quốc của Mỹ và Pháp - hai bản tuyên ngôn nổi tiếng
trong lịch sử nhân loại, bản tuyên ngôn của Bác đã nâng cao tầm vóc văn hóa
của dân tộc Việt Nam, sánh ngang với ánh sáng văn minh thế giới, một dân
tộc với bề dày truyền thống uốn xưng nên uăn hóa đã lâu Ta như gặp lại âm
hưởng ngân vang, tự hào của áng £biên cổ hùng uăn (Bình Ngô đại cáo) khi đặt
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngang hàng với những nước lớn trên thế
giới, cũng như cha ông ta xưa kia: Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền
độc lập - Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương Hơn
nữa, cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng nâng lên tầm thế giới, kết
hợp vừa đánh đổ các xiêng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên
nước Việt Nam độc lập, vừa đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế ki mà lập
nên chế độ Dân chủ Cộng hòa — những nhiệm vụ cuộc cách mạng Mỹ 1776 va
cách mạng Pháp 1791 đã giải quyết Nối liền trong nguồn mạch dạt dào của
truyền thống tự hào dân tộc, bản tuyên ngôn gợi mối lịch sử hiện nay với quá
khứ ngàn xưa, niềm tự hào dân tộc từ ngàn xưa như kết tỉnh lại trong thời
điểm hiện tại, cũng âm vang tha thiết hào hùng Tư tưởng Hồ Chí Minh đã
vượt phạm vi trong nước nhỏ hẹp vươn tới tầm cao nhân loại, vượt thời gian,
không gian hiện tại, bắt gặp và lắng đọng hôn thiêng sông núi
Nét sáng tạo linh hoạt, mới mẻ của ngòi bút văn phong chính luận của Bác,
không chỉ ở việc trích đẫn hai bản tuyên ngôn trên mà Bác còn mở rộng, phát
triển tư tưởng mới: lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của
nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều
sinh ra bình đẳng dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng va quyén
tự do Từ quyền con người, Bác đã vận dụng thiết thực, sáng tạo vào quyển độc
lập dân tộc Câu nói không chỉ đánh thức trí tuệ Việt Nam mà trí tuệ nhân loại
cũng như bừng tỉnh hay nói như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, đó là phớt súng
lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địu sẽ làm sụp đổ chú nghĩa
thực dân trên khắp thế giới uào nữa sau thế kỉ XX Những lí lẽ sắc bén, chặt
chẽ giàu sức thuyết phục thể hiện ngòi bút già đặn cao fay của một nhà tư
tưởng, nhà uăn hóa lớn có tầm uóc nhân loại, kết tỉnh trí tuệ, tình cảm tha
thiết uà sâu lắng của thời đại, con người
DO Gppy
Trang 8Hệ thống lập luận của tuyên ngôn không chỉ chặt chẽ trong việc đặt ra cơ sở
pháp lí của nền độc lập dân tộc mà còn rất toàn diện khi đưa ra cơ sở thực tế
của tuyên ngôn Và có lẽ những bằng chứng sống của biện thực lịch sử, những
lí lẽ của sự thật có tác động trực tiếp và sức thuyết phục mạnh mẽ hơn cả
tâm
hôn người nghe, người đọc
Rẻ thù trước mắt đang lăm le quay trở lại xâm lược nước ta, đó là thực
nhiên, lay chuyển nhận thức con người từ những nguyên
lí cao đẹp vừa nêu
trong hai bản tuyên ngôn đến thực tế nước Việt Nam Không nói gián
tiếp kín đáo mà đến đây, ngòi bút sắc sảo của Bác như lưỡi dao sắc bén
đi sâu vào bản
chất thực dân Pháp, bóc trần danh nghĩa khơi hóa, bảo hộ
mà chúng đã rêu rao, dưới lá cờ tự đo, bình đẳng, bác ái, chỉ thẳng hành động
của chúng trái
hẳn uới nhân đạo uà chính nghĩa
Một hệ thống luận cứ chặt chẽ, toàn diện, tiêu biểu và đây ấn
tượng tung ra
dưới bút lực đồi dào, sắc sảo của Bác Mọi phương diện đời
sống xã hội Việt Nam đều in dấu tội ác của thực đân Pháp: về chính trị, chúng
cướp nước ta, thủ tiêu quyền được tự do, dân chủ, chia cắt cơ thể thống nhất đất
nước thành ba chế độ, ngăn cản khối đoàn kết dân tộc: về kinh tế, chúng
bóc lột dân tœ đến tận xương tủy, kìm hãm nền kinh tế dân tộc trong vòng què
quặt, lạc hậu; về
quân sự, chúng đàn áp nhân dân ra dã man, không những
không bảo hộ nước
ta mà còn bén nước ta hai lân cho Nhật Từng câu, từng
chữ, bên cạnh những thuật ngữ chính trị còn ám ảnh, nhức nhối đến sâu thẳm
như dồn nén bao căm
giân, ẩn đằng sau đó là sôi trào máu và nước mắt thấm đầu ngòi
bút Mỗi câu vang lên đanh thép, chất chứa hờn căm như những lời tuyên
xương tủy Nỗi đau đã lặn vào trong và từ trái tim yêu
thương, nhân đạo tha
thiết, từ tấm lòng đau đớn như bị cứa những vết dao sắc của
Bác bật lên những
hình ảnh giàu sức gợi cảm, ngắn gọn, chính xác: chúng
tắm các cuộc khởi nghĩa
của ta trong những bể máu Ta nghe trong lời của Bác âm
vang tiếng nói của
cha ông - tiếng nói căm hờn tội ác trời không dung,
đất không tha của kẻ thù
khi chúng:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai va
(Bình Ngô đại cáo — Nguyễn Trãi)
Với nét bút hiện thực sắc sảo, giàu giá trị thẩm mĩ, bản tuyên
ngôn rat ham
súc, đã vẽ lên bức tranh một thời kì lịch sử đau thương
của dân tộc với những
gam màu xám lạnh trên nên máu và nước mắt kéo dai tw
Quảng Trị đến Bắc
bì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói Những trang văn
ấy lay động mạnh
mẽ tâm hồn người đọc, là bằng chứng xác thực không thể chối
cãi được, tạo lí
11
RG/Chpr|
Trang 9lẽ lật tẩy bộ mặt tàn bạo của thực dân Pháp, đi ngược lại truyền thống văn hóa
của nước Pháp, của nhân loại Đằm sâu trong những trang văn day dứt ấy là
tâm hôn nhân đạo cao cả của Hồ Chí Minh - người đã đói mọi cơn đói ngày
xưa, người đã chết hơi triệu lên năm đói bốn lăm khủng khiếp (nhà thơ Cuba
A Rôđờrig hết) Cảm xúc quyện hòa với lí trí tạo nên sức mạnh chiến đấu sắc
sảo của văn phong chính luận Hồ Chí Minh
Để khẳng định trước công luận quốc tế nền độc lập tự do của dân tộc Việt
Nam, Tuyên ngôn Độc lập rất độc đáo và chặt chẽ khi tạo nên thế đối lập giữa
thực dân Pháp và dân tộc ta Nếu như khi Nhật đến, Pháp bộc lộ rõ bản chất
đê hèn quỳ gối đâu hàng, mở của nước ta rước Nhật, khi Nhật đảo chính thực
dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng, thì nhân dân ta anh dũng vùng lên quật
khởi Âm hưởng ngợi ca trào lên điệp khúc sự ¿hát láy di lay lại như tô đậm,
khắc tạc hình ảnh dân tộc bất khuất, anh hùng Không những thế, nhân dân ta
còn nhân đạo ngay cả đối với kẻ thù
Đập lại luận điệu của thực dân Pháp, Đông Dương là thuộc địa của thực dân
Pháp và chúng có quyền trở lại Đông Dương là những khẳng định đanh thép —
khẳng định bằng chân lí của sự thật: Sự ¿hệt là từ mùa thu năm 1940, nước ta
đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa Sự
thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chú không phải từ tay
Pháp Rõ ràng luận điệu xảo trá của thực dân Pháp đã bị đập tan bằng lí lẽ,
bằng chứng xác đáng, đầy thuyết phục
Từ sự đấu tranh kiên cường của dân tộc tất yếu gặt hái được những kết quả
chân chính: nước Việt Nam có quyền hưởng tự do va độc lập uò sự thật đã
thành một nước tự do, độ tuyên ngôn thắt buộc các nước Đồng minh
khẳng định Việt Nam đã gun só+ đứng uê phe Đông mình chống phát xit mấy
năm nay (trong khi thực dân Pháp đầu hàng phát xít Nhật) một lần nữa lại
chặn đứng âm mưu của các nước đế quốc Những câu văn khẳng định: chứng tôi
tin rằng hoặc phủ định của phủ định quyết không thể không thể công nhận
quyền độc lập của dân tộc Việt Nam, những câu văn với kết cấu song hành: mộ
đân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã
gan góc đứng uề phe Đông mình chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải
được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Tạo nên những điệp khúc âm vang,
vừa hào hùng vừa đanh thép Bản tuyên ngôn kết thúc với câu móc xích trùng
điệp: Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do uè dộc lập, uà sự thật đã
thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả
tình thân uà lực lượng, tính mạng uè của cải để giữ uững quyền tự do, độc lập
ấy Cau nói như chạm khắc ý chí sắt đá giữ vững nền độc lập của dân tộc ta
trên những trang văn - trang sử vàng của dân tộc Tác phẩm kết lại cũng
chính là mở đầu một thời kì mới đấu tranh giữ vững chủ quyền đất nước
Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh xứng đáng là áng văn chính luận mẫu
mực của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới Với hệ thống lập luận chặt chẽ,
đi từ ràng buộc này đến ràng buộc khác, với hệ thống luận cứ toàn diện, kết
cấu trùng điệp, văn phong sắc sảo, bản tuyên ngôn hướng đến nhiều đối tượng
DO.Copy
Trang 10với nhiều giọng điệu khác nhau, tha thiết, sâu lắng yêu thương với quốc dân
đồng bào; đanh thép, rắn rỏi cảnh tỉnh, bác bỏ lí lẽ bọn đế quốc, thực dân phản
động; trang trọng tự th tuyên bố độc lập trước công luận quốc tế Tác phẩm
thuyết phục người đọc bởi hệ thống lập luận khoa học, xác đáng, hơn nữa đi
vào lòng người bằng vẻ đẹp văn chương gợi cảm, giàu tính thẩm mĩ Bản tuyên
ngôn thừa kế các áng tuyên ngôn độc lập của cha ông ta, đồng thời thổi vào đó
hơi thở của thời đại mới giàu chất trí tuệ, sắc sảo, hấp dẫn
Tạo nên áng văn chính luận mẫu mực ấy là tư tưởng, trí tuệ Hồ Chí Minh,
một tầm văn hóa sánh ngang tỉnh hoa nhân loại Với cái nhìn sáng suốt, tỉnh :
táo, thấu suốt bản chất của kẻ thù, Bác đã vận dụng linh hoạt, khéo léo thể
văn chính luận để lật tẩy bộ mặt kẻ thù, đập tan luận điệu giả dối của chúng
Với cái nhìn yêu thương, chủ nghĩa nhân đạo trí tuệ của người cộng sản, những
trang văn của Bác thấm nhuần tư tưởng yêu nước, nhân ái của dân tộc, ca ngợi,
tự hào sức mạnh quật cường của dân tộc và sâu sắc hơn, khơi dậy ngọn lửa đấu
tranh vì quyển lợi chính đáng của nhân loại, của các dân tộc trên thế giới Tâm
văn hóa lớn, những trải nghiệm bản thân đã giúp Bác duc kết nên chân lí của
dân tộc, lịch sử và thời đại Không có gì quý hơn độc lập, tự do Tư tưởng Hồ
Chí Minh còn sáng mãi như ngọn đuốc soi đường cho con người tiến lên xã hội
văn minh, tiến bộ
Với tầm tư tưởng, tắm văn hóa lớn ấy, Tuyên ngôn Độc lập không có dung
lượng đồ sộ như những tác phẩm lớn trên thế giới mà ngược lại, tác phẩm rất
ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết Ngắn gọn trong số lượng câu, chữ của tác
phẩm, có thể đếm được Trong sáng giản dị với những từ thuân Việt vừa chính
xác, vừa hình tượng - câu văn hàm súc, cô đọng mà gợi mở nhiều lớp nghĩa,
nhiều mã số Ví như một câu trong bản tuyên ngôn: Pháp chạy, Nhật hang, vua
Bảo Đại thoái uị Câu văn chỉ có bảy tiếng mà đã đi trọn 100 năm lịch sử, khái
quát những sự kiện trọng yếu của dân tộc Sự thật lịch sử gợi lên trước mắt
người đọc với không khí sử thi hoành tráng, không khí vùng lên quật khởi của
dân tộc và tư thế của kệ thù, tay sai bán nước Những câu Văn ngắn gon nhưng
lại hàm chứa năng lượng thẩm mĩ lớn khi miêu tả tội ác đẫm máu của kẻ thù,
rung động lòng người cớứi đẹp nằm ngay trong sự giản dị, Tuyên ngôn Độc lập,
súc tích nhưng dồn nén bao giá trị tư tưởng, nghệ thuật cũng như ý nghĩa lịch
sử to lớn của dân tộc ta trong mùa thu lịch sử
Trước Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, ta đã c6 bai tho thdén của Ly
Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Những áng tuyên ngôn ấy
khắc chữ vàng trên bia| đá lịch sử muôn đời những mốc son rực rỡ của dân tộc
Việt Nam qua nhiều thé ki đấu tranh vì độc lap, tu do, uì nhân quyền uờ dân
quyền của dân tộc uà của nhân loại Có thể nói Tuyên ngôn Độc lập là kết tỉnh
truyền thống yêu nước của dân tộc và tỉnh thần của thời đại mà lắng mình
trong đó, ta có thể nghe thấy lời non nước, tiếng của ngày xưa uà tiếng của mưi
sau (Tố Hữu) Tác phẩm tiêu biểu cho văn phong chính luận sắc sảo, giàu tính
chiến đấu, đồng thời thể hiện phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh ngắn gọn
giản dị mà hàm súc, sậu sắc, kết hợp dân tộc và thời đại, thấu tình đạt lí
18 DO Gppy
Trang 11Người đọc không chỉ thấy được một cây bút nghệ thuật tài năng, trí tuệ mà còn
bắt gặp, yêu thương tâm hồn nhân đạo cao cả của Hồ Chí Minh
Lịch sử đã lùi xa, nhưng mỗi lần đọc lại bản Tuyên ngôn Độc lập của Bác, ta
lại thấy hiện lên buổi sáng Ba Đình lịch sử với cờ hoa, nắng vàng rực rỡ, với
bầu trời thu xanh lồng lộng và hình ảnh người cha già kính yêu của dân tộc
Bác đứng đó, với mái đầu bạc gần gũi, với giọng nói trầm ấm mà âm vang cả
sông núi, đất trời, và chỉ một câu hỏi fôi nói đông bào nghe rõ không?, tâm hồn
ta đã rung lên hòa điệu trong điệu hồn muôn người, điệu hồn dân tộc Tuyên
ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử có giá trị muôn đời, không chỉ đối với sự
nghiệp cách mạng dân tộc mà còn đóng góp cho tỉnh hoa nhân loại trí tuệ, tâm
hồn Hô Chí Minh Tác phẩm mãi mãi được gìn giữ, trân trọng bởi giá trị nghệ
thuật và tư tưởng sáng đẹp của Người
(Nguyễn Tuyết Nhung
Trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong)
ĐỀ BÀI: Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
trịnh trọng tuyên bố rằng: Nước Việt Nam có quyền hướng tự
do va độc lập, uà sự thật đã thành một nước tự do, độc lập
Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tình thân uè lực
lượng, tính mạng uà của cải dé giữ uững quyền tự do, độc lập
ấy Dựa trên những hiểu biết về tác phẩm Tuyên ngôn Độc
lập, anh chị hãy phân tích đoạn văn trên để làm sáng tỏ
những tư tưởng lớn của Người
BÀI LÀM
Cách mạng tháng Tám thành công Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba
Đình, trước hơn nửa triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ
Lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Áng văn này mang ý nghĩa lịch sử vô
cùng trọng đại: tuyên bố thủ tiêu vĩnh viễn chế độ thực dân - phong kiến trên
đất nước ta, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ
nguyên độc lập, tự do của dân tộc
Két thúc bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng
tuyên bố: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do à độc lập, uà sự thật đã thành
một nước tự do uè độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tỉnh
thân uà lực lượng, tính mạng uò của cải để giữ uững quyền tự do, độc lập ấy
Một lời tuyên bố đanh thép và hùng hồn, đã kết tỉnh một cách sáng ngời
những nội dung cơ bản của Tuyên ngôn Độc lập
Trước hết Hồ Chủ tịch khẳng định Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do uà
độc lập, uà sự thật đã thành một nước tự do uè độc lập vì đó là điều phù hợp
với đạo lý và pháp lý Đất nước và con người Việt Nam cũng như tất cả mọi
quốc gia, mọi dân tộc và mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng ( ) có
quyền được sống, quyền tự do uà quyền mưu cầu hạnh phúc (Tuyên ngôn Độc
lộp năm 1776 của nước Mỹ) Nước Việt Nam có quyền hưởng tu do va déc lap,
14
DO @ppy
Trang 120à sự thật đã thành mật nước tự do uà độc lập bởi lẽ người ta sinh ra tu do va
bình đẳng oề quyên lợi, uà phải luôn luôn được tự do uè bình đẳng uề quyên tợi
(Tuyên ngôn Nhân điền va Dan quyền của Cách mạng Pháp năm 1791)
Từ nhân quyển, Hồ Chí Minh da suy réng ra, nói đến quyển tự quyết của
mọi dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc
nào cũng có quyền sống| quyền sung sướng uà quyền tự do Lễ phải ấy không ai
chối cãi được và vô cùng thiêng liêng Sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp thống
trị, lời tuyên bố Nước Vie Nam có quyên hưởng tự do uà độc lập, uà sự thật đã
thành một nước tự do uè độc lập biểu lộ niềm tự hào dân tộc và khát vọng độc
lập, tự do của đất nước i con ngudi Viét Nam
Cách mạng tháng Tấm thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời, uờ sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Đó là một thực tế lịch sử
không ai chối cãi được Hồ Chủ tịch đã vạch trần những tội ác dã man về chính
trị, kinh tế của thực dân Pháp đối với dân tộc ta suốt 80 năm trời Chúng áp
bức, bóc lột nhân dân tả đến tận xương tủy khiến eho ta nghèo nàn, thiếu thốn,
nước ta xơ xác, tiêu điều Thực dân Pháp đã tước đoạt tự do, dìm nhân dân ta
vào máu và nước mắt trong đêm trường nô lệ: chúng lập ra nha tu nhiéu hơn
trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của
ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu Thực dân Pháp
chỉ trong vòng ð năm đã gây ra nạn đói năm Ất Dậu (1945) làm cho hơn hai
triệu đồng bào ta bị chết đói Trước khi thua chạy (9-3-1945), thực dân Pháp
còn nhẫn tâm giết nốt 2: đông tù chính trị ở Yên Bái, Cao Bằng
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do uà độc lập, uà sự thật đã thành một
nước tự do uà độc lập Đó là lẽ phải, là sự thật không ai chối cãi được Cách
mạng tháng Tám bùng nổ và thắng lợi, dân tộc ta đã lấy lại nước Việt Nam từ
tay Nhật, chứ hhông phải từ tay Pháp Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời khi ba kẻ thù bị lật đổ, nhưng đều bị thất bại Pháp chạy, Nhật hàng, uua
Bảo Đại thoái uị Độc lập tự do là thành quả đấu tranh và cách mạng bản bỉ,
gan góc lâu dài của dân tộc ta:
Một dân tộc đã gan “óc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một
dân tộc đã gan góc đúng uê phe Đồng mình chống phát xít mấy năm nay, dân
tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là một sự thật lịch sử, nên Hồ Chủ
tịch mới tuyên bố một cách đanh thép và hùng hồn: Tuyên bố thoát ly hẳn
quan hệ thực dân uới Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký uề nước
Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyên của Pháp trên đất nước Việt Nam
Độc lập tự do là khát vọng, là ý chí của đất nước và con người Việt Nam, của
dân tộc Việt Nam Lời tuyên bố vang lên như một lời thể thiêng liêng làm chấn
động lòng người: Toàn đhể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả lực lượng, tinh
mạng uà của cải để giữ lag quyền tự do, độc lập ấy
Cụm từ Toàn thể dân tộc Việt Nam nói lên sức mạnh đại đoàn kết, triệu
triệu con người Việt Narh kết thành một khối mà không có một kẻ thù bạo tàn
nào có thể khuất phục được! Tụ do hay là chết, dù phải đốt cháy cả dãy Trường
189 Copy
Trang 13Sơn cũng phải giành lại nên độc lập Quyết tâm ấy được Hồ Chủ tịch tuyên bố
đanh thép hùng hồn Triệu triệu con người Việt Nam quyết đem tết cả tỉnh
thân uà lực lượng, tính mạng uè của cải để giữ uững quyền tự do, độc lập ấy
Lời tuyên bố của Hồ Chủ tịch là lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với thực dân
Pháp đang âm mưu tái chiếm Việt Nam một lần nữa, đồng thời kêu gọi toàn thể
dân tộc Việt Nam sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc Ba
mươi năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta được thể hiện
một cách hùng hồn lời tuyên bố mạnh mẽ ấy Đó là khát vọng, là ý chí sắt đá về
độc lập tự do của dân tộc ta, của nhân dân ta Một lần nữa, Người lại tuyên, bố:
Ching ta tha hi sinh tét cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19-12-1946)
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên
ngôn Độc lập: Những chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc ta đã trải qua
rất đáng tự hào: Cách mạng tháng Tám thành công - chiến thắng Điện Biên
Phủ oai hùng - Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng —- Non sông liền một dải,
Bắc Nam sum họp một nhà
Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng là một áng thiên cổ hùng uăn Nó đã kế tục
truyền thống vinh quang của Nơnn quốc sơn hè của Bình Ngô đại cáo Nó là lời
non nước cao cả và thiêng liêng, thể hiện sâu sắc tư tưởng vĩ đại: Không có gì
quý hơn độc lập tự do, biểu lộ ý chí uò sức mạnh Viét Nam
Đọc đoạn văn cuối của bản Tuyên ngôn Độc lập, chúng ta càng thấm thía tự
hào về độc lập, tự do mà dân tộc ta đã giành được bằng xương máu của bao thế
hệ, của bao anh hùng liệt sĩ
ĐỀ BÀI: Phân tích và nêu cảm nhận của em về bài Nguyễn Đình
Chiểu, ngôi sao súng trong uăn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng
BÀI LÀM
Năm 1963, ngọn lửa cách mạng miền Nam bùng cháy ngút trời Quân và
dân ta từ đấu tranh chính trị chuyển sang vũ trang chống đế quốc Mỹ và bè lũ
tay sai bán nước, ngày một trở nên dữ dội và quyết liệt
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Đảng và Chính phủ đã long trọng tổ chức lễ kỉ
niệm 7ð ngày mất của nhà thơ Đồ Chiểu (3-7-1968) tại Nhà hát Lớn Hà Nội
Bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong uăn nghệ của dân tộc của Phạm
Văn Đồng viết trong dịp ấy, đăng trên Tạp chí Văn học, tháng 7— 1963
Có thể coi bài nghị luận này là một chân dung văn học rất đặc sắc viết về nhà
thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỷ XIX
Mở đâu bài văn, Phạm Văn Đồng lấy hình ảnh ngôi sao để ca ngợi tầm vóc
của Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ lớn của nước ta Tác giả chỉ rõ trong lúc này
nghĩa là khi cả dân tộc ta bước vào một cuộc chiến đấu mới chống đế quốc Mỹ
và bè lũ tay sai bán nước, thì phải làm cho ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu sáng
tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc
DO Gepy
Trang 14Tác giả nói về cách nhìn sao trên bầu trời là phải chăm chú nhìn thì mới
thấy, uò càng nhìn cùng thấy sáng; và đối với văn thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng
vậy Ông chỉ ra sự phiến diện, thiên lệch của độc giả lâu nay: Có người chỉ biết
Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên, uù hiểu Lục Vân Tiên khá
thiên uề nội dung uà uăn, còn rất ít biết tho van yeu nude cla Nguyễn Đình
Chiểu Cách phản bác và biện luận của Phạm Văn Đồng vừa ôn tồn ở cách
nói, vừa sắc sảo ở lí lẽ, nên có giá trị thuyết phục cao
Tác giả khẳng định thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu /ờ những
trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân đân ta chống bọn xâm
lược Tây ngay buổi đâu lúc chúng uừa đặt chân lên đất nước chúng ta Tác
phẩm của Đồ Chiểu ngoài những giá trị uăn nghệ, còn quý ở chỗ nó soi sáng
tâm hôn trong sang va cao quý lạ thường của tác gid, uù ghỉ lại lịch sử cla mot
thời khổ nhục nhưng uĩï dai!
Pham Văn Đồng đã nhắc lại hai câu thơ: Sự đời thà khuất đôi tròng thịt -
Lòng đạo xin tròn một tấm gương! để ca ngợi khí tiết nhà thơ của đất Đồng
Nai vô cùng cao cổ, rạng rỡ
Cách trích dẫn thơ văn và những nhận xét đánh giá của tác giả về Nguyễn
Đình Chiểu thật sâu sắc, xác đáng: Thơ uăn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ van
chiến đấu, đánh thẳng uào giặc ngoại xâm va tôi tớ của chúng: hoặc Nguyễn
Đình Chiểu coi việc viết văn la một thiên chức vi vậy ông khinh miệt bọn lợi
dụng uăn chương để làm uiệc phi nghĩa
Phân thứ hai của bài viết, Phạm Văn Đông đi sâu phân tích, bình luận hai kiệt
tác của Nguyễn Đình Chiểu là Văn ¿ế nghĩa sĩ Cân Giuộc và truyện Lục Vân Tiên
Tác dụng của thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu mang tầm lịch sử to
lớn, đã làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh
liệt oà bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 vé sau, suốt hai mươi năm trời
Văn tế là một phần lớn thơ văn yêu nước của Đồ Chiểu Những bài văn tế
như Văn tế Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ Cân Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ trận uong
Lục tỉnh, theo Phạm Văn Đồng là đã cơ ngợi những người anh hùng suốt đời
tận trung uới nước, uà than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa uới nhân
dân Những bài văn tế ấy là “âm hôn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã
diễn tả một cách sinh động uà não nùng, cảm tình của dân tộc đối uới người
chiến sĩ của nghĩa quân, uốn là người nông dân, xưa chỉ quen cày cuốc bỗng
chốc trở thành người anh hùng cứu nước”
Bên cạnh một số trích dẫn chọn lọc trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nói
về nguồn gốc xuất thân, tính cẩn cù, lòng yêu nước, tỉnh thần chiến đấu quả
cảm của người chiến sĩ |nghĩa quân, Phạm Văn Đồng đã so sánh bài cơ của
Nguyễn Đình Chiểu với bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi: Hơi bai van:
hai cảnh ngộ, hai thời buổi nhưng một dân tộc Bài cáo của Nguyễn Trãi là
khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công oanh liệt chua từng thấy, biểu
dương chiến thắng làm tạng rỡ nước nhò Bài “Văn tế nghĩa sĩ Côn Giuộc” là
khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng uẫn hiên ngang: Sống đánh
giặc, thác cũng đánh giặc muôn biếp được trả thù kia
1O Sopy
Trang 15; 18
Với cách lập luận chặt chẽ, cách chứng minh sáng tỏ sau khi dẫn tiếp bài
Xúc cảnh tác giả cho biết, con người Nguyễn Đình Chiểu, thơ văn Nguyễn Đình
Chiểu không phải là những trường hợp hi hữu; phong trào kháng Pháp sôi nổi
và mạnh mẽ lúc bấy giờ ở Nam Bộ iàm nảy nở nhiều nha van, nhà thơ tài
năng xuất chúng, bản lĩnh phi thuờng mà tác phẩm là những bông hoa của một
thời oanh liệt uà đau thương: Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa,
Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Văn Lạc, Nguyễn Hữu Huán, Hô Huân Nghiệp
Phần tiếp theo Phạm Văn Đồng nêu lên một vài nhận xét về truyện Lực
Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu Tác giả cho rằng Lục Vân Tiên là ứáe phẩm
lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu, rất phổ biến trong dân gian, nhất là ở miền
Nam Lực Vân Tiên là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức
đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa! Các nhân vật như Lực
Vân Tiên, Nguyệt Nga, Tiểu đông là những người đáng kính, đáng yêu, trọng
nghĩa, khinh tài, trước sau một lòng, mặc dầu khổ cực, gian nguy, quyết phấn
đấu vì nghĩa lớn; họ gần gũi chúng ta và câu chuyện của họ làm chúng ta cảm
xúc và thích thú
Về văn chương, theo tác giả thì Lục Vân Tiên là một chuyện kể, chuyện nói;
văn nôm nơ là dụng ý của nhà thơ, nhằm truyền bá rộng rãi trong dân gian Có
một ít sơ sót về văn chương do cảnh ngộ éo le của nhà thơ nên khó sửa chữa uà
duyét lại nguyên bản Phạm Văn Đồng dẫn ra một vài câu thơ Lục Vân Tiên và
ông cho biết ông thuộc lòng nhiều uần thơ rất hay:
Kim Liên ơi hỡi Kim Liên
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê
Đánh giá truyện thơ này của Đồ Chiểu, tác giả nói: Trong dân gian miễn
Nam, người ta thích Lục Vân Tiên, người ta say sưư kể Lục Vân Tiên, không
chỉ uì nội dung câu chuyện, còn uì uăn hay của Lục Vân Tiên
Phần cuối văn bản, là sự đánh giá tổng quát về cuộc đời và sự nghiệp của
Nguyễn Đình Chiểu Nếu bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong uăn nghệ
của dân tộc là một tấm đá hoa cương thì câu văn sau đây là những chữ vàng
óng ánh khắc trên tấm đá hoa cương ấy:
Tóm lại, Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của
nước ta Đời sống uà sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng,
nêu cao địa uị uà tác dụng của uăn học, nghệ thuột, nêu cao sứ mạng của người
chiến sĩ trên mặt trận uăn hóa tư tưởng
Qua bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong uăn nghệ của dân tộc,
Phạm Văn Đồng đã thể hiện một văn phong uyển chuyển, tỉnh tế và phong
phú Lý lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ, bình luận gắn kết với chứng minh, mà
trích dẫn nào cũng chọn lọc, sáng tỏ, đầy sức thuyết phục
Tác giả đã dành những lời tốt đẹp nhất ca ngợi nhà thơ lớn của đất Đồng
Nai với lòng biết ơn và tự hào sâu sắc
Bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong uăn nghệ vủa dân tộc là một
bài nghị luận mẫu mực về tác giả và tác phẩm văn chương, nêu lên nhiều bài
học quý báu, tốt đẹp cho thanh niên học sinh chúng ta
56 €ber
Trang 16
BALLAM
€ó một bài ca không bao giờ quên Vâng! Đó là những năm tháng hào hùng
day khí thế của dân tộc| ta trong cuộc đấu tranh chống Pháp, chống My vi dai
Và xây lên những bản tình ca không thể nào quên ấy là những người lính — con
người đẹp nhất của thời đại, người con trung hiếu của nhân dân Cho nên chúng
ta không ngạc nhiên khi thấy văn học giai đoạn 1945-1975 lại có nhiều tác
phẩm viết về người lính đến vậy Nhưng có lẽ để lại ấn tượng sâu nhất trong
lòng người đọc đó là hình tượng người lính trong kháng chiến chống Pháp ở bài
thơ Tây Tiến
Trong lần in thứ hai, Quang Dũng đã bỏ đi chữ Nhớ ở nhan đề, tên bài thơ
mới còn như hiện nay là Téy Tiến Có phải chỉ sợ bị thừa không? Còn lí đo
khác: Sợ lộ để và hẹp nghĩa Nhớ Tây Tiến là xoáy vào tâm trạng, nỗi niềm
riêng của cá nhân Còn Tay Tiến khái quát hơn, nó muốn thâu tóm cả đất trời
Tây Tiến, cả một thời Tây Tiến vào một bức tranh toàn cảnh hoành tráng, hào
hùng mà trữ tình, thơ mộng
Trong bức tranh ấy, cả những chi tiết nhỏ nhất cũng thấm đượm, bao bọc
chan hòa bởi một nỗi nhớ dằng dặc và da diết Có khi chơi vơi, có khi kêu thốt
lên không kiểm chế nổi Nhớ ôi Tây Tiến ngay từ câu đầu tiên người đọc đã
bị cuốn vào nỗi nhớ: Sông Ma xa roi, Tây Tiến ơi Ñó vang lên như một tiếng
kêu tiếc nuối vọng qua không gian, dội vào tâm tưởng Chưa có hình ảnh nào,
và bảy chữ đã tới bốn địa danh Nhưng kể từ nay nó không còn là những địa
danh trung tính, vô cảm, vô can trên bản đồ nữa Những chữ ấy cất giữ cho
Quang Dũng cả quãng đời Nó là tiếng vọng thăm thẳm của quá khứ không
chịu ngồi yên trong tâm can thi sĩ hông có nỗi nhớ này, vốn ấn tượng về
cảnh miền Tây, về ngư} Tây Tiến vẫn bảo lưu trong tâm khảm không thể trở
day để hóa thành hình tượng thơ sony: dong va dm ảnh được
Nỗi nhớ ấy làm sống dậy hình tượng, còn hình tượng làm cho nỗi nhớ ấy có
hình có khối Cả hai thẩm đượm và chuyển hóa vào nhau đem lại cho tác phẩm
sự — sống - thơ Khiến cho toàn bài là một sức vóc căng đây, săn chắc cường
tráng, không chỗ nào nà lép Cảnh đây sinh khí, vẻ đẹp của cảnh và người là
một sự hài hòa sống động của rất nhiều đối cực Dường như sự hiện diện của
con người làm cho các mặt tươag phảa, đối chọi của thiên nhiên châu tuần lại
xâm nhập và chuyển hóa vào nhau Cảm quan của Quang Dũng dường như tập
trung vào việc khai thác, tổ chức theo nguyên tắc đối xứng Và đây chính là
hình ảnh độc đáo của chỉnh bài thơ này
Tây Tiến là một thế giới nghệ thuật sẽ còn giữ mãi trong lòng nó bầu khí
quyển của một thời lịch sử, của cái thủa ban đầu dân quốc ấy Người Tây Tiến
là những chàng “*ai chứa trắng nợ anh hùng mang cái chí nam nhi của thời
loạn, đã xếp bút nghiên ra sa trường Họ coi gian nan là nợ anh hùng phải vay,
nên sẵn sàng dấn thân đương đầu với mọi gian nan thử thách trong hàng binh
19, %O Copy
Trang 17trận mạc Nhớ về họ là nhớ về nhưng con người kiêu dũng mà tình tứ, vừa có
chí anh hùng vừa mang hôn nghệ sĩ Và tất nhiên đó cũng phải là cái nhớ của
cái tôi rất là Tây Tiến — nghĩa là thật hào hùng và cũng thật hào hoa
Cảnh trí miền Tây dường như được tạo hình theo lối truyền thống: Thi trung
hữu hoa va thi trung hữu nhạc Một miền Tây thật mông lung, âm u nhưng
cũng thật mơ mộng, thi vị, ngày không ánh mặt trời, đêm không trăng sao Tất
cả là bóng chiều và màn đêm
Chiều chiêu oai linh thác gầm thét đêm đêm Mường Hịch, chiều sương ấy,
đêm hơi, đêm mơ Hà Nội, đêm hội đuốc hoa Tất cả chan đầy mưa núi sương
rừng Câu thơ Sời Khao sương lấp đoàn quân mỏi - Mường Lát hoa uề trong
đêm hơi đẹp một cách hư thực, dường như đó là hình sắc nhòe mờ của đóa hoa
rừng hiển hiện trong hơi sương Trong tính cộng hưởng của ngôn từ thơ, những
từ chơi voi, Sai Khao, suong lap, mdi, hoa vé, dém hơi đã giao thoa hội nhập
với nhau, phủ lên rừng miền Tây một bức màn mờ ảo Một miền Tây nhòe mờ
kiểu tranh lụa, cũng là một miền Tây hiểm trở và hùng vĩ, góc cạnh và gân
guốc của điêu khắc Sự tương phản gay gắt này lại làm nên tính đối xứng
Những khối núi non chất ngất, lởm chởm như muốn đâm toạc cả chân mây
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm - Heo hút cồn mây súng ngửi trời - Ngàn
thước lên cao ngàn thước xuống câu thơ như nhát khắc kì vĩ đầy mãnh lực tạc
vào thiên nhiên Một miền Tây bí hiểm đầy hung khí của một miền đất dữ; với
oai linh thác gầm thét, cọp trêu người; cũng lại một miền Tây đằm thắm tình
người: Nhớ ôi Tây Tiên cơm lên khói - Mai Châu mùa em thơm nếp xôi; cũng
là một miần thơ: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy - Có thấy hôn lau nẻo bến
bờ - có nhớ dáng người trên độc mộc - Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Cứ
thế các đối cực của một xứ sở đã hài hòa cùng với sự có mặt của con người Tây
Tiến vừa đậm nét lên, vừa chuyển hóa vào cảnh vật: thiên nhiên và con người
soi chiếu lẫn nhau, đến mức không thể tách rời
Bài thơ được lặp tứ theo bước chân của người Tây Tiến Núi rừng miền Tây
và cuộc vạn lí trường chinh Tây Tiến này thật thiên nạn, vạn nan, cố tình
giăng ra biết bao thử thách, bất cứ lúc nào cũng bẻ gãy ý chí của họ Họ cứ lần
lượt vượt qua sự hiểm trở của lộ trình, oai linh của rừng thiêng nước độc, sự
rình mò của thú dữ, sự dãi dầu thân xác trong nơi lam sơn chướng khí và
trong mạch cấu tứ, trong cuộc hành trình của ý chí, thử thách cuối cùng, ngọn
lửa thử vàng cuối cùng là cái chết Tất cả đều không làm cho họ mềm chi Doc
theo hành trình vẻ đẹp hào hoa kiêu dũng cứ lấp lánh dần lên, đến khi người
Tây Tiến đối mặt với dịch bệnh, đối mặt với cái chết thì nó thật ngời chói, nét
nào cũng sắc sảo lạ lùng và đây lãng mạn 7y Tiến đoàn binh không mọc tóc
- Quân xanh màu lá dữ oai hùm Áo bào thay chiếu anh uề đất - Sông Mã
gầm lên khúc độc hành Chữ nghĩa của Quang Dũng thật tài hoa Ở đây, cũng
đoàn quân ấy thôi nhưng ông dùng đoàn binh, gợi hình ảnh đoàn chiến binh có
vũ khí, có khí thế xung trận, át đi được vẻ ốm yếu của bệnh tật Ba chữ không
mọc tóc đảo thế bị động thành chủ động Không còn đoàn quân bị sốt rét rừng
làm tiểu tụy đi, rụng hết cả tóc Trong giọng điệu của nó, cứ y như là không
Trang 18
thèm mọc tóc! Nghe ngang tàng kiêu bạc và thấy cả giọng bốc tếu rất lính
tráng Ở đây, người lính Tây Tiến được để cập đến tất cả thực trạng mệt mồi,
dễ sợ: Đoàn quân mỏi, dãi dâu, không bước nữa, gục trên súng mũ, thác gầm
thét, cọp trêu người, mô uiễn xứ, áo bào thay chiếu, vé đất nhưng đồng thời,
họ cũng khắc họa rất sâu vẻ kiêu hùng ngang tàng bằng một giọng bất cân: Bỏ
quên đời, không mọc tóc, chẳng tiếc đời xanh, không hẹn ước, chẳng uề xuôi
toàn những cụm từ bộc lộ thái độ kiên định, sắt đá Các chữ không mọc tóc, dữ
oai hùm, mắt trừng nói cái dữ dăn, hoang dã và bạo liệt Nhưng đêm mơ Hà
Nội dáng kiều thơm lại rất tình tứ hào hoa Nghĩa là dịch bệnh đã phải bó tay
trước sức sống dẻo dai của những người lính đa tình này Cái chết là cái đe dọa,
sự khủng bố tỉnh thần thường xuyên Rẻi rác biên cương mô uiễn xứ, chữ dùng
có vẻ lãng mạn, nhưng lại chứa đựng một thực tế đáng ngại, một ám ảnh
Nhưng câu thứ hai vang lên như một lời thể; Chiến trường đi chẳng tiếc đời
xanh, đúng là giọng của một trượng phu coi cái chết nhẹ như lông hồng! Áo bào
thay chiếu anh uê đất - Sông mã gâm lên khúc độc hành đã đẩy vẻ kiêu hùng
lên đến cực điểm Hai chữ áo bào lấy từ văn học cổ để tái tạo ở đấy một vẻ đẹp
tráng sĩ, làm mờ đi thực trạng thiếu thốn, khốn khổ ở chiến trường Nó cũng
gợi được hào khí của chí trai thời loạn, sẵn sàng chết giữa sa trường lấy da
ngựa bọc thây Chữ uề nói thái độ nhẹ nhõm, ngạo nghễ của người tráng sĩ di
vào cái chết Đúng ra là áo sờn thay chiếu anh vùi đất Nhưng nếu nói hiện
thực quả như vậy thì còn đâu là vẻ lãng mạn rất riêng của Tây Tiến, Quan
Dũng là một cây bút dùng các địa danh Địa danh nào cũng được khơi day mot
chất thơ bí mật mà dường như chỉ có ông mới có thể nắm bắt được để đưa vào :
như một ngôn từ đắc dụng 6 đây, dòng sông Mã đã hóa thành con chién m
trung thành chứng khiến cái chết của người tráng sĩ, nó gẩm lên khúc độ
bi phẫn, làm chấn động cả một chốn hoang sơ Tiếng gầm ây như lời tiễn chào
những người lính xấu số đã về với cát bụi Câu thơ có cái không khí của chiến
trận của các bản anh hùng ca thời cổ Thơ nói cái bi mà vẫn hùng là như thế
Tính đối xứng là nguyên tắc tổ chức của cấu tứ và của hình tượng, cũng
nguyên tắc tổ chức của ngôn từ trong Táy Tiến, nó được G Đũng thể hí
một cách uyển chuyển Các câu thơ, các đoạn thơ, thậm chi cdc vé cau thud
được tổ chức thành từng cặp song hành, khi thì tương đồng, khi thì tương phản,
chúng bổ sung cho nhau tạo ra một sự cân bằng day tính tạo hình trong cảm
xúc lẫn hình tượng: Sài Khao sương lấp ! Mường Lát hoa Chiều chiều coi
lỉnh ! dốc thăm thẳm, Ngàn thước lên caol ngàn thước xuống Về nhạc điệu,
Quang Dũng cũng tổ chức theo nguyên tắc đối xứng này Bên cạnh những câu
thơ đầy nét nhạc dày đặc những thanh trắc là những câu thơ như một chuỗi
thanh bằng, cái trúc trắc nặng nhọc được cân bằng bởi cái nhẹ nhõm, lâng
lâng: Dốc lên khúc khuju đốc thăm thẳm! Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Mai
Châu mùa em thơm nếp xôi| Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Tính đối xứng
vốn là một nguyên tắc của thi pháp uyển chuyển, đem lại cho lời thơ, bài thơ
một phong vị cổ điển, mà vẫn rất hiện đại Nó không làm cho bài thơ bị xưa cũ,
trái lại nó giúp Quang Dũng tái hiện và giữ gìn được không khí của một thời có
Trang 19sự giao hòa giữa một nhiệt tình cách mạng mới và cảm quan có phần lãng mạn
về cuộc chiến và sứ mệnh của người lính chiến Và đó là một vẻ đẹp một đi
không trở lại Cho nên Tây Tiến xứng đáng được xem là một đài kỉ niệm bằng
thi ca về con người Việt Nam của một thời đại đây gian lao mà anh dũng
BÀI LÀM
Quang Dũng thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến
chống Pháp như Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung,
Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh, Chính Hữu Quang Dũng nổi tiếng với hai bài
thơ: 7áy Tiến và Đôi mắt người Sơn Tây Bài thơ Tây Tiến được sáng tác vào
năm 1948 khi ông rời đơn vị Tây Tiến và nhớ về kỉ niệm gắn bó một thời với
Tây Tiến.:Đoàn quân Tây Tiến bao gồm hầu hết những thanh niên Hà Nội
hoạt động ở một địa bàn rộng lớn ở vùng núi biên giới Việt - Lào Hào hoa mà
anh dũng
Đoạn đầu của bài thơ hồi tưởng lại những kỉ niệm của một thời chỉnh chiến,
những cuộc hành quân gian khổ với thiên nhiên vừa khắc nghiệt lại vừa hùng
vĩ, thơ mộng:
Sông Mã xa réi Tây Tiến ơi!
Nhớ uê rừng núi nhớ chơi uơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa uề trong đèm hơi
Đốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút côn mây súng ngủi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Quang Dũng chịu ảnh hưởng sâu đậm nhạc điệu của thơ cổ điển Có thể nói
với nhà thơ Quang Dũng, hiện thực là hiện thực kháng chiến (chống Pháp)
được phô diễn bằng một tâm hồn lãng mạn và âm điệu cổ điển Qua hai câu thơ
mở đầu của bài Táy Tiến ta nắm bắt được hồn thơ Quang Dũng:
Sông Mã xơ rôi Tây Tiến ơi!
Nhớ uề rừng núi nhớ chơi uơi
Âm điệu của câu thơ thất ngôn bát cú như từ thời Lí Bạch Tình cảm thì dào
dạt như các nhà thơ lãng mạn thời Thơ mới Có điều là trong dòng thơ hoài
niệm ấy đã xuất hiện một cái tên lịch sử Tây Tiến! Mà đã nói đến Tây Tiến là
phải nói đến sông Mã, con sông hùng vĩ đã chứng kiến những vui buồn của cuộc
đời người chiến binh, là phải nói đến rừng núi với những chặng đường hành
quân cheo leo bên núi cao, bên vực thẩm, đi trong sương mù, trong hương hoa
Nỗi nhớ dâng trào như nỗi nhớ của các nhà thơ lãng mạn Đây là câu thơ của
Xuân Diệu:
Tương tư nâng lòng lên chơi uơi
22 =>
DO Gppy
Trang 20Con đây là câu thơ của Quang Dũng:
Nhớ uê rừng núi nhớ chơi 0uơi
Có điểu là một đằng thì nhớ người yêu, một đằng thì nhớ những kỉ niệm
kháng chiến
Những kỉ niệm về Tây Tiến, về kháng chiến cứ đậm dân lên trong sự hài
hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực của thơ Quang Dũng Những địa danh
miễn sơn cước như Sài Khao, Mường Lát gợi bao cảm xúc mới lạ Những sương,
hoa từng hiện diện với thi nhân, với tình yêu thì nay hiện diện với đoàn quân,
gian khổ mệt mỏi đấy nhưng không thiếu những giây phút lãng mạn Thủ pháp
đối lập được Quang Dũng triệt để sử dụng Sời Khao sương lấp đoàn quân mỏi
gian khổ biết bao! Mường Lát hoa uê trong đêm hơi thì vị biết bao Tưởng
chừng như thiên nhiên ban thưởng cho người lính một chút hương hoa để có sức
mạnh mà vượt qua đèo dốc
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút côn mây súng ngửi trời
Những thanh trắc (đốc, khúc, khuỷu, thẳm) tức ngược miêu tả được thế núi
hiểm trở Và hay nhất là miêu tả chiều sâu thăm thẳm để tả chiều cao của đốc
lên khúc khuỷu Cao đến nỗi người lính có cảm giác mình ngự trên mây heo
hút côn mây và súng ngửi trời Cách nhân hóa thú vị cũng là để nói cách đo
chiều cao riêng của những người lính
Ta lại thấy một ông Lí Bạch trong thơ Quang Dũng Cảm hứng lãng mạn tô
đậm cái phi thường Cậu thơ Ngờn thước lên cao, ngàn thước xuống có khác gì
câu thơ của Lí Bạch Nước bay thẳng xuống ba ngòn thước trong bai tho Xa
ngắm thác núi Lư Ta cũng lại nghe âm điệu của Tan Da trong giai điệu buông
thả mê l¡ của Quang Dũng:
Nha ai Pha Luéng mua xa khơi với Giang hô mê chơi trên quê hương của Tản Đà
Mơ mộng đó mà gian khổ cũng đó Qua những chặng đường hành quân, vượt
qua đèo cao lũng sâu, người lính sao tránh khỏi những giây phút mệt mỏi
Quang Dũng không tránh né thực tế khắc nghiệt của người lính trong những
năm đầu kháng chiến chống Pháp:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiêu oai linh thác gâm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Thật là bí tráng! Hình ảnh người lính Gựục lên súng mũ bỏ quên đời cho ta
thấm thía thêm những nỗi gian lao, vất vả, hi sinh của người lính Tây Tiến
Hình ảnh núi rừng hoảng vu, huyền bí tăng thêm chất bi tráng Thiên nhiên
đổi thay theo sắc màu của thời gian Những nét lạ, những chỉ tiết rùng rợn
càng tăng sức hấp dẫn của bút pháp lãng mạn Âm thanh dữ dội của tiếng thác
buổi chiều hoà điệu với âm thanh rùng rợn của tiếng cọp trêu người đêm đêm
thành một bản hoà tấu vang động cả núi rừng Rồi tất cả lại trở về dịu êm với
những kỉ niệm của con người và bản làng thân thương:
đồ Copy,
Trang 21Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mũi Châu mùa em thơm nếp xôi Sợi khói ấm áp giữa núi rừng hoang vu, đó là chất thơ của đời sống chiến sĩ
làm sao mà không nhớ? Kỉ niệm cứ như trôi trong mộng: Mơi Châu mùa em
thơm nếp xôi Chữ của thơ thật lạ, có những chữ đã cũ mèm mà được đặt vào
đúng văn cảnh thì lại dậy lên ý lạ Chữ em thì có gì là mới, vậy mà thay vào đó
bất cứ chữ nào khác thì câu thơ cũng mất hết linh hồn Nói kiểu Pautôpxki là
Quang Dũng đã trả lại cho chữ em cái trỉnh bạch ban đâu Hương nếp hay là
hương em đã làm bâng khuâng cả núi rừng, bâng khuâng cả lòng người?
Nhà thơ nhớ lại một đêm liên hoan lạ lùng giữa rừng biên cương:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc uề Viên Chăn xây hôn thơ
Bút pháp lãng mạn của Quang Dũng lại được dịp miêu tả những nét lạ: y phục
lạ (xiêm áo), nhạc cụ lạ (khèn), âm điệu lạ (man điệu), dáng vẻ lạ (nàng e ấp) Tình
quân dân nơi rừng núi xa xôi càng thêm sức mạnh cho người lính Tây Tiến,
Cùng với dòng hồi tưởng đó, tác giả nhớ lại hình ảnh người lính Tây Tiến,
những hình ảnh độc đáo không thể nào phai nhoà:
Tay Tiến đoàn bình không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Đoàn binh không mọc tóc quả là kì dị! Thời đó, đoàn quân Tây Tiến hoạt
động trong rừng núi phía Tây, bệnh sốt rét hoành hành Tóc rụng đến nỗi
không mọc lên được Da xanh bủng như màu lá rừng Tác giả miêu tả bằng cách
đối lập giữa cái bên ngoài và cái bên trong Bên ngoài người lính thì da xanh
bủng ốm yếu, nhưng tỉnh thần thì vững vàng Khí phách của người lính Tây
Tiến chẳng những lấn át cả bệnh tật ốm yếu mà còn đữ oơi hùm làm khiếp sợ
kẻ thù Tỉnh thần của người lính Tây Tiến thật là mãnh liệt Mãnh liệt cả
trong mộng, mãnh liệt cả trong mơ
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mo Ha Noi dang kiéu thom
Hinh anh md¢t tring thé hién y chi quyết tâm của người lính Tây Tiến trong
nhiệm vụ bảo vệ biên cương, nghĩa vụ quốc tế của mình Trên kia ta đã từng
gặp hình ảnh mộng ấy: Nhạc uè Viên Chăn xây hôn thơ Nhưng tình cảm, tâm
tưởng người lính lại hướng về Hà Nội, quê hương thân yêu của hầu hết binh
đoàn Tây Tiến:
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Hà Nội đẹp nhất là Hồ Tây và thiếu nữ Những chàng trai Hà Nội chưa
trắng nợ anh hùng ra đi chỉnh chiến làm sao không mang theo trong hành
trang của mình hình bóng của một đứng kiêu thơm nào đó, hoặc hình bóng của
người thân yêu? Một chút lãng mạn như vậy đủ nuôi dưỡng tỉnh thần của người
Trang 22lính Tây Tiến trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, hi sinh Tứ thơ mộng mơ
này cũng nằm trong cấu trúc chung của bài thơ Tây Tiến là ngược — xuôi: con
người, ý chí, hành động thì ngược về hướng tây, nhưng tình cảm thì lưu luyến
xuôi về với quê hương thân yêu:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hôn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Liên với tứ thơ mộng mơ ấy là hình ảnh hi sinh cao quý của những người
lính Tây Tiến Từ tỉnh thần lãng mạn chuyển sang không khí bi tráng:
Rai rác biên cương mô uiễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh uề đất
Sông Mã gâm lên khúc độc hành Lân nữa ta lại thấy Quang Dũng không tránh né những chết chóc bi thương
Người lính Tây Tiến chiến đấu ở một miễn núi rừng biên cương chống kẻ thù
xâm lược làm sao tránh khỏi sự tổn thất về sinh mạng:
ải rác biên cương mô uiễn xứ
Câu thơ chỉ có từ rđ¿ rác là thuần Việt, còn lại là từ Hán Việt cổ kính, gợi
không khí thiêng liêng, đượm chút ngậm ngùi Đến câu thơ tiếp theo, tác giả
hoá giải được tình cảm ngậm ngùi đó: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Đời xanh đẹp biết bao! Còn gì quý bằng tuổi trẻ, vậy mà người lính Tây Tiến
chẳng tiếc, cho nên họ chấp nhận tất cả Tự vệ thành Hà Nội đã nêu cao lời
thể Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô
Những người con của Thủ đô ở biên cương cũng có tỉnh thân ;iệp sĩ đó Có lẽ
gọi những chàng trai chẳng tiếc đời xanh này là hiệp sĩ cách mạng, như những
người lính trong Đông chí của Chính Hữu, trong Nhớ của Hồng Nguyên Sự hi
sinh của họ thật là cảm động:
Áo bào thay chiếu anh uề đất Người lính Tây Tiến thời đó hết sức thiếu thốn Theo Trần Lê Văn thì đồng
bào thấy các chiến sĩ Tây Tiến rét đã cho chiếc áo khoác thay cho đo bào Khi
chết, đồng đội dùng chiếu bó lại để chôn vì không có quan tài Câu thơ đó có
một từ rất xứng với sự hi sinh của người lính là từ đế Anh uê đất là về với
non sông đất nước, về với sự trường tổn, vĩnh hằng Âm nhạc của thiên nhiên,
non nước tấu lên đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng:
Sông Mã gâm lên khúc độc hành
Cái chết của những người lính Tây Tiến nơi biên cương chẳng những làm
xúc động sâu xa những chiến sĩ đồng đội mà còn động cả lòng trời đất Sông
Mã gầm lên đau đớn, tiếc thương Khúc nhạc bi tráng hợp với sự hi sinh cao
quý của những hiệp sĩ Tây Tiến
` Quang Dũng đi kháng chiến, đến đoàn quân Tây Tiến với tư cách là một trí
thức có tâm hồn nghệ sĩ Khi đặt bút làm thơ thì đã có ông Lí ông Đỗ ngự
trong lòng Âm nhạc đầy cám dỗ của nhà thơ Việt Nam hiện đại như Tản Đà
25: GiCbPY|
Trang 23
(nhà thơ cùng quê hương với ông), Thế Lữ, Xuân Diệu cũng đã dội vang trong
lòng ông Các nhà thơ cổ kim đã bôi đắp trong hồn thơ kháng chiến mới mẻ của
ông: Bằng nghệ thuật điêu luyện, Quang Dũng đã khắc hoạ chân dung người lính
Tây Tiến, hình hài thì kì dị, độc đáo, chân dung tỉnh thân thì cao quý Xúc cảm
của nhà thơ được nuôi dưỡng bằng âm nhạc vừa cổ kính vừa hiện đại
Những trái tìm hiệp sĩ Tây Tiến nằm lại rải rác ở biên cương chắc sẽ cảm
thấy êm ái khi nghe thơ Quang Dũng Bằng hội hoạ và âm nhạc, tượng đài của
lòng dũng cảm đã được dựng lên trong thơ 7ây Tiến - vĩnh hằng
ĐỀ BÀI: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Tây tiến đoàn bình không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nỗi dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ uiễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Ao bao thay chiéu anh vé dat
Sông Mã gâm lên khúc độc hành
Đề tài người lính là để tài quen thuộc được nhiều nhà văn nhà thơ hướng
đến để sáng tác Ta đã từng gặp những người lính ra đi từ quê hương nước mặn
đông chua trong thơ Chính Hữu, những anh vệ quốc quân, quốc đoàn trong thơ
của Tố Hữu Các nhà văn, nhà thơ luôn tìm cho mình một phong cách riêng để
xây dựng hình tượng người lính thật độc đáo Quang Dũng cũng thế, ông khắc
họa hình ảnh người lính thật đặc biệt, đoàn quân ấy mang tinh than bi trang,
vừa anh hùng vừa lãng man hao hoa
Tay Tiến đoàn bình không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nỗi dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mô uiễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xunh
Áo bào thay chiếu anh uê đất
Sông Mã gâm lên khúc độc hành
Nếu như phân đầu và phần hai của bài thơ nhắc về nỗi nhớ của tác giả đối
với những địa danh, những kỉ niệm mà đoàn quân Tây Tiến đã qua, những
chặng hành quân gian nan mà thi vị, những đêm liên hoan văn nghệ hấp dẫn
thì phần thứ ba Quang Dũng khắc họa chân thực cuộc đời chiến đấu, lãng mạn
hóa phẩm chất anh hùng và tỉnh thần hi sinh của đoàn quân Tây Tiến Trên
cái nên hùng vĩ và diễm lệ của núi rừng Tây Bắc, người lính xuất hiện với tư
thế tầm vóc tương xứng
Tây Tiến đoờn bình không mọc tóc Quân xanh mèu lá dữ oai hùm
Trang 24Khơng phải đến Tây Tiến, hình ảnh những người lính bị sốt rét rừng mới
được khắc họa mà nĩ đã cĩ trong thơ của Chính Hữu
Sốt run người uằng trán ướt mơ hơi
hay trong thơ Tố Hữu:
Giọt mơ hơi rơi
Trên má anh uàng nghệ
Anh uệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế Tuy nhiên đĩ chỉ là một vài nét gợi tả, cịn với Quang Dũng, ơng khắc họa
một cách chân thực về ngoại hình của người lính Tây Tiến với hình ảnh độc
đáo ấn tượng: đầu khơng mọc tĩc, nước da xanh lét như tàu lá, là di chứng của
những trận sốt rét rừng Theo tài liệu cho biết đồn binh Tây Tiến hy sinh vì
trận mạc thì ít mà chết vì sốt rét hồnh hành thì nhiều, nên những chỉ tiết
này khái quát được cuộc sống chiến đấu đây gian khổ thiếu thốn Hình ảnh dau
khơng mọc tĩc khiến ta nhớ tới hình ảnh về anh vệ trọc một thời xơng pha
trận mạc tả hữu xung đột, gan gĩc, dũng mãnh, oai hùng Vì vậy hình ảnh vừa
bi vừa hùng
Chữ nghĩa của Quang Dũng thật tài hoa Ở đây, cũng đồn quân ấy thơi
nhưng ơng dùng đồn binh, gợi hình ảnh đồn chiến binh cĩ vũ khí, cĩ khí thế
xung trận, át đi được vẻ ốm yếu của bệnh tật Ba chữ khơng mọc tĩc đảo thế bị
động thành chủ động Khơng cịn đồn quân bị sốt rét rừng làm tiểu tụy đi,
rụng hết cả tĩc Trong giọng điệu của nĩ, cứ y như là khơng thèm mọc tĩc!
Nghe ngang tàng kiêu bạc và thấy cả giọng bốc tếu rất lính tráng Bởi tương
phản với ngoại hình xanh xao là tỉnh thần xơng trận mạnh mẽ, dữ dội của
đồn quân: đỡ òi hừm Một đồn quân oai hùng mang nét dữ dằn như chúa tể
sơn lâm Bằng bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã phi thường hĩa cái phẩm
chất anh hùng, thể hiện sức mạnh chiến đấu vơ địch, lay chuyển núi sơng, át
quân thù Sức vĩc, dũng khí này tương xứng với thiên nhiên kì vĩ
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Sơng Mã gầm lên khúc độc hành Chân dung người chiến sĩ Tây Tiến được khắc họa vừa chân thực, vừa độc
đáo Hồn cảnh chiến đấu thiếu thốn nhưng tỉnh thần chiến đấu dũng cảm, khí
phách hào hùng
Thế nhưng những người lính Tây Tiến khơng chỉ chiến đấu anh hùng, kiên
cường mà họ cịn là những con người giàu tình cảm Những lúc dừng chân nghỉ
ngơi sau chặng đường hành quân mệt mỏi, những đêm khuya giữa núi rừng bạt
ngàn họ bỗng thèm một ánh mắt, một hình bĩng người con gái nơi quê nhà
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiêu thơm
Đã cĩ một thời người ta phê phán hai câu thơ này của Quang Dũng là lãng
mạn tiểu tư sản, nhưng khơng hẳn thế, mơ về Hà Nội với dáng kiểu thơm ấy
khơng phải để những người lính Tây Tiến bi lụy, nản lịng chiến đấu mà khi
mơ về những hình ảnh ấy sẽ khiến cho họ mạnh mẽ hơn, họ chiến đấu hết
đáo Copy
Trang 25mình để cho đáng kiều thơm ấy được sống trong hòa bình Dáng kiều thơm ấy,
có thể là một cô gái, em gái, hay bạn gái của những người lính Tây Tiến
Nguyễn Đình Thị trong bài Đất nước cũng viết
Những đêm dài hành quân nung nấu
Béng bén chén nhớ mắt người yêu
Nhớ đôi mắt của người yêu trong thơ Nguyễn Đình Thi, hay mo dang kiéu
thơm trong thơ của Quang Dũng không làm cho mất đi vẻ oai dũng của người
lính Những người lính ấy không chỉ biết chiến đấu, mà họ có những tình cảm
nhớ nhung rất con người Đêm mơ, ngày mộng là những tâm hồn giàu mơ mộng
trẻ trung của người lính Tây Tiến Hình ảnh mắt trừng gửi mộng là hình ảnh
sinh động thể hiện tâm trạng tập trung, có cái nhìn sâu vào tâm tưởng, trong
giấc mộng đắm chìm Từ giấc mộng hiện lên dáng kiểu thơm nơi quê hương đô
thành Hình ảnh thơ đẹp làm cho giấc mộng của chiến sĩ thêm thi vị Giấc
mộng ấy như một ngọn gió trong lành xua tan bao khắc khổ nơi chiến trường
khói lửa, là động lực giúp họ chiến đấu mạnh mẽ Nỗi nhớ người yêu ấy làm
cho tâm hôn chiến sĩ vừa trẻ trung vừa hào hoa Đó không phải là cái nhớ chân
chất giản dị về giếng nước, gốc đa hay đồng ruộng, gia đình của chiến sĩ ra đi
-_Í# nhiều người uợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya
(Hồng Nguyên - Nhớ)
Anh hùng phải có bóng giai nhân Ý nghĩ mang đậm chất tiểu thuyết ấy làm
cho tâm hôn chiến sĩ càng thêm lãng mạn bay bổng Tinh thần lạc quan ấy
trong điều kiện chiến đấu khắc nghiệt, thiếu thốn là biểu hiện của tỉnh thần
chiến thắng hoàn cảnh, tính cách anh hùng
Phẩm chất cao quý của người chiến sĩ còn được thể hiện qua tinh than hi sinh
Rải rác biên cương mô uiễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh uê đất Tác giả không ngại ngần khi nói đến sự mất mát không tránh khỏi của cuộc
chiến tranh Hình ảnh những nấm mồ hoang lạnh lẽo nằm chơ vơ giữa cổ cây
lau lách nơi biên ải xa vời, heo hút, lặng lẽ dưới bóng tà dương gợi một không
khí thê lương, ám đạm Đó là sự đau xót phũ phàng Có những chiến sĩ ngã
xuống không quan tài, đồng đội phải xin chiếu đồng bào để khâm liệm Hình
ảnh cái chết thật bi thương Nhưng cách diễn đạt anh uê đất với giọng thơ nhẹ
thể hiện cái chết nhẹ nhàng như một sự ra đi, yên nghỉ Anh ra đi vì Đất Mẹ
nên trở về với Đất Mẹ mà thôi Cách nói ngược ớo bào thay chiếu giúp ta tưởng
tượng một cái chết sang trọng, dep lam liệt Chiến sĩ Tây Tiến lúc này có vẻ
đẹp như rnột hiệp sĩ phong kiến ngày xưa Do vậy cái chết có bi thương nhưng
Trang 26không bi thảm mà bi hùng, sự hy sinh thắm đượm chất lãng mạn Hùng tráng
hơn là tỉnh thân của đoàn quân sẵn sàng hỉ sinh cả cuộc đời cho Tổ quốc:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Tỉnh thần xả thân vì nước là biểu hiện lí tưởng chiến đấu cao đẹp Họ là
những tấm gương yêu nước anh hùng, trở thành tượng đài đẹp tạc vào thời
gian, lịch sử Đọc câu thơ nghe giống như một cái khoát tay muốn gạt phăng
mọi vướng bận của đời tư để hướng tới lí tưởng chiến đấu Thái độ bất cần và
có vẻ khinh thường cái chết ấy bộc lộ tính cách kiêu hùng, tỉnh thần trượng
phu, mã thượng vì nghĩa quên thân như những hiệp sĩ phong kiến:
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa :
Giao Thái Sơn nhẹ tựa hông mao
Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu
(Chinh phụ ngâm)
Đoạn thơ có nhiều từ cổ và từ Hán Việt: Mô oiỗễn xứ, biên cương, áo bào,
khúc độc hành, gợi không khí trang nghiêm, cổ kính và làm cho chân dung
đoàn quân Tây Tiến mang dáng dấp của các tráng sĩ phong kiến thời xưa Hình
ảnh anh bộ đội Cụ Hồ lại mang dáng dấp và tinh thần hiệp sĩ làm cho hình
tượng thơ có vẻ đẹp lãng mạn hào hùng
Đoạn thơ khép bằng âm hưởng hùng tráng của thiên nhiên:
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Thiên nhiên như tấu lên khúc nhạc oai hùng để đưa tiễn linh hồn người
chiến sĩ về nơi chín suối với bao tiếc thương ngậm ngùi Hình ảnh thơ vừa đau
đớn vừa dữ đội càng tô đậm thêm tỉnh thần bi tráng của đoàn binh Thiên
nhiên đã nghiêng mình bên linh cữu của chiến sĩ làm cho hình tượng càng kì
vĩ, hùng tráng Âm hưởng hùng tráng của câu thơ cũng mở ra hào khí của một
Tóm lại, hình ảnh đoàn quân xuất hiện trong hoàn cảnh thiếu thốn nhưng
tỉnh thần chiến đấu thì dũng cảm vô song và sẵn sang hi sinh cho Tổ quốc nên
họ là những người yêu nước anh hùng Với bút pháp vừa hiện thực, vừa lãng
mạn, hình ảnh đoàn quân được khắc họa vừa chân thực vừa phi thường lẫm
liệt; vừa hào hùng vừa lãng mạn hào hoa và nổi bật là tỉnh thân bi tráng Bài
thơ kết thúc trong tỉnh thân phơi phới đi lên -
Đoạn thơ có giá trị nhất bài thơ, đã thành công khi khắc họa hình ảnh
chiến sĩ Họ vừa có vẻ đẹp tiêu biểu của một dân tộc anh hùng vừa mang vẻ đẹp
riêng của anh bộ đội Cụ Hồ hào hoa nghệ sĩ Hình anh của họ trong bài thơ đã
minh chứng cho một dân tộc văn minh, hùng cường Đoạn thơ cũng như bài thơ
còn giúp người đọc sống về một thời quá khứ oai hùng đã qua
#80, Copy
Trang 27
BAI LAM
That dữ dn va that thi vi, that dé sợ cũng thật dễ quyến rũ, đanh sắc đến
chói gắt lại dịu dàng đến mêm lòng Đó là hai cực cảm giác khi đọc Táy Tiến
Đối chọi mà không xung khắc, nó là hai hiện thực của cuộc uạn lý trường chỉnh
Tây Tiến được cảm nhận bởi một hồn thơ mạnh mẽ và tài hoa Nó song hành
trong bài thơ tựa như hai öè không tách nhau được, như hai mặt trong cốt cách
người Tây Tiến: Hào hùng và hào hoa Quy mô không lớn, nhưng tính chất
đúng là như vậy
Quả là cảm nhận Tây Tiến chẳng nên tách rời thời đại của những Tống biệt
hành, Can trường hành (Thâm Tâm), của những Ngày vé (Chính Hữu) Ra đời
không cùng năm cùng tháng, nhưng hoài thai cùng lúc, cùng tạng - Cái tạng
của chí trai thời loạn của những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng, và cái
quan niệm gian nan là nợ anh hùng phải uay (nó không hoàn toàn là cái yêng
hùng rớt từng bị coi thường một thời) Nếu Tống biệt hành là chuyện vượt lên
những cản trở, vướng bận gia đình, thi Tay Tién là chí anh hùng đương đầu với
những gian nan trong hành binh trận mạc
Một cuộc hành binh dài ngày vào nơi rừng rú núi non hiểm trở để lại trong
Quang Dũng biết bao ấn tượng Hiện lên trước tiên khi nhớ Tây Tiến là hình
ảnh rừng núi chơi vơi, ẩn hiện sau sương dày, rừng rậm núi cao là một đoàn
quân mỏi, nhưng tâm hồn vẫn tươi, vẫn tình tứ Khổ thơ đầu có thể coi là cái
nhìn toàn cảnh, là ấn tượng bao trùm, ít nhiều eó màu sắc điện ảnh trong các
hình ảnh thơ
Sông Mã xa rôi, Tây Tiến ơi
Nhớ uê rừng núi, nhớ chơi uơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi Rồi biết bao những gian nan thử thách đang đón chờ binh đoàn Tây Tiến
bất cứ lúc nào cũng có thể làm họ nản chí Đó là cái hiểm trở của lộ trình -
Dốc lên bhúc bhuỷu dốc thăm thẳm Đó là oai linh của rừng thiêng nước độc —
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đó là sự rình mò của thú dữ - Đêm đêm
Mường Hịch cọp trêu người Đó là sự dãi dâu thân xác — Anh ban dai dau
không bước nữa Đó là bệnh tật, bệnh nơi lam sơn chướng khí - Táy Tiến đoàn
bình không mọc tóc (Vì ngã nước, sốt rét rừng) Đó là cái chết - Rẻđi rác biên
cương mô uiễn xứ Đó là sự đánh đổi quãng đời xuân trẻ không bao giờ có lại —
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Nếu không có một chí anh hùng đủ
mạnh, đoàn quân này sẽ dễ dàng tan ra, con người sẽ ngã lòng, sẽ bỏ cuộc
Chiến sĩ Tây Tiến đương đầu, đối mặt với mọi thử thách và coi thường tất cả
Thực tế ấy, chí khí ấy tạo nên tính bi tráng rất chân thực cla Tay Tiến:
Rải rác biên cương mô uiễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Trang 28Áo bào thay chiếu anh uê đất
Sông Mã gâm lên khúc độc hành
Quyết tâm sắt đá không bị lay chuyển, người lính Tây Tiến chỉ một con
đường một hướng đi tới, ai nấy toàn tâm, toàn ý, đặt cả tâm hồn vào nhiệm vụ
— Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy - Hồn uề Sâm Nứa chẳng uê xuôi
Hai bè ấy phối nhau ăn ý, khăng khít, nhuần nhị suốt dọc bài thơ Thật mệt
mỏi (Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi), cũng thật nhẹ nhõm (Mường Lát hoa
vé trong dém hơi) Núi non hùng vĩ chất ngất (Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm
thẳm - Heo hút cồn mây súng ngửi trời - Ngàn thước lên cao, ngàn thước
xuống) Tâm nhìn mở rộng muôn xa (Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi) Dữ dần
(Chiều chiều oai linh thác gầm thét ) lại cũng tình tứ (Mai Châu mùa em thơm
nếp xôi) Bên cạnh những ngày hành quân cực nhọc, khốn khổ là những đêm
văn nghệ vui nhộn, lãng mạn Có những hoạt động đó là bởi các chàng trai Tây
Tiến là sự gặp gỡ, dung hợp giữa hai chết ấy: Quân xanh màu lá dữ oai him
thật dé sợ, và cứ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm thật đa tình, da cảm
Nét hào hoa nghệ sĩ của quân Tây Tiến còn ở sự hiện diện của hoa Trên hành
trình gian nan, bao giờ họ cũng dành tâm tri cho hoa: hoa vé trong dém hơi,
hội đuốc hoa, trôi dòng nước lũ hoa đong đưa (Đây cũng là đặc điểm của rất
nhiều bài thơ Quang Dũng)
Trên cấp độ từ ngữ hình ảnh cũng thấy hai bè phối nhau như vậy: dữ dằn
hào hùng và lãng mạn hào hoa Song song với những đoàn quân mỏi, khúc
khuỷu, thăm thẳm, heo hit, gam thét, cọp trêu, không mọc tóc, dữ oai hùm, mô
uiễn xứ, gâm lên khúc độc hành là những đêm hơi, mưa xa khoi, com lên
khói, thơm nếp xôi, hôn lau nẻo bến bờ, nhất là những em: Mùa em thơm nếp
xôi, em xiêm áo, nàng e ấp, dáng kiều thơm
Rết tụ thật tuyệt vời cho hai bè ấy trong bài thơ này phải kể đến một đoạn
Và đoạn tả sông suối!
Người di Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hôn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Người đọc có cái thú vị là giữa những ngày nặng nề, khổ ải ấy con người Tây
Tiến lại đang an nhiên trong hồn trí mà thưởng thức những bức tranh sơn thuỷ
Trong một bài khác - bài Phø Đin, khi tã cảnh dốc hùng vĩ ấy với cảnh đá như
từng đợt sóng bủa lên trời, bên dốc chon uon ngàn thước uực, y như cảnh trí Tây
Tiến, chính Quang Dũng đã thốt lên: Đẹp như sơn thủy tranh đời Tống
Một trong những nét mœ quái đầy hấp dẫn của Táy Tiến là nhạc, thường là
sự chuyển hoá khi thì bất ngờ, đột ngột, khi thì mềm mại, uyển chuyển giữa
35 Copy,
Trang 29một thứ nhạc đậm đặc âm trắc, những cách bẻ đôi câu thơ, sang một nét nhạc
thật nhẹ nhàng, chơi vơi, lâng lâng Theo nhạc thơ, người đọc vừa từ chỗ ngợp
thở, tức thở, từ cảm giác bị bưng bít sang một hơi thở phào nhẹ nhõm, mở ra
một tâm nhìn toàn cảnh, khoáng hoạt xa khơi Các đoạn thơ thường kết ở nét
nhạc toàn thanh bằng như thế
ĐỀ BÀI: Tây Tiến (Quang Dũng) là nét dẹp của một thời đại gian khổ
nhưng đáng tự hào Đó là uẻ đẹp của người lính trong cuộc
kháng chiến chống Pháp Qua việc đọc và cảm nhận bài thơ,
hãy phân tích ý kiến trên
BÀI LÀM
Một trong những nét đẹp của bài thơ 7y Tiến trước hết là vẻ đẹp của sự
chân thật Sự chân thật ấy không chỉ khơi đi từ cách nhìn tỉnh táo về người
lính, về chiến trường Bao trùm lên bài thơ, từ cảm hứng sáng tác, tâm thế
sáng tác đến hoàn cảnh sáng tác 7ây Tiến đều xuất phát từ một hiện thực,
gắn với một giai đoạn lịch sử khốc liệt nhưng hào hùng Đó là hiện thực của
chín năm kháng chiến chống Pháp Hiện thực của một đơn vị được thành lập
đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, hoạt động trên một địa
bàn rất rộng: Từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sảm Nứa rồi vòng qua phía tây
Thanh Hóa Đặc biệt trong đoàn quân này, đa số người lính là những chàng
trai Hà Nội Họ là những trí thức trẻ vừa rời ghế nhà trường Mắt họ mở, tay
họ nắm chắc vũ khí hướng về kẻ thù nhưng trong đêm, họ có những giấc mơ
Hà Nội, bừng sáng dáng kiểu thơm Tất cả, tất cả từ sự chân thật đậm nét sử
thi ấy đã tạo nên cho 7y Tiến một dáng dấp riêng Chính dáng dấp ấy khiến
dù cho, ở giai đoạn này có nhiều bài thơ về người lính, về chiến trường đi
chẳng tiếc đời xanh, nhưng Tây Tiến vẫn là một trong rất ít bài thơ 0ượi rư
ngoài quy luật băng hoại để sống mãi với mọi người
Mở đầu Táy Tiến là một nỗi nhớ Đó cũng chính là tâm trạng tạo nên mạch
cảm xúc của toàn bài Đây là nỗi nhớ của một kẻ rong cuộc, cùng cảm nhận,
cùng chia xẻ vui buồn với đoàn quân Tây Tiến đã một thời gắn bó máu thịt
Chính với tâm thế ấy, từ một tâm trạng chung, nỗi nhớ trong Tôy Tiến có âm
hưởng rất riêng, lối diễn đạt cũng rất riêng Nỗi nhớ ấy được nhân đôi bởi điệp
Sông Mã xa rôi Tây Tiến ơi
Nhớ uê rừng núi nhớ chơi uơi
Nó là tâm trạng mở đầu cũng là tâm trạng để kết thúc khổ thơ thứ nhất
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Điểm đặc biệt trong nỗi nhớ này, ngoài kết cấu khép nhằm thể hiện cường
độ, sự mãnh liệt của một tâm trạng, nó còn được diễn tả bằng một cách nói lạ
Quang Dũng nói đó là nỗi nhớ chơi vơi Thế nào để có thể có tâm trạng chơi
vơi? Rõ ràng, nhớ chơi vơi là nỗi nhớ khi xa khi gần, khi có khi không, khi rất
Trang 30thực, khi mờ ảo, khi cao khi thấp Nhưng điều quan trọng là nó không mất di
Trái lại nó tổn tại như một vật thể, một sự ám ảnh Xuân Quỳnh nói:
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
(Sóng) Qua day 1a ndi nhé Cé trong mo còn thức Vẫn còn thức mới có thể tái hiện
thật cụ thể, thật sinh động, dù đã cách xa, những kỉ niệm đã một thời gắn bó của
đoàn quân Tràn ngập đoạn thơ tên núi, tên rừng Đó là những vùng đất, địa bàn
của vùng rừng núi Thượng Lào đã từng in dấu chân đoàn quân Tay Tiến Trên
từng bước chân của họ, cảnh núi rừng hiện ra thật hoang dại, thật hùng vĩ và
cũng đây đe dọa Làm sao khác đi được khi bản thân người làm thơ là một trí
thức cẩm súng Họ nhận ra vẻ hoang sơ, hùng vĩ của rừng núi cái vẻ đẹp vừa kì
vĩ, vừa đây sức cám dỗ Chúng tạo nên một thứ xúc cảm mang màu sắc lãng man
về cảnh vật, tô đậm cái phi thường gây ẩn tượng mạnh về cái hùng vĩ, dữ dội, cái
thơ mộng, tuyệt mĩ, chứa đây bí mật ghê gớm về rừng thiêng:
Chiều chiều oai linh thác gằm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Sức cám dỗ, xúc cảm thẩm mỹ, nhờ đó lại khởi đi từ cái dữ đội, cái huyền bí,
cái đe dọa Thần bút của bức tranh cảnh vật ở đây là bốn câu:
Đốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Bức tranh bốn câu mà đủ cả Biện pháp đối lập được khai thác triệt để Lên
cao, xuống thấp; dốc xuống; dốc lên; gap ghénh; bằng phẳng Nghệ thuật diễn ý
bằng thanh điệu, phối trí bằng trắc Đặc biệt hình ảnh táo bạo súng ngửi trời
Ta bắt gặp độ cao, chiều rộng, cả độ dài của một thứ không gian ba chiều Cái
không gian đẹp nhưng huyền bí, thơ mộng nhưng dữ dội, gắn bó nhưng đây đe
dọa của cảnh chiến trường Cảnh chiến trường như vậy hoàn toàn không phải
là một cuộc chơi thi vị - một thứ trò đùa cho những tráng sĩ Nhất khứ bất phục
phản (Một đi không trở lại)
Vi vậy đoạn thơ xuất hiện hỉnh ảnh mà một thời kì ta không chấp nhận
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Thực ra đó chính là giá trị của Tây Tiến Giá trị của sự chân thật nhìn
thẳng vào cái khắc nghiệt của thực tế chiến dấu, không tô hồng, không thi vị,
không ảo tưởng Mà cũng không thể nhìn khác đi được khi chiến trường vốn là
nơi của mất còn, sống chết, tổn that hi sinh, đây gian khổ Hoàng Lộc trong bài
Viếng bạn đã nói điều này:
Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
3aP9 €bpy
Trang 31Dẫu vậy, tuy nhìn thẳng, nhìn một cách chân thật nhưng điều đáng quý là
Tây Tiến không tuyệt đ Si hoa sự bi thẩm Giọng thơ có bi nhưng không lụy
Trái lại, thỉnh thoảng, trong Khắc nghiệt lại đột ngột bừng sáng những vẻ đẹp
đời thường đây chất thơ mộng, trữ tình Âm điệu thơ, cảnh vật miêu tả tràn
ngập một sự thật không giấu diếm nhưng thi thoảng, trên chặng đường hành
quân, lính Tây Tiến lại bắt gặp một không khí rất quê nhà: Có người - những
cô gái Mai Châu - có ruộng nương, có khói bếp Đó là hiện thực bên cạnh sự
khắc nghiệt để tứ thơ như bừng sáng với một thế giới khác hẳn từ cảnh đến
âm điệu diễn tả:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai châu mùa em thơm nếp xôi
Từ đó, Tây Tiến dẫn ta sang một cảnh tượng khác của Tây Bắc Một cảnh
tượng nói như một câu thơ khác của Quang Dũng Sáo điều ui uút thổi đêm
trăng Cảnh ở đây diễm lệ, duyên dáng khác hẳn với đoạn trên Nó tạo nên
một cách nhìn ngạc nhiên đến ngơ ngác (kìa em — bừng lên) Rõ ràng, hồn thơ
lãng mạn vốn dễ có cảm hứng, xúc động với những cảnh lạ, đẹp phương xa
Nhà thơ hoàn toàn lạ lùng, xúc động trước cảnh núi rừng trong đêm mở hội,
buổi liên hoan của những người lính có những cô gái bản làng, áo xiêm rực rỡ, e
ấp, liêu trai trong điệu vũ dân tộc (man điệu) Ở đó còn có thơ, có nhạc Có
những dáng hình: Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kia em xiém do tu bao gid
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc uê Viên Chăn xây hôn thơ
Nói Tây Tiến là sự kết hợp tài hoa giữa hiện thực, sắc thái sử thi với cảm
hứng lãng mạn là nói cách cảm nhận của những hình ảnh trên, chất giọng
trên Chính từ hình ảnh và chất giọng đó, chính từ cái nên hùng vĩ và diễm lệ
đó, ở đoạn ba Tây Tiến đã tạo nên một thứ tâm thế nhằm xuất hiện hình ảnh
người lính với tư thế thật xứng đáng, thật phù hợp Nói bài thơ, ngoài cảm xúc
lãng mạn còn rất đẹp, rất riêng bởi chất bi tráng hòa quyện chính ở chỗ, dù
nhà thơ nhìn thẳng vào sự thật, cái bi nhưng vẫn thấy được tư thế mãnh liệt,
hào hùng, chấp nhận hi sinh của đoàn quân Tây Tiến Họ có một vẻ đẹp thật
dữ dội:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dit oai him
Họ ra đi dẫu mang nặng nỗi niềm nhưng với họ cái chết thật nhẹ tựa lông hồng
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh uê đất
Tất cả điều đó với họ có hề gì, khi ra đi, họ đã chấp nhận mô uiễn xứ, đã
chấp nhận đường lên thăm thẳm một chia phôi đã thật dứt khoát: không hẹn
ước Chính thái độ quyết liệt ấy, có thể nói, đoạn thơ đã tái hiện cả một tượng
đài kì vĩ về những người lính Tây Tiến Chính họ, bằng thái độ quyết tử cho tổ
quốc quyết sinh ấy, đã tự tay khắc tạc trên mộ bia của mình những dòng đẹp
Trang 32nhất Với họ, cái chết không đông nghĩa với sự hủy diệt, băng hoại Cái chết
trong tư thế ấy lại khởi điểm cho mùa xuân Mùa xuân sông Mã Mùa xuân Tây
Tiến Một mùa xuân ở mãi trên dòng chảy thủy chung của dân tộc, của đất nước
Bài thơ khép lại, một thời kì hào hùng khép lại nhưng vẫn mãi vang động
trong mỗi con người, cái chất xuân Tây Tiến như hai câu thơ cuối của bài thơ:
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn uê Sâm Nứa chẳng uề xuôi
BÀI LÀM
Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dấu ấn không thể phai
mờ trong tâm hồn dân tộc Đó là điểm hội tụ của muôn triệu tấm lòng yêu
nước, là môi trường thử thách tỉnh thần chiến đấu ngoan cường, bất khuất của
nhân dân ta Cuộc kháng chiến còn làm nảy sinh biết bao hình ảnh đẹp mà
đẹp nhất là hình ảnh người lính
Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng một thời như Đồng chí của Chính Hữu,
Nhớ của Hồng Nguyên Tây Tiến của Quang Dũng là một thi phẩm đặc sắc
nhất Đoàn quân Tây Tiến quy tụ một lực lượng đông đảo đủ mọi tầng lớp
thanh niên từ khắp phố phường Hà Nội Có nhiều thanh niên học sinh thuộc
tầng lớp trí thức tiểu tư sản vừa rời trang sách nhà trường để tham gia vào lí
tưởng chung của dân tộc là chiến đấu để bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc Họ
ra đi không hẹn ngày trở về, chiến đấu với mục đích quyết tử cho Tổ quốc quyết
sinh Cái tỉnh thân ấy là hào khí của một thế hệ con người, đã từng được phản
Đoàn cứu quốc quân một lân ra đi
Nào có sá chỉ đâu ngày trở oê
Trong đoàn người nô nức lên đưởng đi chiến đấu, trong hàng ngũ những
thanh niên trí thức ngày hôm qua có khi là anh tự vệ chiến đấu trên phố
phường, chiến lũy Hà Nội, mà hôm nay đã có mặt trong đoàn quân Tây Tiến
thấp thoáng xuất hiện một gương mặt của Quang Dũng, tác giả của bài thơ
Như bao thanh niên trí thức của Hà Nội ngày ấy, Quang Dũng cũng háo hức gia
nhập đoàn quân Tây Tiến với một niềm say mê tuổi trẻ và chút lãng mạn của
những người thanh niên nho sĩ quý tộc ảnh hưởng trong Chỉnh phụ ngâm - Giã
nhò đeo bức chiến bàol, Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao Cũng chính vì thế
mà những thanh niên như Quang Dũng sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, hi
sinh để chiến đấu đến ngày thắng lợi cuối cùng Vào 7áy Tiến, Quang Dũng
cùng sống và chiến đấu một thời gian với đơn vị này sau đó chuyển sang đơn vị
ˆ khác Một ngày ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về những người đồng
đội, nhớ về những ngày chiến đấu gian nan nhưng hào hùng, nhớ về đơn vị cũ,
nhớ về những con đường hành quân mà ông cùng đơn vị từng đi qua Nỗi nhớ
ấy lớn dần trong Quang Dũng bật ra thành hai câu thơ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ uề rừng núi nhớ choi voi
35 DOÐpy
Trang 33Cuộc sống chiến đấu của Tây Tiến cùng những nơi mà đơn vị đi qua hẳn là
những kỉ niệm hết sức sâu đậm trong tâm hồn nhà thơ Hẳn một phần quãng
đời Quang Dũng gắn bó với Tây Tiến là cuộc sống hoạt động trong vùng rừng
núi Bởi thế, nhà thơ nhớ về Tây Tiến là nhớ ngay về sông Mã, nhớ về rừng
núi với bao kỉ niệm buổn vui Ấn tượng về một vùng rừng núi khắc nghiệt đã
để lại trong tâm hồn nhà thơ dấu ấn chẳng phai mờ Vì thế, Quang Dũng nhớ
về những ngày đã qua với một tình cảm yêu thương lắm nhưng chẳng biết gọi
tên chính xác nỗi nhớ ấy Nhớ chơi vơi! Hai tiếng chơi vơi dùng ở đây thật đắc
địa, diễn tả một nỗi nhớ không có hình, không có lượng nhưng hình như rất
nặng mà mênh mang đây ắp Cái tâm trạng nhớ ấy ta bắt gặp không chỉ một
lần trong ca dao:
Ra uê nhớ bạn chơi uơi
hoặc:
Nhớ di bổi hổi bôi hôi
Như đứng đống lửa như ngôi đống than
Quang Dũng lấy nỗi nhớ trong ca dao để tượng trưng thêm cho nỗi nhớ chơi
ơi của mình thật là một chỉ tiết đắt Ngay từ đầu bài thơ, ông đã miêu tả vùng
_rừng núi ấy, nhớ về rừng núi ấy thiết tha như thể làm cho người đọc chú ý
ngay Nhớ Tây Tiến, nhớ về sông Mã và núi rừng trùng điệp, nhớ con đường
hành quân:
Sai Khao suong lấp đoèn quan moi
Mường Lát hoa uễ trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngan thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Con đường hành quân điệp trùng với bao cái khắc nghiệt, dữ dội của một vùng
núi rừng biên ải Đọc đoạn thơ, chưa cẩn suy ngầm về cái nội dung bên trong,
chúng ta có thể hình dung ra con đường mà Quang Dũng miêu tả qua thanh luật
của đoạn thơ Kết cấu bài thơ cứ thanh bằng, thanh trắc đan chéo nhau trải dài
ra miên man, vô tận như con đường xa thẳm khấp khiểng Nhạc điệu êm ả, triền
miên Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp sương dày của núi rừng
Lung linh trong lép sương khói mờ ảo, như thực, như mộng: Thế nhưng mỗi
địa danh gắn liền với một đặc điểm của địa vật, nếu ta chỉ thi thay Sai Khao
bằng một tên khác là lớp sương huyền ảo ấy sẽ biến ngay Đoàn quân Tây Tiến
cất bước trên con đường xa vạn dặm, với cái trắc trở gập ghènh của con đường
Đã đốc lên khúc khuỷu mà lại còn đốc thăm thẳm thì đúng là đến độ cao chất
ngất, ngoằn ngoèo khó đi Đã ngàn thước lên cao rồi ngàn thước xuống, tất cả
những đặc điểm ấy diễn tả nỗi khó khăn của đoàn quân Tây Tiến khi hành
quân Nó có ghi lại ấn tượng về một miễển núi rừng thật là dữ dội và khắc
nghiệt Quang Dũng có cách dùng từ rất tỉnh tế mà cũng hết sức tỉnh nghịch:
Núi cao cham may nối thành cồn heo hứ¿, và để diễn tả chiều cao của núi thì
chỉ ba chữ súng ngửi trời là đủ đưa ta đến tuyệt đỉnh của cao vời vợi Súng ngửi
DO.Cory
Trang 34trời nghe thật ngộ nghĩnh Phải chăng đó là cách gọi của lính mà Quang Dũng
ghi lại với tư cách một người trong cuộc Dù sao, qua những từ ngữ, chỉ tiết và
cách kết cấu âm của đoạn thơ cũng đã đổ về trước mắt chúng ta là hình ảnh
một miền rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến đã từng đi qua Có những câu thơ
dùng toàn những vần bằng rất đắt;
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Sau khi ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống, người chiến sĩ Tây Tiến như
đứng trên đỉnh núi cao mà nhìn xuống thung lũng phủ kín trong màn mưa
Những ngôi nhà như đang trôi bổng bềnh trong làn mưa trắng Thanh bằng của
từng chữ trải ra, mênh mang, diễn tả cái màn mưa phủ giăng thung lũng Rừng
núi điệp trùng, ấn tượng về miền núi cũng thật là khắc nghiệt và dữ dội:
Chiêu chiêu oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Chỉ hai câu thơ thôi là đã gieo vào lòng ta tất cả những sự khắc nghiệt của
miền rừng núi này Một miền núi rừng âm u với thú dữ đe dọa con người Hai
chữ Mường Hịch đi với nhau nghe nặng như chân cọp Có một điều kì lạ là nếu
ta thay địa danh này bằng hai chữ khác cũng là hai thanh bằng đi với nhau,
như Cháu Thuận chẳng hạn, thì hiệu lực câu thơ sẽ giảm sút ngay Qua sự
miêu tả của Quang Dũng, một vùng rừng núi biên ải hiện lên với day du khắc
nghiệt, dữ dội của thiên nhiên Đó là những khó khăn mà người chiến sĩ Tây
Tiến phải vượt qua trên con đường hành quân Cái trắc trở, gian lao của con
đường Tây Tiến chợt làm chúng ta nhớ đến câu thơ của Lý Bạch:
Thuc dao chi nan, nan u thướng thanh thiên
(Đường di xứ Thục khó đi, khó hơn lên tận trời xanh)
Đó là tất cả những gian khổ, hiểm nguy do thiên nhiên đem đến mà người
chiến sĩ Tây Tiến phải chịu đựng
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời Quang Dũng nói cái sự thực trên con đường Tây Tiến Bao người chiến sĩ đã
nằm lại trên con đường hành quân Có một điểu lạ làm tỏa sáng cả ý thơ là
người lính Tây Tiến đến lúc gục xuống vẫn cố gắng trong tư thế của người lính
Chết rồi nhưng súng mũ vẫn còn đó, hành trang của người chiến sĩ vẫn còn
trong tư thế tiếp tục cuộc hành trình Bao cảnh gian khổ khó khăn, khắc nghiệt
dữ đội của con đường hanh quân, của thiên nhiên xứ lạ đã thử thách người
chiến sĩ Tây Tiến một cách ghê gớm Có những người lính đã vượt qua được, và
không ít những con người phải nằm lại phía sau Người lính dãi dầu qua mưa
nắng, đi từ khó khăn này đến gian khổ khác, chịu hết thử thách này đến thử
thách khác mà dường như vẫn chẳng nề hà Chỉ một khi kiệt sức phải gục
xuống thì cũng cố gắng gục xuống trong tư thế của người chiến sĩ
Cho dù Quang Dũng có nói thật về một vùng rừng núi che lấp con người, thì
ehi những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ đã đưa họ bay lên, vượt lên
trên cái gian khổ và thiếu thốn Quang Dũng là người trong cuộc, từng là chiến
sĩ Tây Tiến chính vì vậy mà nhà thơ viết về cuộc sống gian khổ của chiến sĩ
37
DO.Copy
Trang 35Tây Tiến một cách hết sức cảm động như vậy Cái khắc nghiệt, gian khổ và dữ
đội của một miễn biên ải, những gian truân mà người chiến sĩ Tây Tiến phải chịu
đựng là những ấn tượng không thể nào quên Quang Dũng nói về người lính Tây
Tiến không như những nhà thơ khác; ông nói thật về sự gian khổ, hy sinh của
người lính một thời Thế nhưng, hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến không vì thế mà
trở nên ủy mị, mà ngược lại càng thêm cao đẹp hơn Miêu tả người chiến sĩ với
cái bi, nhưng lại là cái b¿ tráng Nói cái gian khổ để đề cao chiến thắng, nói hy
sinh để nâng hình ảnh người lính lên một tâm cao thời đại cũng là một cách uẽ
mây nảy trăng trong hội họa vậy Bởi chiến thắng có giá trị gì khi chiến thắng
dễ dàng, không có hy sinh Và hình ảnh người lính sẽ không thật cao đẹp nếu họ
không trải qua những thử thách gian truân của cuộc chiến đấu khắc nghiệt
Lao xao sóng uỗ ngọn tùng
Gian nan là nợ anh hùng phdi vay
Đó là một lời đúc kết kinh nghiệm về giá trị của chiến thắng của phẩm chất
con người Giữa bao cái gian khổ, khắc nghiệt đã thành ấn tượng thì niềm vui,
di ít ồi lại càng đáng nhớ hơn
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Dường như để trả trạng thái tâm hồn chúng ta về thế giới cân bằng sau khi
chùng xuống trước cuộc chiến đấu của người chiến sĩ Tây Tiến, Quang Dũng hồi
tưởng lại nhiều hình ảnh vui, ấm áp Khói bếp, mùi thơm cơm nếp gợi ta cái
ấm cúng của cuộc sống thanh bình, hạnh phúc, sức sưởi ấm của nó đủ làm cho
tâm hén ta dần ấm lại sau những phút giây chứng kiến những gian khổ của
người lính Hội đuốc hoa là hình ảnh có sức khơi gợi, gợi cho ta cảm giác tươi
vui như được chứng kiến những lễ hội đông vui Hai tiếng kia em vừa ngỡ
ngàng, vừa sung sướng được diễn tả tâm hồn của người chiến sĩ Tây Tiến
Trong cả đoạn thơ dìu dặt âm thanh tiếng nhạc, tiếng khèn, phảng phất vui
tươi của cuộc sống yên bình như chẳng biết đến chiến tranh Hình ảnh Nhac vé
Viên Chăn xây hôn thơ là hình ảnh đẹp, thơ mộng diễn tả tâm hồn phong phú
của người lính Tây Tiến Họ tổ chức hội vui, sau bao thử thách khắc nghiệt của
núi rừng dữ đội Và mặc dù biết rằng sẽ còn tiếp tục chịu đựng gian truân, hi
sinh, người lính Tây Tiến vẫn múa hát, đùa vui, vẫn lạc quan, yêu đời Có thể
chỉ ngày hôm sau một người nào đó trong số họ phải nằm lại nơi núi rừng u
tịch, nhưng hôm nay tâm hồn họ vẫn mộng mơ, mơ đến những hình ảnh đẹp
của thi và họa, xây hồn thơ Và như vậy, họ sẵn sàng đón nhận mọi thử thách,
tiếp theo, coi đó như một việc bình thường mà đời lính phải chấp nhận Không
lên gân, không khiên cưỡng, mọi gian khổ hy sinh với người lính là chuyện
bình thường và tất yếu, vì vậy mà họ vẫn lạc quan, vẫn yêu đời, vẫn sống với
tâm hồn trẻ trung tươi mát, chính vì vậy mà một dáng thuyền trên độc mộc,
hoặc một bông hoa trên dòng nước lũ những hình ảnh rất thường ấy, ngỡ rằng
sau bao ngày thử thách về tỉnh thần, người lính sẽ quên đi Nhưng không, họ
vẫn nhớ Những hình ảnh ấy in sâu vào tâm hồn người lính Tây Tiến, là nguồn
động viên thúc giục họ chiến đấu, dù tiếp tục đón nhận những thử thách mới:
DO Gppy
Trang 36Tay Tién doan binh không mọc tóc
Quân xanh màu ld dé oai him
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Đoàn quân không mọc tóc! Có cách nào lại khơi dậy nhiều cảm xúc đến thế!
Như vậy, chính hình ảnh của anh bộ đội Tây Tiến có thể trở nên quái đản
không? Không đâu! Đó chính là hình ảnh oai hùng của anh vệ trọc nổi tiếng
một thời vì sốt rét nên tóc rụng Vả lại, cái cách nói đoàn quân không mọc tóc
ấy phần nào cũng dựng lên hình ảnh người chiến sĩ với dáng dấp thật hùng
dũng và hiên ngang Quân không mọc tóc, lại xanh mờu iá màu xanh ấy có thể
do cành lá ngụy trang nhưng chủ yếu là do sốt rét rừng Những cơn sốt rét ghê
gớm đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho người chiến sĩ Ta cảm động trước
hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến, và chợt nhớ tới hình ảnh người chiến sĩ
trong một số bài thơ đương thời:
Khuôn mặt đã ngời lên màu bệnh tật
° Đâu còn tươi nữa những ngày qua
(Tế Hữu)
Người lính Tây Tiến cũng chịu đựng những cơn sốt rét ghê gớm ấy Thế
nhưng, nó không nhụt ý chí của người chiến sĩ mà ngược lại họ cảng chiến đấu
dũng cảm hơn, kiên cường hơn Quên xanh màu lá nhưng vẫn di oai hum Cai
khí phách hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến được ghi lại bằng một sự so
sánh thật cân bằng Nếu ở khổ thơ trên, người lính chịu sự đe dọa của cọp dữ
thì họ cũng chiến đấu với một tỉnh thần dũng cảm của một loài chúa sơn lâm
như thế Câu thơ sau nâng đỡ câu thơ trước cùng vút bay lên như ánh hào
quang của phẩm chất người lính Tây Tiến Miêu tả khí thế chiến đấu hào hùng
của người chiến sĩ bằng một sự so sánh như thế Quang Dũng đã thực sự hiểu
người lính và hòa đồng với họ Chiến đấu dũng mãnh như thế, nhưng người
lính Tây Tiến vẫn có một đời sống tâm hồn hết sức tinh tế
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng hiều thơm
Người chiến sĩ ra đi từ những mái trường, chiến đấu nhưng vẫn không quên
hậu phương Phía trước là trận đánh, tình cảm thể hiện qua giấc mộng, có thực,
có mơ Dáng kiểu thơm gợi lên cái dáng vẻ yêu kiều của người con gái thủ đô,
chữ £hơm được dùng với nghĩa sắc nước hương trời vậy Người chiến sĩ của
Quang Dũng ra đi, mang theo cả phong thái hào hoa của người thanh niên trí
thức, cái phong thái đã giúp người chiến sĩ sống bằng đời sống tâm hồn phong
phú sau mỗi trận đánh ác liệt
Cái cuộc sống tâm hồn ấy là nguồn động lực giúp người lính tiếp tục chiến
đấu để giành độc lập tự do cho tổ quốc thân thương Và cũng vì thế, người chiến
sĩ chấp nhận hi sinh:
ải rác biên cương mô uiễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
39
DO €bpvi
Trang 37Cứ thử làm công việc tách hai câu thơ thành từng câu một Ôi! Ấn tượng bi
thảm đến vô cùng mà câu thơ đầu đem đến thật mạnh mẽ Không hiểu sao, cứ
mỗi lần đọc đến câu thơ này là tôi lại dừng lại chìm vào trong suy tưởng và
nước mắt cứ rưng rưng! Trên con đường gập ghénh xa thăm thẳm của miền
rừng núi, biên giới đoàn quân Tây Tiến cứ đi và thỉnh thoảng có những con
người phải tách ra khỏi đội hình Những nấm mộ của người chiến sĩ mọc lên
Câu thơ thật là bi thảm! Nhưng câu thơ sau như một lực nâng vô hình đã đưa
câu thơ đầu lên cao, cái bi thảm giờ đây đã trở thành cái bi tráng Nó bi tráng
và hào hùng bởi Quang Dũng đã nói được một điều cốt lõi trong nhân cách của
người lính: biết hy sinh, biết gian khổ nhưng vẫn cứ ra đi giải phóng quê nhà
Họ ra đi, chẳng tiếc đời xanh, bởi quãng đời tươi đẹp ấy đã hiến dâng cho một
lí tưởng cao đẹp: chiến đấu vì Tổ quốc Họ ra đi và ngã xuống thanh thản
không một chút vướng bận, cái chết được xem nhẹ tựa lông hồng
Áo bào thay chiếu anh uê đất
Sông Mã gâm lên khúc độc hành
Cách dùng từ đo bào của Quang Dũng làm cho câu thơ trở nên cổ kính Áo
bào chứ không phải chiến bào; người chiến sĩ như những danh tướng thời xưa,
da ngựa bọc thây là một điều vinh quang Cũng như thế, người lính coi việc hi
sinh trên chiến trường là một nghĩa vụ thiêng liêng Người chiến sĩ Tây Tiến
ngã xuống và thanh thản vé ddt Dat sinh anh ra và lại đón nhận anh về sau
khi làm tròn nghĩa vụ Anh oê đất như một hành động tựu nghĩa của những
anh hùng Mở đầu bài thơ là hình ảnh sông Mã, kết thúc bài thơ vẫn là tiếng
gầm réo của dòng sông Dòng sông tiễn đưa anh và đón nhận anh về:
Tay Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hôn uề Sâm Nứa chẳng uề xuôi
Quang Dũng khẳng định lại một lần nữa cái ý niệm nhất khứ bất phục hoàn
(một ra đi không trở lại) Đó cũng chính là quyết tâm của cả một thế hệ - của
cả một thời đại
Những gian khổ, hi sinh của cuộc kháng chiến là những kỉ niệm không thể
nào quên Sẽ không bao giờ có lại thời kì gian khổ đến mức ấy và cũng hào
hùng đến mức ấy Và cũng khó có thể có được một bài 7áy Tiến thứ hai
Thái Văn Vinh
(Trường PTTH chuyên Bình Định)
BÀI LÀM
Vào một đêm cuối năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, cái làng nhỏ nằm ven bờ
con sông Đáy hiền hòa thơ mộng, Quang Dũng bồi hôi nhớ lại những kỉ niệm
còn như tươi nguyên Hình ảnh những ngày Tây Tiến sống dậy trong tâm trí
ông Bấy giờ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta mới
DO-Gopy,
Trang 38bước sang năm thứ hai nhưng đã liên tiếp ghi được những chiến công vang dội,
bẻ gãy cuộc tiến công căn cứ địa Việt Bắc, thu đông 1947 Năm ấy, Quang Dũng
trong đoàn quân Tây Tiến làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên
giới Việt — Lào; đánh địch trên tuyến rừng núi Tây Bắc từ Lai Châu đến phía
bắc Thanh Hóa Đời lính chống Pháp vốn vô cùng thiếu thốn khổ cực Người
lính của trung đoàn Tây Tiến cũng thiếu thốn khổ cực Vì rừng thiêng nước độc,
sốt rét hoành hành, thuốc men ít ỏi; vì đường hành quân là trập trùng núi rừng
Tây Bắc - Thượng Lào hoang vu, hiểm trở Cũng như tất éả những người lính
Cụ Hồ lúc ấy, bên tai còn văng vẳng lời thể Quyết tứ cho tổ quốc quyết sinh, lời
hát hào hùng Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng 0ung gươm ra sa trường, những
chàng trai Tây Tiến chiến đấu bằng phẩm chất anh hùng Có điều lính Tây
Tiến hầu hết là thanh niên Hà Nội, trong đó phần đông học sinh, tiểu tư sản
trí thức nên chất anh hùng của người lính Tây Tiến có phong thái màu sắc
riêng - màu sắc lãng man — hao hoa
Trước hết cảm hứng lãng mạn Tây Tiến được nuôi dưỡng bằng nỗi nhớ thật
tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng thật chơi oơi như sự diễn tả của Quang Dũng:
Sông Mã xa rôi Tây Tiến ơi
Nhớ uê rừng núi nhớ chơi uơi
Nỗi nhớ vốn là trạng thái đơn thuần của đời sống tình cảm con người Được
sống trong cảm hứng lãng mạn, nỗi nhớ ấy mới như giăng mắc một màn sương,
rất khó định hình, rất khó gọi tên Cũng từ môi trường tình cảm này mà cả một
cuộc sống gian khổ chiến đấu, với chiến trường - người lính như đắm chìm trong
thế giới phi thường có gì bí ẩn nhưng cũng thật hào hùng, tha thiết gần gũi
Chiến trường trong bài thơ gian khổ, khắc nghiệt nhưng đồng thời cũng là
thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ ấm áp và mềm mại Có lúc thật hiển hòa
thơ mộng Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc có núi cao, vực sâu, dốc đứng, thác
gầm, cồn mây heo hút Lại có cả hương hoa, sương trắng trôi duyên đáng một
bông hoa đung đưa theo dòng nước lũ, một cô gái trên con thuyền độc mộc
Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ, dữ dội, trữ tình ấy nổi bật lên hình ảnh
đoàn quân Tây Tiến khi thì như bị ngập hút đi, khi thì như người đi tìm cảm
giác mạnh và đẹp giữa núi rừng Sự đối chọi và hòa hợp này đã làm tăng khí
phách anh hùng, vẻ hào hoa của người lính kháng chiến, tạo cho họ sự hấp dẫn
và vẻ đẹp khó quên
Phải vậy chăng mà càng qua thời gian vẻ đẹp Tây Tiến càng đẹp hơn, lúc
nào cũng lôi cuốn làm say mê người đọc
Hình ảnh người lính thật kì dị, khác thường dø xanh màu lá, đâu trụi tóc do
thiếu thốn, bệnh tật Những hình ảnh rất thực đó vào bài thơ với giọng và cách
diễn tả lãng mạn của Quang Dũng thành ra như mang nghĩa tượng trưng, rất
có khí phách:
Tay Tiến đoàn bình khéng mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hàm Hoặc cứi chết cũng vậy Những cái chết hàng loạt hay những cái chết đau
thương - chết mà không biết chết - cũng thật hào hùng:
“bo Copy
Trang 39Rải rác biên cương mô uiễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh uê đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Bởi lẽ ngòi bút Quang Dũng không run sợ trước cái chết của đồng đội anh
Nhà thơ chỉ muốn gió bựi, phong trân hóa cái chết ấy Và làm đẹp cho hình
ảnh người lính đã hi sinh Vậy nên mới có những hình ảnh rải rác biên cương
mô uiễn xứ; áo bào thay chiếu anh uề đất để ta càng nghe càng như thấy khúc
tráng ca về người tráng sĩ thuở nào
Có thể nói, nét độc đáo của thơ Quang Dũng thường bộc lộ khi thơ ông chen
giữa hai thái cực: đã hiện thực thì hiện thực đến dữ đội, đã lãng mạn thì lãng
mạn đến mộng mơ Bút pháp này thể hiện rất rõ khi miêu tả thiên nhiên Tây
Bắc Ấy là những câu thơ hầu hết là vân bằng dược nằm xen kẽ bên cạnh
những câu chắc, khỏe tạo sự đối lập âm hưởng Những câu thơ đó, vì thế mà rất
giàu chất tạo hình và gợi cảm Thiên nhiên vốn đã đẹp và thơ mộng, giờ đây
tựa như huyền thoại:
Mường Lát hoa uề trong đêm hơi
Nếu như sương lấp lạnh lùng, nặng nề đe dọa bao nhiêu thì hoa uê lại nhẹ
nhõm, tươi tắn ấm áp bấy nhiêu Hoa uễ trong đêm hơi — diễn tả một trạng
thái lâng lâng Dĩ nhiên là cái lâng lang vita đến trong một chặng đường mỏi
mệt Khung cảnh rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến bước chân qua, vừa thơ
mộng lại vừa hùng vĩ Tất cả đều được tác giả thể hiện ở khoảng cách xa xa, hư
ảo với kích thước có phần phóng đại khác thường, nói về cái hiểm trở, tác giả
đã dùng những hình ảnh thật độc đáo:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút côn mây súng ngửi trời
Tác giả không viết súng chạm trời mà là sứng ngửi trời đây là thủ pháp
cường điệu hóa (đặc trưng của bút pháp lãng mạn), ngoài ra còn thể hiện chất
hóm hỉnh nghịch ngợm của người lính Không những thế, khi nói về độ cao, tác
giả lại dùng tính từ chỉ độ sâu: Heo hút côn mây và có những câu thơ như bẻ
gãy làm đôi:
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Ngòi bút Quang Dũng thật độc đáo, đây ấn tượng, nếu ¿hơ là nơi thể hiện
đây đủ nhất, sâu sắc nhất ma lực kì ảo của ngôn ngữ thì những câu thơ này
quả đúng như vậy
Tuy nhiên bút pháp lãng mạn không chỉ thể hiện ở việc miêu tả thiên nhiên
mà còn thể hiện rất rõ trong việc miêu tả phong thái sống của người chiến sĩ
Tây Tiến Đọc hai câu thơ:
Tay Tiến đoàn bình không mọc tóc
Quân xanh màu lá đữ oai hùm
ta thấy rất rõ sự hiện diện của gian khổ khốc liệt Nhưng điều đặc biệt là gian
khổ khốc liệt này lại dường như lẫn vào bên trong, còn cái hiện ra bên ngoài
lại rất lãng mạn Câu thơ tạo nên hình ảnh đối lập: bên ngoài thì xanh như lá,
Trang 40đầu trọc, nhưng bên trong người chiến sĩ thể hiện một phong độ anh hùng, dữ và
oai như hùm nơi rừng thiêng nước độc Quang Dũng không hề che dấu những gian
khổ, thiếu thốn ghê gớm mà những người lính phải chịu đựng Chỉ có điều, cái
nhìn lãng mạn của ông đã thấy họ không ốm yếu, không bi lụy mà chứa đựng
một sức mạnh phi thường, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng Hình tượng người lính vì thế
mang dáng vẻ anh hùng kiểu chỉnh phu một đi không trở lại:
` Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Không những thế, bằng ngòi bút lãng mạn của mình, Quang Dũng đã tạo
nên một bức tượng đài tập thể không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng
vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong day thơ
mộng của họ:
Mắt trùng gửi mộng qua Biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Giữa rừng núi Tây Bắc, họ nhớ về một dáng biêu thơm, một bóng hồng thướt
tha Trong bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên, người chiến sĩ trong bài thơ cũng
nhớ về quê hương nhưng đây là nỗi nhớ của người lính xuất thân từ nông dân,
bởi thế, nỗi nhớ ấy cũng rất thiết tha nhưng vẫn mộc mạc chân thành và gắn
liền với công việc thường ngày:
Ba năm rôi gửi lại quê hương Mái lều tranh
“Tiếng mõ đêm trường Luống cày đất đỏ
It nhiều người uợ trễ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya Chiến sĩ Tây Tiến vốn là những chàng trai Hà Nội cho nên họ nhớ về một
dáng kiểu thơm đẹp quyến rũ Hồi Quang Dũng viết Tây Tiến chỉ tiết này bị
phê phán nhiều, nhưng thật là lạ, vì sao người ta lại muốn nỗi nhớ của mọi
người phải giống nhau Cũng là nỗi nhớ nhưng nỗi nhớ này được khen là tốt,
nỗi nhớ kia lại chê là dở Cũng may cái hẹp hòi, ấu trĩ ấy không tôn tại lâu
Hơn một lần, trong bài thơ, tác giả nói về cái chết:
Rải rác biên cương mô uiễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh uê đất
Sông Mã gâm lên khúc độc hành
Đã có một thời, người ta tránh nói về cái chết và về cái mất mát nhưng
Quang Dũng đã không từ chối điều đó, bởi lẽ chiến thắng nào mà không trả giá
bằng máu và nước mắt Và không có gì cao cả hơn một nỗi đau buôn lớn (An—
phret do Muyt—xé)
Nét đặc sắc của Tây Tiến là nói về chiến tranh mà không có một chữ nào về
trận đánh, về tiếng súng Và ba lần nói đến cái chết thì đều miêu tả một cách
rất giản dị bỏ quên đời, vé đất, hồn về để bình thường hóa cái chết Cảm hứng
lãng mạn, khiến ngòi bút của ông nói nhiều cái buôn, cái chết như là chất liệu
thẩm mĩ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng
43