Tìm hiểu về hoạt động đầu tư quỹ BHXH ở Việt Nam hiện nay
Trang 1DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Báo cáo số 197/UBXH12: một số ý kiến của uỷ ban về các vấn đề
xã hội về báo cáo tình hình quản lý và sử dụng quỹ BHXH của chínhphủ
2 BHXH Việt Nam mười năm xây dựng và phát triển 1995-2005,BHXH Việt Nam
3 Báo cáo tổng kết công tác BHXH năm 2003 và chương trình côngtác năm 2004
4 Luật BHXH năm 2007
5 Nghị định số 152/NĐ-CP của chính phủ ban hành hướng dẫn một
số điều của luật BHXH về BHXH bắt buộc
6 Quỹ dài hạn và vấn đề phát triển quỹ lương TS Bùi Văn Hồng
7 Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế quản lýtài chính đối với BHXH Viêt Nam
8 Quyết định số 144/2005/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về việcsửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế quản lý tài chính đối vớiBHXH Việt Nam ban hành kèm theo quyết định số 02/2003/QĐ-TTg
9 Tạp chí bảo hiểm số 09/2005
10.Tạp chí Bảo hiểm số 01/2006
Trang 2Nhưng thực tế hiện nay ở Việt Nam việc quản lý quỹ còn nhiều bấtcập, đặc biệt là phần đầu tư quỹ BHXH-một phần vô cùng quan trọng không thểthiếu được của hệ thống BHXH, chưa phản ánh được hết vai trò, chưa thể hiệnđược hết tầm quan trọng của nó.
Vì vậy, em đã chọn đề tài “Tìm hiểu về hoạt động đầu tư quỹ BHXH ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu với hi vọng nhìn nhận, đánh giá tình
hình quản lý quỹ BHXH ở nước ta, qua đó góp phần nhỏ bé của mình vào việchoàn thiện hệ thống BHXH ở nước ta
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TÔN THỊ THANH HUYỀN đãgiúp đỡ em hoàn thành đề tài nay
Trang 3
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ QUỸ BHXH
I, BHXH và quỹ BHXH Khái niệm, đối tượng, mục đích và chức năng 1.BHXH.
1.1 Khái niệm
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội
BHXH là một loại hình bảo hiểm bắt buộc ở nhiều nước, nó hình thành mối quan hệ giữa 3 bên: bên tham gia bảo hiểm, bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm Bên tham gia bảo hiểm có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động Bên bảo hiểm (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi họ gặp những biến cố là những sự kiện BHXH
Trang 41.2 Đối tượng, mục đích của BHXH.
a, Đ ối t ư ợng của BHXH
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao động,đối tượng của BHXH là thu nhập của người lao động tham gia BHXH bị giảm hoặcmất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người laođộng tham gia BHXH
Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà đốitượng tham gia và đối tượng BHXH là khác nhau Về nguyên tắc tất cả mọi ngườilao động đều có quyền tham gia BHXH, tuy nhiên do đặc điểm kinh tế xã hội cũngnhư khả năng quản lý ở mỗi nước là khác nhau nên đối tượng tham gia BHXH cóphần còn hạn hẹp Còn về đối tượng BHXH, nó cũng được quy định khác nhau ởtừng quốc gia tuỳ theo mức đóng góp và sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước
xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn cácquyền về kinh tế - xã hội và văn hoá, nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triểncon người”
1.3 Chức năng của BHXH.
BHXH có các chức năng sau:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bịgiảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Sự bảo đamthay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao
Trang 5động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiệnquy định của BHXH Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làmgiảm hoặc mất thu nhập, ngừơi lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH vớimức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiếtư, thời điểm và thời hạn đượchưởng phải đúng quy định Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyếtđịnh nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người thamgia BHXH Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sửdụng lao động Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này dùng
để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
Số lượng những người này thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số những ngườitham gia đóng góp Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phânphối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang: phân phối giữa những ngườilao động và người sử dụng lao động, giữa những người lao động khoẻ mạnh đanglàm việc với những người lao động ốm đau phải nghỉ việc… Thực hiện chức năngnày nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội
- Góp phần kích thích ngừơi lao động hăng hái lao động sản xuất nâng caonăng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội Khi khoẻ mạnh tham gialao động sản xuất, ngừơi lao động được chủ sử dụng lao động trả cho một khoảntiền nhất định Khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có
BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Vì thế cuộc sống của họ và giađình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa Do đó, người lao động luôn yêntâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc Từ đó, họ sẽ tích cực lao độngsản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Chức năng này biểu hiệnnhư một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cánhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội
- Gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa ngườilao động với xã hội Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sửdụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiềncông, thời gian lao động … Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điềuhoà và giải quyết Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có nàyđều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ Từ đó làm cho họ hiểunhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau Đối với Nhà nước và xã hội, chi choBHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết đượckhó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sảnxuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn
Trang 62.Quỹ BHXH.
2.1 Khái niệm.
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhànước Quỹ có mục đích và chủ thể riêng: mục đích của quỹ là dùng để chi trả chongười lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các sự kiện BHXH; chủ thể củaquỹ BHXH bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và sự tham gia hỗ trợcủa nhà nước
Như vậy quỹ BHXH hoàn toàn tách biệt với ngân sách nhà nước, có vai tròriêng khác biệt hoàn toàn với ngân sách nhà nước Có thể nói quỹ BHXH là quỹcủa người lao động, do người lao động đóng góp và hưởng thụ quyền lợi từ quỹ,những người lao động nào không phải là thành viên của quỹ thì không được hưởngquyền lợi từ quỹ.,
2.2 Đặc điểm của quỹ BHXH
Quỹ BHXH có những đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời, màquỹ ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho
người lao động và gia đình họ khi họ gặp các sự kiện BHXH Vì vậy nguyên tắcquản lý quỹ BHXH là cân bằng thu chi
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả, vừa mang tínhchất không hoàn trả Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ, người lao động là đối tượngtham gia và đóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng đựơc nhận trợ cập,mức trợ cấp của mỗi người là khác nhau tuỳ thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro
mà họ gặp phải Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng tham gia và đóng gópBHXH nhưng có người được hưởng (người sử dụng lao động có tham gia đóng gópnhưng không được hưởng), có người được hưởng ít, có người được hưởng nhiều.Chính từ đặc điểm này nên một số đối tượng được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXHthường lớn hơn nhiều so với mức đóng góp của họ và ngược lại Điều đó thể hiệntính chất xã hội của toàn bộ hoạt động BHXH
- Qúa trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chínhđối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc Đặc điểm này xuất phát từchức năng cơ bản nhất của BHXH là bảo đảm an toàn về thu nhập cho người laođộng Vì nguồn quỹ mà người lao động đóng góp và tích luỹ lại trong suốt quá
Trang 7trình lao động Nếu xem xét tại một thời điểm cụ thể nào đó, quỹ BHXH luôn tồntại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi để chi trả trong tương lai Lượng tiền này cóthể biến động tăng và cũng có thể biến động giảm do mất an toàn, giảm giá trị doyếu tố lạm phát Do đó, bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH đã trở thành yêucầu mang tính nguyên tắc trong quá trình hoạt động của BHXH
- Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH Nó
là khâu tài chính trung gian cùng với ngân sách Nhà nước và tài chính doanhnghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia Tuy nhiên mỗi khâu tài chínhđược tạo lập, sử dụng cho một mục đích riêng và gắn với một chủ thể nhất định, vìvậy chúng luôn độc lập với nhau trong quản lý và sử dụng Thế nhưng tài chínhBHXH, ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp lại có quan hệ chặt chẽ vớinhau và đều chịu sự chi phối của pháp luật Nhà nước
- Sự ra đời và phát triển của quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ pháttriển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ nhấtđịnh của đất nước.Kinh tế - xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiệnđầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao độngngày càng được nâng cao Đồng thời khi kinh tế - xã hội phát triển, người lao động
và ngươì sử dụng lao động sẽ có thu nhập cao hơn, do đó càng có điều kiện thamgia và đóng góp BHXH,…
Trang 8Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng laođộng hiện vẫn còn 2 quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mứclương cá nhân và qũy lương của cơ quan, doanh nghiệp Quan điểm thứ hai lại nêulên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chungtrong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp.
Sau đây là một vài ví dụ về mức đóng góp BHXH ở một số nước.
người lao động sovới tiền lương(%)
Tỉ lệ đóng gópcủa người sửdụng lao động sovới quỹ lương(%)CHLB Đức
ốm đau, thai sản
Bù thiếu
14.8 - 18.811.823.02.85 - 9.259.55
916.3 - 22.619.686.56.85 - 8.0512.7515
(Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới).
3 Nội dung của quản lý quỹ BHXH.
Quản lý quỹ BHXH có 3 nội dung:
- Quản lý hoạt động thu quỹ BHXH BHXH thu từ các đối tượng sau:
Thu từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động
Xuất phát từ các quan điểm BHXH, nguồn tài chính dùng để tài trợ trangtrải cho các khoản chi trả trợ cấp BHXH về cơ bản được lấy từ sự đóng góp củangười lao động và người sử dụng lao động Đóng góp của người lao động được xácđịnh theo một tỉ lệ phần trăm nhất đinh so với tiền lương, còn mức đóng góp củangười sử dụng lao động được xác định bằng một tỉ lệ so với tổng quỹ lương đượcbảo hiểm
Trang 9Về nguyên tắc mức đóng của ngừơi lao động và người sử dụng lao độngcần phải được xác định một cách cụ thể, không được quá thấp nhưng cũng khôngđược quá cao.
Thu từ nhà nước
Nhà nước đóng góp vào quỹ BHXH dưới các hình thức: bù thiếu, tài trợ chomột hoặc một vài chế độ BHXH Nhà nước luôn có đóng góp nhất định cho quỹBHXH từ ngân sách nhà nước Đây là một nguồn thu quan trọng để hỗ trợ các hoạtđộng chi trả trợ cấp cho người lao động, giúp quỹ BHXH thực hiện tốt các vấn đề
xã hội
Thu từ hoạt động đầu tư
Thu từ hoạt động đầu tư quỹ BHXH góp một phần quan trọng để trang trảicác khoản chi của quỹ đặc biệt là các khoản chi dài hạn Lãi suất của hoạt động đầu
tư sẽ được sử dụng để trả lương cho bộ máy BHXH, góp phần bù đắp phần trượtgiá của đồng tiền và đảm bảo tăng trưởng cho quỹ, giảm gánh nặng đóng góp chongười lao động và người sử dụng lao động
Thu từ các nguồn khác như thu do sự đóng góp của những người hảo tâm,
từ các tổ chức phi chính phủ; thu từ tiền phạt BHXH của những người, tổ chứckhông tuân thủ pháp luật BHXH trong việc thực hiện nghĩa vụ BHXH; thu từ việcthanh lý tài sản cố định của cơ quan BHXH
Việc quản lý thu qũy BHXH có vai trò quan trọng hàng đầu bởi lẽ có thựchiện tốt khâu này mới có một quỹ BHXH lớn để từ đó đáp ứng được khả năng chi
trả BHXH; đồng thời đảm bảo công bằng giữa những người tham gia BHXH, đảmbảo thực hiện đúng mục tiêu chính sách BHXH đã đặt ra Ngoài ra quản lý thuBHXH tốt sẽ góp phần tăng cường cho hoạt động xây dựng các công trình phúc lợi
xã hội
Muốn thực hiện tốt khâu này cần xác định và quản lý chính xác được sốlượng đối tượng đóng BHXH đảm bảo thu đúng thu đủ tránh thất thoát
- Quản lý hoạt động chi quỹ BHXH.Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu
để chi trả cho các mục đích sau:
+ Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH
+ Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
Trang 10+ Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã nêu trong Côngước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm:
Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Tuy nhiên khi xây dựng các chế độ BHXH cần phải dựa vào những cơ sởkinh tế - xã hội như: Cơ cấu kinh tế quốc dân, tiền lương và thu nhập của người laođộng, hệ thống tài chính của quốc gia đó,… Đồng thời tuỳ từng chế độ khi xâydựng còn phải tính đến các yếu tố sinh học, yếu tố môi trường như: tuổi htọ bìnhquân của người lao động, nhu cầu dinh dưỡng, xác suất tai nạn lao động và tử vong,
độ tuổi sinh đẻ của lao động nữ, môi trường lao động, Và đối với từng chế độ cầnphải có mức trợ cấp hợp lý với mức đóng
Việc quản lý chi quỹ BHXH cần phải đảm bảo nguyên tắc là chi đúng, chi
đủ và kịp thời đảm bảo công bằng cho các đối tượng hưởng Các khoản chi chí cho
sự nghiệp quản lý BHXH đòi hỏi phải tiết kiệm và hiệu quả
- Quản lý hoạt động đầu tư quỹ BHXH
Đây là hoạt động rất quan trọng góp phần cho việc quản lý quỹ BHXH đạthiệu quả cao Mục đích của hoạt động này là để trang trải chi phí cho việc quản lýBHXH, góp phần làm tăng trưởng quỹ BHXH
4.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư quỹ BHXH
Trang 11- Hiệu suất đầu tư quỹ BHXH
Hiệu suất Tổng số tiền lãi đ ầu t ư
đầu tư Tổng số tiền đem đầu tư
Hiệu suất đầu tư cho biết hiệu quả của hoạt động đầu tư Đây là một chỉ tiêuquan trọng để đánh giá kết quả của hoạt động đầu tư có tốt hay không Nếu hiệusuất đầu tư quỹ BHXH càng gần tới 1 thì hoạt động đầu tư quỹ càng hiệu quả vàngược lại nếu càng gần về 0 thì hiệu quả càng thấp, và chỉ tiêu này sẽ là dấu hiệucảnh báo cho hoạt động đầu tư để từ đó cơ quan BHXH sẽ có những điều chỉnhnhất định
Hiệu quả sử tổng số tiền đem đầu tư
dụng quỹ tổng quỹ tại thời điểm đem đầu tư
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng nguồn quỹ BHXH trong hoạt độngđầu tư Nếu chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ càng có nhiều tiền nhàn rỗi từ quỹ được
sử dụng đầu tư vào nền kinh tế, chứng tỏ việc sử dụng quỹ là có hiệu quả
tổng lãi đầu tư
T =
tổng quỹ tại thời điểm tính lãi
Chỉ số này cho biết hoạt động đầu tư đóng góp vào quỹ bao nhiêu % và chobiết hiệu quả sử dụng nguồn quỹ BHXH để đầu tư
- Hiệu quả xã hội của hoạt động đầu tư quỹ BHXH
Chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu nhỏ như
+ Số người có việc làm do hoạt động đầu tư quỹ BHXH mang lại, và tốc
độ tăng số lao động này qua các năm Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội quantrọng của hoạt động đầu tư quỹ BHXH cho thấy sự đóng góp của nó vào vấn đềgiải quyết việc làm cho xã hội Chỉ tiêu này cho biết số tuyệt đối và số tương đối vềlao động trong hoạt động đầu tư quỹ, đồng thời cho biết quy mô bộ máy quản lýđầu tư của quỹ BHXH
Trang 12+ Số tiền lãi từ hoạt động đầu tư quỹ đóng góp vào quỹ BHXH, tỉ lệ sốtiền lãi trên số người lao động tham gia quỹ BHXH và tỉ lệ % số tiền lãi đó so vớitổng quỹ Chỉ tiêu này cho biết hoạt động đầu tư đóng góp bao nhiêu cho người laođộng tham gia BHXH, cho biết lợi ích mà hoạt động đầu tư quỹ mang lại là baonhiêu so với số tiền mà họ đóng góp.
Các chỉ tiêu này là những căn cứ quan trọng để cơ quan BHXH cónhững điều chỉnh phù hợp sao cho hoạt động đầu tư được hiệu quả hơn
Trên đây là những lý thuyết cơ bản làm căn cứ để BHXH Việt Nam làm căn cứ tiếnhành các hoạt động đầu tư quỹ BHXH của mình
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỸ BẢO HỂM XÃ
HỘI VIỆT NAM TỪ KHI HOẠT ĐỘNG ĐẾN NAY.
1. Vai trò của hoạt động đầu tư quỹ BHXH.
Đầu tư vốn nhàn rỗi là một mặt hoạt động bảo toàn và tăng trưởng quỹBHXH Ở nước ta quỹ BHXH được hình thành và hoạt động độc lập từ cuối năm
1995, thay cho trước đó là một khoản thu và chi của ngân sách nhà nước Đầu tưvốn nhàn rỗi đã trở thành một trong 3 hoạt động chính của quỹ BHXH Có rấtnhiều lý do dẫn đến cần phải đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH nhưng có những lý dochủ yếu sau:
- Hiện nay, mặc dù các chế độ ngắn hạn luôn có kết dư song trong các chế
độ dài hạn như hưu trí và tử tuất thì tốc độ tăng của thu luôn thấp hơn tốc độ tăngcủa chi, như vậy trong vòng 30 năm tới nếu chỉ dựa vào các khoản thu thì quỹ có
Trang 13nguy cơ mất cân đối và không ổn định vì vậy cần phải có biện pháp bảo toàn vàtăng trưởng quỹ.
- Do quỹ BHXH hiện nay được hạch toán theo mô hình tồn tích, mỗi mộtlao động sau một khoảng thời gian đóng bảo hiểm nhất định mới được hưởng trợcấp, như vậy trong khoảng thời gian đó, quỹ luôn tích luỹ một lượng tiền rất lớn,nếu không tích cực đầu tư thì yếu tố lạm phát sẽ làm giảm giá trị của tổng quỹ
- Đầu tư quỹ BHXH để có kinh phí trang trải các hoạt động của cơ quanBHXH Theo Quyết định số 144/2005/QĐ-TTg quy định nguồn kinh phí hoạt độngcủa hệ thống BHXH Việt Nam hàng năm được trích từ tiền sinh lời do thực hiệnbiện pháp đầu tư bảo toàn các quỹ theo tỉ lệ phần trăm trên số thực thu BHXH vàBHYT hàng năm Tỉ lệ trích là 3,6% và ổn định trong 3 năm 2005-2007
- Khi quỹ được tăng trưởng thì ngân sách Nhà nước không phải bù thiếu do
sự mất cân đối của các quỹ thành phần, do đó hoạt động đầu tư giúp giảm gánhnặng cho ngân sách Nhà nước
- Quỹ BHXH là một khâu tài chính trung gian cùng với ngân sách Nhànước và tài chính doanh nghiệp hinh thành nên một hệ thống tài chính quốc gia,chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh thế mạnh của hệ thống tài chínhquốc gia Vì vậy cần phải thực hiện đầu tư tăng trưởng quỹ để bổ sung vào nguồnquỹ BHXH cho lớn mạnh hơn
- Hơn nữa, “cổ đông” của quỹ là những người lao động và người chủ sửdụng lao động, nếu hoạt động đầu tư quỹ BHXH có hiệu quả thì họ sẽ có nhiềuniềm tin hơn vào sự an toàn của quỹ, và sẽ ủng hộ cho sự phát triển của quỹ Đây
sẽ là động lực lớn mạnh cho sự phát triển của quỹ BHXH
- Nâng cao hiệu quả đầu tư sẽ hạn chế được nguy cơ tăng mức đóng củaquỹ BHXH
- Nâng cao hiệu quả đầu tư tức là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của quỹnói riêng và nguồn vốn của xã hội nói chung
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư quỹ BHXH.
Hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
- Hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về đầu tư nói riêng sẽ
là cơ sở đầu tiên để hoạt động đầu tư quỹ được thực hiện có hiệu quả hay không
Trang 14- Đặc điểm của thị trường vốn: khi nền kinh tế phát triển ổn định, các hoạtđộng đầu tư sẽ được thuân lợi rất nhiều, các nhà đầu tư yên tâm hơn khi bỏ mộtlượng vốn lớn vào trong lưu thông, làm gia tăng giá trị của đồng vốn ban đầu, vàkhi đó quỹ BHXH sẽ được đầu tư vào nhiêu lĩnh vực hơn.
- Sự phát triển của các loại hình bảo hiểm thương mại khác tương tự nhưBHXH có tính ưu việt hơn sẽ là những đối thủ cạnh tranh khá là quyết liệt đối với
sự phát triển của quỹ BHXH nói chung và đối với hoạt động đầu tư nói riêng
- Quy mô quỹ BHXH: nếu quy mô quỹ lớn thì quỹ có thể đầu tư vào cáclĩnh vực có độ rủi ro cao, thu được lãi cao Ngược lại nếu quy mô quỹ nhỏ thì quỹchỉ có thể đầu tư vào các lĩnh vực có độ an toàn cao hơn và phải chịu mức lãi thấphơn
- Chính sách của Nhà nước: Nhà nước quy định danh mục đầu tư nhằmđảm bảo an toàn cho quỹ, đảm bảo cho quỹ có khả năng chi trả trong những nămnghiệp vụ tiếp theo Một chính sach BHXH quy định về hoạt động đầu tư của Nhànước phù hợp là nhân tố quan trọng làm tăng trưởng quỹ
- Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ trong hoạt động đầu tư: để hoạtđộng đầu tư hiệu quả thì rất cần thiết phải có những người am hiểu về thị trường tàichính của Việt Nam Có như vậy mới phân tích được loại hình đầu tư noà là phùhợp trong hiện tại, vừa an toàn vừa có lãi, đồng thời họ sẽ có những kiến nghị vớicấp trên về việc thay đổi quy định đầu tư cho thích ứng với thực tế
- Điều kiện làm việc và quyền lợi của người cán bộ BHXH được tốt thì họ
sẽ có điều kiện phát huy tốt khả năng lao động sáng tạo của mình
Khi môi trường vi mô và vĩ mô ổn định thì hoạt động đầu tư sẽ rất hiệu quả,
và ngược lại nếu hai môi trường này có nhiều biến động thì hoạt động đầu tư cũng
có những biến động và trở nên kém hiệu quả Vì vậy khi đã xác định được nhữngyếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của quỹ BHXH thì Chính phủ và cơ quanBHXH cần có những biện pháp hạn chế những tác động xấu và tận dụng những tácđộng tôt từ môi trường xung quanh
3.Thực trạng hoạt động đầu tư quỹ BHXH Việt Nam từ khi bắt đầu đi vào hoạt động đến nay.
Theo luật BHXH năm 2007 và Nghị định 152/NĐ-CP của Chính phủ thìquỹ BHXH được sử dụng đầu tư vào các lĩnh vực sau:
Trang 15a) Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của Ngân hàngThương mại của Nhà nước;
b) Cho Ngân hàng Thương mại của Nhà nước vay;
c) Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia;
d) Đầu tư vào một số dự án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủquyết định
Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo toàn
và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội từ tiền tạm thời nhàn rỗi Hoạt động đầu tư từquỹ bảo hiểm xã hội phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết.Tiền sinh lãi từ hoạt động đầu tư hàng năm được phân bổ: trích kinh phí quản lýcủa hệ thống BHXH Việt Nam, trích quỹ khen thưởng và phúc lợi, phần còn laiđược bổ sung vào các quỹ bảo hiểm
Hiện nay, BHXH Việt Nam mới chỉ thực hiện các biện pháp đầu tư nhưmua trái phiếu, tín phiếu, kì phiếu, công trái của Kho bạc Nhà nước và các ngânhàng thương mại của Nhà nước; cho ngân sách Nhà nước vay; số dư của quỹBHXH Việt Nam gửi tại hai tài khoản tiền gửi của Kho bạc Nhà nước và Ngânhàng Nông nghiệp; chưa thực hiện đầu tư vào một số dự án có nhu cầu về vốn dothủ tướng Chính phủ quyết định
Về lãi suất đầu tư, lãi suất của các khoản cho hệ thống Ngân hàng thươngmại Nhà nước, quỹ hỗ trợ phát triển, Ngân hàng chính sách theo lãi suất thị trường
được ngân hàng Nhà nước công bố, lãi suất cho ngân sách Nhà nước vay, muacông trái, trái phiếu Chính phủ do Chính phủ quyết định
Tính đến hết ngày 31/12/2006, quỹ BHXH đầu tư hơn 50 ngàn tỉ đồng với tỉ
lệ phân bổ tài sản như sau:
Bảng 2: Danh mục đầu tư quỹ BHXH (tính đến hết ngày 31/12/2006)
(tỉ đồng)
Cơ cấu(%)