Tạo môi trường học tập cộng tác giúp cải thiện các khuyết điểm mà các phương pháp truyền thống mang lại như: tạo cho người học khả năng tự tin hơn khi phát biểu ý kiến của mình nhược điể[r]
Trang 1BÀI THU HOẠCH CÁ NHÂN
Môn: Ứng dụng CNTT trong dạy học
Câu 1: Khái niệm về E- learning và chuẩn Scorm
a Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về e-Learning:
+ E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William Horton) + E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông ( Compare Infobase Inc)
+ E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục ( MASIE Center)
+ Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải qua nhiều
kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính ( CBT ) ( Sun Microsystems, Inc )
+ Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân ( e-learningsite)
+"Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả năng cá nhân." (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới e-learning trong doanh nghiệp)
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung e-Learning đều có những điểm chung sau :
• Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
• E-Learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do e-Learning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
• E-Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, e-Learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực e-Learning ra đời
b Chuẩn Scorm:
Có thể coi SCORM là sự kết tinh trí tuệ của cả cộng đồng e-Learning trong nhiều năm qua SCORM là một mô hình tham khảo các chuẩn kĩ thuật, các đặc tả và các hướng dẫn có liên quan đưa ra bởi các tổ chức khác nhau dùng để đáp ứng các yêu cầu ở mức cao của nội dung học tập và các hệ thống thông qua các từ “ilities”
• Tính truy cập được (Accessibility): Khả năng định vị và truy cập các nội dung giảng dạy
từ một nơi ở xa và phân phối nó tới các vị trí khác
Trang 2• Tính thích ứng được (Adaptability): Khả năng cung cấp các nội dung giảng dạy phù hợp với yêu cầu của từng cá nhân và tổ chức
• Tính kinh tế (Affordability): Khả năng tăng hiệu quả và năng suất bằng cách giảm thời gian và chi phí liên quan đến việc phân phối các giảng dạy
• Tính bền vững (Durability): Khả năng trụ vững với sự phát triển của sự phát triển và thay đổi của công nghệ mà không phải thiết kế lại tốn kém, cấu hình lại
• Tính khả chuyển (Interoperability): Khả năng làm cho các thành phần giảng dạy tại một nơi với một tập công cụ hay platform và sử dụng chúng tại một nơi khác với một tập các công cụ hay platform
• Tính sử dụng lại (Reusability): Khả năng mềm dẻo trong việc kết hợp các thành phần giảng dạy trong nhiều ứng dụng và nhiều ngữ cảnh khác nhau
Các phiên bản SCORM ngày càng được hoàn thiện để thực hiện đầy đủ các yêu cầu trên
Câu 2: Phân biệt giáo án và giáo án điện tử.
Giáo án: Là “Kế hoạch và dàn ý giờ lên lớp của giáo viên, bao gồm đề tài của giờ lên
lớp, mục đích giáo dục và giáo dưỡng, nội dung, phương pháp, thiết bị, những hoạt động cụ thể của thầy và trò, khâu kiểm tra đánh giá Tất cả được ghi ngắn gọn theo trình tự thực tế sẽ diễn ra trong giờ lên lớp Giáo án được giáo viên biên soạn trong
giai đoạn chuẩn bị lên lớp và quyết định phần lớn sự thành công của bài học.”
Giáo án điện tử:Là giáo án truyền thống của giáo viên nhưng được đưa vào máy vi tính, giáo án truyền thống nhưng được lưu trữ, thể hiện ở dạng điện tử (trên máy tính)
Khi giáo án truyền thống được đưa vào máy tính thì những ưu điểm, thế mạnh của CNTT sẽ phát huy: lưu trữ, hình thức, chia sẻ, xử lý, quản lý…
Nếu coi giáo án là “kịch bản” thì bài giảng được coi là “vở kịch được công diễn” Bài giảng
là tiến trình giáo viên triển khai giáo án của mình ở trên lớp
Như vậy bài giảng điện tử là bài giảng của giáo viên được thể hiện trên lớp nhờ sự hỗ trợ của các thiết bị điện tử và phương tiện CNTT&TT.
Câu 3: Bài giảng điện tử E-learning là gì?
Bài giảng e-Learning là sản phẩm được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng (authoring tools),
có khả năng tích hợp đa phương tiện (multimedia) gồm phim (video), hình ảnh, đồ họa, hoạt hình, âm thanh, , và tuân thủ một trong các chuẩn, AICC
Bài giảng e-Learning khác hoàn toàn với các khái niệm: giáo án điện tử, bài trình chiếu hoặc bài giảng điện tử (powerpoint) thường gọi
Từ trước đến nay bạn soạn bài giảng bằng PowerPoint thì phải trực tiếp sử dụng nó, còn bài giảng e-Learning thì là một bài giảng hoàn toàn phụ thuộc vào tác động của người học Bài giảng e-Learning có thể dùng để học ngoại tuyến (off-line) hoặc trực tuyến (online) và có
Trang 3khả năng tương tác với người học, giúp người học có thể tự học mà không cần đến thầy dạy, không cần đến trường – lớp Do đó, để soạn 1 bài giảng E-learning phải dự kiến các tình huống xảy ra khi người học tác động vào bài giảng để có phương án xủ lý thích hợp
Có thể nói E-Learning là bài giảng của giáo viên được soạn thảo trên nền web
Câu 4: Một số hình thức về E-learning
Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…
Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người
học: giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp
không đồng bộ (Asynchronous) Giao tiếp đồng bộ
là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy
cập mạng
tại cùng một thời và trao đổi thông tin trực tiếp với
nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video,
nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực
tiếp… Giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà
những người giao tiếp không nhất thiết phải truy
cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các
khoá tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn
đàn Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phải
chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra Học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học
II Một số hình thức E-learning
Có một số hình thức đào tạo bằng E-learning, cụ thể như sau:
1 Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có
sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin
2 Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training) Hiểu theo nghĩa rộng,
thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training
3 Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào tạo sử dụng công
nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp,
Trang 4diễn đàn, e-mail thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình
4 Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối
mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên
5 Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó
người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web
Câu 5 : E- Learning trên thế giới và Việt Nam
I.Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới
E-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới E-learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ ở châu Âu E-learning cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn
Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 - 2004 E-learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả cao Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-learning nên hàng loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về E-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force
Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức được tiềm năng
to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục
Trang 5Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-learning của châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm Ngoài việc tích cực triển khai E-learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE Đây là mạng E-learning của
36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở Châu Âu
Tại châu á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì một
số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh
tế lạc hậu ở một số quốc gia Châu Á Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc,
Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp và dùng để đào tạo nhân viên
II Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning ở Việt Nam
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning ở Việt Nam không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning”
do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai E-learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông, Gần đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng E-learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-learning trên thế giới và ở Việt Nam Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo Tuy các sản phẩm
Trang 6này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển E-learning ở Việt Nam
Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning châu á (Asia E-learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông
Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-learning ở Việt Nam mới chỉ
ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước
Câu 6: Các công cụ cho E- Learning
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều công cụ soạn bài giảng hỗ trợ giáo viên tạo bài giảng
ở các mức độ khác nhau, có hoặc không có hỗ trợ multimedia và tuân thủ các chuẩn về eLearrning
1 MS Producer (Miễn phí)
Website: http://www.microsoft.com/downloads/details.aspx?familyid=1B3C76D5-FC75-4F99-9
Công cụ bổ sung vào bộ MS Office Công cụ giúp đưa thêm multimedia (audio và video) vào các bài trình bày PowerPoint, giúp bài trình bày trở nên sống động gấp nhiều lần
Chúng tôi khuyến cáo mọi trường nên dùng công cụ này
2 LCDS (Miễn phí)
http://www.microsoft.com/learning/tools/lcds/default.mspx
LCDS là công cụ tạo bài giảng E-Learning được phát triển bởi Microsoft Điểm nổi bật của LCDS là giao diện trực quan, đơn giản; do vậy LCDS rất dễ sử dụng Hơn nữa, LCDS hỗ trợ Unicode và hoàn toàn miễn phí
LCDS cho phép xuất bài giảng theo định dạng SCORM 1.2
3 Adobe Presenter
Đây là phần mềm chạy bổ sung cho PowerPoint, hỗ trợ thêm Powerpoint, biến Powerpoint trở thành một công cụ soạn bài giảng multimedia, eLearning dưới dạng Flash rất đơn giản, mạnh mẽ và nhanh chóng Cụ thể là: Giúp đưa và biên tập video, audio, hoạt hình, thuyết minh, câu hỏi trắc nghiệm, tương tác cũng như các phần mềm mô phỏng vào powerpoint
Trang 74 Adobe Authorware
Website: www.adobe.com hoặc http://www.macromedia.com/
Công cụ tạo nội dung học tập của Macromedia Đây là công cụ dễ dùng, tạo được nhiều dạng bài học khác nhau, và mạnh nhất hiện nay
5 Daulsoft Lecture Maker
Phần mềm soạn bài giảng điện tử eLearning dưới dạng multimedia rất tốt
Bản dùng thử tại http://el.edu.net.vn/tools/daulsoft
6 Toolbook
Website: http://www.click2learn.com/
ToolBook là công cụ soạn bài rất mạnh, gồm hai sản phẩm ToolBook Assistant, Toolbook Instructor ToolBook Assistant giúp phát triển các cua học nhanh chóng, không đòi hỏi phải luyện tập, đào tạo nhiều Trong khi đóToolBook Instructor là công cụ soạn bài toàn diện, dành cho nhiều nhà phát triển nội dung khác nhau Với ToolBook, bạn có thể các cua học
có tính tương tác cao với sự tham gia của nhiều đối tượng thông minh, có hỗ trợ mô phỏng
và đánh giá
7 Mindflash Web-Training Software
Website: http://www.mindflash.com
Công cụ soạn bài cho môi trường Web, dựa trên Word, PowerPoint, và Dreamweaver Hỗ trợ hoàn toàn SCORM Giúp quản lý tương tác với SME Có thể tạo, quản lý, và theo dõi được đào tạo phức tạp, chi phí thấp
8 Reload
Website: http://www.reload.ac.uk/
Trang 8Dự án Reload là dự án mã nguồn mở, giúp bạn đóng gói và chỉnh sửa gói SCORM và IMS Content Packaging từ các tài nguyên có trước (tạo bằng Dreamweaver, FrontPage, Flash, etc)
9 Lersus
Website: http://www.lersus.de/content/enu/product-n-solutions/authoring-system/
Lersus hỗ trợ Unicode hoàn toàn, dễ sử dụng và có tính sư phạm cao Phần mềm có thể xuất
ra nhiều định dạng khác nhau tương thích tốt với các LMS/LCMS
10 exe (Mã nguồn mở)
Website: http://exelearning.org/
Công cụ mã nguồn mở này được phát triển bởi đại học New Auckland - New Zealand Giáo viên không cần các kiến thức về HTML, XML có thể phát triển các bài giảng điện tử offline (không cần kết nối vào mạng Internet)sau đó xuất ra dưới dạng các trang Web hoặc một gói tuân theo chuẩn SCORM hoặc IMS Content Packaging Hiện tại, phiên bản mới nhất là 0.15, có thể tải về tại: http://exelearning.org/?q=downloads
11 Crocodille Clips
Website: http://www.crocodile-clips.com
Một tập công cụ giúp giáo viên tạo các thí nghiệm mô phỏng các hiện tượng vật lý, hóa học, cũng như các tính chất trong toán học và tin học Phần mềm được đánh giá rất cao trên thế giới
12 CabriLog
Website: http://www.cabri.com/
Phần mềm giúp các giáo viên dạy toán cấp II và III nhanh chóng vẽ và tìm hiểu được các tính chất thú vị của hình học 2 chiều và 3 chiều
13 CouserLabs
Website: http://www.courselab.com
Trang 9Đứng đầu công cụ chuyên nghiệp, dễ sử dụng cho soạn giáo trình, giáo án, bài test, QA và
Mô hình mô phỏng, chấm điểm Online / Offline
Trong hệ thống các ứng dụng E-Learning, miễn phí / e-commerce đều có khá đẩy đủ tính năng cần thiết để các bạn có thể trải nghiệm Xuất ra được hầu hết các chuẩn trên web như SCORM, IMS, CD/ DVD …
Câu 7: Đề xuất cách kết hợp E-learning và cách dạy học truyền thống như thế nào?
Với mỗi cách học, phương pháp dạy học đều có những ưu – nhược điểm khác nhau Với những ưu điểm của cách dạy học truyền thống và E-learning, chúng ta cần kết hợp tốt hai phương pháp này để có được một hiệu quả đào tạo tốt hơn
Như vậy, chúng ta phải kết hợp cả hai cách học tập: e-Learning và truyền thống để
đem lại hiệu quả cao nhất cho học viên Giải pháp kết hợp này được gọi là BLENDED
SOLUTION.
Mô hình kết hợp
Trang 101 Vai trò người giáo viên: Trong dạy học e-learning cũng như truyền thống, vai trò của người giáo viên là thiết yếu Người giáo viên có thể xuất hiện dưới dạng ảo hay thực tùy nội dung cần giảng dạy
2 Tổ chức những buổi hội thảo, thảo luận qua mạng hoặc trực tiếp tại lớp dưới sự chủ trì của giáo viên (như môn phương pháo dạy học và e-learning chúng ta đang học)
3 Tạo một Room trên mạng để giáo viên và tất cả các học viên có thể tương tác trực tiếp (chat, voice chat nhiều người)
4 Trong dạy học tại lớp truyền thống nên kết hợp chiếu các đoạn phim liên quan đến bài học cho học sinh làm quen dần với công nghệ hiện đại
5 Lên kế hoạch học tập cụ thể, giao bài tập cho học sinh, sinh viên để có thể gặp nhau trao đổi trực tiếp hoặc qua diễn đàn học tập
6 Kiểm tra, đánh giá học sinh có thể dùng hình thức trắc nghiệm tại lớp trên giấy hoặc làm ngay trên máy tính
7 Tăng cường học nhóm, thảo luận nhóm, làm việc theo nhóm và thực hiện các dự án học tập theo nhóm
8 Kiểm tra, đánh giá học sinh theo nhóm học tập
9 Trong lớp học truyền thống, cần tập cho học sinh, sinh viên dần quen với việc tìm tài liệu trên mạng, chia sẻ tài liệu bằng cách cho đề tài, giới thiệu địa chỉ những trang web liên quan, những tài liệu tham khảo
10.Trong các lớp học truyền thống, giáo viên cần đưa công nghệ thông tin vào trong giảng dạy qua các giáo án điện tử, các bản tin, bài viết trên mạng và cả trò chơi điện
tử cho môn học (nếu có)
11.Một lớp học truyền thống làm cho mọi người gần gũi, chia sẻ tình cảm tốt hơn, thân thiện hơn E-learning (100%) có tính ảo, con người ít biểu lộ được tình cảm Tính gắn
bó, hoà đồng, thân thiện cũng tạo môi trường học tập tốt Do đó, nếu kết hợp thì môi trường đó vẫn tồn tại và phát huy trong quá trình học tập Có thể nêu điển hình như