Xác định được một số chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm trà giảo cổ lam ..... Trong đó cây Giảo cổ lam cũng được coi là một trong số các loài thảo dược quý đang được sử dụng.. Giảo cổ lam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
PHẠM NGỌC HẢI Tên đề tài:
KHẢO SÁT QUY TRÌNH SẢN XUẤT TRÀ TÚI LỌC GIẢO CỔ LAM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG VÀ THỨC ĂN
CHĂN NUÔI CAO BẰNG (CABACO)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
PHẠM NGỌC HẢI Tên đề tài:
KHẢO SÁT QUY TRÌNH SẢN XUẤT TRÀ TÚI LỌC GIẢO CỔ LAM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG VÀ THỨC ĂN
CHĂN NUÔI CAO BẰNG (CABACO)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Công nghệ thực phẩm
Họ tên người hướng dẫn: 1 T.S Trần Văn Chí
2 ThS Nguyễn Sinh Huỳnh
THÁI NGUYÊN, NĂM 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quãng thời gian nghiên cứu tại công ty CABACO, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các anh chị trong công ty để hoàn thành để tài Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của giám đốc Nguyễn Sinh đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Văn Chí – Giảng viên khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện, trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian làm đề tài
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn
bè đã luôn động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn cùng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành đề tài
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 5 năm 2018
Sinh Viên Phạm Ngọc Hải
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng nội dung sáu bậc đánh giá cho một chỉ tiêu cảm quan 27
Bảng 3.2 Quy định phân cấp chất lượng thực phẩm theo TCVN 3215-79 28
Bảng 3.3 Hệ số trọng lượng chè túi lọc 29
Bảng 4.2.1a Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thành phần dinh dưỡng
của sản phẩm 33
Bảng 4.2.1b Ảnh hưởng của nhiệt độ đến cảm quan của sản phẩm 34
Bảng 4.2.2a Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian sấy
đến thành phần dinh dưỡng của sản phẩm 35
Bảng 4.2.2b Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian sấy đến
cảm quan của sản phẩm 35
Bảng 4.2.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước
nguyên liệu đến cảm quan của sản phẩm tạo thành 37
Bảng 4.3 Kết quả phân tích chất lượng sản phẩm 38
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình ảnh 2.1: Giảo cổ lam 4
Hình ảnh 2.2: Cây cỏ ngọt 12
Hình ảnh 2.3: Cam thảo 16
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định nhiệt độ sấy 21
Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thời gian sấy 22
Hình 3.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định kích thước nguyên liệu 23
Hình 4.1 Quy trình sản xuất trà túi lọc giảo cổ lam 31
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Vài nét cơ bản về Công ty Cổ phần Giống và Thức ăn Chăn nuôi
Bao Bằng (CABACO) 3
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của CABACO 3
2.1.2 Tên và địa chỉ của công ty 4
2.2 Giới thiệu chung về Giảo cổ lam 4
2.2.1 Nguồn gốc và phân loại 4
2.2.2 Đặc điểm thực vật học của cây giảo cổ lam 5
2.2.3 Thành phần hóa học 7
2.2.4 Giá trị của cây giảo cổ lam 7
2.3 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu 10
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu trong nước 10
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu trên thế giới 11
2.4 Những nguyên liệu phụ 11
2.4.1 Cây cỏ ngọt 11
2.4.2 Cam thảo 16
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
Trang 73.3.1 Nội dung 1: Khảo sát và thuyết minh quy trình sản xuất 20
3.3.2 Nội dung 2: Xác định được một số yếu tố ảnh
hưởng tới chất lượng sản phẩm 20
3.3.3 Nội dung 3: Xác định một số chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1.Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
3.4.2 Phương pháp thu thập các tài liệu thứ cấp 23
3.4.3 Phương pháp tham gia trực tiếp sản xuất 23
3.4.4 Phương pháp khảo nghiệm dây chuyền 23
3.4.5 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu 23
PHẦN IV:DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Khảo sát được quy trình sản suất và chất lượng trà giảo cổ lam 31
4.2 Xác định được một số yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng chất lượng sản phẩm 33
4.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy đến chất lượng sản phẩm 33
4.2.2 Ảnh hưởng của thời gian sấy tới chất lượng sản phẩm 34
4.2.3 Ảnh hưởng của kích thước nguyên liệu tới chất lượng sản phẩm 36
4.3 Xác định được một số chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm trà giảo cổ lam 38
PHẦN 5:KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Kiến nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 8PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Từ xưa đến nay, việc sử dụng thực phẩm của con người đã trải qua nhiều giai đoạn, từ công dụng của thực phẩm là mang đến dinh dưỡng, nguồn năng lượng vv , thì ngày nay ngoài những mong muốn từ thực phẩm như trên thì con người đang hướng tới những loại thực phẩm mang lại sự tăng cường thể lực cho con người đồng thời có thể phòng và trị bệnh
Có nhiều loại thực vật được sử dụng làm nguồn thuốc để phục vụ cho việc phòng và chữa bệnh của con người Trong đó cây Giảo cổ lam cũng được coi là một trong số các loài thảo dược quý đang được sử dụng
Giảo cổ lam có danh pháp khoa học là Gynostemma pentaphyllum thuộc
họ Bầu bí (Cucurbitaceae), cây được phân bố ở các khu vực có độ cao 200 -
2000m so với mực nước biển, trong các khu rừng thưa và ẩm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và một số nước châu Á Ở nước ta Giảo cổ lam được tìm thấy tại Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang và một số địa phương khác
Giảo cổ lam là loại thảo dược có những đặc tính quý, trong cây chứa các hợp chất thuộc nhóm flavonoid và nhóm saponin có tác dụng điều hòa huyết áp, tăng cường hệ thống miễn dịch, làm giảm hàm lượng cholesterol, và nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể Vì vậy Giảo cổ lam đã được sử dụng làm rau ăn hay chế biến thành các sản phẩm như trà có tác dụng trong bảo vệ
và nâng cao sức khỏe cho con người
Để sản phẩm của công ty đạt chất lượng cao, có uy tín đứng vững trên thị trường thì chúng ta cần phải tìm hiểu rõ về các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình bảo quản và chế biến đến chất lượng sản phẩm
Trang 9Đối với các nhà máy sản xuất trà khác nhau thì có các phương thức sản xuất khác nhau và có các yêu cầu khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng Nhưng nói chung các nhà sản xuất đều hướng tới một sản phẩm có chất lượng tốt mang đặc điểm riêng của công ty mình
Trên cơ sở đó, để nâng cao hiểu biết về quá trình sản xuất sản phẩm trà giảo cổ lam, đạt chất lượng tốt, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Nên tôi tiến hành nghên cứu đề tài: “khảo sát quy trình sản xuất trà túi lọc giảo cổ lam tại Công ty Cổ phần Giống và Thức ăn Chăn nuôi Cao Bằng (CABACO)
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu về nhà máy
- Khảo sát quy trình sản xuất trà giảo cổ lam tại Công ty Cổ phần Giống
và Thức ăn Chăn nuôi Cao Bằng
1.3 Mục đích nghiên cứu
- Nắm được quy trình công nghệ sản xuất trà túi lọc giảo cổ lam tại Công ty Cổ phần Giống và Thức ăn Chăn nuôi Cao Bằng
- Đánh giá được một số chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm trà túi lọc giảo
cổ lam tại CABACO
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài cung cấp thêm các số liệu và cơ sở khoa học cho việc sản xuất trà túi lọc giảo cổ lam và xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng trà
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất
Trang 10PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vài nét cơ bản về CABACO
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của CABACO
Công ty CABACO tiền thân là Nông trường chăn nuôi lợn tỉnh Cao Bằng theo quyết định số: 06/UB-QĐ ngày 02/01/1973 của UB Hành chính tỉnh Cao Bằng Đến ngày 01/04/1982 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ra Quyết định cho đổi tên thành Công ty giống và thức ăn chăn nuôi tỉnh Cao Bằng Năm
1997 để phù hợp với nhu cầu thực tế trong sản xuất kinh doanh đồng thời nhằm phục vụ tốt hơn phong trào chăn nuôi của tỉnh, UBND tỉnh Cao Bằng
đã quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước Công ty giống chăn nuôi Cao Bằng từ hoạt động sản xuất kinh doanh sang Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích với tên doanh nghiệp là Công ty giống chăn nuôi Cao Bằng
Công ty chuyển sang mô hình Công ty cổ phần và chính thức đi vào hoạt động từ 01/01/2005 theo quyết định số 3361/QĐ-UB ngày 22/12/2004 của UBND tỉnh Cao Bằng Với tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước chiếm trên 51%
Với ngành nghề kinh doanh chính là:
- Lai tạo, giữ giống gốc đàn gia súc, gia cầm: Trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, thủy sản
- Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt
- Truyền tinh nhân tạo cho đại gia súc và tiểu gia súc
- Thu mua nông sản, sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi
- Kinh doanh dịch vụ giống vật nuôi và thuốc thú y
- Xuất, nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, vật tư, thiết bị, giống vật nuôi phục vụ cho ngành chăn nuôi
- Sản xuất chế biến và bảo quản các sản phẩm từ thịt
- Giết mổ và chế biến thịt động vật, thịt gia cầm, thịt gia súc
- Kinh doanh chế biến thịt, mỡ đóng gói và đóng hộp gồm: (thịt hộp, xúc xích, lạp sườn, thịt hun khói, thịt khô)
Trang 112.1.2 Tên và địa chỉ của công ty
Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI CAO BẰNG (CABACO)
Địa chỉ : X Hưng Đạo, TP Cao Bằng, T.Cao Bằng
Điện thoại : 0263.760.211 - 0263.760.026
Gmail : cabaco.cb@gmail.com
2.2 Giới thiệu chung về Giảo cổ lam
Giảo cổ lam có tên khoa học là Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino, Cucurbitaceae Cây còn có một số tên khác như: Cổ yếm, thư tràng 5
lá [8], thất diệp đởm, tiểu khổ dược (Nhật Bản), giảo cổ lam (Trung Quốc), cam trà man, cồng la oa đổ, biển địa sinh căn, giao dịch lam [14]
2.2.1 Nguồn gốc và phân loại
Hình 2.1: Giảo cổ lam
Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) có nguồn gốc từ các vùng núi của miền nam Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á Gynostemma
entaphyllum phân bố ở độ cao từ 300 – 3000 m so với mực nước biển ở các
vùng đồng bằng, sườn dốc và tán cây trên núi Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản,
Trang 12Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam Tại Việt Nam cây mọc trong rừng, rừng thưa
ở nhiều nơi như Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hòa Bình, Bắc Kạn [3]
Giảo cổ lam là một cây leo sống nhiều năm thuộc chi Gynostemma, họ Cucurbitaceae Theo các tài liệu [1], [8] giảo cổ lam thuộc chi Gynostemma, nằm trong họ bầu bí Cucurbitaceae Vị trí của giảo cổ lam trong hệ thống
phân loại học như sau:
Loài: Gynostemma pentaphyllum (Thunb) Makino
- Loài Giảo cổ lam 3 lá: Gynostemma laxum (Wall.) Cogn
- Loài Giảo cổ lam 5 lá: Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino
- Loài Giảo cổ lam 7 lá: Gynostemma pubescens (Gagnep) C.Y.Wu
- Loài Giảo cổ lam 9 lá: Gynostemma sp
2.2.2 Đặc điểm thực vật học của cây giảo cổ lam
2.2.2.1 Đặc điểm thực vật và sự phân bố của một số loài trong chi
Gynostemma
Gynostemma pentaphyllum: Cây thảo mọc leo yếu, không lông, vòi đơn
Lá kép có cuống chung dài 4cm, phiến do 5-7 lá chét với mép có răng dài
3-9 cm, rộng 1,5 -3cm Cây khác gốc, chùy hoa thòng, hoa nhỏ, hình sao, ống bao hoa rất ngắn, cánh hoa rời nhau cao 2,5cm, nhị 5, bao phấn dính thành đĩa, bầu có 3 vòi nhụy Quả khô, tròn, đường kính 5-9mm màu đen, hạt 2 - 3,
to 4 mm Hoa tháng 7-8 Quả tháng 9-10 [2]
Cây mọc trên đất đá vôi, đá hoa cương và đất núi lửa, trong rừng thưa, lùm bụi từ vùng đồng bằng đến vùng núi cao 2000m Ở nước ta cây mọc từ
Trang 13Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hoà Bình, Thừa Thiên - Huế, Kon Tum vào tới Đồng Nai [2], [3]
Phân bố ở Ân Độ, Xri Lanca, Myanmar, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Việt Nam và bán đảo Mã Lai Thu hái dây lá vào mùa thu, phơi khô [3], [4]
Gynostemma laxum : Cổ yếm lá bóng, thư tràng thưa: Dây leo mảnh,
lóng dài 10-20cm, mỏng, mép có răng cưa nhọn, gân phụ 5-7 cặp, có lông mịn, hoặc không có lông Cây có hoa khác gốc, chùy hoa dài đến 30cm, cánh hoa rời nhau, cao 3mm, nhị 5 dính nhau ở chỉ nhị và bao phấn Quả tròn, to 6-8mm, hạt 2-3, hình trái xoan, hơi dẹt, dài và rộng cỡ 4mm Ra hoa vào tháng 5
Phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam, Myanmar, Ấn độ, Thái lan Ở nước
ta, cây mọc leo ở rừng thưa các tỉnh Lào Cai, Hoà Bình, Ninh Bình và Quảng Trị Cây mọc leo trong các rừng thưa, savan cỏ, trên đất sét hoặc trong các rú bụi trên núi đá vôi
Gynostemma pedata : Cây dây leo, dài 80 - 120 cm, có tua cuốn, sống
hằng năm Lá mọc cách, cuống lá dài 3 - 4 cm, lá kép chân vịt dạng pêđal, gồm 5 - 7 lá chét; phiến lá chét cỡ 3 - 9 x 1,5 - 3 cm, mép lá có răng cưa Cụm hoa dạng chuỳ thòng Hoa nhỏ, mẫu 5, đơn tính khác gốc ống bao hoa rất ngắn; cánh hoa rời nhau, dài 2,5 mm Nhị 5, bao phấn dính thành đĩa Bầu có
3 vòi nhụy Quả khô, tròn, đường kính 5 - 9 mm, màu đen Hạt 2 - 3, treo Mùa hoa tháng 7 - 8, có quả tháng 9 - 10 Mọc rải rác ở vùng núi đá vôi hoặc trên đất núi lửa, ở độ cao đến 2000 m Tái sinh bằng thân và hạt [11]
Trang 142.2.3 Thành phần hóa học
Chi Gynostemma nổi tiếng với thành phần saponin trong đó có nhiều
loại saponin rất giống với thành phần saponin trong nhân sâm, có tác dụng rất tốt cho sức khỏe về phòng và chữa bệnh Theo (Võ Văn Chi) [2] khi so sánh
hàm lượng saponin với một số loài cùng chi, loài G.pentaphyllum biết đến với
hàm lượng saponin cao nhất
Thành phần hóa học chủ yếu của giảo cổ lam là saponin và flavonoid (có tác dụng sinh học cao và chống lão hóa mạnh), các saponin trong giảo cổ lam (còn gọi là gypenosid hay gyposaponin) có cấu trúc triterpen khung dammaran trong đó nhiều hợp chất đã được xác định có trong thành phần saponin trong nhân sâm và tam thất Ngoài ra giảo cổ lam còn chứa các chất carotenoid, pollysaccharid, sterol, các acid amin tan trong nước, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Se
2.2.4 Giá trị của cây giảo cổ lam
Theo các tài liệu [20], [21], [22] Gynostemma pentaphyllum là dược
liệu được sử dụng làm thuốc điều trị viêm gan, chứng cao huyết áp và chống ung thư ở Đài Loan Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu tác dụng chống viêm
và bảo vệ tế bào gan của dịch chiết phần trên mặt đất của cây Gynostemma pentaphyllum Kết quả cho thấy dược liệu có tác dụng chống viêm mạnh hơn Indomethacin Tác dụng chống oxy hoá bảo vệ tế bào gan khỏi tác hại của tetracloruacarbon (CCI4) và acetaminophen được thể hiện rõ qua chỉ số AST (aspartate aminotransferase) và ALT (alanine aminotransferase) giảm rõ rệt sau khi dùng thuốc
Dịch chiết nước của Gynostemma pentaphyllum có tác dụng kìm hãm sự
tích tụ tiểu cầu và làm đẩy nhanh quá trình làm tan cục máu đông Kết quả cho thấy dược liệu có tác dụng chống huyết khối trên mô hình thực nghiệm [24]
Trang 15Gynostemma pentaphyllum là một trong 24 vị dược liệu của Trung
Quốc có tác dụng tới acid nucleic, protein và tế bào của bệnh nhân ung thư phổi Dược liệu có tác dụng tăng cường sức để kháng của cơ thể [19]
Wang C đã chứng minh dịch chiết Gynostemma pentaphyllum có tác
dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư biểu mô thực quản trên chuột Vì vậy các tác giả cho rằng Gynostemma pentaphyllum có tác dụng ngăn ngừa
và chống lại ung thư [25]
Gynostemma pentaphyllum có tác dụng kìm hãm ung thư biểu bì của
chuột túi vàng sau khi gây ung thư bằng dimethylbenzanthracene (DMBA) Các tác giả cũng nghiên cứu ảnh hưởng của Gynosteamma pentaphyllum tới gen đột biến tách từ khối tế bào ung thư sau khi gây ung thư bằng DMBA
Kết quả cho thấy Gynosteamma pentaphyllum có tác dụng chống lại khối u
[26], [27], [28]
Gynostemma pentaphyllum giúp hồi phục sự giảm bớt số lượng bạch cầu,
GOT, GPT, IGG trong huyết thanh chuột sau khi bị chiếu tia gamma Do vậy, dược liệu có tác dụng bảo vệ chuột tránh được sự tác động của tia bức xạ [18]
Gynostemma pentaphyllum có tác dụng kìm hãm sự cảm ứng tia UV
của thực khuẩn lambda trong tương tác với Escherichia coli [29]
Bằng phương pháp điện hoá (electrochemical) Ma Z và Yang Z đã nghiên cứu khả năng thu dọn gốc tự do anion Superoxide và hydrogen peroxide “OH của Gynostemma pentaphyllum ” cho thấy kết quả khá tốt [23]
Theo Li L và các cộng sự [20], các gypenosid (saponin của cây
Gynostemma pentaphyllum) có tác dụng như là một chất chống oxy hoá lên
các đại thực bào, các microsom gan và tế bào biểu mô nội mạch Kết quả cho thấy gypenosid đã làm giảm các anion superoxide và hydrogen peroxide có chứa trong các bạch cầu trung tính của người và làm giảm sự bùng nổ oxy hoá được khởi phát bởi zymosan chứa trong các tế bào bạch cầu đơn nhân của người và trong các đại thực bào của chuột Sự tăng của quá trình peroxyd hoá lipid được khởi phát bởi /cystein, ascorbat/ NADPH hoặc hydrogen
Trang 16peroxide trong các microsom gan và các tế bào biểu mô nội mạch bị ức chế bởi các gypenosid Các tác giả cũng thấy rằng các gypenosid bảo vệ các màng sinh học khỏi các tổn thương oxy hoá bằng cách làm đảo ngược sự giảm chất lỏng màng của các microsomgan và các ty lạp thể (mitochondria), tăng hoạt tính men của ty lạp thể trong các tế bào biểu mô nội mạch và giảm sự thất thoát của men lactate dehydrogenase nội bào từ các tế bào này Hiệu quả chống oxy hoá rõ rệt của các gypenosid có thể rất có giá trị trong điều trị và phòng ngừa nhiều bệnh như xơ vữa động mạch, bệnh gan và các triệu chứng viêm
Các gypenosid chiết xuất từ Gynostemma pentaphyllum có tác dụng
chống oxy hoá bảo vệ tế bào gan khỏi tác hại của tetracloruacarbon (CCI4) Các tác giả cũng chỉ ra rằng gypenosid có tác dụng bảo vệ và chống xơ hoá tế bào gan, ức chế dòng tế bào Huh-7, Hep3B và HA22T phát triển [15], [16], [17]
Dịch chiết Giảo cổ lam tinh chế đã được các nhà khoa học Trung Quốc
và Nhật Bản nghiên cứu về liều lượng thuốc dùng trên người dưới dạng: thuốc tiêm, dung dịch uống, bột thuốc, viên nén, chữa các bệnh về gan, bệnh tăng cholesterol máu [6]
Từ xa xưa, ở Trung Quốc, loài cây này được vua chúa, quan lại sử dụng
để tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và làm đẹp
Thầy thuốc nổi tiếng Lý Thời Trân (1578) sau này đã sử dụng giảo cổ lam chữa bênh tiểu ra máu, phù và sưng đau họng, nóng và phù nề cổ, chữa các khối u và làm lành vết thương
Theo Thuốc cổ truyền Trung Quốc cơ bản, giảo cổ lam có vị đắng, tính
ôn trung, bổ âm và trợ dương và là thuốc dùng tăng sức đề kháng với vi khuẩn và các tác nhân gây viêm
Năm 1976, Nhật Bản tình cờ phát hiện giảo cổ lam khi nghiên cứu một
bộ lạc sống trên núi cao có tuổi thọ bình quân 98 tuổi, mà nguyên nhân là do người dân nơi đó dùng loại cây này chế biến thành trà để uống hàng ngày và bào chế thành thuốc để tăng cường sức khỏe
Trang 17- Tác dụng của giảo cổ lam
+ Dược liệu có vị đắng, tính hàn, có tác dụng tiêu viêm, giải độc, chữa
ho và long đờm Ở Trung Quốc dùng làm thuốc tu bổ cường tráng [8], [9] Có nơi như ở Quảng Tây, người ta dùng trị ỉa chảy và dùng ngoài trị rắn cắn, còn
ở vùng núi Vân Nam, cây được sử dụng như cây Cổ yếm lá bóng dùng chữa viêm khí quản mãn tính, viêm gan truyền nhiễm, viêm thận, loét dạ dày và hành tá tràng, phong thấp đau nhức khớp, bệnh về tim [8]
+ Theo tài liệu [6], dược liệu có tác dụng hạ huyết áp, hạ mỡ trong máu, tăng sức khoẻ, chống lão suy, kháng ung thư Trị ung thư, viêm phế quản mãn tính, viêm gan truyền nhiễm, viêm bể thận, viêm dạ dày ruột, cao huyết áp, cao mỡ trong máu, bệnh mạch vành, bệnh béo phì, trúng gió, sỏi mật, loét dạ dày, tiểu đường
+ Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ và Võ Văn Chi [2], [3], [8] giảo cổ lam
có vị đắng tính hàn, có tác dụng tiêu viêm giải độc, chữa ho và long đờm, ở Trung Quốc được làm thuốc tu bổ cường tráng, có những nơi như ở Quảng Tây được sử dụng để trị ỉa chảy và dùng ngoài trị rắn cắn, còn ở vùng Vân Nam được sử dụng để chữa viêm phế quản mãn tính, viêm gan truyền nhiễm, viêm thận, loét dạ dày và hoành tá tràng phong thấp đau nhức khớp và các bệnh về tim
+ Giảo cổ lam được đưa vào hầu hết vào các từ điển thảo dược Trung Quốc dùng để giải độc, làm thuốc ho, chữa trống ngực, các triệu chứng mệt mỏi, viêm phế quản cấp và mãn tính
2.3 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu trong nước
Do phát hiện nhiều hợp chất mới có hoạt tính sinh dược cao có trong giảo cổ lam nên nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu hóa học của tác giả Viện Dược liệu Phạm Thanh Kỳ
Trang 18và cộng sự (2002) đã chứng minh dịch chiết từ dược liệu Giảo Cổ Lam có nhóm hợp chất saponin phong phú tương tự như saponin của nhân sâm (panax ginseng) và một lượng flavonoid
Các tác giả khác Nguyễn Tiến Dẫn (1999)[5] còn chứng minh được
hàm lượng saponin và flavonoid dao động từ 0,01 đến 0,36%
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu trên thế giới
GS Tan H., Liu Z.L.,Liu MJ chứng minh Giảo cổ lam có tác dụng kìm
hãm sự tích tụ tiểu cầu, làm tan cục máu đông, chống huyết khối, tăng cường
lưu thông máu lên não [30]
Lin, J.M, và cộng sự chứng minh Giảo cổ lam có tác dụng chống viêm
gan, chứng cao huyết áp và chống ung thư Có tác dụng chống viêm mạnh
2.4 Những nguyên liệu phụ
2.4.1 Cây cỏ ngọt [1]
Tên khoa học: Stevia rebaudiana (Bertoni) Hemsley
Trang 19Họ: Cúc (Asteraceae)
Hình 2.2: Cây cỏ ngọt Cây thảo nhỏ, sống nhiều năm, cao 0,5 - 0,6 m và có khi cao tới 1m Thân cứng mọc thẳng, có rãnh dọc và nhiều lông mịn, ít phân nhánh.Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, gốc thuôn, đầu tù hoặc hơi nhọn dài 5 -7 cm, rộng 1 - 1 , 5 cm, có 3 gân, 4-6 đôi răng nhọn ở phần nửa về phía đầu lá, hai mặt có lông trắng mịn, nhấm lá thấy có vị ngọt rất đậm, cuống lá rất ngắn Hoa lưỡng tính, tụ họp thành đầu màu trắng ở ngọn Quả bế, không có mào lông, hạt không có nội nhũ Mùa hoa khoảng tháng 5-9
2.4.1.1 Phân bố, sinh thái [1]
Chi Stevia Cav không có một đại diện nào ở vùng châu Á Cỏ ngọt
đang được trồng phố biến ở Việt Nam hiện nay, được nhập nội từ một nước Nam Mỹ (nguồn gốc ở Paraguay) năm 1988 Cỏ ngọt là cây ưa ấm và ưa sáng, có thể chịu bóng hoặc ưa bóng vào thời kỳ cây con Vốn là cây ở vùng nhiệt đới, Cỏ ngọt trồng ở Việt Nam sinh trưởng và phát triển tốt vào vụ xuân- hè Về mùa đông, cây có hiện tượng rụng lá và hơi tàn lụi Cây ra hoa,
Trang 20quả nhiều hàng năm Tuy nhiên, người ta thường áp dụng cách nhân giống bằng cắm cành
2.4.1.2 Bộ phận dùng [1]
Phần trên mặt đất của cây cỏ ngọt Thu hái lúc cây xum xuê
2.4.1.3 Tác dụng dược lý [1]
Tác dụng hạ đường huyết: thành phần steviosid trong lá cây cỏ ngọt
có tác dụng làm đường huyết giảm rõ rệt ở thỏ, chuột cống trắng và bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường
Tác dụng giãn mạch: steviosid có tác dụng làm giãn tĩnh mạch toàn thân rõ rệt
Tác dụng trên thận và huyết áp: thành phần steviosid trong lá cây cỏ ngọt có tác dụng làm tăng lưu lượng huyết tương qua thận (RPF), tăng tốc độ lọc cầu thận (GFR), hạ huyết áp, tăng bài niệu và tăng thải trừ natri
Tác dụng kháng khuẩn cao: Lá cỏ ngọt có tác dụng đối với
Pseudomonas aeruginosa và Proteus vulgaris Chưa thấy tài liệu công bố về tác dụng trên các vi khuẩn Streptococcus inutans, Lactobacillus plantarum và Lactobacillus casei là những vi khuẩn có liên quan đến quá trình sún răng ở
trẻ em, vì hiện nay có dùng steviosid thay thế đường trong chế biến bánh kẹo
Liều dùng an toàn ở người: Nồng độ steviosid trong một số nước giải khát ở Nhật Bản là 0,005 - 0,007% Nếu một ngày uống 1 lít thì lượng steviosid đưa vào cơ thể là 0,05 - 0,07g tương ứng với khoảng lg lá cỏ ngọt Điều đó có thể được chấp nhận vì là liều an toàn, đã được Nhà nước Nhật cho phép
Độc tính cấp: Cho chuột uống steviosid với liều 2g/kg không thấy có chuột chết và cũng không thấy có biểu hiện độc sau 2 tuần theo dõi
Trang 21Độc tính bán cấp: Cho chuột cống trắng ăn với liều dùng hàng ngày 0,5g/kg trong 56 ngày, các thông số theo dõi gồm cân nặng, các chỉ tiêu huyết học, các chỉ tiêu hoá sinh và xét nghiệm tổ chức học gan đều bình thường
Độc tính trên thận: Thí nghiệm trên chuột cống trắng, liều cao steviosid
có thể gây độc với thận, làm tăng urê và creatinin huyết thanh.Tiêm tĩnh mạch cho chuột cống trắng, liều 0,4; 0,8; 1,2; l,6g/kg rồi theo dõi độ thanh thải của một số chất có so sánh với lô đối chứng, thấy từ liều 0,8g/kg trở lên độ thanh thải inulin không thay đổi, chứng tỏ chức năng lọc cầu thận không bị ảnh hưởng Độ thanh thải của glucose tăng, chứng tỏ chức năng tái hấp thu của ống lượn gần bị suy giảm, một phần glucose không được tái hấp thu và đã bị thải trừ qua nước tiểu Độ thanh thải steviosid cao hơn độ thanh thải inulin, chứng tỏ steviosid còn bị thải trừ qua niêm mạc của ống thận Ngoài ra, steviosid cũng gây bài niệu tăng thải natri niệu và làm tăng độ thanh thải của para-aminohippuric Tiêm dưới da cho chuột cống trắng với liều 1,5g/kg, kết quả thấy những thay đổi giống thí nghiệm trên là tăng nồng độ urê và creatinin trong huyết thanh, thấy glucose trong nước tiểu Ngoài ra về tổ chức bệnh học, thấy có biến đổi hình thái ở tế bào niêm mạc ống lượn gần Những tổn thương này là do hoạt động của 2 enzym phosphatase kiềm và gama-glutamyl-transpeptidase tăng lên Những enzym này khu trú chủ yếu ở điểm bàn chải của tế bào ống lượn gần
Khả năng gây đột biến: Nhiều thí nghiệm nghiên cứu khả năng gây đột
biến trên các chủng Salmonella typhimurium TA 98, TA 100, TA 1535, TA
1538 và TM 677, hoặc trên chủng Escherichia coli WP2 đều xác định cao cỏ
ngọt không gây đột biến Có nghiên cứu cho biết một số chất chuyển hoá của
Trang 22steviosid lại có thể gây đột biến Mặc dù steviosid không bị chuyển hoá trong
cơ thể và thải trừ nguyên vẹn qua nước tiểu Song người ta lo ngại một số tạp khuẩn vùng màng tràng có thể phân giải được steviosid
lá Cỏ Ngọt hoặc steviosid trong đó thường thấp Tại Việt Nam, cũng đã có một số chế phẩm trà thuốc có cỏ ngọt như trà actisô - stevia Trà sâm quy - stevia có sâm khu 5, tam thất, đương quy, thục địa, táo, long nhãn, ngũ gia bì
và cỏ ngọt.Trà nhân trần, thảo quyết minh, cỏ ngọt Trà túi lọc Sotevin có dừa cạn, hoa cúc, hoa hoè và Cỏ Ngọt Chữa cao huyết áp hàng ngày uống trà sotevin Dùng thay thế đường sacharose trong công nghiệp thực phẩm để làm chất điều vị cho bánh mứt kẹo, nước giải khát
Trang 232.4.2 Cam thảo [10]
Hình 2.3: Cam thảo
2.4.2.1 Phân loại thực vật
Cam thảo còn có tên là Bắc cam thảo, Cam thảo, Sinh cam thảo, Quốc
lão Tên khoa học Glycyrrhiza uralensis Fish và Glycyrrhiza glabra L
Thuộc họ đậu ( cánh bướm) Fabaceae (Papilionaceae) Cam thảo (Radix Glycyrhizae) là rễ và thân rễ phơi hay sấy khô của cây cam thảo nguồn gốc Uran (Glycyrrhiza uralensis Fish) hay cây cam thảo Châu Âu
Glycyrrhiza glabra L Tên Cam thảo vì cam là ngọt, thảo là cỏ, cỏ có vị ngọt Glycyrrhiza vì do chữ Hy Lạp Glykos là ngọt và riza là rễ, rễ có vị ngọt, uralensis vì sản xuất ở vùng núi Uran, dãy núi nằm giữa Châu Á, Châu Âu
Trang 24sau 3 năm chưa thấy ra hoa) Quả giáp cong hình lưỡi liềm dài 3 – 4 cm, rộng
6 – 8 cm, màu nâu đen, mặt quả có nhiều lông Trong quả có 2 – 8 hạt nhỏ dẹt, đường kính 1,5 – 2mm màu xám nâu, hoặc xanh đen nhạt, mặt bóng Tại Trung Quốc mùa hoa tháng 6 – 7, mùa quả tháng 7 – 9
Glycyrrhiza glabra L: Cây cam thảo Glycyrrhiza glabra rất giống loài cam thảo Glycyrrhiza uralensis, nhưng khác ở chỗ lá chét thuôn dài hơn, dài
1,5 – 4 cm, rộng 0,8 – 2,3mm, quả giáp thẳng hoặc hơi cong, dài 2 – 3cm, rộng 4 – 4,4mm, mặt quả gần như bóng hoặc có lông ngắn, số hạt ít hơn loài trên Mùa hoa tháng 6 – 8, mùa quả tháng 7 – 9
Phân bố, thu hái, chế biến: Cây cam thảo bắc trước đây không có ở nước ta Từ năm 1958 được du nhập vào Việt Nam bằng những hạt giống của
loài Glycyrrhiza uralensis do Liên Xô cũ cung cấp Cây mọc khỏe vào mùa
xuân hạ và thu Đến mùa đông thì lụi đi hoặc kém phát triển Sang năm sau cây lại mọc mới Lượng chất trong rễ mỗi năm mỗi tăng Tuy nhiên, sau 3 năm cây vẫn chưa ra hoa Một số tài liệu nói rằng cây trồng thường không ra hoa Trồng bằng hạt hoặc bằng thân rễ Sau 4 – 5 năm trở lên có thể thu hoạch Đào rễ và thân rễ vào mùa xuân hoặc thu đông Nhưng mùa thu đông cam thảo tốt hơn Mỗi hecta có thể thu hoạch 8 – 10 tấn Vì là một cây lâu năm mới thu hoạch cho nên trong 2 – 3 năm đầu người ta thường trồng xen các cây thực phẩm Khi đào thường người ta chỉ lấy rễ, nhưng nhiều khi lấy
cả thân rễ Thân rễ dài, có khi tới 7 – 8m Sau khi đào rễ, người ta xếp đống
để cho hơi lên men, làm cho rễ có màu vàng sẫm hơn, là màu người ta chuộng hơn Tại Liên Xô cũ, Trung Quốc và nhiều nước khác cây Cam thảo mọc hoang và trở thành một thứ cỏ khó diệt trừ, chỉ một mẫu thân rể có thể trở thành bụi Cam thảo và cứ như vậy lan ra rộng mãi Những khu vực Cam thảo mọc hoang là nơi có đất khô, đất có Calci, đất cát, đất cát vàng Những nơi có đất đen cứng chắc, kiềm tính và ẩm thấp thì lượng Cam thảo kém hơn, nhiều
xơ, tí bột, ít ngọt, rễ mọc cong queo
Trang 252.4.2.3 Thành phần hóa học [10] [12]
Glycyrrhiza glabra L Chất vô cơ 4 - 6%, carbohydrate 3 - 5%, malnitol,
tinh bột 25 -30%, lipid 0,5 – 1%, asparagin 2 – 4 %, nhựa 5% Glycyrrhizin là một saponin thuộc nhóm olean, hàm lượng từ 10 – 14% trong dược liệu khô, chỉ
có trong bộ phận dưới mặt đất, có vị rất ngọt Đây là saponin quan trọng trong rễ
cam thảo Glycyrrhizin được Robiquet phân lập năm 1809 dưới dạng mảnh màu vàng Glycyrrhizin tinh khiết dạng bột màu trắng dễ tan trong nước nóng, cồn
loãng, ít tan trong nước lạnh, nếu để nguội sẽ tạo thành gel, không tan trong ether
và chloroform Nếu cho vào nước lắc thì tạo bọt, độ ngọt gấp 60 lần saccharose, nhưng nếu phối hợp với mía, độ ngọt lại tăng lên và có thể gấp 100 lần
2.4.2.4 Tác dụng, công dụng, của cam thảo [12]
Tác dụng dược lý: Tác dụng gây trấn tĩnh, ức chế thần kinh trung ương, giảm vận động tự nhiên, hạ thể nhiệt, giảm hô hấp; giảm ho; giảm co thắt cơ trơn; chữa loét đường tiêu hóa, ức chế tác dụng gây tăng tiết dịch vị của histamin; bảo
vệ gan trong viêm gan mạn tính và tăng bài tiết mật; chống viêm gan và chống dị ứng; tác dụng giống oestrogen; chữa bệnh addison; tác dụng giải độc Tính vị, công năng: Rễ cam thảo bắc có vị ngọt, tính bình Để sống ( đồ mềm, sấy khô) có tác dụng giải độc, tả hỏa; tẩm mật, sao vàng (chích cam thảo), lại có tác dụng ôn trung, nhuận phế, điều hòa các vị thuốc Công dụng: Cam thảo sống được dùng chữa cảm, ho mất tiếng, viêm họng, mụn nhọt, đau dạ dày, ỉa chảy, ngộ độc Cam thảo chích có tác dụng bổ, chữa tỳ vị hư nhược, ỉa lỏng, thân thể mệt mỏi, kém ăn Các nghiên cứu gần đây cho thấy cam thảo bắc còn
có thêm một số tác dụng: Chữa loét dạ dày ruột, có tác dụng giảm loét, giảm
co thắt cơ trơn, giảm tiết acid hydroclorid; chữa bệnh addison Cam thảo bắc dùng phối hợp với cortison có thể làm giảm tác dụng của cortison Cam thảo bắc làm cho thuốc có vị ngọt, dễ uống và thường có trong thành phần các thuốc viên, thuốc phiến, kẹo ngậm, siro chữa ho Theo tài liệu nước ngoài, trong y học Trung Quốc, Cam thảo bắc dùng phối hợp với một số dược liệu khác làm thuốc long đờm chữa ho gà, thuốc để bao và bảo vệ niêm mạc dạ dày, thuốc