§ång thêi vËndông nh÷ng hiÓu biÕt bªn ngoµi x· héi ®Ó c¶m thô lÝ gi¶i ®êi sèng trong t¸c phÈm v¨n häc.. Bµi häc thùc tÕ rót ra cho b¶n th©n hay viÖc liªn hÖ víi thùc tÕ cuéc sèng.[r]
Trang 1Chuyên đề:
Đổi mới phơng pháp dạy học gắn với thực tế
đời sống trong dạy học bộ môn Ngữ Văn ở THCS
I Đặt vấn đề.
Tục ngữ có câu “ Học đi đôi với hành” Nh vậy, từ xa xa ông cha chúng ta
đã coi trọng việc vận dụng lí thuyết vào phục vụ cuộc sống Ngày nay, dạy học gắn với thực tế đời sống càng đợc Đảng,Nhà nớc và ngành giáo dục đặc biệt quan tâm Bởi vậy ngay từ những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nớc đã
có những hội nghị, hội thảo chuyên đề về dạy học gắn với đời sống Cho đến những đợt cải cách sách giáo khoa gần đây cũng nh những cuộc vận động của ngành đều hớng tới việc tăng tính thực hành, tính thực tiễn của bài học Tất cả những vấn đề đó không ngoài mục đích đào tạo những con ngời vững
lí thuyết giỏi thực hành, tự chủ, độc lập, sáng tạo trong công việc đáp ứng
đ-ợc những yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nớc
ở chuyên đề này chúng tôi chỉ giới hạn việc tìm hiểu vấn đề ĐMPPDH gắn với đời sống ở bộ môn Ngữ Văn và chỉ liên hệ với những bộ môn khác khi cần thiết Nh chúng ta đã biết, từ xa đến nay bộ môn Ngữ Văn là một trong những bộ môn rất quan trọng trong nhà trờng Điều đó đợc thể hiện ở số tiết trong tuần cũng nh là môn bắt buộc đối với các kì thi học ki, thi chuyển cấp Bởi dạy ngữ văn là bồi dỡng chính trị, đạo đức, t tởng( đối với dạy văn bản)
và rèn luyện kĩ năng giao tiếp, dùng từ, đặt câu và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt( đối với dạy tiếng Việt) cũng nh rèn luyện kĩ năng tạo lập các loại văn bản phù hợp với hoàn cảnh và các tình huống giao tiếp trong và ngoài nhà trờng( đối với dạy Tập làm văn)
Tuy nhiên thức tế hiện nay cho thấy đa số học sinh không mặn mà với môn Ngữ Văn Kết quả là nhiều học sinh cấp II thậm chí cấp III rất mơ hồ về kiến thức văn học, đọc cha thông, viết cha thạo, giao tiếp không trôi chảy, cũng
nh rất lúng túng trong việc tạo lập văn bản Bên cạnh đó một bộ phận học sinh còn vi phạm đạo đức, vị kỉ, ít quan tâm đến ngời khác, ít rung cảm trớc
số phận con ngời
II Giải quyết vấn đề.
Xuất phát từ thực tế đó, ở chuyên đề này chúng tôi mong muốn chúng ta cần có cái nhìn mới về dạy học môn Ngữ Văn trong nhà trờng hiện nay.Từ
tr-ớc đến nay dạy học gắn với đời sống còn đợc diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nh học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tế Đó là nguyên tắc cơ bản chi phối mọi hoạt động của tất cả các môn học trong nhà trờng nói chung và dạy học Ngữ Văn nói riêng Vì xét đến mục đích cuối cùng của quá trình dạy học không chỉ là việc học sinh có học thuộc lí thuyêt hay không mà cần chú
ý đến khả năng vận dụng đợc lí thuyết vào phục vụ cho cuộc sống hay không Nói nh thế việc vận dụng nguyên tắc này vào dạy học bộ môn ngữ văn là một tất yếu
DạyNgữ văn gắn với đời sống là làm cho bài dạy, tiết dạy có tác dụng thiết thực đối với việc bồi dỡng t tởng, chính trị, đạo đức tình cảm cho học sinh Cuộc sống đợc nói dến ở đây không có gì khác hơn là thực tiễn xã hội, thực tiễn cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nhân dân thế giới Và cuộc sống
ở trong tác phẩm văn học chẳng có gì khác, chẳng có gì xa lạ mà đó chính là cuộc sống chung quanh ta đợc phản ánh vào trong tác phẩm qua cái nhìn của tác giả Từ cuộc sống con ngời trong tác phẩm làm cho học sinh cảm nhận
Trang 2đ-ợc rõ hơn cuộc sống ở bên ngoài Đó là cuộc sống trong quá khứ, trong hiện tại và tơng lai Giúp cho chúng ta lấy cái mới soi vào cái cũ, lấy cái cũ làm cơ sở phát triển cái mới Đồng thời vậndụng những hiểu biết bên ngoài xã hội để cảm thụ lí giải đời sống trong tác phẩm văn học Dạy học Ngữ Văn gắn với đời sống là làm cho học sinh hiểu rõ cuộc sống và chiến đấu của nhân dân ta từ xa đến nay Từ đó hình thành cho các em thái độ đúng đắn, trách nhiệm của bản thân đối với quê hơng đất nớc Bên cạnh đó còn giúp cho các em có cái nhìn toàn diện về cuộc sống chiến đấu và lao động của nhân dân thế giới
Tuy nhiên khi dạy tác phẩm văn học gắn liền với đời sống phải chú ý đến những nguyên tắc cơ bản nh tính vừa sức, tính tiêu biểu, tính giáo dục của chất liệu Chẳng hạn chất liệu đó tơng đồng hay tơng phản với kiên thức trong bài học, có phù hợp với yêu cầu mức độ của kiến thức ở sách giáo khoa
và đặc điểm của lứa tuổi hay không Chất liệu đó phải chính xác, tiêu biểu có tính giáo dục cao, gần gũi, dễ học dễ nhớ…Thái độ của giáo viên khi đa chất liệu của đời sống vào bài dạy phải chân thành, phơng pháp phải tế nhị
Dạy học Ngữ văn gắn với đời sống phải đợc thực hiện trong các khâu lên lớp của giáo viên Từ khâu thiết kế bài giảng, hệ thống câu hỏi, phơng pháp tổ chức dạy và học…khi kết thúc bài học phải đọng lại ở học sinh những nội dung kiến thức: Tác giả, tác phẩm, thể loại, hoàn cảnh ra đời, nội dung, nghệ thuật, những gửu gắm của tác giả vào trong tác phẩm Bài học thực tế rút ra cho bản thân hay việc liên hệ với thực tế cuộc sống
VD khi dạy xong bài Tinh thần yêu nớc của nhân dân ta hoc sinh phải hiểu
đợc tinh thần yêu nớc là một truyền thống quý báu của dân tộc ta Từ đó cho các em tự liên hệ và chỉ ra các biểu hiện của tinh thần yêu nớc trong thời chiến và trong thời bình Đối với học sinh thì yêu nớc đợc thể hiện bằng
những việc làm cụ thể nào Hay khi học bài Đức tính giản dị của Bác Hồ học
sinh phải nắm đợc cái giản dị ở Bác là nét đẹp là chuẩn mực tiêu biểu của cuộc sống văn minh hiện đại Giúp các em tự xem xét lại bản thân để có những điều chỉnh thích hợp
Nếu dạy văn bản là giúp học sinh khám phá, chiếm lĩnh các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thông qua hệ thống ngôn từ và hình tợng nghệ thuật hớng các em tới Chân-Thiện -Mĩ thì dạy học tiéng Việt là một vấn đề hết sức phức tạp Vì phân môn này có liên quan mật thiết với các bộ môn khoa học khác và khi đi vào ngữ cảnh lại có sự chuyển hoá linh hoạt thú
vị Vậy dạy tiếng Việt gắn với đời sống là giúp học sinh nắm vững và sử dụng thành thạo những kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các quy tắc tạo từ, tạo câu, tạo văn bản…Thông qua các bài học đó các em tự tích luỹ kiến thức, rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo.Và có
ý thức sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mức có văn hoá trong giao tiếp với bạn
bè, thầy cô trong nhà trờng và ngoài xã hội Hình thành ý thức tôn trọng, tự hào, bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Trong quá trình lên lớp giáo viên phải đa học sinh vào những tình huống có vấn đề để học sinh bộc
lộ hết khả năng t duy ngôn ngữ của mình.Ví dụ khi dạy bài Từ ngữ địa
ph-ơng và biệt ngữ xã hội ( TV 8- Tập1) Sau khi hình thành kiến thức cho học
sinh chúng ta có thể đặt một số câu hỏi để kiểm tra đánh gia nhận thức của học sinh nh: có nên lạm dụng từ ngữ địa phơng và biệt ngữ xã hội không? Sử dụng từ ngữ địa phơng và biệt ngữ xã hội đúng với tình huống giao tiếp sẽ phát huy hiệu quả gì? Từ đó hình thành ở các em ý thức sử dụng từ ngữ địa phơng và biệt ngữ xã hội phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Trang 3Đó là quá trình dạy học văn bản và tiếng Việt còn dạy học tập làm văn gắn với đời sống là cung cấp một cách có hệ thống, toàn diện các kiến về văn bản: các phơng thức biểu đạt, đoạn văn, bố cục Bên cạnh đó thông qua các giờ luyện tập, luyện nói, các tiết trả bài để rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản cho học sinh Giúp các em tạo đợc những văn bản thông dụng phục vụ cho học tập và giao tiếp trong đời sống Ngăn ngừa, hạn chế việc học sinh sao chép các bài mẫu, hay là hiện tợng nghĩ gì viết nấy miễn là có chữ
Nh vậy chúng ta thấy dạy Ngữ Văn gắn với đời sống là giúp học sinh nhận thấy đợc rằng các vấn đề lí luận, lí thuyết tạo lập văn bản hay các kiến thức
về tiếng Việt trong chơng trình Ngữ văn THCS không phải là những điều khô cứng, xa lạ tách rời với cuộc sống mà đó chính là thực tiễn cuộc sống sinh động muôn màu, muôn vẻ đợc đúc kết, khái quát một cách có hệ thống, khoa học
Tuy nhiên dạy học Ngữ văn gắn với đời sống cũng cần chú ý đến mặt trái của nó Nhiều khi giáo viên quá say sa với việc liên hệ đời sống mà biến giờ văn thành giờ thuyết giảng chính trị, đạo đức hay tuyên truyền cho một chủ trơng đờng lối nào đó Nh thế chúng ta đã đánh mất đi tính nghệ thuật, tính thẩm mĩ, đánh mất đi cái tôi cá nhân của tác giả Chúng ta không nên làm thay cho học sinh mà hớng dẫn các em sử dụng vố sống, sự hiểu biết của bản thân để tiếp nhận bài học một cách có hiệu quả Cũng nh giáo viên không nên tuyệt đối hoá việc dạy học gắn với đời sống cho đó là tiêu chuẩn là cơ sơ
để đánh giá giờ dạy của giáo viên và hiệu quả học tập của học sinh
III Kết luận- Bài học kinh nghiệm.
Nh vậy dạy học gắn với đời sống là một nguyên tắc dạy học quan trọng không những riêng bộ môn Ngữ Văn mà những bộ môn khác cũng vậy Vì mục đích cuối cùng của việc dạy học là giúp học sinh vận dụng những kiến thức đã học phục vụ cho đời sống sinh hoạt và lao động Đây là vấn đề không mới nhng trớc tình trạng học tập môn Ngữ Văn đáng báo động nh hiện nay
Sự thiếu hụt kiến thức Văn học, đọc cha thông viết ch thạo tiếng mẹ đẻ của một bộ phận học sinh thì tính thiết thực của chuyên đề nh dã phân tích ở trên vẫn có nhiều hứa hẹn
Với thời gian cho phép cũng nh sự có hạn của chuyên đề chúng tôi không
có tham vọng gì hơn ngoài việc giúp học sinh đọc thông viết thạo tiếng mẹ
đẻ Giao tiếp có văn hoá, có lối sống lành mạnh, có ý thức trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, có lòng nhân ái bao la, có tình yêu quê hơng đất nớc sâu nặng Mong muốn đào tạo những con ngời đủ đức đủ tài chủ động sáng tạo trong mọi công việc
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi những hạn chế chủ quan Vì vậy trong quá trình triển khai chuyên đề chúng tôi rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của lãnh đạo trờng, của các đồng nghiệp để chuyên đề đợc hoàn thiện, có hiệu quả thiết thực hơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Trạch, ngày… tháng… năm 2011
Ngời báo cáo
Trang 4Tr¬ng V¨n HiÕu