Chính sách phát triển của từng nước B: Brasil – câu chuyện về tăng trưởng đều Chính sách kinh tế của Tổng thống Rousseff được kế thừa từ ông Luca da Silva trái Trong mười năm qua, Brazi
Trang 1NHÓM CÁC NƯỚC BRIC
I Sự hình thành của nhóm nước BRICS
1 Tiềm năng sức mạnh
BRICS (Brasil, Russia, India, China, South Africa) có những tiềm năng thật ấn tượng Nhóm này
sở hữu những nguồn quan trọng nhất cho sự tăng trưởng, như chiếm hơn 1/4 diện tích đất đai, 41% dân số, gần 25% GDP, 15% thương mại và gần 50% tổng dự trữ ngoại tệ và vàng của thế giới Dự trữ ngoại tệ của BRICS hiện tới trên 4.100 tỉ USD, trong đó của Trung Quốc trên 3.200
tỉ USD, của Brazil 200 tỉ USD, của Nga 404 tỉ USD, của Ấn Độ 254 tỉ USD
2 Chính sách phát triển của từng nước
B: Brasil – câu chuyện về tăng trưởng đều
Chính sách kinh tế của Tổng thống Rousseff được kế thừa từ ông Luca da Silva (trái)
Trong mười năm qua, Brazil đã trải qua những chuyển đổi sâu rộng
Nguồn gốc của quá trình này bắt nguồn từ kế hoạch hiện đại hóa đất nước trong những năm
1990, bao gồm một chương trình tư nhân hóa thành công, ổn định được kinh tế và củng cố của
hệ thống ngân hàng
Về kinh tế, chính quyền của ông Luiz Inácio Lula da Silva (vốn thuộc phe đối lập với chính phủ của người tiền nhiệm, Fernando Henrique Cardoso) đã triển khai các chính sách kinh tế chính bao gồm thắt chặt tài chính, giữ lạm phát theo chỉ tiêu và duy trì tỷ giá hối đoái linh hoạt
Kết quả là, rủi ro của đầu tư vào Brazil giảm đáng kể, tỷ lệ tăng trưởng tăng lên, mức lạm phát giảm và dòng vốn đầu tư nước ngoài chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc và dự trữ ngoại hối của Brazil vượt quá 350 tỷ đôla
Ngoại thương của Brazil tăng mạnh và đạt 500 tỷ đôla vào năm 2011, với Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế chính của Brazil, vượt qua Hoa Kỳ
Quá trình quốc tế hóa nền kinh tế Brazil đã và đang tăng tốc, và các công ty đa quốc gia của Brazil (như ngân hàng và các công ty xây dựng, sản xuất thịt, máy bay, thép, vận tải và dệt may)
đã có sự hiện diện nổi bật ở nước ngoài
Ngày nay, Brazil đứng thứ 7 trên thế giới về GDP, và dự kiến sẽ vượt qua Anh Quốc vào năm
2011 để leo lên vị trí thứ 6
cuu duong than cong com
Trang 2Chương trình xã hội
Trong lĩnh vực xã hội, Brazil đã đầu tư rất nhiều vào các chương trình hỗ trợ cho dân nghèo - chủ yếu thông qua các dự án Bolsa Familia theo đó cấp tiền cho các hộ gia đình để đầu tư vào giáo dục
Phân nửa dân số Brazil thuộc tầng lớp trung lưu
Cùng với việc tăng lương trên mức lạm phát và kinh tế tổng thể đạt tăng trưởng, có tới 40 triệu người Brazil đã gia nhập tầng lớp trung lưu
Tức là nay có tới phân nửa người dân Brazil (trong đất nước 190 triệu dân) thuộc tầng lớp trung lưu
Thị trường nội địa đã mở rộng đáng kể, với các chương trình khuyến mại tín dụng cho người tiêu dùng
Với sự ổn định kinh tế và đạt được niềm tin từ cộng đồng thế giới, Brazil đã đạt được vị thế đáng
kể hơn trên trường quốc tế
Sự hiện diện tại nước ngoài tăng lên đáng kể, với việc mở cửa hơn 40 đại sứ quán, chủ yếu là ở châu Phi, châu Á, Trung Mỹ và Caribbean
Tham gia năng động
Brazil là một trong những nước đóng vai trò lớn trong các cơ quan quốc tế đối với các vấn đề toàn cầu, chẳng hạn như môi trường, biến đổi khí hậu, năng lượng (hóa thạch và tái tạo), ngoại thương, nguồn nước và nhân quyền
Là ứng cử viên cho một ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (một khi có cải cách), Brazil là một thành viên của nhóm G20 quyết định, diễn đàn có nhiều ảnh hưởng cho các chủ đề kinh tế toàn cầu
Brazil là quốc gia có thể được hưởng lợi nhiều nhất từ các nhóm mà kể như phải mất nhiều năm mới đạt được những tiến bộ như đã có được
Theo đề xuất của Brazil, nhóm BRIC sẽ chính thức khuôn khổ hoạt động và sẽ nhóm họp thường xuyên, tạo ra lực đẩy quốc tế quan trọng với các ảnh hưởng về chính trị và kinh tế của bốn nước
và nay có thêm thành viên mới là Nam Phi
Sự hiện diện của Brazil không bị giới hạn bởi Nam Mỹ - mà quốc gia này đang chủ động hội nhập tại châu Phi và Trung Đông, chủ yếu vì "quyền lực mềm" của nước này
cuu duong than cong com
Trang 3Thách thức phía trước
Brazil có tiếng nói có ảnh hưởng nhiều hơn trên trường quốc tế
Hiện có một số thách thức cho Brazil trong những năm tới
Về kinh tế, để đảm bảo tính liên tục của các chính sách kinh tế hiện nay, Quốc hội cần phải phê duyệt một số cải cách cơ cấu, liên quan đến thuế, an sinh xã hội, quan hệ lao động và chính trị
Một vấn đề cấp bách là giảm chi phí đầu tư cao trong nước - chi phí tăng do thực trạng thiếu hiệu quả của bộ máy Nhà nước, lãi suất cao, giá trị đồng tiền tệ, t cơ sở hạ tầng còn yếu và giá năng lượng cao
Nếu những vấn đề này được giải quyết thành công, nó sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế khoảng trên 35%
Brazil sẽ phải nhận trách nhiệm lãnh đạo và trợ giúp các nước nghèo hơn và sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong các nhiệm vụ hòa bình của Liên Hợp Quốc
Brazil đã không còn là một quốc gia ngồi chờ phản ứng và đã tỏ ra là nước chủ động trong quan
hệ song phương và có lập trường kiên định tại các cơ quan quốc tế
2 R: Russia từ khủng hoảng lên kinh tế thị trường
Từ 1989-1998, nước Nga trải qua giai đoạn khủng hoảng trầm trọng Khủng hoảng về chuyển đổi, gắn liền với sự sụp đổ của hệ thống Xô-viết và hàng loạt các cải cách khác Kết cục là nước Nga trở thành quốc gia có nền kinh tế thị trường
Từ 1995-1997, các thể chế của nền kinh tế mới vẫn còn ở dạng phôi thai Nhưng những vấn đề của chế độ xã hội chủ nghĩa trước như thiếu hàng hóa đã chấm dứt
Giờ đây, đồng tiền đã mang giá trị thật của nó, và cơ cấu của nền kinh tế mới đã bắt đầu hình thành Lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ, kinh tế Nga hoạt động theo quy luật cung cầu
Mặc dù vẫn còn nhiều người cho rằng kinh tế Nga phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ và các nguyên vật liệu thô nhưng chuyện này đã diễn ra trước đó nhiều thập kỷ Vào cuối những năm
1960, các quặng dầu mỏ và khí đã được tìm thấy ở phía Tây Siberia Việc giá dầu thế giới tăng vào những năm 1970 đã củng cố thêm sự phụ thuộc của Nga vào xuất khẩu dầu thô
Trong giai đoạn khủng hoảng chuyển đổi từ năm 1989 đến 1998, tăng trưởng GDP của Nga giảm 40%, sản xuất công nghiệp giảm 55% Tốc độ sụt giảm với biên độ như vậy là vô tiền khoáng hậu, ít nhất là trong thời bình
Giọt nước làm vỡ bờ chính là cơn khủng hoảng tài chính năm 1998 Sự kiện này cũng đã dẫn đến những thay đổi chính trị: chính phủ của những người chủ trương cải tổ đã bị buộc phải từ nhiệm
cuu duong than cong com
Trang 4Nga là một trong những quốc gia xuất khẩu dầu lớn nhất trên thế giới
Nhưng sau cơn khủng hoảng năm 1998 khiến giá dầu xuống còn 12$/thùng - mức thấp nhất kể từ năm 1973, mọi thứ bắt đầu phục hồi
Kinh tế Nga tăng trưởng rất nhanh trong giai đoạn 1999-2008 Trên thực tế, tốc độ tăng trưởng nhanh đến mức nhiều người bắt đầu tin rằng nước Nga đã sẵn sàng tham gia câu lạc bộ các nước phát triển với tốc độ tăng trưởng cao
GDP của Nga trong các năm trên tăng 185% so với thời kỳ 1998, nghĩa là tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 7.3%
Đó là lý do tại sao Nga có tên trong danh sách các nước BRIC (viết tắt tên bốn nước là Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc bằng tiếng Anh) Các nước này được Goldman Sachs đánh giá là đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới đầu thế kỷ 21
Tuy nhiên, ta nên nhớ rằng sự tăng trưởng này theo sau thời kỳ khủng hoảng rất khó khăn; và những kiểu so sánh như trên đều có xuất phát điểm từ những ngày khó khăn nhất đó
Lạm phát năm 2008 ở mức 108% so với năm 1989
Trong cùng thời điểm đó, người dân Nga bắt đầu chi tiêu nhiều hơn và tiết kiệm ít đi Mức tiết kiệm giảm từ 31% xuống còn 19% GDP
3 I – India: chính sách ngoại thương với Mỹ và Trung Quốc
Trong vòng 15 năm qua, thương mại giữa Ấn Độ với Mỹ và Nhật hầu như bị đình trệ, tuy nhiên với Trung Quốc thì cứ mỗi bốn năm thì giao dịch ngoại thương giữa Ấn và Trung lại tăng gần gắp đôi và dự kiến đến năm 2013 sẽ đạt mức $100 tỉ đô-la
Trong vòng năm năm tới, Ấn Độ phải sản xuất ra 100.000 MW điện và 20% các thiết bị sản xuất điện phải mua từ Trung Quốc
Nhưng làm thế nào để các nước Brics tránh khỏi căng thẳng chính trị với nhau?
Dĩ nhiên là có căng thẳng vì việc nhóm các nước này lại với nhau không nằm trong chủ trương của các nước liên quan mà chỉ là do hoạt động của các thế lực thị trường và tiến trình toàn cầu hóa
Ấn Độ và Trung Quốc sẽ là hai nền kinh tế đối đầu nhiều với nhau trong khu vực nhưng đồng thời hai nước này buộc phải hợp tác với nhau trên nhiều diễn đàn
Hai nước này phải hợp tác với nhau tại các diễn đàn quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trên các vấn đề liên quan đến thay đổi khí hậu
cuu duong than cong com
Trang 5Ấn Độ và Trung Quốc cũng đối mặt với ít nhiều thách thức kinh tế xã hội giống nhau, nên hai nước cũng có khuynh hướng cùng nhau thương thảo các điều khoản với thế giới các nước phát
triển
"Ấn Độ và Trung Quốc sẽ là hai nền kinh tế đối đầu nhiều với nhau trong khu vực nhưng đồng thời hai nước này buộc phải hợp tác với nhau trên nhiều diễn đàn."
Đó là lý do tại sao mối quan hệ của hai nước thường được đặc trưng bởi tính vừa cạnh tranh vừa hợp tác
Suy cho cùng, chính khu vực này là nơi có nhiều con đường thương mại quan trọng nhất cho ngoại thương năng lượng và nhập khẩu các loại hàng hóa giao dịch khác
C – China: Công xưởng của thế giới
Những năm gần đây, kinh tế Trung Quốc đã đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế thế giới, mức
độ đóng góp đã vượt qua hơn 10%, đối với tăng trưởng mậu dịch quốc tế vượt hơn 12% Trung Quốc tập trung sức lực giải quyết tốt vấn đề phát triển của nền kinh tế xã hội, sự phát triển của Trung Quốc là một bộ phận cấu thành quan trọng của sự phát triển thế giới, Trung Quốc càng phát triển, càng có thể mang lại lợi ích cho thế giới
Ngày 14-2, Văn phòng Nội các Nhật Bản công bố các số liệu thống kê cho thấy GDP của nước này đã giảm trong quý IV năm 2010 do nhu cầu tiêu dùng giảm mạnh và tính cả năm 2010, GDP của Nhật Bản tăng trưởng 3,9%, đạt 5.474 tỷ USD, song vẫn kém Trung Quốc (GDP đạt 5.879,9
tỷ USD) Như vậy, sau hơn 40 năm giữ ngôi vị “á quân” Nhât Bản đã lùi xuống hàng thứ ba, để Trung Quốc chính thức trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ
Sự vươn lên ngoạn mục
Năm 1949, khi mới thống nhất đất nước, Trung Quốc là một trong những quốc gia nghèo và kém phát triển nhất thế giới Vào thời điểm này 90% dân số sống tại nông thôn và phần lớn là nghèo khó
Năm 1956, 99% nền kính tế Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước Phần lớn dân số tiếp tục sống tại nông thôn và tham gia sản xuất nông nghiệp Bất chấp những nỗ lực công nghiệp hóa của Chính phủ, kết quả đạt được rất khiêm tốn Kinh tế Trung Quốc chỉ bắt đầu vươn lên sau cuộc cải cách toàn diện 1978 Khi đó, vai trò của Trung Quốc không ngừng lớn mạnh, chiếm vị trí
"Ấn Độ và Trung Quốc sẽ là hai nền kinh tế đối đầu nhiều với nhau trong khu vực nhưng đồng thời hai nước này buộc phải hợp tác với nhau trên nhiều diễn đàn."
MK Venu, Giám đốc điều hành Financial Express, New Delhi
cuu duong than cong com
Trang 6lượng lao động khỏi khu vực này Nguồn nhân lực này trở thành một lực lượng bổ sung dồi dào cho các nhà máy và xưởng sản xuất Chính phủ Trung Quốc cũng đã tiến hành xây dựng các đặc khu công nghiệp nhằm khuyến khích hoạt động sản xuất hàng hóa Thâm Quyến được coi là hình mẫu thành công nhất của chính sách này Từ một thị trấn ngư nghiệp nhỏ với 30.000 dân năm
1984, Thâm Quyến trở thành một thành phố hiện đại với 8 triệu dân vào năm 2007
Sự tăng trưởng của Trung Quốc được coi phần lớn là nhờ vào việc ngành sản xuất được đầu tư
và việc các ngành công nghiệp trong nước cũng như các cơ sở hạ tầng được mở rộng Điều này khiến mảng xuất khẩu tăng mạnh sau khi Trung Quốc trở thành một trung tâm sản xuất cho các thương hiệu đa quốc gia muốn hưởng lợi từ nhân công giá rẻ và từ việc các tuyến đường bộ, đường sắt được mở rộng Mặc dù kinh tế Trung Quốc chỉ có quy mô bằng 1/3 so với nền kinh tế
Mỹ, nhưng Trung Quốc lại là thị trường lớn nhất của nhiều mặt hàng công nghiệp Năm 2009, Trung Quốc vượt Mỹ để trở thành thị trường ôtô lớn nhất thế giới và vượt Đức để trở thành nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới Hơn thế nữa, trong năm 2009 nền kinh tế đang nổi Trung Quốc đã trở thành động lực chính giúp cho nền kinh tế toàn cầu qua khỏi cơn suy thoái Trong khi Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) vẫn phải vật lộn để tăng trưởng thời hậu khủng hoảng thì Trung Quốc lại ung dung với mức tăng trưởng hai con số
S – South Africa : Chính sách kinh tế ưu tiên sân nhà
Hiện tại, Nam Phi có đại diện ngoại giao tại 46 trong tổng số 54 nước châu Phi Về ngân sách, trong những năm gần đây, Nam Phi luôn dành khoản kinh phí lớn nhất cho châu Phi (hơn 3.000
tỷ Rand, tương đương khoảng 380 tỷ USD mỗi năm), nhằm tăng cường cam kết đối với châu lục Với chính sách đầu tư phát triển kinh tế đó, Nam Phi đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất (ngoại trừ các lĩnh vực khai khoáng và năng lượng) ở khu vực cận sa mạc Xahara châu Phi Nam Phi mở rộng các hoạt động hợp tác đầu tư trên các lĩnh vực thương mại, khoa học công nghệ, thuế quan, hàng không, văn hóa, du lịch, viễn thông, xây dựng, dịch vụ tài chính
Đầu tư của Nam Phi đã có những tác động không nhỏ đối với châu lục Việc các công ty Nam Phi thâm nhập vào thị trường châu Phi đã tạo ra thách thức đối với các nhà đầu tư ngoài khu vực, phá vỡ thế độc quyền và giúp bình ổn giá cả Các công ty Nam Phi thực hiện chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp bản địa, góp phần tăng doanh thu cho các nền kinh tế châu Phi Bên cạnh đó, sự có mặt của các nhà đầu tư Nam Phi đã giúp tăng cường độ tin cậy đầu tư tại châu Phi Ngoài ra, các hoạt động đầu tư của Nam Phi cũng có vai trò giúp phá vỡ vòng kiểm soát kinh tế của các cường quốc phương Tây tại châu lục
Chỉ sau một thập kỷ kể từ khi thiết lập chế độ dân chủ, Nam Phi đã trở thành nhân tố giữ vai trò nòng cốt về vốn, hàng hóa tại châu Phi Tại khu vực miền Nam châu Phi, Nam Phi là một nhà đầu tư hoạt động tích cực ở tất cả 13 nước khác thuộc Cộng đồng phát triển miền Nam châu Phi Một trong những chính sách của Nam Phi là khai thác các lợi thế về khoảng cách địa lý và mối quan hệ thương mại gần gũi để tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư vào các nước lân cận Năm
2003, Môdămbích đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Nam Phi tại khu vực và trao đổi thương mại song phương tăng 860% trong 10 năm 1992-2002 Trong giai đoạn 1997-2002, Nam Phi chiếm 49% tổng giá trị đầu tư vào Môdămbích, trong khi Anh chỉ chiếm 30% và Bồ Đào Nha chiếm 11%
cuu duong than cong com
Trang 7Nam Phi thể hiện cam kết mở rộng các quan hệ kinh tế với châu lục thông qua việc tăng cường các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa đến khu vực Tây Phi Vào năm 2003, xuất khẩu của Nam Phi đã tăng lên 2,8 tỷ Rand (350 triệu USD) và nhập khẩu đạt 1,7 tỷ Rand (213 triệu USD) Nigiêria là đối tác lớn nhất của Nam Phi tại khu vực cả về xuất khẩu và nhập khẩu Tây Phi đã tạo cho Nam Phi nhiều cơ hội mới trong phát triển cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, vận tải và năng lượng Tại Bắc Phi, Nam Phi tập trung vào các lĩnh vực vận tải, thương mại, khoáng sản, năng lượng, khoa học công nghệ và quốc phòng Quan hệ kinh tế của Nam Phi với khu vực Đông Phi đã được tăng cường đáng kể sau khi Nam Phi mở các cơ quan đại diện tại Burunđi, Cômô, Mađagaxca và Êritơria Kim ngạch thương mại giữa Nam Phi với Kênia, Môrixơ, Uganđa và đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các công ty Nam Phi đã tăng lên đáng kể
Nam Phi là nước có ảnh hưởng nhiều nhất và là nền kinh tế lớn nhất tại châu Phi Kinh tế Nam Phi chiếm 40% GDP của khu vực cận sa mạc Xahara châu Phi và chiếm 25% GDP của toàn châu lục Chính phủ Nam Phi lựa chọn chiến lược khuyến khích đầu tư vào châu lục thông qua việc tự
do hóa nguồn vốn theo giai đoạn Nam Phi cũng có vai trò định hướng và đầu tư kỹ thuật phục
vụ quá trình thiết lập khuôn khổ hội nhập kinh tế vĩ mô trong khu vực Chính phủ Nam Phi ủng
hộ chủ trương thúc đẩy đàm phán các thỏa thuận thương mại tự do giữa Cộng đồng phát triển miền Nam châu Phi với khối MERCOSUR (gồm Áchentina, Braxin, Paragoay và Urugoay) Hiện tại, Liên minh thuế quan các nước miền Nam châu Phi (SACU) đang dự định tiếp tục đàm phán hiệp định thương mại tự do với Mỹ Nam Phi cũng sẽ chuẩn bị đàm phán hiệp định khu vực
tự do thương mại giữa SACU với Trung Quốc
=>> Vào đầu thế kỷ này, nhóm 4 nước BRIC (chưa tính Nam Phi, gia nhập năm 2010) là những
nước tỏa sáng nhất của nền kinh tế thế giới, trong đó mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của Trung Quốc từ năm 2002 đến năm 2008 đã vượt qua con số 10%, năm 2007 lên tới 11,9%, Ấn Độ đạt 9,3% Tổng GDP của nhóm BRICS (trước khi Nam Phi gia nhập vào cuối năm 2010) đã tăng gấp bốn lần, với 12 nghìn tỷ USD năm 2010, 13.600 tỷ USD năm 2011, đóng góp 45% vào tăng trưởng của kinh tế thế giới Chỉ tính riêng năm 2001-2010, kim ngạch thương mại giữa năm nước đã đạt 230 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 28% Theo một số nhà khoa học, nếu không có gì xảy ra ngoài dự tính, 50 năm nữa các nước BRICS sẽ là những thế lực kinh tế rất lớn của thế giới Trong vòng 40 năm tới, kể từ năm 2003, quy mô kinh
tế của các nước BRIC sẽ vượt qua các nước G6 (Anh, Đức, Ý, Mỹ, Nhật Bản, Pháp) về GDP Quy mô nền kinh tế của Ấn Độ sẽ vượt Nhật Bản vào năm 2032, còn của Trung Quốc sẽ vượt
Mỹ vào năm 2041 Năm 2050, sáu nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ lần lượt là Trung Quốc, Mỹ,
Ấn Độ, Nhật Bản, Braxin và Nga
II Tầm quan trọng của các nhóm BRICS
1 Giải quyết khủng hoảng kinh tế thế giới
cuu duong than cong com
Trang 8- Trong khi các nền kinh tế đầu tàu của thế giới đang lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, tốc
độ tăng trưởng chậm, thậm chí một số nước còn tăng trưởng âm thì nhóm các nước BRICS lại giữ được những con số khả quan, duy trì những tín hiệu đáng mừng
Khi châu Âu đang lâm nguy trong căn bệnh nợ công, Mỹ liên tục phải tăng hạn mức nợ của Chính phủ, nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) – chìa khóa vàng cho tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc, đang ngày càng hạn hẹp thì có một thực tế khác đó là trong buổi họp của hội nghị G20 thì các nước Châu Âu đã đưa ra đề xuất cấp tín dụng từ các Ấn Độ và Trung Quốc
Và Thủ tướng Anh Gordon Brown và Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy phải thừa nhận khi
tuyên bố: “Nếu xa rời các cường quốc hưng thịnh này, bất kể các vấn đề quốc tế quan trọng
nào đều không thể giải quyết tốt được”
2 Đối trọng với các nước phương Tây và Mỹ
Chất kết dính: Tiếng nói đối kháng với phương Tây
Trong các diễn đàn chung, các cuộc gặp thượng đỉnh của nhóm, các nhà lãnh đạo BRICS đều nhất trí đoàn kết trong nhiều vấn đề quốc tế, thể hiện quyết tâm cùng phấn đấu chia sẻ nhiều lợi ích quốc tế hơn nữa, tiếp tục củng cố khối liên minh năm nước, đồng thời cũng thể hiện cuộc đọ sức mạnh mẽ giữa BRICS với các nước phương Tây trong một số các vấn đề
Thứ nhất là thúc đẩy đàm phán thương mại toàn cầu Doha Mặc dù các vòng đàm phán Doha đều
là đàm phán đa phương nhưng nhân vật chính thực sự của các cuộc đàm phán là các nước trong nhóm G20 bao gồm Mỹ, EU và các nước đang phát triển như Brazil, Ấn Độ, Trung
Quốc…BRICS đồng lòng kiến nghị xây dựng một hệ thống mậu dịch quốc tế tự do, công bằng
và hợp lý, phản đối bảo hộ dưới mọi hình thức, đồng thời tăng cường hệ thống thương mại đa phương
Thứ hai là cải cách hệ thống tài chính quốc tế, cùng chống lại sự bá quyền của đồng USD và thúc đẩy đa dạng hóa các loại tiền tệ dự trữ quốc tế Sự bá quyền của đồng USD và nỗi khổ do nó đem lại cho các nước khác là rất lớn Nhìn tình trạng lúng túng xử lý vấn đề lạm phát ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi có thể thấy rõ điều này BRICS luôn cảnh báo viễn cảnh dài hạn của đồng USD do thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách của Mỹ, bày tỏ sự bất mãn đối với đặc quyền dự trữ tiền tệ chủ yếu của toàn cầu mang lại cho Mỹ Các nhà lãnh đạo khối BRICS kêu gọi xây dựng một hệ thống dự trữ tiền tệ quốc tế có thể "cung cấp ổn định
và chắc chắn", đồng thời thiết lập một hệ thống dự trữ ngoại hối toàn diện và thảo luận về quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của IMF
Thứ ba là bình đẳng trách nhiệm giải quyết vấn đề khí hậu và năng lượng Trong khi các quốc gia phương Tây không muốn chịu trách nhiệm cho lịch sử công nghiệp hóa của mình, lại ép buộc các nước đang phát triển đi sau phải gánh vác nhiều trách nhiệm quốc tế hơn Các nước BRICS duy trì quan điểm các nước phát triển và các nước đang phát triển cần kiên trì nguyên tắc cùng chịu trách nhiệm nhưng có phân định, hợp tác ứng phó với thách thức biến đổi khí hậu mang tính toàn cầu này
cuu duong than cong com
Trang 9cuu duong than cong com