1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Góp phần tìm hiểu một số lễ hội của người nguồn ở huyện minh hoá quảng bình

67 622 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Góp phần tìm hiểu một số lễ hội của ngời Nguồn ở huyện Minh Hóa – Quảng Bình
Tác giả Lê Dũng Toàn
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Hà
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó phải nhắc tới đồng bào ngời Nguồn– là một tộc ngời thiểu số đợc hình thành và phát triển từ cội nguồn huyếtthống dân tộc và cội nguồn văn hóa dân tộc sinh sống lâu đời tại vùng

Trang 1

Lời cảm ơn

Để thực hiện đợc công trình nghiên cứu này, ngoài phần cố gắng của bảnthân, tôi luôn nhận đợc sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình, sự động viên khích lệ củacô giáo hớng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hà cùng các thầy cô giáo trong khoa Lịch

sử - Trờng Đại học Vinh

Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo, xin cảm ơn

ông Đinh Thanh Dự ở thôn Cầu Lợi II, xã Xuân Hóa, huyện Minh Hóa Quảng Bình; Th viện khoa Lịch sử - Trờng Đại học Vinh; Sở Văn hóa Thôngtin tỉnh Quảng Bình, Phòng Văn hóa Thông tin huyện Minh Hóa, ủy banhuyện Minh Hóa, Huyện ủy huyện Tuyên Hóa- tỉnh Quảng Bình

-Trờng đại học vinh khoa lịch sử

- -lê dũng toàn

khóa luận tốt nghiệp đại học

góp phần tìm hiểu một số lễ hội

Trang 2

Đây là bớc đi đầu tiên của một sinh viên trên con đờng tập nghiên cứukhoa học Do vậy, đề tài chắc chắn còn nhiều hạn chế, thiếu sót rất mong đợc

sự đóng góp của quý thầy cô, cùng các bạn sinh viên

Vinh, tháng 5 năm 2006

Sinh viên

Lê Dũng Toàn

Trang 3

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Quảng Bình là một trong những tỉnh ở Bắc Trung Bộ, có vị thế hẹp ngangnhng chiếm trọn một phần chiều dài đất nớc Lng tựa vào dãy Trờng Sơn vớibiên giới Việt - Lào, mặt hớng ra biển Đông, hai đầu án ngữ con đờng thôngthơng đôi miền Nam – Bắc, từ lâu nơi đây có vị trí quan trọng về nhiều mặt.Quảng Bình là một trong những tỉnh đã gánh chịu nhiều tổn thất trong chiếntranh Trịnh – Nguyễn trớc đây, cũng nh trong kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ vừa qua Và cũng ít nơi nào nh vùng đất nhỏ bé này đã hòa nhậpnhiều yếu tố văn hóa của đôi miền Nam – Bắc nhng vẫn bảo lu đợc nét riêngvốn có của mình

Điển hình, nh những nét văn hóa đặc sắc, riêng biệt ở vùng Tây Bắc củatỉnh Mà cụ thể là ở huyện Minh Hóa với các phong tục tập quán, các lễ hộitruyền thống, các trò chơi dân gian … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,

nó không giống nh các vùng khác và nó đợc coi nh những nốt nhạc riêng trongbản hòa ca văn hóa Việt Nam Trong đó phải nhắc tới đồng bào ngời Nguồn– là một tộc ngời thiểu số đợc hình thành và phát triển từ cội nguồn huyếtthống dân tộc và cội nguồn văn hóa dân tộc sinh sống lâu đời tại vùng Cơ Sanguyên và Kim Linh nguyên của Bố Chính châu, Nghệ An xứ, nay là 16 xã(Hồng Hóa, Yên Hóa, Quy Hóa, Xuân Hóa, Minh Hóa, Tân Hóa, Trung Hóa,Thợng Hóa, Hóa Sơn, Hóa Hợp, Hóa Tiến, Hóa Thanh, Hóa Phúc, Dân Hóa,Trọng Hóa và thị trấn Quy Đạt) của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình có khotàng lễ hội dân gian Nguồn khá phong phú, đặc sắc cần đợc bảo tồn và pháthuy trong công cuộc xây dựng cuộc sống văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc Muốn giữ gìn cũng nh phát huy kho tàng lễ hội dân gian ấy thìphải đi sâu tìm hiểu nội dung, hình thức các lễ hội dân gian đó để thấy đợc cáihay, cái đẹp, cái cần phải giữ gìn – phát huy, cái phải hũy bỏ, thay thế Có

nh vậy mới lành mạnh hóa các hình thức lễ hội truyền thống và trả lại giá trị

đích thực vốn có của nó

Xuất phát từ những lý do cơ bản nêu trên, chúng tôi quyết định chọn

nghiên cứu đề tài “Góp phần tìm hiểu một số lễ hội của ngời Nguồn ở huyện

Minh Hóa Quảng Bình” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận của mình,với mong muốn thiết tha là để góp phần bảo tồn những giá trị truyền thống tốt

Trang 4

đẹp mà ông cha ta đã dày công xây dựng và gìn giữ để lu truyền cho con cháuhôm nay và mai sau, để những ai cha biết đến thì có dịp tiếp xúc, còn những ai

đã biết đến thì đợc hiểu thêm Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện, đầy

đủ hơn về đời sống văn hóa của các tộc ngời ở một số dân tộc miền núi

Là một sinh viên khoa lịch sử, chuyên ngành lịch sử văn hóa, chúng tôitìm hiểu đề tài này với mục đích đi sâu vào một vấn đề văn hóa cụ thể và bớc

đầu mong muốn đợc tập nghiên cứu khoa học trong quá trình học tập, nghiêncứu của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Việc tìm hiểu về lịch sử văn hóa, trong đó có các lễ hội truyền thống vàcác trò chơi dân gian cũng nh nghiên cứu tộc ngời, xác định thành phần dântộc ở Minh Hóa đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Nhìn chung ngoàicác tài liệu của các tác giả ngời Việt thời phong kiến, các tác giả ngời Pháp,các nhà dân tộc học Việt Nam nh: Mạc Đờng, Phan Hữu Dật, Nguyễn DơngBình đã có dịp tiếp xúc với ngời dân địa phơng từ những năm đầu thập niên 60của thế kỷ trớc và đi sâu giải quyết các vấn đề văn hóa dân tộc ở Minh Hóa.Gần đây có các tác giả nh : Trần Trí Dõi, Đinh Thanh Dự, Võ Xuân Trang … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,

đã công bố nhiều t liệu, nhiều bài viết, đợc in trên báo, nhiều công trìnhnghiên cứu đợc xuất bản thành sách nh :

Đinh Thanh Dự trong cuốn “Bảo tồn và phát huy vốn văn hóa ngời nguồnhuyện Minh Hóa”, Nhà xuất bản Thuận Hóa – 2004, đã đề cập đến vấn đềngời Nguồn và nguồn gốc ngời Nguồn, hay những giá trị văn hoá, văn nghệdân gian của ngời Nguồn

Cuốn “Truyện cổ ngời Nguồn” của Đinh Thanh Dự, Nhà xuất bản Vănhóa dân tộc, Hà Nội, 1993 đã cho ta biết đợc về những sự tích liên quan đến

lễ hội Rằm tháng Ba

Trong bản tin Minh Hoá số 08/2004 có bài viết: “Hội Rằm tháng BaMinh Hoá hôm nay” của tác giả Cao Văn Hồng cũng đã đề cập đến nguồn gốccủa lễ hội Rằm tháng Ba và những sinh hoạt văn hoá hội Chợ Rằm tháng Bacủa ngời Nguồn

Bài viết: “Lễ hội Rằm tháng Ba xa và nay” trong báo Văn hoá, Sở Văn hoáThông tin Quảng Bình của tác giả Lê Hùng Phi đã đề cập đến vấn đề “tín ngỡng,tâm linh”, “tích” và “tuồng” trong lễ hội Rằm tháng Ba của ngời Nguồn

Tuy nhiên, đây chỉ là những tài liệu mang tính khái quát, và chủ yếu lànói về nguồn gốc của ngời Nguồn, hay nó chỉ mang tính tản mạn khi viết về lễhội Rằm tháng Ba – một lễ hội điển hình nhất của ngời Nguồn ở Minh Hóa,

mà cha tài liệu nào đề cập một cách có hệ thống rõ ràng về các lễ hội của ngờiNguồn cả

Trang 5

Cho đến hôm nay, các vấn đề lịch sử - văn hóa của các dân tộc ở vùngnày vẫn còn nhiều vấn đề cha đợc giải quyết Vì thế việc nghiên cứu ngờiNguồn nói riêng và các vấn đề lịch sử văn hóa các dân tộc ở Minh Hóa nóichung vẫn đặt ra.

Chúng tôi với những kiến giải, những suy nghĩ của mình thông qua khóaluận này hy vọng sẽ giúp thêm phần nào vào việc nghiên cứu lễ hội của ngờiNguồn, đặc biệt là lễ hội Rằm tháng Ba – một lễ hội điển hình nhất của tộcngời Nguồn ở huyện Minh Hóa – Quảng Bình

3 Nguồn t liệu

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: Một số lễ hội của ngờiNguồn ở Minh Hóa – Quảng Bình, chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu chủyếu sau đây:

- Nguồn t liệu thành văn: Các tác phẩm nghiên cứu về các lễ hội nóichung, và các lễ hội của ngời Nguồn ở Minh Hóa nói riêng Những bài viếtcủa các nhà nghiên cứu Đinh Thanh Dự, Đinh Thanh Niêm về nguồn gốc ngờiNguồn ở Minh Hóa và lễ hội Rằm tháng Ba của ngời Nguồn … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,

- Nguồn t liệu truyền miệng: Truyện kể, thơ ca, hò vè của ngời dân một

số xã ở huyện Minh Hóa su tầm đợc qua công tác điền dã ở địa phơng Tàiliệu điền dã trong các lễ hội ở Minh Hóa và một số lễ hội ở nơi khác

- Những t liệu về hình ảnh: Các tranh ảnh đợc chụp trong các đợt diễn ra

lễ hội của tộc ngời Nguồn tại Minh Hóa – Quảng Bình; ảnh về đền thác Pụt

và các tranh ảnh khác

Ngoài ra, tôi còn tham khảo thêm một số t liệu trên báo chí và các nhàkhoa học, các sách chuyên khảo, các luận văn, các bài báo cáo của các nhànghiên cứu lịch sử, các nhà chính trị, quân sự

4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ

Phục dựng lại các lễ hội của ngời Nguồn ở huyện Minh Hóa – QuảngBình Qua đó thể hiện đợc vai trò, ý nghĩa của nó để rồi phân tích tổng hợp, đềxuất những giải pháp nhằm bảo tồn cũng nh phát huy những giá trị văn hóacủa các dân tộc trong huyện; góp phần làm phong phú thêm cho văn hóa tỉnhQuảng Bình và đất nớc Việt Nam nói chung

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đi sâu tìm hiểu một số lễ hội của ngời Nguồn đặc biệt nhấn mạnh,nghiên cứu tìm hiểu kĩ về lễ hội Rằm tháng Ba – một lễ hội điển hình nhấtcủa ngời Nguồn ở Minh Hóa – Quảng Bình

5 Phơng pháp nghiên cứu

Trang 6

- Phơng pháp lịch sử: Nghiên cứu về nguồn gốc của tộc ngời Nguồn ở MinhHóa, đồng thời nghiên cứu về quá trình hình thành các lễ hội của ngời Nguồn.

- Phơng pháp logic: Sử dụng các thao tác t duy, khái quát hóa, trừu tợnghóa để tìm hiểu các lễ hội của ngời Nguồn ở Minh Hóa nói chung và nhấnmạnh lễ hội Rằm tháng Ba của ngời Nguồn

- Phơng pháp điền dã: Su tầm tài liệu dân gian, ghi chép và phỏng vấnnhững ngời dân có vốn sống, hiểu biết nhiều về vấn đề cần tìm hiểu

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, th mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung chính của khóa luận gồm 3 chơng

Chơng 1: Vài nét về vùng đất và con ngời ở huyện Minh Hóa- Quảng Bình Chơng 2: Một số lễ hội của ngời Nguồn ở huyện Minh Hóa - Quảng

Bình

Chơng 3: Vị trí và việc định hớng bảo tồn, phát huy một số lễ hội của

ng-ời Nguồn ở huyện Minh Hóa-Quảng Bình

Là một công trình đầu tay, nên những điều chúng tôi đa ra cũng chỉ ởmức độ bớc đầu tìm hiểu mà thôi, hơn nữa đợc hoàn thành trong điều kiện đilại khó khăn, chúng tôi không có tham vọng đa ra hay giải quyết một cách đầy

đủ mọi vấn đề còn tồn tại ở tộc ngời này, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ về giá trịnhân văn chứa chan tình ngời, đậm đà bản sắc dân tộc của ngời Nguồn, gópphần làm phong phú, đặc sắc thêm kho tàng lễ hội dân gian của Quảng Bình

và của Việt Nam nói chung

Trong quá trình thực hiện đề tài, do những điều kiện chủ quan và kháchquan nên chúng tôi có những thuận lợi và khó khăn nhất định Trớc hết là dokhả năng, trình độ nhận thức của bản thân còn hạn chế, cũng nh điều kiện làmviệc không mấy thuận lợi, quá trình điền dã và thu thập tài liệu cha thật đầy đủ

nh mong muốn, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rấtmong nhận đợc ý kiến đóng góp, xây dựng của các thầy cô giáo, các bạn sinhviên

Trang 7

Nội dungChơng 1:

Vài nét về vùng đất và con ngời

ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

1.1 Khái quát vùng đất Minh Hóa

1.1.1 Vị trí địa lí

Từ Đèo Ngang đi theo đờng quốc lộ 1A về phía Nam đến thị trấn Ba

Đồn, từ đó theo quốc lộ 12A ngợc về phía Tây 85 km đến thị trấn Quy Đạt làhuyện lỵ Minh Hóa Minh Hóa là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc củatỉnh Quảng Bình, huyện Minh Hóa nằm giữa dãy núi đá vôi Kẻ Bàng có độcao trung bình 700–800 mm so với mặt biển, ở vào toạ độ 17028’30 đến

18021’3 vĩ độ Bắc và 10506’25 đến 105020’30 kinh độ Đông Phía Đông Bắcgiáp huyện Tuyên Hóa, phía Nam giáp huyện Bố Trạch, phía Tây Bắc giáp haihuyện Bua – La – Pha và Nhôm – Ma – Lạt của tỉnh Khăm Muộn – nớccộng hòa dân chủ nhân dân Lào Minh Hóa có đờng biên giới chung với tỉnhKhăm Muộn (Lào) 89 km

Minh Hóa – vùng đất liền một dải với Phong Nha – Kẻ Bàng – di sảnthiên nhiên thế giới, những khu du lịch văn hóa, sinh thái Bắc Miền Trung,cửa ngõ từ Bắc vào của con đờng di sản Miền Trung Minh Hóa còn là mộtvùng đất giàu tiềm năng mở mang du lịch nhân văn- sinh thái của QuảngBình

1.1.2 Đặc điểm địa hình

Phần lớn Minh Hóa là vùng đất đá vôi Kẻ Bàng nằm dọc theo sờn Đôngcủa dãy Trờng Sơn Đây là vùng núi cao hiểm trở có đến hàng trăm ngọn núikéo dài, có nhiều dãy núi cao, vách núi dựng đứng nh núi: CaReeng cao1.326m, núi Bãi Dinh cao 1.029m, núi MiaXeng cao 848m, núi MaRai cao718m … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, [17; 7] Núi ở đây nghiêng dần theo hớng Tây Bắc và Tây Đông tạonên hai vòng cung lớn, vòng cung Tây Đông với dãy núi Đen là một phần củadãy Hoành Sơn, vòng cung Tây Bắc là dãy núi Bông Dơng, Bông Dầm (haycòn gọi là dãy núi Giăng Màn) thuộc Đông Trờng Sơn Do kiến tạo địa chấttrải qua hàng triệu năm đã làm cho địa hình ở đây không đều nhau, có nơi làcả một dãy núi cao, vách núi dựng đứng, kéo dài liên tục nh núi Đen, núiGiăng Màn, có nơi chỉ có một hay hai ngọn núi đứng lẻ loi một mình bên cạnhnhững xóm làng trù phú lèn Bảng, lèn Một (ở xã Minh Hóa)

Do kiến tạo địa tầng và quá trình dứt gãy địa chất phức tạp nên giữanhững núi đá vôi có các thung lũng là nơi dân c sinh sống và cũng chính docấu tạo địa tầng phức tạp nên các sông suối ở đây thờng bị dứt dòng chảy,

Trang 8

đang chảy tự nhiên biến vào lòng núi rồi lại trồi ra ở một nơi khác (Sự biếnmất và xuất hiện của các con sông; Đồng bào địa phơng gọi hiện tợng đó làlực nớc mạch ngầm).

Là một huyện miền núi do cấu tạo đặc biệt về địa hình và địa chất tạocho Minh Hóa một hệ thống sông suối dày đặc Huyện Minh Hóa có hainhánh sông lớn đó là sông Nam và Rào Nậy Ngoài ra còn có hàng trăm khesuối dày đặc bắt nguồn từ dãy Trờng Sơn chảy về ở xã Dân Hóa có suốiChaLo, suối Hà Vi, suối Lòm và nhiều khe suối nhỏ khác, rồi xã Quy Hóa cókhe Hói Sụ, khe Cây Chăn, khe Giun, khe Miên, khe Ba, khe Tin, hay ở thịtrấn Quy Đạt có khe Sạt, xã Hóa Thanh có khe Ve

Địa bàn ngời nguồn c trú có vị trí rất quan trọng, nơi có đờng quốc lộ15A chạy từ đồng bằng Nghệ Tĩnh qua Tân ấp, đi vào giữa vùng ngời Nguồnnối tiếp với đờng 20 ở Tây Bố Trạch Đờng quốc lộ 12A hay tỉnh lộ số 1 xuấtphát từ Ba Đồn (quốc lộ 1A) qua Đồng Lê rồi men theo các sờn núi vào Quy

Đạt (Minh Hóa) bên cửa khẩu Cha Lo sang Lào

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nớc có hàng chục đờng giao liên điqua các làng bản đặc biệt là đờng giao liên qua Hóa Phúc, Hồng Hóa, YênHóa, Quy Hóa, Tân Hóa vào Cao Mại, Thọ Lộc… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Các tuyến đờng giao thông

và giao liên tạo nên mạng lới giao thông dày đặc nh ô bàn cờ Đi xuyên giữarừng Đại Ngàn Trờng Sơn, giữa dãy núi đá vôi Kẻ Bàng

Trong kháng chiến chống Pháp, Minh Hóa là vùng chiến khu, là hậu

ph-ơng của tỉnh Quảng Bình Cùng trên những con đờng này có hàng vạn lợt

ng-ời, xe đi ra tiền tuyến, hàng trăm chuyến vũ khí đợc chuyển vào chiến trờngphía Nam phục vụ cho kháng chiến chống Mỹ cứu nớc

1.1.3 Khí hậu

Khí hậu là nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế và đời sốngcủa con ngời Minh Hóa là vùng bị khống chế bởi khí hậu nhiệt đới gió mùakhá khắc nghiệt, khí hậu nóng ẩm thể hiện rõ rệt ở hai mùa: mùa ma và mùanắng

Mùa ma: các điều kiện tự nhiên nh vị trí địa lý, địa hình đã ảnh hởng rấtlớn đến lợng ma đối với khu vực này, nhất là những ảnh hởng do địa hình Đó

là với những dãy núi đá vôi Kẻ Bàng phức tạp tạo cho vùng đất này hứng chịumột lợng ma khá lớn ở đây lợng ma trung bình khoảng 2000 mm/1 năm [21;23] Mùa ma đến rất sớm, bắt đầu từ tháng 9 năm trớc và kết thúc vào tháng 2năm sau Vào giai đoạn này thờng có gió mùa Đông Bắc mang theo không khílạnh, ma dầm … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,

Do nằm giữa dãy núi đá vôi Kẻ Bàng, vào thời kì này cùng với ma giómùa Đông Bắc, không khí lạnh và hơi lạnh từ núi đá toả ra làm cho thời tiết ở

Trang 9

Minh Hóa đã lạnh lại càng lạnh thêm ở đây có lúc nhiệt độ hạ thấp xuống

40C, do nhiều ma nên độ ẩm tăng nhanh, có tháng độ ẩm lên tới 90%

Trong những tháng 10 – 11, lợng ma rất lớn, sông suối chảy quanh cotheo các dãy núi Mặt khác do vùng núi bị tàn phá nặng nề nên khi có ma bãothờng kèm theo nạn lũ lụt, gây thiệt hại lớn về mùa màng, nhà cửa và cả tínhmạng con ngời

Mùa nắng: Diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8, nắng ở đây rất gay gắt, cónăm nắng nóng kéo dài 4 –5 tháng liền Số giờ nắng bình quân hàng ngày là8,4 giờ Ngày nắng nhiều nhất đạt 10 giờ Vào những tháng 6, tháng 7 thìnhiệt độ lên rất cao, và cũng vào những tháng này thì có gió Lào Tây Namthổi từ Lào về (còn gọi là gió Lào hay gió Nam) Gió Lào thổi mạnh, mangtheo hơi nóng từ vùng cao nguyên ở Lào và hơi nóng của những dãy núi đá vôigây nên không khí oi bức, khó chịu Nhiệt độ lúc này có khi lên tới 400C

1.1.4 Thổ nhỡng

Đất phù sa chủ yếu ven sông suối có khả năng trồng trọt tốt, nhng ở huyệnMinh Hóa loại đất này có diện tích không lớn lắm, ven chân núi phù sa không đợcbồi đắp thờng xuyên Mặt khác, do quá trình khai phá của con ngời không có kếhoạch dẫn đến đất đai bị bào mòn Nói chung đất ở đây nghèo phù sa chỉ có vùngQuang Hóa và Cổ Liêm (Tân Hóa) là hai vùng nằm giữa các thung lũng bằngphẳng, tơng đối rộng nên có diện tích trồng lúa nớc khá lớn

Ngoài diện tích trồng lúa nớc thì diện tích trồng ruộng cạn, đất đồi và các loại

đất khác đóng vai trò quan trọng Những bãi đất ven sông hoặc các bãi bằng giữacác thung lũng không dẫn đợc nớc tới thì đợc sử dụng làm trồng lúa vại vụ 10 vàtrỉa ngô vụ chiêm Sau lúa và ngô (cây lơng thực chính của vùng) là sắn, khoai vàcác loại đậu, đặc biệt là đậu lạc Đất đồi ở đây chủ yếu là phát triển lau lách và câynhỏ, thậm chí có nơi đồi trọc Những đồi lau lách và cây nhỏ đồng bào có thể khaithác lng chừng đồi trở xuống để trồng cây hoa màu, cây công nghiệp Đất đồi cóthể trồng đợc ngô, khoai, sắn, thuốc lá, chè … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,

1.1.5 Động - thực vật

Là một huyện miền núi nên động - thực vật ở đây rất phong phú Rừng ởMinh Hóa chủ yếu là rừng nhiệt đới ẩm quanh năm, rừng là một thế mạnh củahuyện Minh Hóa, rừng ở đây đợc phân theo mấy loại sau:

- Rừng già

- Rừng trung bình

- Rừng non

- Rừng tre nứa

Trang 10

- Rừng phòng hộ, không khai thác

Mỗi loại rừng đều có ba lớp (ba vòng):

- Vòng ngoài thờng là những loại cây vọt, tranh, lau lách … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,

- Vòng trong có cây to và thấp, cây mọc dày và nhiều tầng

- Vòng giữa cây to và cao ở đây rừng tha hơn

Trên thực tế, chúng ta thấy, rừng ở đây là rừng nhiệt đới, nhiều tầng, nhiều tánxanh quanh năm và hầu nh che hết ánh nắng mặt trời

Dọc biên giới Việt – Lào rừng kín hơn, xanh ngắt, chạy trùng trùng điệp

điệp Rừng ở đây có rất nhiều gỗ quý Dạ Hơng, Lim, Sến, Táu, Mun, Lát … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,,

có nhiều loại dợc liệu quý giá nh: Sa Nhân, Hà Thủ ô, Sâm Trần, Mật Ong… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Núirừng Minh Hóa còn là nơi trú ngụ, sinh sống của hàng trăm loài chim quýhiếm nh: Chim Công, Khớu … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, và có nhiều loại động vật quý hiếm nh: Voi,

Hổ, Báo, Hơu, Nai, Bò Rừng, Gấu … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, đặc biệt là khỉ có rất nhiều loài: Khỉlông trắng, Khỉ lông vàng, Khỉ tay dài, Khỉ không đuôi [18; 15] Rừng ở đâycòn cung cấp cho nhân dân các loại rau - củ ăn đợc giải quyết vào những mùakhó khăn cho ngời dân trong vùng nh: củ mài, môn rừng, măng rừng và cácloại cây thuốc lá chữa bệnh

Ngày nay, núi rừng là tiềm năng kinh tế của huyện, vì vậy việc khai thác,trồng rừng và bảo vệ rừng đã đợc Đảng bộ và nhân dân quan tâm, từng bớcthực hiện có hiệu quả phát triển kinh tế nông – lâm của huyện

1.2 Con ngời Minh Hóa và lịch sử đấu tranh cách mạng

1.2.1 Dân số

Các tộc ngời sinh sống theo tên gọi dân tộc quen thuộc: Nguồn, Sách,Mày, Rục, Khùa và Kinh Trong đó ngời Nguồn chiếm hơn 80% dân số củahuyện

Theo báo cáo của phòng thống kê huyện Minh Hóa năm 2004 thì huyệnMinh Hóa có tổng số dân là: 44.234 ngời với diện tích tự nhiên là: 1411 km2,mật độ trung bình là 29 ngời/km2 Trong đó đợc phân bố ở các xã nh sau:

- Thị trấn Quy Đạt: 5.579 Ngời

- Xã Hồng Hóa: 3.122 Ngời

- Xã Yên Hóa: 3.411 Ngời

- Xã Quy Hóa: 1.050 Ngời

- Xã Xuân Hóa: 2.685 Ngời

- Xã Minh Hóa: 3.476 Ngời

- Xã Tân Hóa: 2.868 Ngời

Trang 11

- Xã Trung Hóa: 5.087 Ngời

- Xã Thợng Hóa: 2.878 Ngời

- Xã Hóa Sơn: 1.461 Ngời

- Xã Hóa Hợp: 3.163 Ngời

- Xã Hóa Tiến: 2.208 Ngời

- Xã Hóa Thanh: 1.114 Ngời

Nh vậy, qua các con số nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng dân số ngờiNguồn vào khoảng trên dới 4 vạn ngời vào thời điểm hiện nay Những nămtiếp theo tôi hy vọng ngời dân ở Minh Hóa sẽ luôn coi trọng công tác dân số

là một quốc sách, là một bộ phận quan trọng của chiến lợc phát triển bền vững

đất nớc, là điều kiện để nâng cao chất lợng cuộc sống, chất lợng con ngờitrong từng gia đình, cộng đồng và xã hội

1.2.2 Lịch sử

Lịch sử vùng đất Minh Hóa gắn liền với lịch sử hình thành và phát triểncủa tỉnh Quảng Bình Trong tiến trình lịch sử huyện Minh Hóa trải qua nhiềuthăng trầm và biến động Theo các th tịch cũ thì vùng đất Minh Hóa thuộc bộViệt Thờng – một trong 15 bộ của nớc Văn Lang Dới thời An Dơng Vơng n-

ớc Văn Lang đổi thành nớc Âu Lạc Năm 214 (trớc công nguyên), nớc Âu Lạc

bị nhà Tần xâm chiếm Suốt 1000 năm Bắc thuộc, dới ách thống trị của cácthế lực phong kiến phơng Bắc: từ Tần, Hán, Tống, Đờng … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, vùng đất phíaNam của bộ Việt Thờng trong đó có địa bàn Minh Hóa đợc đổi thành quậnNhật Nam

Sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trng thất bại, năm 137, phía Nam

Đèo Ngang đến cực Nam Trung Bộ một quốc gia mới ra đời: Quốc gia Lâm

ấp [17; 8], vùng đất Minh Hóa lúc này cùng với các vùng đất khác dới chânNam Đèo Ngang trở thành vùng biên ải là phên dậu phía Bắc của nớc Chiêm

Trang 12

Thành … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, luôn đối đầu với quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam là vùng đấtcủa bộ Việt Thờng cũ.

Năm 938, bằng chiến công vang dội trên sông Bạch Đằng tiêu diệt quânNam Hán, Ngô Quyền đã dành đợc quyền độc lập dân tộc thành lập nhà nớc

Đại Việt

Sau khi nhà Lý lên ngôi, năm 1069 vua Lý Thánh Tông cử đại tớng LýThờng Kiệt đem quân vào đánh Chiêm Thành, bắt sống vua Chiêm là Chế Cũ.Chế Cũ buộc phải trả cho vua Lý ba Châu: Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh đểcầu hòa và chuộc mạng Từ đó vùng đất của bộ Việt Thờng cũ (trong đó cóMinh Hóa ngày nay) lại trở về với lãnh thổ nớc Đại Việt

Những thế kỉ sau đó, các triều đại phong kiến Việt Nam kế tiếp nhau trịvì đất nớc

Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng vào trấn giữ vùng đất phía Nam ĐèoNgang Trong thời kì này cùng với cả nớc, cả xứ Thuận Hóa, vùng đất MinhHóa nằm trong cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn, “huynh đệ tơng tàn” kéo dàihơn hai thế kỉ với sông Gianh là ranh giới chia cắt giữa Đàng Trong và ĐàngNgoài Thời kì này, chúa Nguyễn đổi Tân Bình thành Quảng Bình phủ, sau đóChâu Bố Chính đợc chia thành hai: phía Nam sông Gianh (Bố Trạch) đợc gọi

là Bố Chính nội; Bắc sông Gianh (gồm: Quảng Trạch, Tuyên Hóa và MinhHóa) gọi là Bố Chính ngoại Năm Minh Mạng thứ 18, Châu Bố Chính đợc đổithành phủ Quảng Trạch Năm 1838, đặt thêm huyện Minh Chính thuộc phủQuảng Trạch [17; 9] Năm Tự Đức thứ 27 (1874), đặt thêm huyện Tuyên Hóathuộc phủ Quảng Trạch Phủ Quảng Trạch lúc này có 4 huyện: Bình Chính,Minh Chính, Bố Trạch và Tuyên Hóa

Cùng với quá trình mở rộng cơng vực là quá trình di dân từ các vùng đất

ở phía Bắc vào khai phá và sinh sống trên những vùng đất mới phía Nam ĐèoNgang

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, triều đình phong kiến nhàNguyễn từng bớc đi đến đầu hàng Pháp Vua Hàm Nghi và quan quân triều

đình từ kinh đô Huế đã đến vùng đất Cơ Sa – Kim Linh (huyện Minh Hóangày nay) lập Kinh đô Cần Vơng chống Pháp cứu nớc Cùng với nhân dân cảtỉnh, cả nớc, nhân dân Minh Hóa đã đứng lên cùng với vua Hàm Nghi vànghĩa quân Cần Vơng chống Pháp xâm lợc Phát huy truyền thống đó, từ khi

có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, đồng bào Nguồncùng các dân tộc trong huyện và cả tỉnh, cả nớc đứng lên chống thực dân Pháp

đến ngày giành chính quyền về tay nhân dân năm 1945 và sau đó tiến hànhcuộc kháng chiến 9 năm trờng kỳ chống Pháp đến ngày Miền Bắc hoàn toàngiải phóng 1954, thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, giải phóng

Trang 13

Miền Nam, thống nhất tổ quốc, đổi mới xây dựng đất nớc và bảo vệ tổ quốcxã hội chủ nghĩa.

Trớc cách mạng tháng 8-1945, vùng đất Minh Hóa nằm trong huyệnTuyên Hóa gồm hai nguồn Cơ Sa và Kim Linh, gồm có 15 làng (Trang MaNai, Phờng Mít, thôn Bộc Thọ, phờng Kim Bảng, phờng Lỗ Hang, phờng

Đồng Sai, phờng Lũng Trầm, Trang Làng Nê, phờng Phú Lạc, phờng PhúChữ, thôn Cầu Dòng, thôn Cầu Câu, thôn Ba Nàng, phờng Quy Viễn, phờng

Cổ Liêm)

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và sau ngày Miền Bắc giảiphóng (1945 - 1964) vùng đất “Minh Hóa” vẫn nằm trong huyện Tuyên Hóa.Năm 1965, do yêu cầu đảm bảo sự lảnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong khángchiến chống Mỹ, huyện Tuyên Hóa đợc chia thành hai huyện: Tuyên Hóa vàMinh Hóa; đến đây địa danh Minh Hóa chính thức ra đời và đi vào lịch sử.Tuy nhiên, theo tài liệu chữ Hán có đợc thì địa danh Minh Hóa có từ thời Tự

Đức tam thập niên (1876) đến Kiến Phúc nguyên niên (1884) [17; 306].Tháng 4/1977, ba tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế sát nhập lạithành tỉnh Bình Trị Thiên Huyện Minh Hóa lại sát nhập với huyện Tuyên Hóathành huyện Tuyên Hóa và ngày 01/07/1990, do yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội của các địa phơng, huyện Tuyên Hóa lại đợc chia tách thành hai huyện:Tuyên Hóa và Minh Hóa Minh Hóa trở lại với địa giới hành chính trớc năm

1977 Hiện nay huyện Minh Hóa có thị trấn Quy Đạt và 15 xã (Hồng Hóa,Yên Hóa, Quy Hóa, Xuân Hóa, Minh Hóa, Tân Hóa, Trung Hóa, Thợng Hóa,Hóa Sơn, Hóa Hợp, Hóa Tiến, Hóa Thanh, Hóa Phúc, Dân Hóa, Trọng Hóa) làmột huyện miền núi của tỉnh Quảng Bình

Minh Hóa là một vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời, có dấu tích c trúcủa ngời tiền sử, ít ra từ thời đại đồ đá giữa cách đây trên dới một vạn năm.Những dấu tích ấy rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu thời tiền sử của dântộc Việt Nam nói chung và Minh Hóa nói riêng

Trong lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, do có vị tríchiến lợc quan trọng, là phên dậu phía Tây của Quảng Bình, ngời Minh Hóa

đã cùng nhân dân trong vùng đứng lên cầm vũ khí chống kẻ thù xâm lợc gópphần xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt

Năm 1727, vì quyền lợi ích kỉ của các tập đoàn phong kiến, họ Trịnh và

họ Nguyễn đã gây ra cuộc chiến giành quyền lợi đẩm máu và ác liệt nhấttrong lịch sử của dân tộc, sông Gianh biến thành biên giới chia cắt đất nớc.Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ Mùa xuân năm 1786, sau khi đánhbại tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn, Quang Trung – Nguyễn Huệ đã tiếnquân ra Bắc đánh Trịnh thống nhất đất nớc Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc

Trang 14

lần thứ hai đánh tan 29 vạn quân xâm lợc nhà Thanh Trong cuộc cách mạngTây Sơn, nhân dân Minh Hóa đã đem sức ngời, sức của theo Nguyễn Huệ

đánh Trịnh, đuổi giặc Thanh, góp phần vào sự nghiệp thống nhất Sơn Hà, bảo

vệ nền độc lập dân tộc

Những năm 1827 – 1828, không cam chịu sự áp bức đè nén của chế độphong kiến triều Nguyễn, nông dân ở đây đã hăng hái tập hợp dới cờ nghĩacủa Bá Hộ Nghi chống lại triều Nguyễn [18; 22]

Sau khi chiếm đợc nớc ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị từhuyện, tổng đến làng, bản ở Minh Hóa Chúng lập đồn Quy Đạt, đồn LaTrọng; nhân dân Minh Hóa đã cơ cực lại càng cơ cực hơn … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Mặc dù vậy, thựcdân Pháp vẫn không khuất phục đợc ý chí và tinh thần yêu nớc của nhân dânMinh Hóa

Ngày 23 tháng 5 năm ất Dậu (7/5/1885), sau vụ “biến kinh thành” củaphe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu nổ ra ở Huế, kinh thành Huế bịthất thủ, Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi ra căn cứ Tân Sở (Quảng Trị).Ngày 13/7/1885, nhà vua xuống chiếu Cần Vơng kêu gọi sĩ phu và nhân dânphò vua cứu nớc

Hởng ứng chiếu Cần Vơng của vua Hàm Nghi, nhân dân Minh Hóa đãtập hợp đợc một lực lợng nghĩa binh khá lớn dới sự chỉ huy đội quân ngờiNguồn theo Hàm Nghi là lãnh binh tác chiến Đinh Văn Nguyên thờng gọi làTác Bình và đi theo vua Hàm Nghi là Trơng Quang Ngọc và 8 lính cơ Để đảmbảo an toàn cho lực lợng kháng chiến và đảm bảo kịp thời sự lãnh đạo chốngPháp trong các tỉnh miền Trung Trung Bộ, vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyếtchọn núi rừng Minh Hóa làm căn cứ địa kháng chiến, lấy núi Ma Rai (HóaSơn) làm bản doanh, chuyển toàn lực lợng từ ấu Sơn về Minh Hóa

Tháng 10 năm ất Dậu (1885), khi vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết

đến Quy Đạt đợc Nguyễn Phạm Tuân yết kiến, hai bên tâm đắc gắn bó vớinhau Từ đó, vua Hàm Nghi giao cho ông Nguyễn Phạm Tuân phụ trách cơquan Cần Vơng trung ơng Nguyễn Phạm Tuân tuyển chọn thanh niên traitráng ở Minh Hóa đa vào nghĩa binh; chọn xóm Thác Dài, làng Cổ Liêm làmbản doanh của nghĩa quân Trong những ngày vua Hàm Nghi sống ở giữa núirừng Minh Hóa, nhân dân các bản làng tuy khó khăn trăm bề, đói cơm, nhạtmuối … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, lại bị quân Pháp đánh thờng xuyên, nhng các hào lý và nhân dânMinh Hóa vẫn một lòng kiên gan phò vua, cứu nớc [18; 24]

Tấm lòng trung quân ái quốc và cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng củanhân dân Minh Hóa đã có tác động sâu sắc và là nguồn động viên hết sức tolớn đối với lực lợng kháng chiến của Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Phạm Tuân,

Lê Trực, Phan Đình Phùng

Trang 15

Ngày 01/01/1888, vua Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt tại khe Na (TàBảo) Phong trào Cần Vơng chỉ tồn tại ba năm (1885 - 1888), nhng tinh thầnyêu nớc, ý chí kiên cờng bất khuất của ngời dân Minh Hóa vẫn đợc tiếp tụcphát huy mãi mãi về sau này.

Ngày 23/08/1945, dới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Minh Hóa đã nổidậy tổng khởi nghĩa đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến,giành chính quyền về tay nhân dân Nhân dân Minh Hóa bao đời nay sốngtrong tăm tối, nô lệ, nay thực sự tự do đợc đổi đời

Sau cách mạng tháng 08/1945, dới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và ủy bancách mạng, mặt trận Việt Minh, nhân dân Minh Hóa đoàn kết một lòng vợt quagian khổ khó khăn, chống giặc đói, giặc dốt, xây dựng cuộc sống mới

Ngày 27/3/1947, thực dân Pháp đánh chiếm Quảng Bình Hởng ứng lờikêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh “Dù hy sinh tất cả chứ nhất định khôngchịu mất nớc, nhất định không chịu làm nô lệ”, Đảng bộ, nhân dân và lực lợng

vũ trang Minh Hóa đã đứng lên tiến hành kháng chiến

Dới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Minh Hóa xây dựng nơi đây thànhcăn cứ địa kháng chiến vững chắc của tỉnh Vùng đất Minh Hóa trở thành cầu nốigiữa hậu phơng lớn Thanh - Nghệ – Tĩnh với chiến trờng Trung – Hạ Lào, chiếntrờng Trị - Thiên và liên khu V Minh Hóa đã tiếp nhận và vận chuyển hàng vạntấn vũ khí, lơng thực từ hậu phơng cho các chiến trờng, góp vào chiến công to lớncủa tỉnh nhà, cùng cả nớc đánh thắng thực dân Pháp xâm lợc

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc vĩ đại của dân tộc, Minh Hóa

là một địa bàn chiến lợc quan trọng trong chi viện cho chiến trờng Miền Nam,nên đã trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ, là nơi chịu

đựng nhiều thử thách ác liệt của chiến tranh, là tuyến lửa đã hứng chịu mộtkhối lợng bom đạn khổng lồ do không lực Hoa Kỳ dội xuống nhằm ngăn chặn

sự chi viện của Miền Bắc vào chiến trờng Miền Nam

Thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, với lòng yêunớc nồng nàn và lòng căm thù giặc sâu sắc, quân dân Minh Hóa đã hăng hái

đứng lên đánh Mỹ cứu nớc Dới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân Minh Hóa

“vừa sản xuất, vừa chiến đấu”, lập nên chiến công oanh liệt Quân và dânMinh Hóa đợc chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ thi đua “Quyết tâm đánh thắnggiặc Mỹ xâm lợc” Ngày 30/4/1975, thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Hồ ChíMinh lịch sử đã chấm dứt vĩnh viễn bóng quân xâm lợc Mỹ trên đất nớc ViệtNam Trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, dựa vào tài nguyên và sứclao động, nhân dân Minh Hóa đã không lùi bớc trớc khó khăn, lạc hậu, đã

đoàn kết và giành nhiều thắng lợi trong công cuộc đổi mới, xây dựng quê

h-ơng ngày càng giàu đẹp Với những thành tích đạt đợc trong hai cuộc kháng

Trang 16

chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nớc, ngày 11/6/1999 chủ tịch

n-ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã kí quyết định số 203-CT/KT [18;28] tặng danh hiệu: “Anh hùng lực lợng vũ trang nhân dân” cho nhân dânhuyện Minh Hóa

Quê hơng Minh Hóa thiên sơn vạn thủy, nhân dân Minh Hóa anh hùnggiàu truyền thống, cần cù, chịu khó, có tinh thần yêu nớc, yêu quê hơng; có ýthức dân tộc sâu sắc Đó là những di sản quý giá, là những tiền đề cực kỳquan trọng để Đảng bộ và nhân dân Minh Hóa tiếp tục phấn đấu, góp phầnbảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng đã giành đợc vững bớc thựchiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu: “Dân giàu, nớc mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh”

1.2.3 Vài nét về văn hóa

Chúng ta biết rằng, dân c ở Minh Hóa phân bố không đều, chủ yếu tậptrung ở những vùng đất bằng phẳng, ven các con sông, con suối, các trục đờnggiao thông, các thung lũng, miền núi cao dân c tha thớt

Sống trên mảnh đất Minh Hóa có nhiều dân tộc Mỗi dân tộc lại có mộtsắc thái riêng Trải qua công cuộc lao động xây dựng quê hơng, đấu tranhchống thiên nhiên, chống ngoại xâm, các cộng đồng dân tộc đã hòa đồng,chung lng, đấu cật cùng nhau vợt qua khó khăn gian khổ xây dựng cuộc sốngtrên quê hơng mới Qua bao thăng trầm của lịch sử, các cộng đồng dân tộc ởMinh Hóa vẫn giữ vững và phát huy tốt bản sắc văn hóa dân tộc mình, họ xemvùng đất đầy nắng nóng, gió lào, ma lũ giữa núi rừng đại ngàn của Trờng Sơn

là nơi chôn rau cắt rốn Minh Hóa nằm trong vùng giao thoa giữa nền văn hóa

Đông Sơn phía Bắc và nền văn hóa Sa Huỳnh phía Nam Chính sự giao thoanàycùng với điều kiện sống giữa núi rừng bạt ngàn của Trờng Sơn và xa nhữngtrung tâm kinh tế – văn hóa lớn, qua bao thế hệ đã hun đúc nên một bản sắcvăn hóa riêng cho mỗi tộc ngời và cả cộng đồng dân c

Đời sống văn hóa vật chất của các dân tộc ở Minh Hóa rất phong phú, đadạng: các tộc ngời dù ở vùng núi cao hay ở ven sông suối … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, đều biết làm n-

ơng, làm rẫy, trồng lúa và trong quá trình lao động sản xuất các tộc ngời ởMinh Hóa luôn trao đổi kinh nghiệm với nhau Ngày nay không chỉ ngời kinhmới biết cày – bừa làm thủy lợi trồng lúa nớc mà các dân tộc ít ngời ở núicao cũng biết khai phá đất hoang ven sông suối để làm lúa nớc, đa dần cuộcsống của mình đi vào ổn định, không phải du canh, du c nhiều nh trớc Cácdân tộc ít ngời ngoài việc phát cây làm nơng rẫy, trồng lúa, ngô.… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, họ còn triệt

để lợi dụng nguồn lợi tự nhiên của núi rừng để săn bắn, hái lợm các sản vậtcủa rừng Đó là các loại thú, các củ, quả, măng, nấm, rau lá và các loại dợcliệu

Trang 17

Nhà ở của các dân tộc ở Minh Hóa tuỳ theo sắc thái và điều kiện sốngcủa mỗi dân tộc mà có lối kiến trúc riêng Nhà ở của ngời Nguồn thờng làmtheo kiểu nhà đồng bằng khu IV: nhà ba gian, hai chái, tra thợng, tra hạ … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,[17; 19] Nhà thờng hớng về các con sông, con suối, các trục đờng giao thông thuận tiện cho việc đi lại lên rẫy, lên n

… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, ơng, xuống suối lấy nớc, bắt cá … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,Văn hóa ẩm thực của các tộc ngời ở Minh Hóa rất phong phú, đa dạng.Trớc Cách mạng tháng Tám, thức ăn hàng ngày của dân c ngoài các thứ cáthịt, rau quả, ngô, sắn, khoai, gạo nếp, gạo tẻ còn khan hiếm; C dân sống vùngnúi cao còn phải dùng bột cây Nhúc (“Cây Nhúc” – một loại cây rừng thân

có dạng nh thân cây dừa Để có bột Nhúc, ngời ta chặt nhỏ cây Nhúc thànhnhiều mảnh đem phơi khô giã lấy bột, ngâm vào nớc sau đó lọc lấy bột, đaphơi khô dùng dần – khi ăn chỉ đem bỏ bột Nhúc vào nớc sôi nấu chín) đểnấu ăn thay cơm Đặc biệt, ngời Minh Hóa từ ngời Kinh, đến các dân tộc ítngời đều biết dùng “Cơm Pồi” (“Cơm Pồi” – nguyên liệu làm cơm Pồi gồmbột ngô và củ sắn mài mịn, ép khô nớc và hông chín nh hông xôi) “Cơm Pồi”

ăn với ốc vặn hoặc mật ong là thứ “đặc sản” mang đậm bản sắc riêng của ngờiMinh Hóa Đi đôi với các món ăn, đồ uống của ngời Minh Hóa cũng mang

đậm nét sắc thái địa phơng Ngoài các loại lá cây rừng đợc thu hái về nấu nớcdùng, ngời Minh Hóa trồng nhiều chè xanh nấu nớc hòa cùng mật ong đểdùng Đây là thứ nớc giải khát có chất lợng cao, nó vừa mang vị thơm chát củachè, vị thơm ngọt của mật ong rừng … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, vì vậy trong nhân dân có câu ca:

“Ai lên Minh Hóa quê mìnhChè xanh mật ngọt đợm tình quê hơng”

Về trang phục, ngời Minh Hóa là c dân vùng núi cao, từ xa ở các tộc ítngời thờng dùng vỏ cây để may áo, làm khố, làm váy để dùng - những vùng có

điều kiện trồng bông kéo sợi thì dệt vải may áo, may khố, may váy Sau ngàyMiền Bắc giải phóng (1954) đợc sự quan tâm của Đảng và nhà nớc và đợcgiao tiếp rộng rãi với các cộng đồng khác nên trang phục của các dân tộc ítngời ở Minh Hóa có thay đổi, họ thay các trang phục làm bằng chất liệu câyrừng bằng các loại vải với những hoa văn, màu sắc phù hợp

Trong cuộc sống hàng ngày, trải qua bao năm tháng, các thế hệ ngờiMinh Hóa đã tạo dựng nên một nền văn hóa tinh thần mang đợm bản sắc của

xứ núi rừng quê hơng mình, giản dị chân chất, mộc mạc thấm đợm tình ngời,tình yêu cuộc sống lứa đôi, tình yêu quê hơng đất nớc… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, đó là những điệu hát

đúm, hát sắc bùa, hát nhà trò, lẩy kiều, Hò Thuốc cá, hò kéo gỗ, hò đẩythuyền, hò đối đáp giao duyên … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,Các điệu hò, lời ca thờng dùng cốt thơ lụcbát làm nền - Đây là nét nghệ thuật dân ca dân gian đặc sắc của Minh Hóa.Câu hò, điệu hát thờng ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ hát, dễ nhớ mang tính

Trang 18

truyền cảm cao đa đến cho mọi ngời đều có thể cùng hát, cùng xớng họa vàứng tác bất kì ở đâu và lúc nào khi có bạn hát và ngời xớng hát.

ở Minh Hóa, nhân dân rất ít theo các tôn giáo hiện đại Các gia đình cótục thờ Tổ tiên ông bà, thờ thiên thần, thổ thần, cúng bà Sơn, bà Thủy, ôngTáo và những ngời có công lao với làng, với đất nớc Tuy việc thờ cúng theolối “đa thần” nhng thực sự không “nặng nề”, nh các nơi khác ở miền xuôi.Hàng năm, khi xuân về Tết đến dân c có tục “Tết sống” cho ông bà, cha

mẹ, các bậc cao niên trong gia đình để tỏ lòng hiếu thảo, tôn kính đối với ngờicao tuổi Các ngày lễ hội, ngày Tết trong năm đợc nhân dân hết sức quan tâmdành nhiều thời gian cho việc tổ chức lễ hội vui chơi giải trí và đi lại thămviếng nhau Đặc biệt, các lễ hội lớn: lễ hội Tết Nguyên Đán, lễ hội Cầu Mùa,

lễ hội Tạ Mùa, lễ hội Tết Độc Lập, lễ hội Rằm tháng Ba âm lịch … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Trong các

lễ hội ấy điển hình là lễ hội Rằm tháng Ba – ngày hội lớn, cứ vào ngày Rằmtháng Ba nhân dân khắp nơi trong huyện từ miền núi cao giáp biên giới Việt– Lào, Bố Trạch, hay Hà Tỉnh, Tuyên Hóa đều nghỉ việc đi hội chợ Sạt (ChợSạt: tức chợ Quy Đạt hiện nay) Để rồi dân gian Nguồn mới lu truyền lại chocon cháu hôm nay rằng:

“Chẳng thà đau ốm mà nằm

Ai thà vắng mặt chợ Rằm tháng Ba”

Trang 19

Chơng 2:

một số lễ hội của ngời Nguồn

ở huyện Minh Hóa – Quảng Bình Quảng Bình

Trong quá trình lao động cần cù, sáng tạo và chiến đấu dũng cảm cải tạothiên nhiên và xã hội, chống mọi thế lực đè nén để sinh tồn và phát triển nòigiống ở miền núi Trờng Sơn Đông, miền Tây Bắc Quảng Bình, đồng bào ngờiNguồn đã sáng tạo ra cho mình và dân tộc Việt Nam mình kho tàng văn hóavật thể và phi vật thể phong phú, đặc sắc Trong đó có vô vàn những phong tụctập quán và lễ hội dân gian có giá trị nhân văn và mang đậm đà bản sắc vănhóa dân tộc của ngời Nguồn Tuy nhiên, trong khóa luận tốt nghiệp này tôi chỉmới su tầm ghi chép, nghiên cứu một số lễ hội cơ bản của ngời Nguồn nh lễ hội

“Tết Nguyên Đán”, lễ hội “Tết độc lập mồng 2- 9” Đặc biệt, là lễ hội Rằmtháng Ba của ngời Nguồn - một lễ hội dân gian đang đợc thịnh hành trong đờisống văn hóa của ngời Nguồn Nó là sản phẩm vô giá do ngời Nguồn sáng tạonên trong quá trình lao động cải tạo thiên nhiên Nó thể hiện nếp sống lànhmạnh, thấm nhuần đạo lý làm ngời và sức sống mãnh liệt của ngời Nguồn

2.1 Lễ Hội Tết Nguyên Đán

Xuân đến với mọi vùng đất nớc Tết tới khắp mọi nhà và làng thôn, vớicả muôn ngời Đâu đâu cũng đón Tết chào xuân Tuy nhiên, phong vị ngày Tếtmỗi nơi một khác Nếu Tết thành thị thờng là Tết xa hoa, tiêu hao tiền của, thì Tết

ở làng quê êm ái thắm dịu và trầm mặc có phong thái truyền thống hơn

Nh chúng ta đã biết, Tết do “tiết ” mà ra Vì vậy, căn cứ theo thời tiết đổithay có nhiều cái Tết trong năm nh là: Tết Nguyên Đán, Tết Thanh Minh, Tết

Đoan Ngọ (mồng 5/5), Tết Trung Nguyên (rằm tháng 7), Tết Trung Thu, Tết

Độc lập 02 – 09… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Quan trọng hơn cả là Tết Nguyên Đán cho nên còn gọi làTết cả thờng kéo dài ba ngày

Ngời ta còn nói là Tết nhất để chỉ Tết Nguyên Đán Tết nhất không cónghĩa là Tết … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, tết số một hay tết đầu ngày Chữ nhất ở đây có nghĩa là đầutiên Nó là một thanh tốt ghép vào sau chữ Tết để lấy nghĩa hoặc là cũng gầnnghĩa đi chung với nhau Tết ở đây cũng là Tết Nguyên Đán, nói ngắn gọn lại

mà Nguyên Đán là buổi sáng đầu tiên trong năm mới theo âm lịch Nhữngngày Tết cũng là ngày đầu tiên trong năm mới Nghĩa “đầu, tiên” rõ ràng lànghĩa chung của Tết và Nhất

Ngời Việt Nam xa gọi Tết Nguyên Đán là Tết cả, có nghĩa là ngày Tếtlớn nhất trong một năm Vào thời nhà Lý, nhà Trần nghĩa là từ khởi sự có sửthành văn ở nớc ta, Tổ tiên dân ta đã ăn Tết rất lớn Cuối năm, cũng là cuối vụthu hoạch nông nghiệp đã có Tết cơm mới, thờng tổ chức vào giữa tháng mời

Trang 20

(ngày hạ nguyên) Cũng vào tháng mời vụ gặt vừa xong, các quan viên cũng

đã hoàn tất việc thu thuế điền thổ và theo quan niệm của Đạo giáo cũng làngày Thiên đình cử thần Tam Thanh xuống trần gian xét việc tốt, việc xấu.Ngời ta làm Tết cơm mới để cầu phúc đức no đủ cho năm tới, tránh đợc thiêntai, đồng thời cúng cơm mới cho Tổ tiên, ông bà

Ba ngày Tết Nguyên Đán đã diễn ra trong bầu không khí vừa vui chơivừa trang nghiêm trong nhiệm vụ thờ phụng Tổ tiên Buổi sáng ngày mồngmột rất hệ trọng, thờng đợc mở đầu bằng một tràng pháo mừng rộn rã Từ thế

kỉ 6, Trung Quốc đã tìm ra thuốc súng và áp dụng vào việc tạo thành pháo đểgây tiếng nổ lớn, hàng loạt và dòn tan Tiếng pháo nổ từ đêm giao thừa là đểxua đuổi tà ma qủy quái, sau là để gây hứng khởi vui tai Tục đốt pháo tết nhất

là từ đêm giao thừa có từ hàng ngàn năm qua do sự tích về một truyền thuyếtdân gian nh sau: Ngày xa có một con quái vật có một chân, nhng nó di chuyểnrất nhanh lẹ Đêm giao thừa nó thờng vào nhà dân bắt heo, gà Một lần nọ, gặpmột đống lửa đang cháy, tre nứa nổ lốp bốp nó sợ quá bỏ chạy Từ đó ngời tachế tạo ra pháo đốt nổ đùng đùng không chỉ để xua đuổi tà khí, hung ác đi màcòn để đón chào, chúc mừng một năm mới tốt lành, hay là một tình duyên lứa

đôi hạnh phúc trong ngày cới, hỏi

Sáng ngày mồng một tết, từ canh năm, nghĩa là vào khoảng 4 giờ sáng,Vua đã ngự ở điện Vĩnh Thọ để các hoàng tử cùng với các quan hầu cận đếnchúc mừng rồi mới vào cung Thờng Xuân làm lễ cúng các tiên đế ở các nhàthứ dân, những ngời có tuổi cũng đã thức dậy, pha trà nấu nớng ngồi thởngthức hơng vị và không khí đầu năm trong khi các ngời vợ, con gái lớn hay côdâu trởng đã sửa soạn, nấu nớng thức ăn cúng gia tiên ngày đầu năm Nhữnggia đình có truyền thống, nề nếp, biết tu tâm dỡng tánh, không đợi phải là gia

đình phật giáo, cũng đều hớng những món ăn vào chay tịnh Buổi sáng mồngmột luôn luôn đợc mọi ngời giữ gìn thận trọng: cẩn trọng ngôn từ, chúc nhaunhững lời tốt đẹp với vẻ mặt hân hoan vui vẻ, với một năm mới hoàn toànthắng lợi

Mồng hai tết, ngày xa các quan viên đợc ở nhà không phải vào kinh chầuhay đăng đờng, để lo bổn phận trong gia đạo

Mồng ba tết, thời nhà Lê, vua ra ngự ở lầu Đại Hng xem các triều thầnchơi ném cầu làm bằng gấm, tên gọi là tú cầu, đính hai mơi dãi lụa ngũ sắc.Còn trong dân gian ngời ta chơi đánh đu, đá cầu và hát trao tình Ngày nàycũng là ngày học trò đi lễ tết các thầy học của mình hay là thầy dạy nghề

Ví nh tục ngữ nói: “Tháng giêng là tháng ăn chơi” ngời Việt Nam thực

ra không phải ăn tết cả chỉ có ba ngày mà cả tháng đầu năm Ngày xa, ngàymồng bốn vua mới ban yến đầu năm cho các triều thần và ngày mồng năm là

Trang 21

ngày vua và hoàng gia đi lễ các đền chùa Ngày mồng bảy làm lễ khai hạ,cũng còn gọi là khai hạp là lễ các quan niệm, mở hộp đựng ấn triện, tợng trngcho công việc hành chính cho năm mới Ngời ta cũng hạ cây nêu trong ngàynày để kết thúc chính thức những ngày tết vui chơi

Đến với Tết ở nông thôn miền Bắc xa, ngày mồng bảy còn là ngày lễkhai đạc Đó là ngày mở mõ để ngời mõ làng bắt đầu đi báo cáo các việctrong làng Đúng ra là vào ngày đó, ngời mõ làng chỉ đến giữa đình làng làmmột cái lệ tợng trng bằng cách đứng giữa sân đình, cúi đầu xá ba xá, rồi đánh

ba hồi mõ, xong hát lớn tiếng những lời nh sau:

“Trình quan viên làng nớcNhờ đức Thợng ThầnBớc sang năm mớiLúa tốt gạo hơnMọi nghề tấn tớiNơi nơi no đủPhú lộc đề đaTrên dới hòa thuậnVui vẻ mọi nhàv.v ” [23; 245]

Sau đó làng vào các hội vui Đình làng bắt đầu mở cửa vào ngày mồngchín Tết là ngày theo đạo giáo thề đức Ngọc Hoàng, đản sinh Rằm thánggiêng là một ngày hội lớn mà Trung Quốc gọi là Tết Nguyên Tiêu ở ViệtNam, trong vòng tháng giêng, các làng quê đều có hội hè lớn để trai gái giaoduyên nh hội quan họ (tức hội Lim), hội Chùa Keo, hội Đồng Kỵ Các hộinày đợc mở ra nhằm mục đích để cầu cho mùa màng đợc tơi tốt, có phần nàotôn thờ sự phồn thực và cũng để tởng nhớ công ơn của những vị khai sáng đấtnớc và những vị anh hùng của dân tộc, kể cả những thần địa phơng do quầnchúng nông thôn sở tại tôn lên từ bao đời xa

Bây giờ chúng ta điểm qua một vài nét phong thái tết ở miền Nam vàmột số vùng miền khác:

ở miền Nam dân tha, đất rộng, vờn ruộng phì nhiêu, nhà nhà chuẩn bị ăntết một tháng trớc, có khi là ba tháng trớc Miền Trung có nhiều hoa mai, Nam

Bộ có ít hơn Đà Lạt và Tây Nguyên có hoa đào; anh đào Đà Lạt và hoa maicác nơi đa về các chợ Sài Gòn là những thứ quà trang trí ngày tết khá đắt tiền

ở nông thôn thì loài hoa Tết quen thuộc nhất là vạn thọ Vào đầu tháng mờicác gia đình bắt đầu trồng vạn thọ, trồng thật nhiều cho đỏ cả sân nhà Đầutháng chạp, bớc vào chăm sóc hoa mai, loài hoa Tết tiêu biểu của miền Nam.Trong những sắc xuân muôn hồng ngàn tía, ngời miền Nam giành một tình

Trang 22

cảm đặc biệt cho những cành mai vàng cũng nh bà con miền Bắc đã giànhlòng yêu quý của mình cho những cánh hoa đào đỏ thắm.

Nếu hoa đào là sắc hoa tợng trng cho sắc xuân miền Bắc thì hoa maicũng xứng đáng đợc chọn làm sắc hoa tiêu biểu cho mùa xuân miền Nam ruộtthịt, và cả đào lẫn mai đều là hai thứ hoa bền bỉ, sức sống, lâu tàn Cây mai

đẹp ở hoa đẹp cả ở cành Cành mai mảnh dẻ vơn lên trong nắng khẻ lay độngqua làn gió thoảng gợi lên trong tâm trí ta một cái gì đó mềm mại, uyểnchuyển đầy nữ tính Với thi hào Nguyễn Du, vẻ đẹp cành mai cũng là nétthanh tú của hai chị em nàng Kiều:

“Mai cốt cách, tuyết tinh thần ”

ở miền Nam cũng nh ở các vùng khác thì ngày 23 tháng chạp cũng cótục đa ông Táo về trời ở đây tục tảo mộ trọng thể hơn ngoài Bắc Đi tảo mộphải có mặt chủ nhà và ít nhất là một cậu con trai với một ngời nhà Tốt hơnhết là đi đông đủ cả gia đình Tảo mộ những ngày cuối tháng chạp không bắtbuộc phải cúng lễ gì nhng ngời đi tảo mộ vẫn cúng, thờng là xôi, gà luộc, hoaquả; cúng xong ăn tại chổ Sau ngày tảo mộ, thời biểu đón Tết đại khái sẽ nhsau: Ngày 24 quét dọn nhà cửa, 25 đánh bóng các đồ đồng trong nhà từ đồ thờ

đến đồ dùng, 26 viết câu đối (nếu chủ nhà hay chữ) hoặc mợn nhà Nho trongxóm viết cho; ngoài câu đối còn viết chữ Nho lên giấy hồng dán lên cửa ngõ,giếng nớc Ngày 27 trang hoàng nhà cửa, ngày 28 tiếp tục mua sắm nhữngthứ còn thiếu; Đến ngày 29 trễ lắm là vào chiều 29, phải xong đâu vào đấy cảrồi Phụ nữ thật là vất vả, tất bật ngoài công việc xay giã còn phải chuẩn bịnếp, đậu, đờng làm bánh, mua sắm các thức ăn các món đồ cúng nào có thểmua sắm trớc đợc mà không hỏng

Tra 30 đúng ngọ cúng rớc ông bà ông vải (cúng tất niên); đến chạng vạngtối 30 mới dựng nêu

Hơng vị Tết miền Nam, ngoài da hấu, bánh tét, còn phải kể đến mứt, hạt

da và một số món cúng, món ăn đặc biệt

Còn Tết ở Buôn Sóc và Bản mờng có những đặc thù gì?

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, do sự khác nhau giữa những sắcthái địa phơng, sự phát triển không đồng đều về trình độ kinh tế – xã hội,những điều kiện tiếp thu ảnh hởng bên ngoài nhiều hay ít, cho đến nay cácdân tộc anh em vẫn còn ăn nhiều cái Tết khác nhau Trong nhiều dân tộc ởTây Bắc, Tây Nguyên không có danh từ Tết, thế nhng nội dung và hình thứccủa những cuộc lễ, ngày hội lớn nhỏ đợc tiến hành sau khi thu hoạch vụ mùacuối năm, vào thời gian giữa mùa đông và đầu mùa xuân, bao gồm nhiều tậptục về chúc tụng, cúng viếng, kiêng cữ, nhiều sinh hoạt văn hóa nghệ thuật,văn nghệ – thể dục thể thao phong phú đều là hiện tợng của những ngày Tết,

Trang 23

trong một bầu không khí rất Tết, cho nên coi đó là những ngày lễ Tết của cáctộc ngời vùng cao.

Nh vậy, Tết, Xuân là dịp cộng cảm của con ngời và vạn vật, cộng cảmgiữa ngời sống và ngời chết, cộng cảm giữa cá nhân với gia đình, gia tộc, xómthôn, làng nớc

Đó là một vài nét điểm qua về phong thái Tết ở một số vùng miền Còntrong lễ hội Tết Nguyên Đán của ngời Nguồn ở huyện Minh Hóa (QuảngBình) thì diễn ra nh thế nào?

Có thể nói rằng, lễ hội Tết Nguyên Đán của ngời Nguồn ở Minh Hóa thìnhững tập tục, nghi lễ, trò chơi nó cũng không nằm ngoài lễ hội Tết Nguyên

Đán chung của Việt Nam Tuy vậy, nó cũng có những biểu hiện đặc sắc riêng biệtthể hiện nét riêng trong văn hóa của từng vùng miền, nói lên nét phong phú trongvăn hóa các dân tộc ở Việt Nam Tuy thế vẫn là phong phú đa dạng trong sự thốngnhất Một sự đặc biệt tạo nên nét riêng trong văn hóa Tết của ngời Nguồn đó làcó: “Lễ bng cỗ Tết Nguyên Đán của ngời Nguồn ở Minh Hóa”

Từ xa xa đến nay, phong tục của ngời Nguồn có lễ bng cỗ Tết Nguyên

Đán còn gọi là “Tục giỗ sống” (“Giỗ sống”: xin nói có “giỗ sống” thì có “giỗchết” Giỗ chết là lễ kỵ giỗ ngời đã chết: Hằng năm đến ngày chết của ông,

bà, cha, mẹ, con cháu đã lập gia đình thì mỗi gia đình dọn một cổ thịnh soạn

đóng gánh, gánh đến nhà con trai trởng làm lễ kỵ ông, bà, cha, mẹ đã chết)

Lễ đó nh sau:

Khoảng Rằm tháng Mời Một đến khoảng hai mơi lăm tháng Chạp âmlịch hàng năm: con cháu trai, gái đã lập gia đình thì lập mâm cỗ thịnh soạncho ông, bà, cha, mẹ, nội ngoại đơng sống ăn Tết Nguyên Đán trớc TếtNguyên Đán để tỏ lòng kính yêu và đền đáp công ơn ông, bà, cha, mẹ, nội,ngoại đã sinh thành dỡng dục mình nên ngời

Lễ vật của mâm cỗ đó gồm: một nồi cơm chín, một đĩa xôi to đầy, mộtcặp bánh chng, bốn hoặc sáu cái bánh rò (Nếp dẻo gói lá dong rừng, không cónhân hình vuông, luộc kỹ nh luộc bánh chng, là loại bánh Tết của ngời Nguồn,một sản phẩm văn hóa ẩm thực độc đáo của tộc ngời Nguồn), tám hoặc chụccái bánh ít, một nồi canh, một con gà luộc, một đĩa thịt lợn luộc, thịt kho, cákho đủ cho gia đình của ông, bà, cha, mẹ đơng sống ăn Nếu ông bà ở trongnhà với cha mẹ thì chỉ soạn một gánh cho bên nội, một gánh cho bên ngoại.Nếu ông bà ở riêng, cha mẹ ở riêng thì phải soạn một gánh cho ông bà, mộtgánh cho cha mẹ, nội cũng nh ngoại đều phải nh vậy Trớc ngày bng cỗ đến,con cháu phải tin cho ông, bà, cha, mẹ biết bữa ấy mình sẽ bng cỗ Tết Nguyên

Đán đến cho ông, bà, cha, mẹ ăn Đến bữa hẹn đó, ông bà, cha mẹ ở nhà,không nấu ăn, đợi con, cháu gánh cỗ đến mà ăn Ông bà, cha mẹ mà đông

Trang 24

con, đông cháu đã lập gia đình cả rồi thì con, cháu phải trao đổi với nhauthống nhất có lịch cho từng ngời cụ thể để khỏi trùng lặp Và đến khoảng haimơi lăm tháng Chạp phải hoàn thành lễ bng cỗ Tết Nguyên Đán để cho ông

bà, cha mẹ, con cháu vui vẻ, yên tâm chuẩn bị ăn Tết và đón xuân mới với bàcon xóm làng

Sau hai mơi lăm tháng Chạp, đến Tết Nguyên Đán rồi mà ngời nàokhông làm đợc việc bng cỗ Tết Nguyên Đán cho ông, bà, cha, mẹ đơng sống

ăn thì cảm thấy năm ấy mình cha “lo tròn chữ hiếu” của “đạo con, đạo cháu”

đối với ông bà, cha mẹ

Ngày nay, lễ bng cỗ Tết Nguyên Đán này vẫn đang thịnh hành phổ biếntrong đời sống của ngời Nguồn Ngời già cũng nh ngời trẻ của ngời Nguồn coi

lễ bng cỗ Tết Nguyên Đán này là việc làm hiếu đạo của con cháu đối với ông

bà, cha mẹ mà ai cũng phải lo tròn bổn phận con cháu của mình

Đồng bào ngời Nguồn cũng nh đồng bào cả nớc, cuối năm cũ đầu nămmới âm lịch hàng năm, tổ chức ăn Tết vui chơi Lễ hội Tết Nguyên Đán

Theo tục lệ của ngời Nguồn: sau lễ “Hai mơi Chạp Miệu” [5; 87] thìngời Nguồn đã lo mọi thứ cho Tết Nguyên Đán: phải lo cho đủ gạo tẻ, gạonếp, thực phẩm (thịt, cá), nấu rợu đủ việc ăn uống trong những ngày TếtNguyên Đán; Ngời Nguồn còn phải lo việc xủi mả, đắp mộ cho ông bà Tổ tiên

để vong hồn ông bà Tổ tiên vui vẻ về ăn Tết với con cháu; các phờng hát Sắcbùa và hát Nhà trò [5; 87] lo tập luyện; thanh niên lo trồng đu, làm xoang vàtrái xoang; con cháu cha làm lễ “bng cỗ Tết Nguyên Đán” cho ông bà, cha

mẹ, nội ngoại đơng sống ăn thì phải lo làm cho xong trớc ngày hai mơi lăm,may sắm quần áo mới cho con, cháu v.v

Tục lệ của ngời Nguồn là: ngày vào Tết Nguyên Đán là ngày hai mơi támtháng Chạp năm cũ và ngày ra Tết Nguyên Đán thờng là ngày mồng ba, cũng

có nơi là ngày mồng năm tháng Giêng năm mới Lễ vật cúng cho Tổ tiêntrong lễ vào Tết và ra Tết là ngoài cơm, canh, xôi, thịt, bánh ít ra thì đối vớingời Nguồn luôn luôn phải có bánh Rò [5; 88] Đây là thứ bánh không thểthiếu trong những món ăn ẩm thực trong ngày Tết của ngời Nguồn ở MinhHóa Loại bánh này còn đợc cúng cho các thần linh thờ ở miếu và lùm thần(nơi rừng rậm um tùm) trong ngày lễ khai Sơn sáng mồng bảy Tết Nguyên

Đán Cho nên ngày 27 tháng Chạp ngời Nguồn rửa lá, vò gạo nếp một phầngiã lấy bột gói bánh ít, một phần gói bánh vọt, bánh rò tối đó phải luộc chín

để kịp sáng ngày 28 cúng lễ vào Tết Nguyên Đán; ngày 29 hoặc 30 Tết gói vàluộc bánh chng để đêm giao thừa cúng cho ông bà, Tổ tiên đón giao thừa; chotrẻ em tắm để lấy tuổi mới; Ngày mồng hai Tết có thể gói và luộc thêm bánh

Trang 25

Rò để mồng ba làm lễ ra Tết Tục lệ của ngời Nguồn ngày xa là Tết Nguyên

Đán bắt đầu lễ “Ngớc ôông vải”, và kết thúc vào lễ “Ta ôông vải”

Lễ “Ngớc ôông vải” là lễ rớc mời ông bà về bàn thờ Tổ tiên của gia đình để

ông bà Tổ tiên ăn Tết với con cháu Sáng ngày 28 hoặc chậm thì cũng chiều 28Tết; gia đình làm lễ “Ngớc ôông vải” Lễ vật cúng “Ngớc ôông vải” gồm có:Ngoài cơm, canh, thịt, cá, bánh ít thì có thêm bánh Rò dọn lên bàn thờ thành từngmâm theo thứ hạng của ông bà, Tổ tiên rồi thắp hơng lên; gia chủ cúng bái mời

ông bà, Tổ tiên về ăn Tết với con cháu, phù hộ cho con cháu sang năm mới ăn nênlàm ra Từ đó, trong những ngày Tết Nguyên Đán hằng ngày: mỗi ngày ba bữasáng, tra, chiều gia đình dọn cơm, canh (thịt, cá hoặc canh rau) và thắp hơng cho

ông bà, Tổ tiên ăn uống cho đến lễ “Ta ôông Vải” mới thôi cúng

Theo quan niệm của ngời Nguồn là sau một năm ông bà, Tổ tiên đã vấtvả theo con cháu, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, ăn nên làm ra, đến TếtNguyên Đán ông bà, Tổ tiên cũng nghĩ ngơi về ăn Tết và vui chơi với concháu; cho nên để tỏ lòng biết ơn ông bà, Tổ tiên con cháu mời ông bà, Tổ tiên

về bàn thờ mà dọn cơm canh cho ăn hàng ngày, hằng bữa trong những ngàyTết Nguyên Đán; Nh vậy mới trọn “hiếu đạo” với ông bà, Tổ tiên

Có một nét riêng khá khác biệt là ngời Nguồn không có bàn thờ đặt mâmngũ quả

Đến nay, trong những ngày Tết Nguyên Đán, ngời Nguồn chỉ có bàn thờ

ông bà, Tổ tiên để cúng cơm canh hằng bữa cho ông bà, Tổ tiên, không có bànthờ đặt mâm ngũ quả

Sau lễ “Ngớc ôông vải” là những ngày lễ hội Tết Nguyên Đán: theo tục lệ củangời Nguồn là ngoài lễ cúng cơm hằng bữa, hằng ngày cho ông bà, Tổ tiên thì cóhội vui chơi gồm: Phờng hát Sắc bùa hoặc phờng hát nhà Trò tổ chức biểu diễn hátSắc bùa hoặc hát Nhà trò chúc Tết; mua vui cho từng gia đình trong làng, trongxóm Có thể biểu diễn cả ban ngày và ban đêm Phờng hát Sắc bùa hoặc hát Nhà trò

đến biểu diễn nhà nào thì nhà đó đón tiếp niềm nở, ngời chung quanh đến rất đôngvui, chủ yếu ngời già và trung niên Còn thanh niên nam nữ ngày thì đi chơi đu hếtlàng này qua làng khác hoặc ném xoang, tối về mới đi xem hát Sắc bùa, hát Nhà trò.Ngày nay, bỏ chơi đu, ném xoang, một số nơi còn hát Sắc bùa, hát Nhà trò, phổ biếnhơn là chơi bài, chơi cờ Cũng theo tục lệ của ngời Nguồn thì ngày mồng ba TếtNguyên Đán: sáng làng xóm làm lễ khai sơn (mở cửa rừng) chiều hoặc tối các gia

đình đều làm lễ “Ta ôông Vải”

Lễ Khai Sơn: sáng mồng ba Tết, mỗi gia đình trong xóm đem một chiếcbánh Rò đến miếu thần và lùm thần cho ông Từ cúng tế thần linh Giang Sơnbản mạnh phù hộ cho trời đất thuận hòa, dân làng bình yên đợc ra đồng vàorừng làm ăn phát đạt Chiều hoặc tối mồng ba Tết mà thờng là buổi tối để ông

Trang 26

bà, Tổ tiên đi đờng khỏi bị kẻ cớp cớp giật, tất cả các gia đình của ngời Nguồn

đều làm lễ “Ta ôông Vải” tức là lễ tiễn ông bà, Tổ tiên trở về phần mộ Lễ vậtcúng trong lễ “Ta ôông Vải” gồm có: ngoài cơm, canh, cá, thịt ra thì còn cóbánh Rò cho mỗi ông, mỗi bà một chiếc để về làm quà mừng bà con xómchung quanh đến mừng thăm sau những ngày ăn Tết với con cháu về Từ đó,thôi cúng cơm hằng bữa cho ông bà, Tổ tiên cho đến Tết Nguyên Đán nămsau mới có lại Đến nay, lễ Khai Sơn đã bị bỏ vì các lùm thần đã bị phá sạch;Vẫn còn lễ “Ta ôông Vải” đang thịnh hành phổ biến trong đời sống văn hóaTết Nguyên Đán của ngời Nguồn

Sau lễ “Ta ôông Vải” là kết thúc lễ hội Tết Nguyên Đán, ngời Nguồn bắt

đầu ra đồng, vào rừng với một mùa làm ăn mới, với một niềm tin hy vọng mớitràn trề đến Tết Nguyên Đán năm sau sẽ no đủ hơn, vui tơi hơn

Nh vậy, đồng bào ngời Nguồn cũng nh đồng bào các dân tộc ở Việt Nam

đều đợc đón một cái Tết trong sự chờ đợi, cái Tết đặc biệt, Tết Nguyên Đán– Tết cả Quả thật Tết mới là dịp để nghỉ ngơi, giao lu, gặp gỡ, chúc nhau.Bao nhiêu lo nghĩ ngời dân gác một bên để hởng thú xuân cho đầy đủ Ngờidân đón Tết một cách nồng nàn, ngời dân đợi Tết một cách trịnh trọng và ngờidân vui Tết một cách náo nhiệt, hân hoan, cho dù ở mỗi nơi, mỗi vùng cónhững tập tục và những nét văn hóa riêng trong lễ hội Tết Nguyên Đán

Trong lễ hội Tết Nguyên Đán thì ngời dân đâu đâu cũng tổ chức vui chơi

và thờng kéo dài cho đến hết tháng Giêng Trai gái hát giao duyên bằng cách

đúm ví, trẻ em thì đợc những ngời lớn tuổi trong gia đình và dòng họ mừngtuổi Đồng thời trong các ngày hội này, các món ăn truyền thống của ngờiNguồn ở Minh Hóa nh “Cơm pồi”, “ốc vặn” đợc bà con chuẩn bị chu đáo

để cúng lễ và cúng xong ngời ta quây quần bên nhau, nâng rợu chúc tụng chonhau những điều tốt đẹp trong năm mới Bà con, xóm làng gặp gỡ tay bắt mặtmừng, chén trà, ly rợu kể chuyện cho nhau nghe trong năm vừa qua Rồi tất cả

nh hòa vào trong không khí men say của rợu, men nồng của niềm vui, đã cùngnhau hát hò, nhảy múa, ví đúm

“Một năm gặp mặt một lần,Cầm bằng vua Hán vua Tần gặp nhau

Gặp nhau ăn miếng trầu tay,Cầm bằng gặp bạn lâu ngày kẻo quên”

Tất cả dân làng hòa vào những trò chơi dân gian phong phú nh ném còn,

đánh đu, nhảy dây, cà kheo

Có thể nói cái Tết của ngời Nguồn ở Minh Hóa nói riêng và ngời ViệtNam nói chung đều là những ngày vui vẻ, hạnh phúc với những phút giây đầy

Trang 27

niềm tin Là ngời Việt Nam, ai cũng có đợc những phút giây vững lòng tin đểcan đảm sống, cho dù ở trong hoàn cảnh bi đát nào chăng nữa.

Trong chu kỳ 365 ngày của một năm, có ít nhất vài ngày mà bất cứ aicũng cảm thấy có đợc niềm hạnh phúc tin tởng và vui sống Trong một ngàycũng có đôi phút tràn đầy niềm yêu thơng và trong một phút cũng có vài giâylạc quan ngây ngất Tết có nghĩa là vui chơi, thụ hởng thoải mái sau một thờigian dài lao lực nhọc nhằn Nhng có nhiều khi chúng ta mải mê vui chơi,chúng ta quên để ý tới một số việc có ý nghĩa Bởi vì Tết của ngời Nguồn cũng

nh Tết của cộng đồng dân tộc Việt Nam không chỉ đơn thuần là thụ hởng hoanlạc, là cuộc chơi hết mình Tết của Việt Nam chúng ta có nhiều đặc tínhthiêng liêng, cao quý cần phải đợc nhắc nhở, mang nhiều ảnh hởng xã hội cầnphát huy và hơn nữa luôn thể hiện một sức sống mảnh liệt rất là con ngời,con ngời thuần lý tự nhiên, phóng khoáng, thoải mái, không khoác áo đạo đứcgiả ở bên ngoài

Thởng Xuân vui Tết, ngời Nguồn Minh Hóa Quảng Bình nói riêng và

ng-ời Việt Nam nói chung xa và nay rất chân thành, thoải mái và nhiệt tình trongmọi mối giao lu xã hội và duy trì phong cách sống cá biệt cổ truyền của dântộc Tết không hẳn chỉ vui chơi mà còn là những ngày đầy kỉ niệm, nhắc nhởbổn phận và trách nhiệm của từng ngời đối với huyết thống, gia đình, dòngtộc, xóm thôn và tổ quốc

2.2 Lễ hội Tết Độc lập (2/9)

Trớc cách mạng tháng 8/1945, ngời Nguồn ăn Tết mồng Năm thángNăm âm lịch Sau cách mạng tháng 8/1945 trở đi, ngời Nguồn bỏ ăn Tết mồngNăm tháng Năm (âm lịch) mà tổ chức ăn Tết Độc lập mồng Hai tháng Chín(dơng lịch)

Theo ngời già của ngời Nguồn kể lại: Cách mạng thành công, sau ngày02/09/1945, chuẩn bị kỷ niệm ngày Quốc Khánh 02/09/1946, đợc cán bộ ViệtMinh giải thích: Tết mồng Năm tháng Năm là Tết của ngời Tàu Ngời Tàusang cai trị nớc mình, đàn ông Tàu lấy đàn bà, con gái của ngời mình làm chongời mình mang nhiều họ của ngời Tàu Nó bắt dân mình ăn Tết mồng Nămtháng Năm là Tết mừng vua nớc Tàu lên ngôi Vua Về sau, vua nớc mình,thần phục vua Tàu nên cứ thế bắt dân mình vẫn ăn Tết mồng Năm tháng Năm.Nay nớc nhà mình có Cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo làm cách mạng thành công,

đuổi đợc quan Tây (Pháp), xoá bỏ vua quan nên mình bỏ ăn Tết mồng Nămtháng Năm mà ăn Tết Độc lập mồng Hai tháng Chín dơng lịch, ngày Cụ Hồlên ngôi Chủ Tịch nớc, đọc Tuyên ngôn độc lập đã tuyên bố với thế giới: NớcViệt Nam độc lập thật sự [5; 101]

Trang 28

Từ đó hàng năm, đến ngày 02/09, ngoài tổ chức mít tinh đọc diễn văn kỷniệm ngày Quốc khánh 02/09 theo đơn vị xã nh đồng bào cả nớc ra, thì đồngbào Nguồn đợc chính quyền các xã tổ chức ăn Tết Độc lập mồng Hai thángChín nh ăn Tết Nguyên Đán, phải lo cho mọi nhà tối thiểu có một bữa ăn Tếtthật sự vào ngày mồng 02/09.

Lễ ăn Tết Độc lập thật sự là một lễ hội tng bừng không kém gì TếtNguyên Đán của ngời Nguồn Các đoàn thể nhất là thiếu niên, thanh niên, phụnữ tổ chức luyện tập các tiết mục thể thao, văn nghệ để biểu diễn vui chơitrong ngày Tết Độc lập Các gia đình không ai nhắc ai, sắp đến ngày Tết Độclập là lo sắm sữa các thứ cần thiết cho Tết gồm: gạo, nếp, cá, thịt đặc biệtphải lo cho có cờ Tổ quốc

Ngày mồng Một tháng Chín (dơng lịch) các đoàn thể theo sự chỉ đạo củacấp ủy và chính quyền xã tổ chức duyệt lại các tiết mục thể thao, văn nghệ,làm sân khấu và trang hoàng khán đài để làm lễ mít tinh và diễn văn nghệ;Mọi gia đình lập bàn thờ Tổ quốc, gồm một bàn thờ trên treo lá cờ Tổ quốc, d-

ới cờ treo ảnh Bác Hồ, trên bàn đặt lọ hoa; Chuẩn bị các thứ ăn uống chủ yếu:xôi, thịt, cá, một số gia đình gói bánh Rò, bánh Chng

Ngày mồng Hai tháng Chín (02/09): buổi sáng, tất cả mọi gia đình đồngbào ngời Nguồn làm cỗ bàn: xôi, thịt, cá, bánh Rò, bánh Chng dọn lên bàn thờ

Tổ tiên cúng ông bà, Tổ tiên báo cáo với ông, bà, Tổ tiên biết ngày Tết Độclập mồng 02/09: Nớc Việt Nam đợc Cụ Hồ lãnh đạo đã đánh đuổi đợc giặcngoại xâm, Tổ quốc đợc độc lập, dân đợc dân chủ, tự do, xin ông bà, Tổ tiêncùng vui với nớc nhà độc lập, phù hộ con cháu sống trong độc lập khỏe mạnh

để phục vụ Tổ quốc, xây dựng Tổ quốc Việt Nam cờng thịnh Cúng cầunguyện ông bà, Tổ tiên xong, bấy giờ cho con cháu ăn Tết Độc lập; rồi tronggia đình phân công: ngời thì đi dự lễ mít tinh kỷ niệm ngày Quốc khánh02/09, ngời thì đem quà (xôi, thịt, cá, bánh Rò, bánh Chng … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,) đi Tết mừng

Ngày mồng 03/09 tiếp tục vui chơi thể thao: thi bóng chuyền, kéo co, đi

cà kheo, thi bơi … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, tối thì các thôn, xóm lại tiếp tục tổ chức văn nghệ lửa trạitrong thôn mình cho dân xem … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,Nh vậy, hàng năm đồng bào một số dân tộc

Trang 29

cả nớc nói chung và đặc biệt là đồng bào ngời Nguồn ở Minh Hóa nói riêng khôngquên tổ chức lễ mít tinh Ngày 02/09 cùng với những cuộc hội vui chào mừngcũng nh những trò chơi thú vị bổ ích Cứ mỗi một lần nh thế để khẳng định giá trịlịch sử, sự thật lịch sử của dân tộc Việt Nam; khẳng định nền độc lập của dân tộcViệt Nam, thể hiện tinh thần đấu tranh anh dũng bất khuất của con ngời Việt Nam.

Đồng thời cũng là sự thể hiện tinh thần và nét văn hóa của cộng đồng ngời Nguồnnói riêng và của cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung Một nét văn hóa cần đ-

ợc bảo lu và phát huy những giá trị của nó, đúng nh nó

Ngày nay, đồng bào Nguồn vẫn không ăn Tết mồng Năm tháng Năm, vẫn tổchức ăn Tết Độc lập mồng Hai tháng Chín Tết Độc lập mồng Hai tháng Chín trởthành phong tục văn hóa không thể xoá bỏ đợc của ngời Nguồn

Hiện nay, lễ hội Tết Độc lập mồng Hai tháng Chín của đồng bào Nguồn

đợc đồng bào các dân tộc ở huyện Minh Hóa hởng ứng nhiệt liệt, họ cũng ănTết Độc lập mồng Hai tháng Chín nh đồng bào Nguồn

2.3 Lễ Hội Rằm tháng Ba

Lễ hội Rằm tháng Ba là một lễ hội dân gian đang đợc thịnh hành trong

đời sống văn hóa của ngời Nguồn Đây là một lễ hội lớn nhất của huyện MinhHóa

Đó là sản phẩm vô giá do ngời Nguồn sáng tạo nên trong quá trình lao

động cải tạo thiên nhiên Nó thể hiện nếp sống lành mạnh, thấm nhuần đạo lýlàm ngời và sức sống mãnh liệt của ngời Nguồn

Lễ hội Rằm tháng Ba (âm lịch) hàng năm của ngời Nguồn gắn với phongtục “Thờ cúng Pụt” (thờ cúng Bụt) có phần thần linh, hoang đờng; Nhng vénbức màn thần linh hoang đờng lên, chúng ta thấy hiện thực cuộc sống về vănhóa của ngời Nguồn, thấy rõ cội nguồn cuộc sống có văn hóa, hớng về cáichân, cái thiện, cái mỹ của con ngời của ngời Nguồn

2.3.1 Nguồn gốc của lễ hội

ở Minh Hóa, ngời Nguồn có rất nhiều sự tích dân gian về ông Pụt đợccác cụ cao niên kể lại nh các truyện “ôông Pụt ở lèn ôông Ngoi” (ông Bụt ởlèn ông Ngoi), “Sự tích Thác Pụt”, “Pụt chộ tha, tha khôông chộ Pụt” (Bụtthấy ta, ta không thấy Bụt) … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Trong đó truyện “Sự tích thác Pụt” kể rằng:

Đời xa có hai anh em trai một nhà đi tìm ong lấy mật Hai anh em cứchóp lèn ôông Ngoi đi lên Lên đến chóp lèn ôông Ngoi, gặp chỗ đá bằng, cógiếng nớc trong, hai anh em ngồi nghỉ, mở cơm đùm ra ăn Ăn xong, múc nớcgiếng uống, trông lên, hai anh em thấy cây cam trái chín đỏ tơi, trèo lên hái

ăn, lại hái mỗi ngời một quả bỏ vào túi đem về cho con Xong rồi, hai anh em

đi về Đi một lúc, hai anh em lại trở lại chỗ giếng nớc và cây cam Hai anh emlại đi tiếp, đợc một lúc cũng trở lại chỗ giếng nớc và cây cam Hai anh em biết

Trang 30

là tại mình lấy cam nên bị một vị thần linh nào đó trêu Hai anh em liền lấycam trả lại để đi về, thì trông lên bàn đá cao bằng phẳng thấy có mời hai hòn

đá giống ngời ngồi thẳng hàng Hai anh em vội vã lên xem, thấy khéo, liền cắtdây buộc mỗi ngời một hòn cầm về Đến thác nớc ở Dác Dòn (xóm Sôông, xãHồng Hóa, huyện Minh Hóa – Quảng Bình), hai anh em bỏ hai hòn đá xuốngbên bờ khe rồi xuống tắm Tắm xong thì hai anh em lại để mang hai hòn đá đó

về thì nhấc không lên mà mang nữa, mắc cứng Bực tức, ngời em liền dùngsống rựa chém một nhát vào viên đá làm vỡ mất một góc, rồi lại tìm đờng vềnhà

Thế là buổi ấy ở làng Ang (thôn Thống Nhất, xã Hồng Hóa), làng Cầu(thôn Tân Kiều, xã Yên Hóa) và làng Phôốc Lác ngời thì ốm đau la liệt, mùamàng làm ra bị voi và lợn rừng về phá, hổ thì về làng vào nhà bắt ngời đem lênrừng ăn thịt, làm cho xóm làng rộn lên Ba làng liền cho ngời đi xem bói khắp nơi,

và các thầy bói đều nói giống nhau là: Trong làng có hai ngời đến chỗ Pụt ở quấyphá rồi mang đi hai ông đến một thác nớc rồi bỏ về làm cho Ngài giận Bây giờlàng nên đến chỗ thác nớc đó mà thờ phụng tế lễ cho Ngài

Ngời đi bói về, hỏi lại trong làng có ai đi đâu, có gặp Pụt hiện lên ở chỗnào không? Thì biết có hai anh em nhà ấy đã lên đến chỗ Pụt ở trên lèn ôôngNgoi mang đi hai ông đem xuống thác nớc ở Dác Dòn [28; 51] Ba làng bèn

đến thác nớc đó lập bàn thờ thờ Ngài Từ đó, Thác nớc Dác Dòn đợc gọi làThác Pụt [28; 52] Lập bàn thờ Ngài xong, ba làng mới yên ổn làm ăn Từ đó,

đến ngày rằm, mồng Một hàng tháng, nhân dân từ các làng đến Thác Pụt thaynớc thắp hơng cầu nguyện, cầu cho xóm làng yên ổn, làm ăn giàu có

Sau đó, cả tổng Cơ Sa đều đến cầu Ngài phù hộ cho dân làng yên ổn, làm

ăn giàu có, rồi cứ hai năm một lần, đến ngày Rằm tháng Ba, hàng tổng đem lễvật tinh sạch đến đồi Dác Púng làm sạp, xuống Thác Pụt, rớc Ngài lên làmchay cầu Ngài phù hộ ma thuận gió hòa, dân làng bình yên, làm ăn giàu có.Làm chay xong, cho ngời lên tháo dỡ sạp Tuy nhiên khi tháo dỡ sạp thì tháo

dỡ không đợc, ngời nào lên tháo dỡ xong lại tai nạn, cho nên hàng Tổng xinNgài cho dân làng sửa cái sạp lại thành Nhà Chùa thờ Ngài luôn tại đó Ngàilinh thiêng lắm Ai đi ngang qua nhà Chùa hay thác Pụt không lấy nón, mũ

đội trên đầu xuống thì về nhà bị đau ốm liền, đem lễ vật tinh khiết đến nhàChùa hay Thác Pụt thủ tạ với Ngài là lành ngay

Có một lần quan Tây đồn Quy Đạt đi ngang qua thác Pụt thấy dới chânbàn thờ ngài có con chim cu, lấy súng bắn, về bị ốm đau sau đó bị chết Ai

đến thác Pụt cầu con có con, cầu của đợc của, cầu sống lâu đợc sống lâu, cầugì đợc Ngài cho nấy Nhiều cặp vợ chồng cới nhau lâu ngày không có con,

Trang 31

chồng ăn chay nằm mộng ba đêm ngày, rồi đem lễ vật đến cầu Ngài về, thế là

vợ có mang rồi sinh con

Từ đó đến nay, ngời Nguồn mới có phong tục đi lễ ở Thác Pụt, cầu xin con,xin của … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Cũng từ đó mới có Thác Pụt ở Dác Dòn, có nhà chùa ở Cồn Púng

Từ khi có Thác Pụt thờ mời hai ông Pụt thì hàng năm ngời Nguồn tổ chức

lễ hội Rằm tháng Ba Theo tục lệ của ngời Nguồn ngày xa, lễ hội Rằm tháng

Ba đợc tổ chức theo một tiến trình lễ hội khá hoàn chỉnh gồm các lễ thức củacác phần Lễ và phần Hội, rồi có lễ Tết Rằm tháng Ba, lễ phúng viếng Pụt tạiThác Pụt Pụt là vị tín ngỡng tâm linh duy nhất của ngời Nguồn từ xa đến nay,nên các tôn giáo khác nh Phật giáo, Công giáo … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, không du nhập đợc vào tínngỡng tâm linh của ngời Nguồn

Cứ thế, đến Rằm tháng Ba, dân làng lại làm lễ rớc, cúng tế thần Pụt; lâungày tạo thành thói quen theo thờng lệ hàng năm và trở thành một lễ hội lớnnhất của các c dân huyện Minh Hóa

Có thể nói, lễ hội Rằm tháng Ba của ngời Nguồn là một lễ hội lớn và tiếntrình lễ hội đợc thể hiện khá hoàn chỉnh và trớc tiên là sự khái quát trong phần

lễ của lễ hội Rằm tháng Ba của ngời Nguồn

2.3.2 Phần lễ

Theo nh lời kể của các cụ cao niên ở huyện Minh Hóa [35; 12], lễ hộiRằm tháng Ba đợc tổ chức theo một tiến trình lễ hội khá hoàn chỉnh, gồm các

lễ thức của các phần lễ Rằm tháng Ba khá điển hình

Nói một cách ngắn gọn và khái quát thì phần Lễ nó bao gồm: dâng hơng,

tế Thần Pụt và bao gồm hành sơ hiến lễ, hành á hiến lễ, rồi hành chung hiến lễ

và hóa văn chúc … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,ngoài ra còn có lễ túc trực … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,

Lễ Rằm tháng Ba đợc tiến hành nh sau: vào giờ tốt đã đợc chọn của ngày 14,các làng chuẩn bị lễ vật, kiệu, hơng án, các vị s tăng, chức sắc trọng vọng của làng

và các đinh khiêng kiệu, cờ lọng … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Đến đền Thác Pụt (tức khe cúi trớc đây) làm lễdâng hơng thành kính xin đợc rớc Pụt về thờ ở làng mình

Sau lễ dâng hơng khoảng 30 phút tại Thác Pụt là lễ rớc Thần Pụt Đi đầu của

đám rớc là các trai đinh tuổi từ 20 đến 25 (quần quấn xà cạp, áo trắng viền đỏ), theosau là 12 ngời cầm cờ phật (cũng là nam giới), tiếp đến là kiệu Thần Pụt

Đi hai bên kiệu là sáu vị s tăng, các chức sắc trong làng và các vị hộtống, tiếp sau là phờng nhạc và cuối cùng là già, trẻ, gái trai trong làng tạothành đám rớc nào cờ, lọng, kiệu, chiêng, trống phờng nhạc, quan tăng, hơng

Trang 32

chức, dân đinh … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Thể hiện sức mạnh của cộng đồng và sự hòa quyện giữa tínngỡng tôn giáo và tín ngỡng đa thần của ngời Việt

Sau khi về đến chùa làng Tân Kiều (xóm chùa trớc đây), đám rớc đi mộtvòng quanh sân làm lễ thỉng hơng án Thần Pụt vào chùa, tiếp đến là lễ Đại tế

Lễ Đại tế là phần lễ trang trọng nhất trong hệ thống phần Lễ

Mở đầu bằng lễ dâng hơng, lễ vật dâng cúng gồm: hoa quả, xôi, chè, bánh,trái, hơng, đèn… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, (theo lễ vật của phật giáo) Các vị s tăng, hơng chức cùng cácban tế và phụ tế tiến hành các nghi thức tế lễ (nh đã nêu ở phần Đại tế), cuối cùng

là phần dâng hơng, niệm phật cầu linh… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, của dân làng suốt trong ba ngày lễ túctrực Sau ba ngày lễ trực, dân làng lại tiến hành lễ rớc Thần từ chùa làng về lạiThác Pụt (nghi lễ rớc về cũng nh nghi lễ rớc lần đầu) Nh vậy, đó là những hình

ảnh tổng thể, những nét chính, hình ảnh chính trong tổng quan của phần lễ trong lễhội Rằm tháng Ba của ngời Nguồn ở Minh Hóa

Nh vậy, chúng ta có thể đã hình dung đợc cảnh cờ, lộng, đèn hoa, và conngời trong phần Lễ trong lễ hội Rằm tháng Ba và có thể nói rằng: Rớc trong lễhội Rằm tháng Ba (tháng của mùa xuân) chính là một cuộc du xuân thànhkính Trong lễ rớc nào cờ, lọng, kiệu, tiếng trống, chiêng rộn rã vui mà cổkính phản ánh những nét văn hóa cổ truyền, văn hóa xa, tôn vinh cái cổ kínhtrong văn hóa hiện đại; là phần tâm linh có khả năng thu hút đông đảo quầnchúng nhân dân tham gia làm nên phần hồn của lễ hội

2.3.2.1 Lễ Tết Rằm tháng Ba

Tết là nguồn hạnh phúc mong đợi trong cuộc sống của con ngời Có Tếtngời ta mới vui chơi, yêu đời và mới cảm nhận ra cuộc sống này thêm phần ýnghĩa cần thiết

Từ xa, dân ta có nhiều cổ tục do lòng thành kính Tổ tiên, đạo nhân nghĩacủa con ngời và cũng do sự chất phác trong tín ngỡng đa thần, ở nếp sốngnông nghiệp Hay có, mà tệ cũng có; tốt cũng lắm mà xấu cũng nhiều Nhng

đó là phong tục tập quán của bản sắc dân tộc Việt Theo đà tiến hóa chung,những gì xấu ta lợc bỏ Những gì không hợp thời thì không còn tồn tại, tựnhiên trong chuyển hóa đời sống Những tập quán truyền thống có ý nghĩa sâusắc, cần thiết đợc phát huy và khai triển để tiếp tục gìn giữ Đó là điều mà ng-

ời ta ngày nay cần nhận thức

Tết Rằm tháng Ba là lễ ăn tết của ngời Nguồn vào dịp Rằm tháng Ba đợc

tổ chức ở mỗi gia đình ngời Nguồn Đây quả thực là một nét văn hóa điểnhình của cộng đồng ngời Nguồn

Để có bữa ăn tết Rằm tháng Ba vào lúc vừa là mùa xuân tơi đẹp, vừa làmùa giáp hạt tháng ba khó khăn; mỗi gia đình ngời Nguồn phải lo sắm sửa cácthứ: gạo nếp, cá, thịt … đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Trong đó, nhà giàu có thể ngoài xôi, nổ thì gói bánh

Trang 33

ít, bánh rò, bánh chng Nhà nghèo tối thiểu cũng phải có xôi, nổ, thịt hoặc cá.Cha mẹ phải lo đủ tiền bạc cho con để con đi hội Chợ Rằm… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Sáng ngày Rằmtháng Ba, tất cả mọi nhà của ngời Nguồn đều làm cổ bàn xôi, nổ, thịt hoặc cácúng cho ông bà, tổ tiên, rồi con cháu ăn tết, đồng thời có quà đi chúc tết ông

bà cha mẹ đơng sống; con trai mới hỏi vợ cha cới thì mang giỏ xôi, thịt, bánh,

nổ đi tết nhà vợ còn thanh niên thì đi chơi tết thăm bạn bè… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,Rõ ràng, đây làmột nét đặc trng của đồng bào ngời Nguồn mà khó có thể quên

2.3.2.2 Lễ Rằm tháng Ba cúng cầu Pụt tại Thác Pụt và nhà Chùa

Nh đã đề cập từ trớc, Bàn thờ thác Pụt đã có từ lâu, có trớc nhà Chùa.Nhà Chùa thực ra là cái lán làm Chay Tế Pụt sửa lại Nó khác với nhà Chùa

đích thực của văn hóa tôn giáo đạo phật Đức Thích Ca Nh Lai… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Nhà Chùa

đạo phật thờ Phật Thích Ca Nh Lai có ông s, chú tiểu, tăng ni… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng, Còn nhàChùa của ngời Nguồn thì thờ 12 ông Pụt ở lèn ôông Ngoi, chỉ có ông Sại cứ banăm làm lễ cúng cắm keo thay ông Sại khác… đã mang đậm dấu ấn riêng cho vùng,

Ông Sại là ngời đứng ra cúng cầu xin Pụt cho mọi ngời Lời cúng cầukhông phải là những lời tụng kinh, tức là ai cần cầu xin gì thì ông Sại nói cầuxin Pụt cho nấy, rồi xin keo sấp, ngữa để biết Pụt có cho hay không Nếu ôngSại không có thì mình tự đứng ra cúng cầu và xin keo lấy

Tuy vậy, từ sau cách mạng tháng Tám, nhà Chùa đã h hỏng, bãi bỏ thầycúng nên cũng hết lễ làm chay tại Chùa cho đến nay Nhng để hiểu hết giá trịnhân văn sinh thái lễ hội Rằm tháng Ba Căn cứ vào t liệu su tầm đợc, t liệutruyền miệng dân gian mà tôi tiến hành nghiên cứu, su tầm, tôi xin trình bàymột vài nghi thức tiết lễ cơ bản của các lễ trong lễ hội Rằm tháng Ba cúng cầuPụt tại Thác Pụt của ngời Nguồn

Nh thế, lễ hội Rằm tháng Ba cúng cầu Pụt tại thác Pụt của ngời Nguồnvào ngày Rằm tháng Ba (15 tháng ba âm lịch) gồm có: Lễ cúng cầu Pụt hàngnăm ở thác Pụt và lễ làm chay cúng tế Pụt

 Lễ cúng cầu Pụt hàng năm ở thác Pụt:

Pụt là vị thần tổ linh thiêng, chỉ ăn chay, đòi hỏi ngời đến phúng viếngmình cũng phải ăn chay nằm mộng ít nhất cũng ba đêm ngày Nếu không ănchay nằm mộng mà đến phúng viếng Pụt thì Pụt phạt vạ ốm đau mà chết Chonên, trớc ngày Rằm tháng Ba đó ba đêm ngày, ông Sãi và đầy tớ, chánh tổng,phó tổng, lý trởng và các hơng chức trong các làng chung quanh, nhân dân là

đàn ông ai định đi phúng viếng Pụt thì phải đi tắm giặt sạch sẽ, ăn chay, nằmmộng (tức là không nằm với vợ)

Lễ vật đem đến phúng viếng Pụt là đồ chay gồm xôi, cơm, hạt nổ, hoaquả tơi sạch

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thanh Ba (2000), Quảng Bình nớc non huyền diệu, Nxb Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Bình nớc non huyền diệu
Tác giả: Thanh Ba
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2000
2. Báo cáo tham luận tại hội thảo khoa học, về xác định thành phần dân tộc của ngời Nguồn (2004), Viện Khoa học xã hội Việt Nam, UBND tỉnh Quảng Bình, lu trữ UBND huyện Minh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham luận tại hội thảo khoa học, về xác định thành phần dântộc của ngời Nguồn
Tác giả: Báo cáo tham luận tại hội thảo khoa học, về xác định thành phần dân tộc của ngời Nguồn
Năm: 2004
3. Công bố quyết định của ủy ban nhân dân Tỉnh về việc công nhận lễ hội Rằm tháng Ba là hội văn hóa Cấp Tỉnh , Bản tin Minh Hóa, số 08 (2004), Nxb Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố quyết định của ủy ban nhân dân Tỉnh về việc công nhận lễ hộiRằm tháng Ba là hội văn hóa Cấp Tỉnh
Tác giả: Công bố quyết định của ủy ban nhân dân Tỉnh về việc công nhận lễ hội Rằm tháng Ba là hội văn hóa Cấp Tỉnh , Bản tin Minh Hóa, số 08
Nhà XB: NxbSở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Bình
Năm: 2004
4. Mai Ngọc Chừ (1999), Văn hóa Đông Nam á, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Nam á
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
5. Nguyễn Đăng Duy (1996) Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
6. Đinh Thanh Dự (1998), Phong tục và Lễ Hội dân gian Chứt Nguồn – tập 1 - Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (tài liệu viết tay) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục và Lễ Hội dân gian Chứt Nguồn
Tác giả: Đinh Thanh Dự
Năm: 1998
7. Đinh Thanh Dự (2004), Bảo tồn và phát huy vốn văn hóa ngời Nguồn, Nxb ThuËn Hãa- TP HuÕ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy vốn văn hóa ngời Nguồn
Tác giả: Đinh Thanh Dự
Nhà XB: Nxb ThuËn Hãa- TP HuÕ
Năm: 2004
8. Đinh Thanh Dự (2004), Về quan hệ ngời Nguồn và ngời Thổ, (bản thảođánh máy) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quan hệ ngời Nguồn và ngời Thổ
Tác giả: Đinh Thanh Dự
Năm: 2004
9. Đinh Thanh Dự (2004), Văn học dân gian Nguồn, tập 7, Hội văn nghệ dân gian, giải tặng phẩm năm 2004 của hội văn nghệ dân gian Việt Nam (tài liệu viết tay) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Nguồn
Tác giả: Đinh Thanh Dự
Năm: 2004
10. Đinh Thanh Dự (2005), Mấy vấn đề về văn hóa truyền thống Lễ Hội Rằm tháng Ba của ngời Nguồn huyện Minh Hóa (tài liệu viết tay) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn hóa truyền thống Lễ Hội Rằmtháng Ba của ngời Nguồn huyện Minh Hóa
Tác giả: Đinh Thanh Dự
Năm: 2005
13. Đặc san Văn hoá, số 1 (1/2002), Sở Văn hoá Thông tin Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san Văn hoá
14. Nguyễn Quang Hà - Trần Hoàng (1996), Sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung Trung bộ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay địa danh du lịch các tỉnhTrung Trung bộ
Tác giả: Nguyễn Quang Hà - Trần Hoàng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
15. Hội Chợ Rằm tháng Ba Minh Hóa hôm nay, Bản tin Minh Hoá, số 8 (2004), Nxb Sở Văn hóa Thông tin Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Chợ Rằm tháng Ba Minh Hóa hôm nay
Tác giả: Hội Chợ Rằm tháng Ba Minh Hóa hôm nay, Bản tin Minh Hoá, số 8
Nhà XB: Nxb Sở Văn hóa Thông tin Quảng Bình
Năm: 2004
16. Vũ Ngọc Khánh (1999), Tiếp cận kho tàng Folklore Việt Nam, Nxb Văn hãa d©n téc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận kho tàng Folklore Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Vănhãa d©n téc
Năm: 1999
17. Luật di sản văn hóa (2001), Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa
Tác giả: Luật di sản văn hóa
Năm: 2001
18. Lễ Hội truyền thống và hiện đại (1983), Nxb văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ Hội truyền thống và hiện đại
Tác giả: Lễ Hội truyền thống và hiện đại
Nhà XB: Nxb văn hóa
Năm: 1983
19. Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Bình (1998), Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn tỉnh Quảng Bình (1885-1975), tập 1, Nxb Lao động, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào côngnhân và công đoàn tỉnh Quảng Bình (1885-1975)
Tác giả: Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Bình
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1998
20. Đinh Thanh Niêm, Lễ hội Rằm tháng Ba Quy Đạt, (tài liệu viết tay) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Rằm tháng Ba Quy Đạt
21. Đinh Thanh Niêm, Hội Chợ Rằm Quy Đạt, (tài liệu viết tay) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Chợ Rằm Quy Đạt
22. Lê Đình Phúc (1997), Tiền sử Quảng Bình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền sử Quảng Bình
Tác giả: Lê Đình Phúc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w