Một trong những sáng

Một phần của tài liệu Những bài làm văn hay lớp 12 (Trang 53 - 66)

BÀI LÀM Cao dao có câu :

“Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà, Cả ba việc ấy thực là khó thay”

Có chàng trai nọ phải

“Một đêm ăn hết mười hai vại

cà…”, mới lấy được vợ, nhưng anh cu Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, chỉ “nhặt” thôi mà cũng được vợ ! Đọc truyện này, ta bị cuốn hút, đi từ ngạc nhiên này đến ngỡ ngàng nọ. Thật là thú vị. Có thể nói, nghệ thuật của Kim Lân về kể chuyện rất đặc sắc, một trong những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của ông là đã xây dựng được một tình huống truyện đầy kịch tính hấp dẫn.

Tình huống tạo nên vẻ đẹp và bản sắc của truyện, là một trong những phương diện quan trọng thể hiện tài năng và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Tình huống là sự diễn biến của sự việc, sự phức tạp của tình tiết, là cáo éo le, nghịch lý cuộc đời. Sự việc, câu chuyện “xảy ra như thế mà ta ngỡ là không phải thế”. Tình huống phải hợp với lôgíc cuộc sống thì truyện mới chân thực. Tình huống càng kỳ lạ bao nhiêu thì truyện mới hay và hấp dẫn bấy nhiêu ! Có thể nói, tính tình huống là một thành công lớn của Kim Lân trong truyện ngắn “Vợ nhặt”.

Anh cu Tràng là dân ngụ cư, nhà nghèo, xấu trai : “hai con mắt nhỏ tý… hai quai hàm bạnh ra…”. Hắn hơi ngố “có tật vừa đi vừa nói”… Mỗi lần Tràng xuất hiện là một dịp cho lũ trẻ con ngửa mặt lên cười hềnh hệpch” ! Nhiều tuổi rồi, tính nết dở hơi như trẻ con, chẳng ma nào lấy Tràng là phải lắm ! Tưởng là hắn sẽ ế vợ suốt đời. Ai ngờ “chiều nay”, hắn lại “nhặt” được, vớ được vợ mới tài chứ ! Cheo cưới không, ăn hỏi không, cỗ bàn không,… thế mà

“thị” theo hắn về nhà giữa thanh thiên bạch nhật. Lúc đói kém, người chết như ngả rạ, hoàn cảnh Tràng nuôi thân còn khổ, thế mà hắn dám cả gan đèo bòng vợ với con !

Tràng lấy vợ, “nhặt” được vợ đầy kịch tính. Chuyện ấy hầu như chưa xảy ra bao giờ. Giữa lúc

cái đói đã và đang tràn đầy xóm ngụ cư, một buổi chiều ẩm đạm, Tràng đi trước, theo sau là một người đàn bà xa lạ. Tràng thì “có một vẻ gì phởn phơ khác thường…

tủm tỉm cười nụ và hai mắt sáng lên lấp lánh”. Còn “thị” thì cắp cái thúng con, đầu gội cái nón rách tàng “có vẻ rón rén e thẹn”.

Lũ trẻ con xóm ngụ cư đã phát hiện ra sự kỳ lạ này đầu tiên, chúng đã gào lên châm chọc “Anh Tràng ơi ! Chông vợ hài !”. Người lớn ngạc nhiên lắm ! Họ bàn tán.

Người khẽ thở dài ái ngại. Có kẻ thì thầm hỏi nhau : “Ai đấy nhĩ ?”… “Quái nhỉ ?”… “Hay là vợ anh cu Tràng ?”. Có người thương cảm, ngại ngùng, lo xa :

“Oâi chao ! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái này không ?”… Trước những cặp mắt của dân ngụ cư xóm chợ “nhìn dồn cả về phía mình”, thị rất ngượng nghịu, “chân nọ bước dịu cả vào chân kia”, còn Tràng lại lấy làm khoái chí “cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”.

Tình tiết mẹ chồng gặp nàng dâu mới cũng đầy tính éo le vô cùng xúc động. Tràng nhặt được vợ, dẫn “thị” về nhà ra mắt mẹ già. Hắn chờ mỏi mắt, sốt cả ruột mà bà cụ Tứ vẫn chưa về.

Trong hoàng hôn, người mẹ già như chiếc bóng “húng hắng lo”,…

“lọng khọng” đi vào căn nhà “vắng teo… rúm ró…”. Người mẹ già đứng sững lại, càng ngạc nhiên hơn khi thấy một người đàn bà xa lạ đứng ở đầu giường con trai mình, lại chào bằng “u”. Bà tự hỏi : “Sao lại chào mình bằng u?

Không phải con cáu Đục mà 1. Bà lãi “hấp háy mắt” rồi tự dưng thấy

“mắt mình nhoèn ra”. Bà lão nhìn kỹ người đàn bà lần nữa rồi nhìn con trai… Ngạc nhiên lắm, bà mẹ già khẽ thốt lên : “Ô hay, thế là thế nào nhỉ ?”. Khi nghe con trai nói : Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi

đấy u ạ”, bà cụ Tứ mới vỡ lẽ ra là con mình đã lấy được vợ. Lòng bà

“vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”. Hai dòng nước mắt rủ xuống, bà khóc. Lòng bà trào lên nỗi mừng, lo, buồn, vui lẫn lộn. Buồn vì phận nghèo, mẹ già cô đơn, con trai đã luống tuổi mà vẫn cô độc sống thi thủi một mình. Tủi vì quá nghèo, nên đã không làm tròn bộn phận gây dựng hạnh phúc cho con. Mừng vì con trai đã lấy được vợ, dù là “vợ nhặt !”. Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới ? đến con mình. Mà con mình mới có vợ được ?”. Bà đã trải qua những năm dài cơ cực, chồng chết, con gái chết, nếm trải nhiều cay đắng, nạn đói khủng khiếp kép dài… lòng bà rối bới, bà lo :

“Chúng nó có nuôi nổi nhauq được cơn đói khát này không ?”. Càng nghĩ, nước mắt càng chảy ra. Bà nhìn nàng dâu mới lòng đầy xót thương! Bà an ủi : “Năm nay thì đói to đấy !. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá !”

Miêu tả tâm trạng mừng, tủi, buồn, lo… của bà cụ. Tứ , Kim Lân không chỉ đẩy tính tình huống của truyện lên điểm đỉnh mà còn làm cho câu chuyện Tràng lấy được vợ chứa chan tình người trong cái rủi ro cái may, trong hoạn nạn có phần hạnh phúc an ủi ! Tình huống anh Cu Tràng “nhặt “ được vợ đã làm cho truyện “Vợ nhặt”

thấm đẫm tinh thần nhân đạo.

Tràng có vợ thật rồi ! Sau

“tối tân hôn”, anh ta vẫn cảm thấy mình nằm mơ ! Đừng tưởng Tràng cục mịch, vai u thịt bắp và ngố nhé

! Rất phong tình và biết tán gái như nhiều chàng trai khác! Câu hò ỡm ở mà có duyên : “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này – Lại đây mà đẩy xe bò với anh, hì !…”. Một vài câu đối đáp, bốn bát bánh đúc, hai hào dầu, bỏ tiền ra mua một cái thùng… Chẳng có “quan tám tiền cheo, quan năm tiền cưới, lại đèo

buồng cau”…, thế mà Tràng đã nhặt được vợ !

Khi “thị theo hắn về nhà, hắn chợt, nghĩ mình nuôi thân chưa đủ mà còn đèo bòng, nhưng rồi hắn chặc lưỡi một cái : “Chặc, kệ !”. Nhặt được vợ mà cũng phải liều, dám liều ! Câu chuyện đầy tính kịch là ở đấy ! Trong “tối hận”, Tràng cười “khì khì”, vương cổ thổi tắt ngọn đèn hạt đậu, cô vợ

“giơ tay củng vào trán hắn…”.

Tiếng khóc hờ tỉ tê từ những gia đình mới có người chết đói nghe càng rõ trong đêm khuya. Bấy nhiêu chi tiết, tình tiết mà Kim Lân chọn lọc đưa vào, đã tô đậm tình huống của truyện, cuốn hút người đọc !

Buổi sáng đầu tiên sau ngày cưới vợ, Tràng dậy hơi muộn,

“việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải”. Giữa một khung cảnh tiếng quạ kêu, không gian ngột ngạt tử khí, người chết đói như ngả ra, tiếng trống thúc thuế, tiếng hờ khóc tỉ tê, tiếng thở dài và những giọt nước mắt của người mẹ già nghèo khổ,… đã tạo cho truyện

“Vợ nhặt” ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Tác giả đã tố cáo tội ác của Pháp, Nhật vơ vét thóc lúc của dân ta, gây ra tai nạn đói khủng khiếp nắm Aát Dậu, 1945. Trong bối cảnh bi thảm ấy, giá trị người con gái rẻ mạt. Nếu như trong truyện thơ

“Tiễn dặn người yêu”, cô gái Thái bị ép duyên, đau khổ than : “Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa…”, sau đó bị đem bán với cái giá một cuộn lá dong, thì ở đây người đàn bà Tràng “nhặt” được củng chỉ bằng bốn bát bánh đức và hai hào dầu…

Tình huống của truyện đã góp phần làm nổi bật tấm lòng của mẹ đối với con. Có nỗi đau, nỗi buồn nào lớn hơn nỗi đau, nỗi buồn của người mẹ già nghèo khổ thấy con trai mình ế vợ ? Có hạnh phúc nào sâu sắc hơn, to tát

hơn khi người mẹ thấy con trai mình “có vợ được”, dù đó là “vợ nhặt”.

Tình huống truyện còn góp phần làm rõ thêm triết lý sống của người nghèo. Trong nạn đói khủng khiếp, cái chết đói đang đến gần, chuyện “nhặt vợ” của Tràng đã có sự lựa chọn rất thiết thực ! Có vợ đã,… dù ngày mai, ngày kia… có chết đói vẫn cam tâm. Cái chặc lưỡi của Tràng đã thể hiện rõ điều ấy ! Tràng “nhặt” được vợ, trong cái rủi ro cái may. Hạnh phúc đến với Tràng và mẹ già quá to lớn và bất ngờ ! Trong tai họa, những người nông dân như mẹ con Tràng vẫn nhen nhóm niềm tin một sự đời : “Ai giàu ba họ,ai khó ba đời !”.

Cái nhan đề “Vợ nhặt”, hình ảnh lá cờ đỏ to lắm của đoàn người đi phá kho thóc Nhật, bát cháo cám sau ngày Tràng “cưới vợ”, cảnh tượng gia đình bà cụ Tứ, từ trong nhà đến ngoài sân ngoài ngõ, từ đống rác đến mấy bộ quần áo quần rách “như tổ đỉa” hai cái ang nước… đều góp phần tô đậm tình huống truyện. Một câu hỏi cứ trăn trở hoài trong tâm trí người đọc : Liệu Tràng, vợ Tràng và bà cụ Tứ có vượt qua được trận đói năm Aát Dậu không? Ta thương và lo cho họ. Kim Lân đã dành cho mẹ con Tràng một tình thương yêu và cảm thông đáng quý.

Bài 35

Phân tích nhân vật Đào trong truyện ngắn “Mùa lạc”

của Nguyễn Khải BÀI LÀM

“Tôi lạy ông Cầu bà Quán Phù hộ cho mẹ đĩ nhà tôi Nó ăn nó chơi

Nó tươi nó cười Như con ngựa ngáp Làm ăn chậm chạp Có tính nỏ mồm Đi chợ bao nhiêu

Khoai lang củ từ cũng chứa

Vớt bèo thì ngứa Xay lúa nhức đầu…”

Bài hát trên của Huân trong một tiết mục văn nghệ đê châm chọc hay là để mừng chị Đào trong niềm vui hạnh phúc duyên mới ?

“Mùa lạc” là truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Khải in trong tập truyện ngắn cùng tên, xuất bản năm 1960. Tập truyện ngắn này được bạn đọc đánh giá khá thành công trong việc phản ánh số phận con người trong cuộc sống lao động trên miền Bắc trong những năm đầu xây dựng hòa bình, phục hồi và phát triển kinh tế.

Nguyễn Khải quan tâm đến sự biến đổi số phận của những con người, những phụ nữ và trẻ em nếm trải nhiều cay đắng thương đau trong xã hội cũ, nay được đổi đời, tìm thấy hạnh phúc và chỗ đứng trong cuộc sống mới. Tiêu biểu cho những con người ấy là Đào. Đào là một phụ nữ có những nét riêng rất dễ nhận ra trong chân dung ngoại hình, trong nét tâm lý và tính cách. Hai mươi tám tuổi đời với những năm tháng lận đận bất hạnh. Lấy chồng từ năm mười bảy tuổi. Chồng cờ bạc rượu chè. Chồng chết ; mấy tháng sau đứa con liên hai cũng qua đời.

Chị trở thành góa bụa, cô đơn.

Không vốn liếng, không cửa nhà, không người thân thích ! Một chút duyên thầm thời con gái nay đâu còn nữa. Gò má cao đầy tàn hương. Cái đầu nhọn, cặp chân ngắn, bàn tay thô với những ngón tay rất to. “Hai con mắt hẹp và dài đưa đi đưa lại rất nhanh”. Thân người “sồ sề”, hàm răng “khểnh”, chiếc khăn vuông vải kẻ bịt đầu càng làm cho Đào trở nên “thô” và

“đỏng đảnh”. Những nét ngoại hình ấy hé lộ một cá tính, một đời sống nội tâm của đời người đàn bà trải qua nhiều bão tố và bất hạnh !

Sau khi chồng, con chết, Đào đã bươn trải ngược xuôi kiếm sống “đòn gánh trên vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường”. Hòn Gai, Cẩm Pha, Lào Cai, Hà Nam,… chị đã buôn thúng bán mẹt, kiếm ân lần hồi. Chợ Cuối Chắm, đò Tràng Thưa, Phố Rỗng, chợ Bì, chợ Bưởi,… đều in dấu chân chị.

Nhiều lúc ốm đau, nằm nhờ người quen, bưng bát cơm nóng nhìn ngọn đèn dầu, lòng chị tê tái “sực nhớ trước đây, mình cũng có một gia đình, có một đứa con…”. Năm tháng đã trôi nhanh, chiếc áo nâu vá vai đã bạc màu “mái tóc óng mượt ngày xưa… đã khô lại, đỏ đi như chết, hàm răng phai không buồn nhuộm… gò má càng cao, tàn hương càng nổi nhiều…”. Đau khổ quá chừng, có lúc Đào “muốn chết nhưng đời còn dài nên phải sống”. Mưa nắng cuộc đời làm nảy sinh ở người đàn bà này một tính cách dự dội, phức tạp : “Chị sống táo bạo và liều lĩnh, ghen tị với mọi người và hờn giận cho thân mình”. Đoạn đời bất hạnh của Đào đã được Nguyễn Khải kể lại với bao xót thương và cảm thông sâu sắc. Số phận của Đào bắt đầu đổi thay khi chị trở thành đội viên đội sản xuất số 6 của nông trường Hồng Cúm. Lúc đầu chị lên nông trường với một tâm lý “con chim bay mãi cũng mỏi cánh, con ngựa chạy mãi cũng chồn chân”, muốn tìm đến một nơi thật xa xôi, hẻo lánh để quên đi nỗi buồn đau quá vãng. Chị chẳng hy vọng, chẳng quan tâm mấy về những ngày tới, có lúc như cam chịu số phận đã an bài “quân tử gian nan, hồng nhan bạc mệnh” ; có lúc chua chát thốt lên : “Trau quá sá, mạ quá thì, hồng nhan bỏ bị còn gì là xuân…”.

Đào đến Điện Biên vào đầu xuân, sau tết độ nửa tháng.

Hình như mùa xuân đã góp phần làm hồi sinh tâm hồn chị ? Cuộc sống lao động sôi nổi và mối quan

hệ tốt đẹp giữa những con người trẻ trung, đầy tình thương, nhiều mơ ước như đã thổi bùng lên một ngọn lửa trong lòng người đàn bà đã trải qua nhiều cay đắng, đau khổ này ! Đào đã nhập cuộc với bài thơ đang báo tường “Đường lên nông trường Điện Biên” ; bài thơ liền được nhiều người thuộc và ngâm nga. Vốn là một người đàn bà sắc sảo, sống có góc cạnh, thuộc nhiều cao dao vần vè, Đào biết “ăn miếng trả miếng” khi bị các nông trường viên gán ghép trêu ghẹo. Có lúc không kém phần đanh đá, chua ngoa : “Huê thơm bán một đồng mười. Huê tàn nhị rữa giá đôi lạng vàng”… Sống giữa những con người yêu đời, ham sống, nhân ái như Huân Duệ, Lâm, Dịu… Đào tìm thấy nguồn vui và lòng tin yêu ở con người ; chị lao động hăng hái, giỏi giang chẳng thua kém gì thanh niên. Cái tiêu cực của lối sống liều lĩnh, hay ghen tị với mọi người dần dần bị đẩy lùi. Mặc cảm về thân phận hẩm hiu được thay đổi dần dần. Chị “bừng bừng thèm muốn một cảnh gia đình hạnh phúc:.

Niềm hy vọng chứa chan “một cái gì chưa rõ nét lắm nhưng đầm ấm hơn, tươi sáng hơn những ngày đã qua cứ lấp lóe ở phía trước”. Ngòi bút của Nguyễn Khải khá tinh tế trong việc miêu tả những biến thái và rung động trong tâm hồn Đào trước sự đổi đời với tấm lòng trân trọng, nâng niu.

Cuộc đời của Đào đã sang trang. Bức thư cầu hồn của Dịu, ông trung đội trưởng già góa vợ, trách lò gạch nông trường đã đem đến cho chị một sự “đổi đời”.

Lòng chị tràn đầy hy vọng và mơ ước về tương lai. Có lẽ đây là bức thư tình đầu tiên và duy nhất mà đời một người phụ nữ như Đào nhận được ? Những lời tỏ tình của người đàn ông góa vợ “như tiếng nhạc ngân vang mãi trong lòng”

Đào ; nó đã “thức tỉnh nổi khao

khát yêu đương, khao khát hạnh phúc mà chị cố hắt hủi, vùi nén”

bấy lâu nay !

Hạnh phúc giản dị mà Đào tìm thấy được càng thêm nhiều ý nghĩa khi nó được nảy nở trên mảnh đất Điện Biên, nơi mấy năm trước là chiến trường ác liệt. Đất lành chim đậu, Đào quyết định ở lại nông trường “quê thứ hương hai”, như chị đã tâm sự : “Chẳng ai ở vậy được suốt đời, chẳng ai muốn đi vất vưởng mãi”, ai cũng muốn có một quê hương”. Nếu như màu xanh của cây cỏ, của hoa màu, khoai, lạc lấn dần cỏ dại, rừng hoang, xóa dần dấu tích tàn phá của chiến tranh, thì hạnh phúc mới của Đào – một người đàn bà cô đơn, góa bụa,… tìm thấy được ở nông trường đã khẳng định một sự thật cảm động “sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ…”. Và con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúdc chân chính trong lao động giữa cộng đồng đầy tình thương. Nguyễn Khải đã khám phá và chỉ ra sự thật ấy và đã tạo nên giá trị nhân bản của truyện ngắn này.

Giữa những đống thân lạc chất cao, trong gió mát đầu thu, hình ảnh Đào, đầu bịt chiếc khăn vải kẻ ô vuông nhọn hoắt, ôm từng bó lạc lớn chuyển lên cáng, mồ hôi thánh thót, thớ thịt căng ra như xé rách manh áo nâu đan mặc… cho ta nhiều ấn tượng. Đi theo sau chiếc cáng chất đầy thân lạc, Đào cất tiếng hát véo von giữa một không gian bát ngát tràn trề màu xanh thắm của có nghệ, cụm ké đồng tiền, nụ hoa trắng rau tàu bay, hoa dền hình tháp bút đỏ tía,

“Tháng tư là gió dâng lên Gió đông cửa đền, gió động năm cung

Tháng năm cất gió đùng đùng

Bước sang tháng sáu gió rồng phun mưa…”

Gió từ bài ca dân ca hay gió từ cuộc đời mới đang phất phới trong lòng Đào ? Đào đang sống trong một tâm trạng hồ hởi. Chị phản ứng vui vẻ trước những lời đùa cợt của bạn bè. Trong cái đanh đá tỏa rộng một tình đời ấm áp, tươi vui : “Về là về cửa về nhà – Một trăm năm nữa mới đà về quê”.

Đào ăn miếng trả miếng hay đang hát Mùa thu hoạch lạc trên nông trường bận rộn, khẩn trương cũng là mùa đem lại niềm vui, hạnh phúc, cho Đào và Dịu, cho Duệ và Huân, cho bao lứa đôi khác… Ở cuối tác phẩm, người đọc gặp lại một chị Đào tươi trẻ, có nhiều đổi thay trong tâm lý, tính tình.

Tóm lại, Nguyễn Khải đã thể hiện sự đổi thay số phận con người bằng một tấm lòng nhân hậu, nhiều trắc ẩn và yêu thương.

Một vấn đề về thân phận và hạnh phúc con người được khám phá và miêu tả tinh tế, sâu sắc, cho thấy một quan niệm giàu tính nhân đạo của nhà văn về con người và xã hội. Đó là sự cảm thông và đồng cảm với những đau thương, bất hạnh của đồng loại ; trân trọng những khao khát yêu thương và hạnh phúc của con người sau chiến tranh. Một niềm tin về con người và cuộc sống mới. Nhà văn như muốn bày tỏ cùng bạn đọc gần xa : Cuộc sống mới trong lao động và hòa bình sẽ làm nảy nở những tính chất và tâm hồn đẹp trong nhân dân. “Mùa lạc” là một truyện ngắn giàu tính nhân văn, nó đánh dấu một bước trưởng thành của Nguyễn Khải trong nghệ thuật kể chuyện, trong khắc họa tính cách nhân vật, trong vận dụng ngôn ngữ dân gian… để nói về thân phận con người. “Mùa lạc” cũng là mùa vui, mùa hứa hẹn hạnh phúc cho những lứa đôi…

Một phần của tài liệu Những bài làm văn hay lớp 12 (Trang 53 - 66)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(69 trang)
w