Tảo nói chung, vi khuẩn lam và Tảo lục nói riêng có tác dụng làm sạch môi trờng nớc bằngcách quang hợp hút CO2 để tạo ra O2 và năng lợng, sử dụng một số chấtkhoáng gây ô nhiễm làm nguồn
Trang 1
Lời cảm ơn
Để hoàn thành đợc khoá luận tốt nghiệp theo đúng thời gian,
Đầu tiên em gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới T.S Nguyễn Đình San,Nguyễn Đức Diện đã trực tiếp hớng dẫn em trong quá trình thực hiện
đề tài này
Xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa sinh học, cácthầy cô giáo tromg tổ bộ môn Hoá sinh - Sinh lý thực vật, các cán bộphòng thí nghiệm khoa sinh đã tạo mọi điều kiện cho em học tập vànghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn tất cả những ngời thân, cùng toàn thểcác bạn sinh viên đã luôn cổ vũ, động viên em hoàn thành khoá luậntốt nghiệp này
Do đó, chất lợng nớc bị suy thoái là nguyên nhân ảnh hởng đến môi trờng sinhthái và đặc biệt đến sức khỏe con ngời Đứng trớc tình hình đó nhân lọai mà
Trang 2đặc biệt là các nhà nghiên cứu môi trờng không ngừng sáng tạo ra các phơngpháp làm giảm tối thiểu lợng nớc bị ô nhiễm, một trong những phơng pháp đó
là phơng pháp sinh học Phơng pháp này, dựa trên hoạt động sống của vi sinhvật, trong đó góp một phần không nhỏ phải kể đến đó là vi tảo Tảo nói chung,
vi khuẩn lam và Tảo lục nói riêng có tác dụng làm sạch môi trờng nớc bằngcách quang hợp hút CO2 để tạo ra O2 và năng lợng, sử dụng một số chấtkhoáng (gây ô nhiễm) làm nguồn dinh dỡng hoặc tiết các chất có tác dụng làmhạn chế sự phát triển, sinh trởng của sinh vật gây bệnh trong nớc Mặt kháctảo (vi khuẩn lam và tảo lục) còn có khả năng cố định đạm nên tổng hợp đợcnhiều nitơ cho bèo dùng làm phân xanh và thức ăn cho gia súc, một số vikhuẩn lam có hàm lợng prôtêin cao, giàu vitamin là nguồn bổ sung prôtêin,vitamin cần thiết cho chăn nuôi và con ngời Ngoài ra vi tảo còn cung cấp một
số hoá chất dùng cho chế biến than cốc, hắc ín, chữa bệnh và đặc biệt tảo còn
có giá trị thực tiễn đợc dùng làm phẩm mầu trong công nghệ thực phẩm, mỹphẩm và điều chế vitamin B12, Một số loài vi khuẩn lam còn có tác động đếnquá trình hình thành sự phì dỡng của thuỷ vực nớc ngọt
Từ những vai trò to lớn đó, tảo nói chung và vi khuẩn lam, tảo lục nóiriêng đợc xem là nguồn tài nguyên sinh vật có giá trị Để thấy đợc giá trị đíchthực đó trớc hết ta phải sử dụng chúng một cách có hiệu quả cao nhất Muốnvậy chúng ta phải tìm hiểu những yếu tố bên trong cũng nh bên ngoài môi tr-ờng mà chúng sinh sống
Trên cơ sở thành công của các đề tài nghiên cứu "Chất lợng nớc" và
"Tảo" của các thế hệ đi trớc đã đợc áp dụng ở nhiều địa phơng trên đất nớc vàthu đợc nhiều kết qủa cao Tuy nhiên, còn nhiều nơi vẫn cha đợc đầu t nghiêncứu một cách thoả đáng với những tiềm năng vốn có của nó nên năng suất củathuỷ vực cha cao Vì vậy để tiếp tục nghiên cứu những vấn đề trên, chúng tôi
đã tiến hành đề tài: "Tìm hiểu chất lợng nớc và sự phân bố thành phần loài
của ngành vi khuẩn lam (Cyanobacteria) và tảo lục (Chlorophyta) ở các
đầm nuôi tôm Nghi Xuân - Hà Tĩnh".
Đề tài nhằm mục tiêu: Đánh giá chất lợng nớc, thành phần loài và số ợng cá thể cũng nh mối liên quan giữa chất lợng nớc với sự phân bố của tảo ởcác đầm nuôi tôm Nghi Xuân - Hà Tĩnh
l-Nội dung nghiên cứu đề tài là:
1 Đánh giá một số chỉ tiêu về chất lợng nớc
Trang 32 Điều tra thành phần loài vi tảo thuộc 2 ngành: Cyanobacteria vàChlorophyta
3 Tìm mối liên hệ giữa chất lợng nớc và thành phần 2 ngành tảo đó
Chơng I Tổng quan tài liệu 1.1 Vài nét về chất lợng nớc trong các thuỷ vực trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1 Chất lợng nớc trong các thuỷ vực trên thế giới.
Nớc tự nhiên bao gồm toàn bộ các đại dơng, biển, vịnh, sông suối, ao
hồ, nớc ngầm, băng tuyết, hơi ẩm trong đất và trong không khí [11] Nhìnchung nớc tồn tại ở 3 dạng: dạng lỏng, dạng hơi và dạng rắn Nhờ những tácnhân vật lý của mình và dới tác động của môi trờng, nớc chuyển dạng tồn tại
và tạo nên một chu trình nớc trên toàn cầu [15] Với chu trình này nớc đợc bảotoàn, nhng nớc đợc biến từ dạng lỏng sang dạng hơi và rắn (Băng tuyết) hoặc
từ nơi này đến nơi khác ở các thủy vực: biển, đại dơng, nớc mặt (Sông suối, aohồ) và nớc ngầm [11] Tuy nhiên, nớc tập trung phần lớn trong các đại dơng,khoảng trên 97% tổng lợng sau là các tầng băng ở Bắc Cực và Nam Cực(2,08%), nớc ngầm trao đổi tích cực (0,29%) Phần lớn còn lại chủ yếu là chứatrong các ao hồ (230,2.103km3) phủ trên diện tích gần 2% diện tích hành tinh,trong khi bề mặt các đại dơng chiếm 71% [15] Trong số đó, có khoảng 20 hồ
có độ sâu rất lớn (trên 400m) và chứa một lợng nớc ngọt đáng kể của hànhtinh Chẳng hạn, xấp xỉ 20% tổng lợng nớc ngọt trên diện tích phụ trong hồBaical Hồ này có diện tích 31.500km2, độ sâu cực đại 1.620 m (Trung bình740m) và khối lợng nớc đạt 23.000km3 Các hệ thống hồ Lauretina Bắc Mỹ(Gồm các hồ Superior, Huron, Michigan, Ontario và Erie) chứa một lợng nớc
Trang 4ngọt 24.620km2 và diện tích gom nớc 245.240km2 (Riêng hồ Superior có diệntích bằng 83.300km2) Phần lớn các hồ sâu gặp trong các vùng núi dọc phầnTây Bắc và Nam Châu Mỹ, Châu Âu, vùng núi Trung Phi và Châu á HồBaical (Châu á) và Tangayika (Châu Phi) là 2 hồ có độ sâu lớn nhất, vợt quá1.000 m và độ sâu trung bình trên 500 m Hồ có diện tích lớn nhất là Caspien,chứa nớc mặt với diện tích 435.400km2 Số lợng lớn các hồ tìm thấy ở Bắc báncầu, nơi khối lục địa rộng lớn của Bắc Mỹ, lục địa Âu-á đều gắn với sự vận
động của băng Thờng rất nhiều hồ cỡ nhỏ, nông gặp khắp nơi ở vùng vĩ độtrung bình Phía Bắc [15] Tóm lại, với khoảng 750.103km3 nớc biển,1,2.103km3 nớc sông và chừng 440 triệu ha vùng ngập nớc ven biển (Chủ yếu
ở vùng nhiệt đới) [15] là tiềm năng để phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản trênthế giới Theo FAO (1985) trên thế giới có khoảng 130 nớc có nghề nuôitrồng thuỷ sản phát triển trong đó 17 nớc liệt vào cờng quốc nuôi trồng mạnhnhất: Trung Quốc (5,2 triệu tấn/năm), Nhật (1,2 triệu tấn/năm), ở các nớc
có nền công nghiệp phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản cũng dợc thừa hởngnhững thành tựu mới và ngày một phát triển [15]
Tuy nhiên nghề nuôi trồng có phát triển hay không còn tùy thuộc vàochất lợng nớc và các yếu tố vô sinh và hữu sinh trong nớc Sự thay đổi thànhphần nớc và chất lợng nớc là do quá trình tuần hoàn của thuỷ quyển và đặcbiệt là qua sử dụng của con ngời Với sự gia tăng dân số nh hiện nay cùng với
sự phát triển của đô thị hoá đã gây tác động trực tiếp hay gián tiếp đến nhữngthay đổi về chất lợng nớc Theo thống kê về tình hình ô nhiễm nớc trên thếgiới cho thấy: phần lớn sông hồ Châu Âu đều bị nhiễm bẩn, điển hình là sôngRein đang bị biến thành "cống nớc công cộng",mỗi năm nớc sông đục thêm và
đen dần đi [16] Sông Volga (ở Nga) cũng chịu ảnh hởng tơng tự Sông HoàngPhố (Thợng Hải - Trung Quốc) hàng năm trung bình có tới 299 ngày nớc sông
đều thối và đen [3] Tại Châu á, tình trạng này xảy ra với 10 con sông lớn ởMalaixia, ô nhiễm đến mức cá không thể sống đợc[21] Theo tổ chức Y tế thếgiới (Who), năm 1998 trên toàn thế giới sử dụng 3,1 triệu tấn thuốc bảo vệthực vật Tất cả các chất độc của chúng thải ra nguồn nớc mặt sẽ tác động trựctiếp qua việc sử dụng nớc hay gián tiếp qua lơng thực thực phẩm gây tác hạicho con ngời cũng nh các động vật thuỷ sinh mà cụ thể là ảnh hởng đến năngsuất nuôi thuỷ sản đang diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới nhất là các quốcgia châu á
Trang 5Để đánh giá chất lợng nguồn nớc ngời ta thờng dựa vào các thông số cơbản với các chỉ tiêu cho phép về thành phần hoá học và sinh học đối với từngloại nớc sử dụng vào từng mục đích khác nhau.
Tiêu chuẩn để đánh giá chất lợng nớc nuôi thuỷ sản đợc thể hiện ở bảng
1.1.2 Vài nét về chất lợng nớc trong các thuỷ vực ở Việt Nam:
Tài nguyên nớc ở Việt Nam khá dồi dào, hàng năm Việt Nam tiếp nhậnmột lợng ma trung bình là 634 tỷ m3 nớc/ năm, ngoài ra còn thu nhận nguồnnớc ngoại lại từ Trung Quốc, Lào, CamPuChia là 132 tỷ m3 nớc/năm [15] Mặtkhác nớc ta có trên 3.000km bờ biển [17], với khoảng 2.345 con sông dài 10
km trở lên và tổng dòng chảy của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình là120km3/năm [15] Nớc ngầm khai thác đợc 2,7 triệu km3/ ngày [15] và hàngchục vạn ha ruộng nớc và các đầm nớc lợ ven biển có thể nuôi trồng thuỷ sản[17] Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 954.350 ha mặt nớc (cha kể sông)chiếm 29,7% tổng diện tích đồng bằng Trong đó diện tích mặt nớc lợ là313.000 ha (chiếm 32,8%) và 641.350 ha bao gồm các thuỷ vực nớc ngọt vànhiễm phèn (chiếm 67,2%) Hậu Giang và Minh Hải là 2 tỉnh có diện tích mặtnớc tự nhiên lớn (30,4% và 28% so với tổng diện tích mặt nớc đồng bằng sôngCửu Long) [14] Các thuỷ vực nhỏ nh đầm, ao hồ đã đợc sử dụng khá phổ biếnvào khai thác thuỷ sản, tuy nhiên còn một diện tích khá lớn các ruộng nớc, hồchứa nhân tạo, các vùng nớc lợ ven biển còn cha đợc sử dụng hoặc mới đợc sửdụng ở mức độ khai thác tự nhiên [17] Theo tổng hợp Việt Nam có hơn250.000 ha diện tích vùng nớc lợ có thể nuôi tôm, đang sử dụng 160.000 ha
Trang 6[14] Tuy nhiên cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá thì chất lợngnớc dờng nh không còn đảm bảo cho việc nuôi trồng thuỷ sản nữa mà đangngày một suy thoái Vùng biển ven bờ nớc ta cũng bị ô nhiễm nặng, theoNguyễn Văn Lành thì nhiều nơi COD, NO3, As cao hơn tiêu chuẩn cho phép[10] Theo thống kê ở Hà Nội cứ mỗi ngày đêm thải ra 300.000 m3 nớc thảinên đã làm cho một số con sông nh: sông Kim Ngu, sông Tô Lịch, sông Nhuệ
có mầu sẫm, mùi hôi thối, tanh, DO thấp (có khi = 0), BOD5>50 mg/l [12] ởkhu công nghiệp Thái Nguyên hàng năm đã đổ trực tiếp một lợng chất thải lớnkhông qua xử lý vào sông Cầu, biến nớc sông Cầu thành màu đen mặt nớc sủibọt hàng chục cây số [5]
Mặc dù ở Việt Nam, tình hình ô nhiễm cha đến mức báo động tuy nhiênchúng ta không đợc chủ quan mà phải đặt ra các biện pháp để kiểm soát việc
sử dụng nớc Vì nếu ta không quản lý tốt sẽ ảnh hởng sấu đến môi trờng sống
mà đặc biệt là giảm sút hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản - nguồn đóng góp lớncho nền kinh tế quốc dân Do đó việc xử lý vào bảo vệ nguồn nớc là vấn đềcần đợc quan tâm trong những chính sách của Nhà nớc ta
1.2 Tình hình nghiên cứu vi tảo (Cyanobacteria và Chlorophyta) trên thế giới và Việt nam.
1.2.1 Tình hình nghiên cứu vi tảo (Cyanobacteria và Chlorophyta) trên thế giới.
Tảo (Algae) nói chung và vi khuẩn lam cũng nh tảo lục nói riêng là loạisinh vật tự dỡng quang hợp, có kích thớc hiển vi và chủ yếu sống trong môi tr-ờng nớc Xét về hệ sinh thái thuỷ sinh vật thì chúng là mắt xích đầu tiên trongchuỗi thức ăn, góp phần tạo nên năng suất của động vật thuỷ sinh mà đặc biệt
là tôm, động vật thân mềm 2 mảnh vỏ Ngoài ra tảo còn có ý nghĩa nh là dợcphẩm, thực phẩm cho con ngời Mặc dù chúng có ý nghĩa to lớn nh vậy nh-
ng vẫn cha lôi cuốn đợc sự quan tâm của các nhà khoa học Mãi đến nhữngthế kỷ gần đây, việc nghiên cứu tảo gắn liền với kính hiển vi quang học vàviệc tìm thấy tế bào lần đầu tiên do nhà tự nhiên học ngời Anh R Hooke vàonăm 1665 [6] Những năm về sau của thế kỷ XX do sự phát triển chung củakhoa học, các nghiên cứu về tảo rất đợc phát triển và đợc tiến hành theo nhiềuhớng khác nhau, trớc hết từ điều tra phân loại và tìm hiểu quy luật phân bố củatảo, sau đó đi sâu nghiên cứu bản chất của quá trình trao đổi chất trong cơ thểtảo và cuối cùng là nghiên cứu ứng dụng phục vụ lợi ích của con ngời [6]
Trang 7Nếu sự phân loại tảo trớc đây chủ yếu dựa vào hình thái, cấu trúc tế bào,
đặc điểm tế bào sinh sản và chu trình sinh sản của chúng thì ở thế kỷ XX vàngày nay bên cạnh những đặc điểm đó khoa học cho phép đi sâu vào các lĩnhvực hình thái cá thể trở lên, phân loại các taxon bậc ngành theo đặc điểm cấutrúc hiển vi của roi (flagellum), của màng tế bào thể màu (Thylacoid), các sảnphẩm dự trữ dới góc độ bản chất hoá học, thành phần chất màu (pigment) vớicác phổ màu khác nhau Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá (độ độc, hoạt chất ) tronghoạt động sống của các chi (genus), các loài đã trở thành những dấu hiệu và đặc
điểm phân loại các taxon ở mức độ loài và dới loài [10] Vì vậy có nhiều loại hệthống phân lọai ra đời với các xuất phát điểm và dữ liệu khác nhau Hàng loạtcác công trình nghiên cứu cũng nh các công trình chuyên khảo phục vụ choviệc điều tra phân loại đợc ra đời: Zabelina M.M - Kisselev A (1951), Kisselev(1954), Popova T.G (1955, 1976), Kosschikov A.A (1953), Gollerbakh M.M(1953) ergashev A (1979) Asaulz I (1975), Palamar - Mordvinseva G.M(1982) [10] Tuy nhiên cho đến nay trên thế giới vẫn cha có một quan điểmnhất quán về hệ thống phân loại tảo nói chung Tuỳ theo từng tác giả mà sựphân loại, sắp xếp các taxon của tảo có khác nhau Nếu trớc đây tảo lam đợcxếp vào một taxon với ngành tảo khác thì ngày nay đợc xếp vào nhómProkaryota với tên gọi là vi khuẩn lam (Cyanobacteria) Nhng đứng về mặt tảohọc, khi khảo sát về sự đa dạng sinh học, môi trờng sống của tảo lam luôn đi
đôi với ngành tảo khác [9]
Hiện nay số loài vi tảo đã phát hiện đợc hơn 26.000 loài, trong đó cóhơn 50 loài đã đợc nghiên cứu một cách chi tiết theo quan điểm sinh lý - sinhhoá (sasson, 1991) [6] Điều đáng chú ý là cùng với việc điều tra phân loại tảothì việc ứng dụng tảo vào cuộc sống của con ngời đã đợc tiến hành nh: năm
1971, A.C Phaminxin - nhà sinh lý thực vật ngời Nga, lần đầu tiên đã nuôi tảotrong môi trờng nhân tạo và đã chứng minh rằng có thể tiến hành quang hợptrong điều kiện chiếu sáng nhân tạo Ông cũng là ngời sớm phát hiện ra tínhchất cộng sinh giữa nấm và tảo trong địa y [6]
Năm 1980, M.Beireink (ngời Nga) đã phân lập đợc vi tảo không bịnhiễm khuẩn Tuy vậy, mãi đến năm 1940, ngời ta mới chú ý đến giá trị thựctiễn của vi tảo và đối tợng đợc chú ý hàng đầu là Chlorella do tảo này có hàmlợng Prôtêin cao (47% trọng lợng khô) [6] Có thể công nhận rằng nớc Đức lànớc đầu tiên chú trọng phát triển công nghệ vi tảo Năm 1953, các nhà khoa
Trang 8học vùng Essen (Tây Đức) đã sử dụng khí thải CO2 của các nhà máy côngnghiệp vùng Rubin để nuôi trồng tảo Chlorella và Scenedesmus [6].
Năm 1957, Tamiya và cộng sự ở viện sinh học Tokygawa (Tokyo) đãcông bố nuôi trồng tảo Chlorella ở ngoài trời Thực tế Nhật Bản là nớc đầutiên sản xuất Chlorella và bán sinh khối loài tảo này làm thức ăn bổ sung(Prôtêin) cho ngời và gia súc, gia cầm Cũng từ chlorella, họ chiết ra một hoạtchất gọi là "nhân tố sinh trởng Chlorella" cùng với 15 loại Vitamin khác nhau
đợc ứng dụng rộng rãi trong y học [6]
Gần đây một số nớc có kỷ thuật tiên tiến đã nuôi trồng tảo trên quy môcông nghiệp Ví dụ, chỉ tính riêng năm 1977, ở Châu á ( Đài Loan, Singapore,Nhật, Thái Lan) có tới 46 nhà máy sản xuất hơn 1.000 tấn tảo khô từChlorella Từ năm 1978, công ty "DanippongInk" của Nhật Bản cộng tác vớicông ty tảo Xiêm (Thái Lan) chuyên sản xuất bột tảo Spirulina Chỉ tính riêngnăm 1987, công ty đã sản xuất 70 tấn dùng vào mục đích thực phẩm và 30 tấndùng làm thức ăn cho cá và tôm[6]
ở Mexico, công ty Sosa - Texcoco bắt đầu sản xuất bột Spirulina từ
1973 với sản lợng 150 tấn/năm Từ năm 1986, hàng ngày sản xuất 2 tấn sinhkhối khô để bán cho Nhật và Mỹ [6]
Ngoài các mục đích kể trên, vi tảo còn đợc sử dụng chống ô nhiễm môitrờng nớc, nhằm lập lại cân bằng sinh thái trong thuỷ vực Hớng ứng dụng nàylần đầu tiên đợc Oswald và cộng sự trờng Đại học Colifocnia đề cập vào năm
1975 và hiện nay đợc triển khai rộng rãi và có hiệu quả kinh tế cao [6] Chúng
sử dụng khí Cacbonic, nitơ, photpho vô cơ để xây dựng nên chất hữu cơ, xâydựng lên các thành phần của tế bào dới tác dụng của năng lợng ánh sáng mặttrời, đồng thời thải ra khí ôxy Do đó việc phân loại, nuôi trồng, ứng dụng củatảo đang đợc quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới
1.2.2 Tình hình nghiên cứu vi tảo ( Cyanobacteria và Chlorophyta)
Trang 9Shirota A (1966) giới thiệu trong cuốn "The Plankton of South VietNam" đã mô tả đợc 388 loài thực vật nổi ở 21 thuỷ vực nớc ngoài thuộc cáctỉnh miền Nam Việt Nam (Từ Thừa Thiên Huế đến Rạch Giá) [28].
Ngời Việt Nam nghiên cứu và công bố kết quả đầu tiên về tảo lam, đó
là Cao Ngọc Phơng (1964) Bà đã viết về 23 taxon tảo lam sát mặt đất ở SàiGòn và Đà Lạt, trong đó có 11 chi với 2 chi có tế bào dị hình và 9 chi không
có tế bào dị hình, một loài mới đối với khoa học [18]
Pose (1926) điều tra vịnh Nha Trang đã xác định 42 loài thực vật nổi(Trong đó 20 loài tảo Silic, 15 loài tảo Dinoflagelles và 7 loài tảo khác) [1]
Tháng 01/1966, phân tích nớc hồ Hoàn Kiếm vào thời điểm nớc nở hoa,nhà tảo học Hungari T.Hortobagyi (1967, 1968, 1969) đã xác định 24 taxontảo lam thuộc về 14 chi [18]
Trơng Ngọc An và cộng sự (1970-1971) đã phát hiện 115 loài thực vậtnổi khi nghiên cứu sông Ninh Cơ (Nam Hà) [7] gần đây Nguyễn Thanh Tùngcùng với Nguyễn Thị Ngon cho ra đời cuốn sách: "Thực vật đảo Phú Quốc",trong đó mô tả 70 loài và dới loài [22]
Trong lĩnh vực nghiên cứu tảo nớc ngọt ở khu vực miền Bắc phải nóirằng Nguyễn Văn Tuyên là ngời có đóng góp tích cực, năm 1980 với côngtrình nghiên cứu khu hệ tảo nớc ngọt ở miền Bắc Việt Nam ông đã công bố
979 loài và dới loài [23] trong bài báo về "Tảo lam cố định đạm trên đất trồnglúa miền Bắc Việt Nam" của Dơng Đức Tiến (1977) đã công bố 13 loài tảolam thuộc 6 chi với đặc điểm phân loại và khả năng cố định đạm của chúng.Sau đó Trần Văn Nhị, Dơng Đức Tiến (1984) đã nâng tổng số tảo lam cố định
đạm ở Việt Nam lên tới 40 taxon [6] Ngoài ra (1982), Dơng Đức Tiến còn cócông trình nghiên cứu lớn về khu hệ tảo của các thuỷ vực nội địa Việt Nam.Tác giả đã công bố 1.402 loài và dới loài [19]
Gần đây nhất, Phùng Thị Nguyệt Hồng(1992) đã công bố bằng tiếngPháp toàn bộ công trình nghiên cứu nhiều năm của mình về tảo lam ở châu thổsông Mê Kông với 94 taxon trong đó có một loài mới đối với khoa học và 3thứ mới [18]
Cũng trong thời gian này, Dơng Đức Tiến cùng với Võ Hành biên soạn
"Tảo nớc ngọt Việt Nam, phân loại bộ tảo lục (Chlorococcales)" Đây là tàiliệu đã mô tả chi tiết đặc điểm phân loại hơn 800 loài và dới loài tảo lục ViệtNam trong tổng số 13.000 đến 20.000 loài [20]
Trang 10Tuy nhiên, cũng cần lu ý rằng, hầu hết các công trình nghiên cứu trên
đều chủ yếu tập trung ở các tỉnh thuộc Bắc và Nam Bộ, riêng các tỉnh miềnTrung ít đợc nghiên cứu Đến 1983, ở khu vực miền Trung, Võ Hành khinghiên cứu hồ Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) đã công bố 191 taxon bậc loài và dới loài [7].Tiếp đó tác giả cùng với Nguyễn Đình San (1994) đã phát hiện 147 loài và dớiloài khi nghiên cứu 29 khu vực nớc thải [8] Năm 1994, Võ Hành lại công bố
45 loài tảo lục (thuộc bộ Chloroccales) sống trong nớc ngọt ở khu vực BìnhTrị Thiên và bổ sung 19 taxon mới cho khu vực này [4] Gần đây, tác giả đãphát hiện 65 loài lục cầu tảo (protococcales) khi tiến hành điều tra 21 vực nớcngọt thuộc 5 tỉnh Trờng Sơn( Võ Hành, 1994)
Bên cạnh đó, với những nghiên cứu về phân loại, khu hệ tảo lam và tảolục ở Việt Nam còn có những công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa cáckiểu hình thuỷ vực đối với đời sống của tảo, theo hớng này, năm 1988, Dơng
Đức Tiến xuất hiện bản cuốn " Đời sống các loài tảo" khắc họa vai trò, ýnghĩa của tảo trong tự nhiên và đời sống con ngời cũng nh triển vọng sử dụngchúng [22] Những công trình nghiên cứu về tảo lam cộng sinh trong bèo hoadâu của Nguyễn Hữu Thớc, Nguyễn Văn Mẫn (1982, 1983); nghiên cứu vềtảo lam cố định đạm của Nguyễn Đức (1984 - 1985), Trần Hài, Trần Văn Nhị(1985); Đặng Diễm Hồng và Nguyễn Hữu Thớc(1987), Trần Quang Anh,Nguyễn Thị Dần (1987), Trần Văn Nhị (1991), Dơng Đức Tiến, Dơng QuỳnhHơng (1993), Trần Đăng Kế (1994), Ngô Kế Sơng và cộng sự (1994), Trầnvăn tựa (1993, 1994) và cuối cùng là Đoàn Đức Lân (1994) [18]
Nghiên cứu sinh lý quang hợp, sinh hoá của tảo lam giàu đạm nhSpirulinaplatensis giành đợc nhiều sự quan tâm chú ý của hàng loạt các tác giả
Đặng Đình Kim (1994), Đặng Hoàng Phúc Hiền (1994), Vũ Văn Vu, NguyễnVân Anh (1994), Đặng Xuyến Nh và cộng sự (1994) Nghiên cứu mối quan hệgiữa môi trờng và tảo lam đợc tiến hành tại nhà máy phân đạm Hà Bắc
Dơng Đức Tiến, Trần Văn Nhân, Nguyễn Thị Loan (1988, 1989,1990) [18]
Ngoài những công trình chuyên sâu về phân loại còn có các công trìnhnghiên cứu về sinh vật phù du ở nớc ngọt, nớc lợ và nớc mặn Danh mục tảolam đã phát hiện đợc ở Việt Nam lên tới hàng trăm loài của các tác giả: PhạmHoàng Hổ, Shirota và Hoàng Quốc Trơng, Nguyễn Hữu Dinh, Huỳnh QuangNăng (1975), Nguyễn Thanh Tùng (1978, 1980), Nguyễn Phợng Đào(1980),
Trang 11Nguyễn Văn Tuyên, Dơng Đức Tiến, Nguyễn Thanh Tùng và Nguyễn ThịNgon (1985), Nguyễn Văn Tiến (1988)[18].
Trong những năm gần đây một số công trình đã đề cập đến mối quan hệgiữa vi tảo với sự ô nhiễm của môi trờng sống: Võ Hành và cộng sự (1995);
Đặng Đình Kim và cộng sự (1996); Nguyễn Đình San và cộng sự (1997,1998); Nguyễn Đình San (2001); Lê Hoàng Anh và cộng sự (1997, 1998);Nguyễn Minh Công và cộng sự (1997, 1998, 1999); Lê Thanh Hơng và cộng
sự (1998); Lê Thị Thuý Hà và cộng sự (1999); Nguyễn Văn Tuyên và cộng sự(1999) [4]
Giữa những công trình nghiên cứu về thực vật phù du nớc lợ, nớc ngọt
và nớc nặm của cả 2 miền Nam - Bắc phải thừa nhận sự đóng góp tích cực củaShirota(1966), Nguyễn Văn Tuyên và Dơng Đức Tiến
1.3 Mối quan hệ giữa chất lợng nớc và vi tảo.
Thực vật nổi nói chung và vi khuẩn lam , tảo lục nói riêng sống trongmôi trờng nờc, vì vậy mà giữa tảo và nớc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,tác động qua lại với nhau để tạo nên sự cân bằng sinh thái Trong nớc các yếu
tố nhiệt độ, ánh sáng, pH, hàm lợng ôxi hoà tan và các muối dinh dỡng ảnh ởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự tồn tại, phát triển của thuỷ sinh vật nóichung và vi tảo nói riêng ánh sáng ảnh hởng đến sự phân bố theo chiều sâucủa các loài tảo, Trong đó tảo lam và tảo lục chiếm u thế ở tầng nớc mặt, tầnggiữa là tảo nâu, sâu hơn là tảo silic [6]
h-Nhiệt độ là yếu tố có vai trò nhịp điệu cuộc sống của thuỷ sinh vật.Cùng với ánh sáng, sự biến đổi chế độ nhiệt gây nên biến động số lợng vi tảo[2] Vào mùa xuân, nhiệt độ từ 10 đến 150C, vi tảo phát triển mạnh đặc biệt làtảo silic Mùa hạ, nhiệt độ nớc tăng cùng với cờng độ và thời gian chiếu sángcao thì tảo silic và tảo a lạnh nhờng chỗ cho các loài tảo lam, tảo lục phát triểnmạnh Sang mùa thu, nhiệt độ giảm xuống và tảo silic lại chiếm u thế, sangmùa đông, nhiệt độ, cờng độ chiếu sáng đều thấp làm cho tảo ở trạng thái nghỉhoặc phát triển yếu [12] Nh vậy, nhiệt độ không những là nguyên nhân chủyếu gây ra sự biến động số lợng vi tảo theo mùa mà còn gây ra sự thay đổi vềthành phần loài của chúng Sự ảnh hởng trực tiếp của nhiệt đọ lên quá trìnhsinh trởng, phát triển của tảo hình thành nên các loài rộng nhiệt đến hẹp nhiệt,loài cao nhiệt đến thấp nhiệt Điều đặc biệt chú ý, toàn bộ quá trình tồn tại,phát triển và tử vong của vi tảo bị ảnh hởng bởi sự biến động của hàm lợng
Trang 12muối dinh dỡng hoà tan trong nớc ( N, P,Si, ) cũng nh độ pH, Nếu nhữngchất trên vợt quá khả năng cho phép sẽ dẫn tới hiện tợng ô nhiễm nớc Trongkhi đó tảo lại sử dụng CO2, nitơ, photpho vô cơ để cấu tạo nên tế bào dới tácdụng của năng lợng ánh sáng mặt trời, đồng thời thải O2 để cho các động vật
và vi khuẩn ở nớc sử dụng (làm giàu O2 cho nớc) Quá trình quang hợp đợcbiểu diễn nh sau:
CO2 + NH4+ + PO43- as Tế bào tảo mới + O2
Do đó, trong nớc giầu nguồn N, P đặc biệt là P sẽ là điều kiện cho tảolục và tảo lam phát triển và nh vậy sẽ làm giảm sự ô nhiễm nớc Kết quảnghiên cứu của Guxeva(1952) cho thấy nhu cầu về đạm không giống nhau ởcác ngành tảo Cụ thể: Tảo lục có nhu cầu nitơ lớn nhất, thứ đến là tảo lam,sau cùng là tảo silic [30] Với photpho việc nghiên cứu mức độ ảnh hởng của
nó lên sự sinh trởng rất khó khăn vì hầu nh quanh năm hàm lợng nguyên tốnày trong thuỷ vực có giá trị rất nhỏ Theo nghiên cứu cho thấy trong các thuỷvực nớc ngọt vùng Trung á, hàm lợng photpho tổng số dao động từ 0,02 -0,58mg/l, trong lúc đạm tổng số đạt tới 6,2 mg/l [30]
Trong nớc nitơ tồn tại ở dạng NO3-, NH4+ (gọi là đạm) là sản phẩm củaquá trình amin hoácác chất hữu cơ hoặc do thuỷ sinh vật bài tiết Theo Fogg(1952), vi tảo hấp thu muối NH4+ nhanh hơn NO3- Vì vậy nếu trong môi trờng
có cả NH4+ và NO3+ thì NH4+ đợc hấp thu trớc tiên Kết quả nghiên cứu củaGuxeva (1952) cho thấy, nhu cầu về đạm không giống nhau ở các loài tảo.Tảo lục và tảo lam có nhu cầu về đạm cao hơn tảo silic [6] Đối với photphohoà tan trong nớc chủ yếu ở dạng photphat hữu cơ, song thực vật phù du lạichỉ sử dụng dạng photphat vô cơ mà thôi So với các muối của H2PO4-, HPO42-
thì nhu cầu của tảo đối với PO43- là cần thiết hơn cả và không thể thay thế [26].Ngời ta cho rằng, việc làm sạch nớc thải khỏi các chất hữu cơ hoà tan chủ yếu
là do vi khuẩn có trong nớc, tảo chỉ sinh ra oxi và một số loài có rễ để vikhuẩn lam bám vào, cùng tán lá che chắn cho các tia tử ngoại của ánh nắng để
vi khuẩn khỏi chết, tạo điều kiện cho vi khuẩn hoạt động tốt hơn Vì vậy vaitrò của tảo là khử nguồn Nitơamon hoặc Nitrat cùng nguồn photpho có ở trongnớc Mặc dù vậy nếu trong nớc có nhiều nguồn dinh dỡngnitơ, photpho sẽ gâyhiện tợng phì dỡng làm cho tảo phát triển dày đặc gây nên "nở hoa nớc" lúcnày sẽ kìm hãm sự sinh trởng và phát triển của các cá thể khác trong nớc Mặtkhác nếu trong nớc có chứa các nguyên tố Cd, Hg, Zn, Pb, halogen chúng sẽlàm giảm sự quang hợp của tảo
Trang 13Trong nớc sắt (Fe) có vai trò rất lớn đối với vi tảo bởi các ion Fe2+, Fe3+
là thành phần không thể thiếu của Cytocrom, Ferodoxin - cần thiết cho quátrình quang hợp Nguyên tố này thờng xuyên thay đổi hoá trị và luôn tham giavào các phức chất nên việc xem xét ảnh hởng của nó lên tảo rất khó khăn.Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình San (2001), cho rằng tảo silic có nhu cầusắt cao hơn tảo luc, còn tảo lam có nhu cầu ít nhất [13]
Khi đáng giá mức độ ảnh hởng của các chất dinh dỡng trong nớc đốivới đời sống vi tảo không thể thiếu nhu cầu về silic( ở dạng muối SiO44-) đặcbiệt là tảo silic Theo Guxeva(1975), Ergashev(1981) thì sự phát triển của tảosilic có mối quan hệ trực tiếp, chặt chẽ với hàm lợng SiO44- trong thuỷ vực[29]
Bên cạnh sự tác động của các yếu tố môi trờng nớc đối với đời sống của
vi tảo thì đồng thời vi tảo có tác động ngợc lại với môi trờng nớc Một số tảo
có khả năng hấp thu những kim loại nặng, sử dụng các hợp chất hữu cơ làmnguồn ô nhiễm cho nớc Những nghiên cứu đã phát hiện các tế bào tảochlorella emeronii cố định đã tích luỹ hiệu quả và làm bay hơi Hg trong cácthí nghiệm dài kỳ Nghiên cứu tế bào vi khuẩn lam cố định cũng cho thấy khảnăng hấp thụ Cu một cách hiệu quả [4] Tảo hấp thụ rất nhiều Zn.Scennedesmus, Chlorella đợc phát hiện có khả năng tích luỹ Cu2+, Pb, Cr3+, từ67- 96% [4] Nhờ sử dụng mạnh các chất đó mà tảo phát triển mạnh, là nguồnthức ăn cho tôm, cá, tạo điều kiện cho nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển,
sự phát triển của vi tảo ở một giới hạn nhất định sẽ có ý nghĩa trong quá trình
tự làm sạch nớc Tuy nhiên có một số loài tảo sự phát triển của chúng lại cóhại cho nớc vì nó chứa một số độc tố có hại cho động vật thuỷ sản nh chiNostoc, Anabaena, Microocystis,
Việc nghiên cứu sử dụng vi tảo để làm sinh vật chỉ thị cũng đã đợcnghiên cứu nhiều thập kỷ này Năm 1946 Butcher thấy tảo lam chỉ thị chomức độ ô nhiễm hữu cơ, năm 1969 Palmer đã nghiên cứu thống kê đợc 21 chithuộc 4 ngành tảo khác nhau trong đó có tảo lam ,tảo lục chỉ thị cho thuỷ vực
bị ô nhiễm nặng [4]
Nhìn chung giữa môi trờng nớc và tảo có môi quan hệ chặt chẽ vớinhau Ngoài khả năng hoà tan các chất dinh dỡng để cung cấp thức ăn cho tảothì nớc còn có khả năng điều hoà nhiệt độ, vận chuyển và hoà tan oxi, mặtkhác nớc có những đặc tính riêng nh có khối lợng riêng cao, độ nhớt thấp nên
Trang 14làm gảm sức cản của nớc đối với sự di chuyển của tảo, giúp tảo di chuyển dễdàng mà ít tốn năng lợng và dễ nổi.
Xuất phát từ mối quan hệ này để từ đó ngời ta xây dựng mô hình nuôithuỷ sản sao cho phù hợp về mỗi quan hệ sinh thái giữa vật nuôi (tôm, cá, )với các nhóm sinh vật khác và môi trờng nớc Những kỹ thuật về nuôi tôm,cá, nớc lợ liên quan chặt chẽ với các đặc tính của môi trờng ao nuôi Năngsuất nuôi có thể bị ảnh xấu đi nếu nh lợng nớc nuôi trồng bị suy giảm
Trang 15
Chơng II
Đối tợng, nội dung và phơng pháp nghiên cứu
2.1 Đối tợng, nội dung nghiên cứu:
2.1.1 Đối tợng nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu là chất lợng nớc và thành phần vi tảo thuộc 2ngành Cyanobacteria và Chlorophyta ở các đầm nuôi tôm Nghi Xuân - HàTĩnh
2.1.2 Nội dung nghiên cứu:
+ Các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá bao gồm: nhiệt độ, độ trong, màu, pH, DO,COD, NH4+, NO3-, PO43-, SiO2, Fe(ts)(tổng số)
+ Xác định thành phần loài Cyanobacteria và Chlorophyta trong các đầmnuôi tôm
+ Xem xét mối quan hệ giữa chất lợng nớc với sự phân bố của tảo
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Địa điểm: Tại 2 đầm nuôi tôm:
Đầm ông Táo (ngoài đê: chịu ảnh hởng của thuỷ triều)
Đầm ông Quyền (trong đê: ít chịu ảnh hởng của thuỷ triều) ở HuyệnNghi xuân - Hà Tĩnh
Thời gian: Mẫu đợc thu vào 2 đợt
Đợt I: Tháng 9/ 2004
Đợt II: Tháng 11/ 2004
2.3 Phơng pháp nghiên cứu:
2.3.1 phơng pháp thu mẫu
Mỗi đầm đợc thu tại 2 diểm:
Điểm I, III: Giữa đầm
Điểm II, IV: Gần bờ
Trang 16Mẫu tảo đợc thu bằng lới vớt thực vật nổi N075 vợt qua vợt lại 100 lầntheo hình số tám để định tính
Đối với mẫu định lợng đợc thu bằng cách đong 10 lít loc qua lới vớtthực vật nổi cô lại thành 50 ml nớc mẫu định lợng Các mẫu đợc bảo quảnbằng foocmol 4% và đợc dán nhãn, đánh số cẩn thận
2.3.2 Phơng pháp phân tích.
2.3.2.1 Phân tích mẫu nớc
Để xác định các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá chúng tôi dựa vào tài liệu
"Standardmethods for examination of Warter and Waste Water" của tổ chức
Y tế Mỹ 1985 [25] và tài liệu "Hớng dẫn phân tích thuỷ lý, thuỷ hoá" của cụckhí tợng thuỷ văn [27]
+ Xác định COD bằng phơng pháp permanganat Kali
2.3.2.2 Đối với mẫu tảo:
+ Phân tích định tính : Mẫu tảo đợc quan sát dới kính hiển vi 2 mắt, có
độ phóng đại 400 - 600 lần, mô tả, đo kích thớc vẽ hình và chụp ảnh hiển vi
Để định loại các loài tảo chúng tôi sử dụng các tài liệu:
- Gollerbakh M.M và cộng sự, định loại tảo lam, tảo nớc ngọt Liên Xô.NXBKH Xô Viết Maxcơva 1953(Tiếng Nga)
- Desikachary T.V 1959 Cyanophyta Indin Council of Agric Res NewDedhi, 686p
- Dơng Đức Tiến (1996): Phân loại vi khuẩn lam ở Việt Nam [18]
Trang 17- Theo Korschikov A.A (1959): Ergashev A E (1977 - 1979) vàPalamar G.M Mordphinsev (1982); [25, 31, 32,33, 34].
- Dơng Đức Tiến, Võ Hành (1997): Tảo nớc ngọt Việt Nam Phân loại
bộ tảo lục (Protococcales) [21]
n =
2x10
) 10
x (m
2
7 =
2
1
x m x 105 (TB/L) Trong đó: n số lợng TB trong 1 lít nớc mẫu
m số lợng TB đếm đợc trên buồng đếm Goriarev
Trang 18Chơng III Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Vài nét về đặc điểm của Nghi Xuân - Hà Tĩnh.
Huyện Nghi Xuân nằm trong dải đồng bằng ven biển xen với đồi núi.Phần đồng bằng tơng đối bằng phẳng có xu hớng dốc từ Tây sang Đông, trungbình 1,2% có nơi 1,8% Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên là 21.800 ha
Trong đó: Đất nông nghiệp là 11.485ha (Chiếm hơn 50%), còn lại là đấtlâm nghiệp, đất chuyên dùng, diện tích mặt nớc và các loại đất khác, trong đó
có 420ha diện tích có thể nuôi trồng thuỷ sản và sử dụng 6.300.000m3 nớc đểnuôi thuỷ sản ở đồng bằng ven biển và thung lũng sông phân bố ở phía Bắc
và phía Đông huyện đất chủ yếu là loại cát, cát pha và phù sa ven sông là điềukiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
Về khí hậu: Thời tiết chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa khô (mùa lạnh) từtháng 11 - 4 năm sau và mùa nóng (mùa ma) từ tháng 5 - 10
Nhiệt độ trung bình năm biến đổi không lớn, từ 20 - 28oC, tháng nóngnhất là tháng 5 - 7, nhiệt độ trung bình có thể lên tới 37 - 38oC Các tháng mùa
đông nhiệt độ trung bình 10,1 - 18,4oC, tháng lạnh nhất là tháng 12, tháng 1với nhiệt độ có thể xuống đến 8 - 10oC
Độ ẩm tơng đối trung bình hàng năm là 85 - 86%, trong đó mùa ma ờng dao động trong khoảng: 80 - 90%, còn mùa khô: 50 - 70%
th-Hà Tĩnh là vùng có lợng ma trung bình hàng năm 2.363mm, cao nhất là2.725mm, khoảng 90% lợng ma tập trung vào các tháng 7, 8, 9, 10 Tổng lợng
ma trong ngày là 169 ngày Vì thế mà Nghi Xuân là huyện có lợng ma nằmtrong phạm vi đó
Tổng thời gian chiếu sáng trung bình tại Nghi Xuân là 1.637 - 1.758giờ/năm Độ bức xạ cực đại: 1.838 - 1.851kcal/năm Do độ dài ngày và độ cao mặttrời lớn nên tổng lợng bức xạ của khu vực cao tạo điều kiện thuận lợi cho sảnxuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
Tuy nhiên khu vực Nghi Xuân chịu ảnh hởng trực tiếp của bão và ápthấp nhiệt đới thờng xuất hiện vào tháng 8, 9, 10 Đây chính là vấn đề khókhăn cho nghề nuôi trồng thuỷ sản
Về điều kiện kinh tế xã hội: Nghi Xuân có 17 xã và 2 thị trấn với số dân
là 100.512 ngời (Số liệu tổng điều tra dân số đến 31/12/1998) Kinh tế huyệnNghi Xuân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong số 11.485ha đất nông
Trang 19nghiệp có khoảng 6.030ha diện tích trồng lúa 2vụ, màu còn 2.183ha trồng câycông nghiệp hàng năm và 141ha đất trồng cây công nghiệp lâu năm Tuynhiên nguồn thu từ nông nghiệp vẫn chiếm 1 tỷ lệ nhỏ trong GDP của địa ph-
ơng Bên cạnh đó Nghi Xuân với mạng lới sông ngòi khá dày có 30 sông dàitrên 10km nhập thành 8 sông chính và đổ vào 4 cửa sông lớn ra biển: Cửa Hội,Cửa Sót, Cửa Nhợng, Cửa Khẩu Chế độ dòng chảy phụ thuộc vào lợng matheo mùa rõ rệt
Hiện nay Nghi Xuân đang phát triển phong trào nuôi tôm nói riêng vànuôi thuỷ sản nói chung sâu rộng với tổng diện tích 420ha Vì hiện nay ở NghiXuân vẫn đang tồn tại hình thức nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến chonên năng suất cha cao, do đó đời sống của ngời dân còn thấp [Trích từ quyểnNiên gián thống kê 2003 - Sở KH và MT Hà Tĩnh]
3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu về chất lợng nớc ở các đầm nuôi tôm Nghi Xuân Hà Tĩnh.
3.2.1 Các chỉ tiêu vật lý:
Kết quả thu đợc của các đợt thu mẫu về các chỉ tiêu vật lý đợc thể hiện
ở bảng 1:
Trang 20Bảng1: Các chỉ tiêu thuỷ lý ở thuỷ vực nghiên cứu
Điểm II
Điểm I
Điểm II
Điểm III
Điểm IV
Điểm III
Điểm IV
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy: Nhiệt độ tại các điểm nghiên cứutrong cùng một đợt thu mẫu tơng đối ổn định ở đợt I nhiệt độ không khí dao
động từ 28 - 29,5oC, trong đó nhiệt độ nớc dao động từ 26 - 27oC Còn ở đợt IInhiệt độ không khí dao động từ 24,5 - 26oC và nhiệt độ nớc dao động từ 22 -
23oC Có sự chênh lệch về nhiệt độ không khí cũng nh nhiệt độ nớc giữa 2 đợtthu mẫu là do điều kiện khí hậu giữa 2 mùa khác nhau
+ Độ trong: Yếu tố độ trong ảnh hởng rất đến sự phát triển của thực vậtphù du, đặc biệt đến quá quang hợp cũng nh sức sản xuất của chúng Độ trong
có sự chênh lệch giữa 2 đầm ông Táo và ông Quyền là do 2 đầm thu mẫu rấtkhác nhau: 1 trong đê (Đầm ông Quyền) và 1 ngoài đê (Đầm ông Táo) Độtrong của đầm ông Quyền lớn hơn 40cm đồng nghĩa với nớc nghèo dinh dỡng
3.2.2 Một số chỉ tiêu hoá học ở đầm nuôi tôm Nghi Xuân - Hà Tĩnh.
Kết quả các chỉ tiêu hoá học qua 2 đợt thu mẫu đợc thể hiện ở bảng 2
Bảng 2: Các chỉ tiêu thuỷ hoá của thuỷ vực nghiên cứu.
ĐiểmII
ĐiểmIII
ĐiểmIV
ĐiểmIII
ĐiểmIV
Trang 21Qua bảng 2 cho thấy, nồng độ muối ở từng điểm thu mẫu ở mỗi đầm là
ổn định nhng giữa 2 đầm lại chênh lệch nhau 10/00 là do địa điểm của 2 đầmkhác nhau Nồng độ này đồng thời lại chênh lệch giữa 2 đợt thu mẫu: Đợt Idao động 12 - 13o/00; đợt II dao động từ 15 - 16o/00 Nguyên nhân này do trớc
đợt I vùng này chịu ảnh hởng của ma nhiều đã làm độ muối nhạt đi
+ Độ pH: Là chỉ tiêu cho biết quá trình sinh học, hoá học đang diễn ratrong thuỷ vực; pH trong một thuỷ vực có thể biến đổi theo ngày đêm (pHtăng vào ban ngày, giảm vào ban đêm) do biến đổi của hàm lợng CO2 trong n-
ớc trong quá trình quang hợp Độ pH còn biến đổi theo mùa do biến đổi củaquá trình phân huỷ các chất hữu cơ và cũng lien quan đến hàm lợng CO2 trongnớc
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy: Trị số pH của các điểm nghiên cứu dao
động : 7,5 - 7,8 (Đợt I); 7,4 - 7,8 (Đợt II) Nhìn chung, sự dao động này khônglớn và đây chính là ngỡng tốt nhất để cho thực vật phù du quang hợp nằmtrong giới hạn cho phép đối với nuôi trồng thuỷ sản (TCVN 5943 - 1995)
+ Oxy hoà tan (Dissolved oxygen: DO)
Oxy hoà tan là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất ợng nguồn nớc đồng thời là yếu tố ảnh hởng đến đời sống của sinh vật thuỷsinh Mức độ oxy hoà tan phụ thuộc vào mức độ nhiễm bẩn hữu cơ, vào hoạt
l-động của thế giới thuỷ sinh, các hoạt l-động hoá sinh, hoá học và vật lý của nớc.Nồng độ oxy hoà tan trong nớc sẽ rất thấp lúc sáng sớm và rất cao lúc chiều
Do đó đợt II (thu mẫu vào khoảng 10h30' đến 11h30' ) nên có giá trị DO caohơn đợt I (thu mẫu vào 9h - 10h), sự chênh lệch này dao động trong khoảng0,0 - 0,4 Sự chênh lệch DO tại các điểm trong một lần thu mẫu không lớn,
Trang 22dao động khoảng 5,8 - 6,4 do quá trình quang hợp của thực vật phù du tại các
điểm khác nhau
+ Độ oxy hoá của nớc (Chemical oxygen Demand: COD)
COD là lợng oxy cần thiết cho quá trình oxy hoá toàn bộ các chất huccơ có trong mẫu nớc thành CO2 và nớc Chỉ số này đợc dùng rộng dãi để đặctrng cho hàm lợng chất hữu cơ của nớc Để xác định COD ngời ta thờng dùngchất oxy hoá mạnh (K2Cr2O7 hoặc KMnO4), chất này có thể oxy hoá hết 95 -100% các chất hữu cơ có trong mẫu nớc
Từ bảng 2 cho thấy: Giữa các đợt thu mẫu cũng nh các điểm thu mẫucùng đợt có sự sai khác khoảng 0,5 - 2mgO2/l Hàm lợng COD cao nhất là 23mgO2/l, chứng tỏ hàm lợng hữu cơ trong đầm nuôi tôm tơng đối cao Tuynhiên kết quả này vẫn nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn nuôi trồngthuỷ sản (TCVN 5943 - 1995)
+HàmlợngNH4+
0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0.8
Đợt 1
Đợt 2
Biểu đồ 1: Biểu diễn hàm lợng NH 4 +
NH4+ cùng với photphat có trong nớc là những yếu tố rất cần thiết choquá trình phát triển của vi tảo cũng nh các sinh vật khác trong thuỷ vực đồngthời là nhân tố thúc đẩy sự phú dỡng của nớc nếu vợt quá giới hạn cho phép
NH4+ có sự thay đổi không lớn giữa 2 đợt thu mẫu cũng nh các điểmtrong cùng một đầm tại một lần thu mẫu: Đợt I dao động trong khoảng 0,68-0,7 (đầm ông Táo); 0,6 - 0,62 (đầm ông Quyền) Đợt II giữa các điểm trong