1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIAO AN BOI DUONG VAN 8

80 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cụm văn bản truyện ký Việt Nam hiện đại (Văn học hiện thực 1930-1945)
Tác giả Lu Thị Huê
Trường học THCS Phong Khê
Thể loại Tư liệu bồi dưỡng
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 133,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sù xuÊt hiÖn cña c¸c giai cÊp t s¶n vµ tiÓu t s¶n thµnh thÞ nh÷ng t×nh c¶m, nh÷ng thÞ hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lu văn hoá đông tây là nguyên nhân chính làm cho phong trào thơ mớ[r]

Trang 1

TƯ LIỆU BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

Truyện ngắn của ông trong trẻo mà êm dịu Văn của ông nhẹ nhàng mà thấmsâu, mang d vị man mác buồn thơng, vừa ngọt ngào, vừa quyến luyến

Ông để lại sự nghiệp đáng quý: về thơ: Hận chiến trờng, sức mồ hôi, đi giữamùa sen Truyện: Ngậm ngải tìm trầm, Xuân và Sinh

2 Tác phẩm:

- Tôi đi học in trong tập truyện ngắn Quê mẹ(1941) thuộc thể loại hồi ký ghilại những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ trong buổi tựu trờng

II/ Phân tích tác phẩm

1 Tâm trạng của chú bé trong buổi tựu trờng

a Trên đờng tới trờng:

- Là buổi sớm đầy sơng thu và gió lạnh chú bé cảm thấy mình trang trọng và

đứng đắn trong chiếc áo vải dù đen dài – Lòng chú tng bừng, rộn rã khi đợc mẹ âuýem nắm tay dắt di trên con đờng dài và hẹp – Cậu bé cảm thấy mình xúc động,

bỡ ngỡ, lạ lùng – Chú suy nghĩ về sự thay đổi – Chú bâng khuâng thấy mình đãlớn

b Tâm trạng của cậu bé khi đứng trớc sân trờng

- Ngạc nhiên, bỡ ngỡ, vì sân trờng hôm nay thật khác lạ, đông vui quá - Nhớlại trớc đâythấy ngôi trờng cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng Nhng lần này lạithấy ngôi trờng vừa xinh xắn, oai nghiêm đĩnh đạc hơn – Chú lo sợ vẩn vơ, sợ hãikhép nép bên ngời thân – Chú cảm thấy trơ trọi, lúng túng, vụng về – Khi nghe

ông đốc gọi tên, chú bé giật mình, lúng túng , tim nh ngừng đập oà khóc nức nở

c Tâm trạng của cậu bé khi dự buổi học đầu tiên.

- Khi vào lớp học, cảm xúc bâng khuâng, hồi hộp dâng lên man mác tronglòng cậu Cậu cảm thấy một mùi hơng lạ bay lên Thấy gì trong lớp cũng lạ lạ hayhay rồi nhìn bàn ghế rồi lạm nhận đó là của mình

2 Hình ảnh ngời mẹ

- Hình ảnh ngời mẹ là hình ảnh thân thơng nhất của em bé trong buổi tịu ờng Ngời mẹ đã in đậm trong những kỷ niệm mơn man của tuổ thơ khiến cậu bénhớ mãi Hình ảnh ngời mẹ luôn sánh đôi cùng nhân vật tôi trong buổi tựu trờng.Khi thấy các bạn mang sách vở, tôi thèm thuồng muồn thử sức mình thì ngời mẹ cúi

tr-đầu nhìn con, cặp mắt âu yếm, giọng nói dịu dàng “thôi để mẹ cầm cho ” làm cậu

bé vô cùng hạnh phúc Bàn tay mẹ là biểu tợng cho tình thơng, sự săn sóc động viênkhích lệ Mẹ luôn đi sát bên con trai , lúc thì cầm tay, mẹ đẩy con lên phía trớc , lúcbàn tay mẹ nhẹ nhàng xoa mái tóc của con

III/ Cách xây dựng truyện

Trang 2

1 Phơng thức biểu đạt

2 Bố cục :

Đoạn 1: Từ đầu rộn rã (Hồi tởng kỷ niệm ngày đầu tiên tới trờng)

Đoạn 2: Tiếp ngọn núi(Kỷ niệm trên đờng tới trờng)

Đoạn 3: Tiếp ngày nữa (Kỷ niệm trớc sân trờng)

Đoạn 4: Còn lại (Nhớ lại kỷ niệm trong buổi học đầu tiên)

IV/ Chất thơ trong truyện ngắn

a Chất thơ đợc thể hiện trong cốt truyện: Dòng hồi tởng, tâm trạng của nhânvật tôi ở những thời điểm khác nhau

b Chất thơ đợc thể hiện đậm đà qua những cảnh vật , tâm trạng, chi tiết dạtdào cảm xúc

c Giọng văn nhẹ nhàng, trong sáng, gợi cảm

d Chất thơ còn thể hiện ở những hình ảnh so sánh tơi mới giàu cảm xúc

Quóng đời ấu thơ là quóng đời ngọt ngào và nhiều kỷ niệm nhất của con người

Đú là những năm thỏng tràn đầy hạnh phỳc trong tỡnh thương của cha mẹ và nhữngngười thõn Song khụng phải ai cũng cú một thời thơ với những kỷ niệm ngọt ngàonhư vậy Nhà văn Nguyờn Hồng của chỳng ta đó phải nếm trải một tuổi thơ đầy cayđắng, uất hận và buồn tủi, đúi khổ, lam lũ … Quóng đời thơ ấu ấy được nhà vănghi lại đầy cảm động qua những trang tự truyện đầm đỡa nước mắt và sự căm giậntrong “Những ngày thơ ấu” Cuốn tiểu thuyết này được nhà văn viết năm 20 tuổigồm 9 chương thấm đẫm tinh thần nhõn đạo sõu sắc đó làm rung động bao tõm hồnbạn đọc vỡ “Nú là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” Chương 4 củacuốn hồi ký này là đoạn trớch “trong lũng mẹ”

II – Vài nột về tỏc giả, tỏc phẩm

1) Tỏc giả: Nguyờn Hồng (1918 – 1982) ở Nam định

- Mồ cụi bố vỡ bố bị ho lao nờn mất sớm, nghà nghốo, người mẹ trẻ nghốo khổ

bị khinh rẻ phải tha phương cầu thực NH phải thụi học khi vừa đậu xong tiểu học

và bắt đầu cuộc đời đúi khổ, lam lũ, lang thang đầu đường xú chợ, chung đụng với

đủ cỏc hạng trẻ em nghốo đúi, du đóng … trong xó hội cũ

- Lớn lờn lại bị đày đoạ, tự tội, lại thờm cảnh đúi khổ do thất nghiệp kộo dài,

NH tưởng như là sẽ chết đau đớn ở cỏi tuổi 16 Nhưng anh nghĩ, dự cú chết đi cũngphải để lại cho cừi đời mà anh yờu mến một cỏi gỡ vừa tinh khiết, trong sỏng, vừatha thiết yờu thương nhất của tõm hồn Và anh bắt đầu viết – viết suốt ngày suốtđờm, viết một cỏch đau khổ say mờ, bất chấp “cỏi đúi ờ ẩm thấm thớa vụ cựng trongđờm mưa lạnh hoang vắng (Với anh, viết văn là một lẽ sống)

Trang 3

- Ngay từ những trang viết đầu tay, ông đã hướng ngòi bút của mình vào nhữngngười nghèo khổ, bất hạnh Và ông thuỷ chung với con đường văn học đó trongsuốt cuộc đời cầm bút của mình Với trái tim nhân đạo dào dạt thắm thiết, NH đãnói lên thật cảm động số phận đầy đau khổ ở các thành phố lớn như Hà nội, HảiPhòng, Nam định … Truyện ngắn của ông chứa chan tinh thần nhân đạo sâu sắc

- Trong số những người cùng khổ đó, ông quan tâm và thể hiện thành côngnhững nhân vật phụ nữ và nhi đồng

- Đó là những người phụ nữ lao động nghèo khổ, cần cù tần tảo mà cả cuộc đờichỉ là vất vả, lo nuôi chồng con Họ còn bị những lề thói khắc nghiệt của XH cũ vùidập, đầy đoạ Nhưng đó cũng là những người phụ nữ có vẻ đẹp tâm hồn đáng quýnhư yêu thương chồng con tha thiết, sống ân tình, thuỷ chung, đồng thời có trái timkhao khát hạnh phúc và biết yêu một cách sôi nổi Trong đời sống văn học đươngthời thì NH là một trong ít nhà văn có quan điểm tiến bộ về vấn đề phụ nữ tronglĩnh vực tình yêu hôn nhân Nhà văn dứt khoát bênh vực người phụ nữ

- Từ cuộc đời của mình, giống như nhà văn nga Gorki, NH đã viết nhiều vàcảm động về những trẻ em nghèo,về những nỗi khổ nhiều mặt trong cảnh sống lầmthan của chúng, và nhất là về những nỗi đau trong trái tim nhạy cảm dễ tổn thươngcủa tuổi thơ Đồng thời nhà văn hầu như bao giờ cũng phát hiện và miêu tả nhữngnét đẹp trong sáng, cảm động trong những tâm hồn non trẻ đó

2) Tác phẩm:

- Tác phẩm viết năm 1938 và đến năm 1940 thì được in trọn vẹn thành sách Đó

là một tập hồi ký gồm 9 chương ghi lại một cách trung thực những năm tháng tuổithơ cay đắng của tác giả Đó là một tuổi thơ có quá ít những kỷ niệm êm đềm, ngọtngào, mà chủ yếu là những kỷ niệm đau buồn, tủi cực của một “đứa bé côi cút,cùng khổ” sinh ra trong một gia đình sa sút, bất hoà, sớm phải sống lêu lổng, bơ vơgiữa sự ghẻ lạnh cay nghiệt của họ hàng và thái độ dửng dưng một cách tàn nhẫncủa xã hội

- “Trong lòng mẹ” là chương 4 của tập hồi ký

- Nh÷ng ngµy th¬ Êulµ tËp håi ký tù truyÖn gåm 9 ch¬ng

Trang 4

và núi cuối năm thế nào mẹ cũng về Cụ lại cười núi Cụ hứa cho tiền tàu vào thăm

mẹ và thăm em bộ Nước mắt bộ Hồng rũng rũng rớt xuống, thương me vụ cựng.Người cụ núi với em cỏc chuyệ về người mẹ ở Thanh Hoỏ : mặt mày xanh bủng,người gầy rạc ngồi cho con bỳ bờn rổ búng đốn, thấy người quen thỡ vội quay đi,lấy nún che Bộ Hồng vừa khúc vừa căm tức những cổ tục muốn vồ ngay lấy màcắn, mà nhai, mà nghiến cho kỡ nỏt vụn mới thụi Cụ nghiờm nghị đổi giọng bảo bộHồng đỏnh giấy cho mẹ về để rằm thỏng Tỏm ô giỗ đầu cậu mày, mợ mày về dựsao cũng đỡ tủi cho cậu mày ằ

- Bộ Hồng chẳng phải viết thư cho mẹ đến ngày giỗ đầu của bố, mẹ về mộtmỡnh, mua cho bộ Hồng và em Quế bao nhiờu là quà Chiều tan học ở trường ra,thoỏng thấy một người đàn bà ngồi trờn xe kộo giống mẹ, bộ chạy theo và gọi :

ô Mợ ơi ! Mợ ơi ! Xe chạy chậm lại, mẹ cầm nún vẫy lại Con nức nở, mẹ sụt sựikhúc Em thấy mẹ vẫn tươi sỏng, nước da mịn, gũ mỏ màu hồng Miệng xinh xắnnhai trầu thơm tho Bộ Hồng ngả đầu vào cỏnh tay mẹ Mẹ xoa đầu con và dỗ :

ô Con nớn đi ! Mợ đó về với cỏc con rồi mà ằ

Chương hồi ký này là nỗi đắng cay, uất nghẹn về tỡnh yờu thương vụ bờbến của Bộ Hồng đối với người mẹ nhõn từ, tần tảo mà cuộc đời đầy bất hạnh Cúhai sự kiện đó trở thành kỷ niệm khụng thể phai mờ được nhà văn ghi lại trongchương này Đú là những sự kiện gỡ ?

+ Sự kiện 1: Cuộc trũ chuyện giữa bộ Hồng và bà cụ

+ Sự kiện 2: Mẹ bộ Hồng trở về – cuộc gặp gỡ đầy nước mắt của niềm vui vàhạnh phỳc

ơng của mẹ, phải sống trong sự ghẻ lạnh của bà cô và họ hàng bên cha Luôn bị bàcô tìm cách chia tách tình mẫu tử

b Đặc điểm:

Bé Hồng luôn hiểu và bênh vực mẹ: Mẹ dù đi tha hơng cầu thực, phải sốngtrong cảnh ăn chực nằm chờ bên nội Bà cô luôn soi mói, dèm pha tìm cách chiacắt tình mẫu tử Với trái tim nhậy cảm và bản tính thông minh, Hồng đã phát hiện

ra ý nghĩ cay độc trong giọng nói khi cời rất kịch của bà cô Em biết rất rõ bà cô cốgieo rắc vào đầu óc em những ý nghĩ để em khinh miệt vf ruồng rẫy mẹ Bằng tìnhyêu thơng mẹ, bé Hồng đã rất hiểu , thông cảm với cảnh ngộ của mẹ nên em đãbênh vực mẹ Càng thơng mẹ bao nhiêu, em càng ghê tởm, căm thù những cổ tụcphong kiến đã đầy đoạ mẹ một ý nghĩ táo tợn nh một cơn giông tố đang trào dângtrong em

Bé Hồng luôn khao khát đợc gặp mẹ Khao khát đó của Hồng chẳng khác nàokhao khát của ngời bộ hành trên sa mạc khao khát một dòng nớc , và em sẽ gục ngãkhi ngời ngồi trên chiếc xe kéo kia không phải là mẹ Em đã ung sớng và hạnhphúc khi đợc ngôi trong lòng mẹ Khi mẹ gọi, em trèo lên xe, mừng ríu cả chân lại

Trang 5

Em oà lên và cứ thế nức nở Đó là giọt nớc mắt của sự tủi thân bàng hoang Trongcái cảm giác sung sớng của đứa con ngôi cạnh mẹ, em đã cảm nhận đợc vẻ đẹp của

mẹ Em mê man, ngây ngất đắm say trong tình yêu thơng của mẹ

2 Nhân vật mẹ bé Hồng:

Là phụ nữ gặp nhiều trái ngng, bất hạnh trong cuộc đời thời xuân sắc là mộtphụ nữ đẹpnhất phố hàng cau, bị ép duyên cho một ngời hơn gấp đôi tuổi mình Bàchôn vùi tuổi xuân trong cuộc hôn nhân ép buộc Chồng chết, với trái tim khao khátyêu thơng, bà đã đi bớc nữa thì bị cả xã hội lên án

Luôn sống tình nghĩa : Đến ngày giỗ đầu của chồng

Yêu thơng con: Khi gặp con khi đợc ôm hình hài máu mủ đã làm cho ngơi

mẹ lại tơi đẹp

3 Hình ảnh bà cô

Có tâm địa xấu xa độc ác Bà là ngời đại diện là ngời phát ngôn cho những hủtục phong kiến Bà đợc đào tạo từ xã hội phong kiến nên suy nghị của bầmng nặngtính chất cổ hủ

4 Nghệ thuật đoạn trích

Những ngày thơ ấu là cuốn tiểu thuyết tự truyện thuộc thể hồi ký có sự kếthợp hài hoà giữa sự kiện và bầy tỏ cảm xúc, là tác phểm tiêu biểu cho phong cáchnghệ thuật của Nguyên Hồng tha thiết, giầu chất trữ tình và thấm đẫm cảm xúc

5 Luyện tập:

Đề 1:

Em hãy kể lại đoạn trích trong lòng mẹ theo ngôi thứ ba

Đề 2:

Nguyên Hồng xứng đáng là nhà văn của phụ nữ và trẻ em Bằng sự hiểu biết của

em về tác phẩm Trong lòng mẹ, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

H ớng dẫn :

1 Giải thích:

Vì sao Nguyên Hồng đợc đánh giá là nhà văn của phụ nữ và trẻ em

Đề tài: Nhìn vào sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng, ngời đọc dễ nhận thấyhai đề tài này đã xuyên suốt hầu hết các sáng tác của nhà văn.: Những ngày thơ ấu,Hai nhà nghề, Bỉ vỏ

Hoàn cảnh: Gia đình và bản thân đã ảnh hởng sâu sắc đến sáng tác của nhàvăn Bản thân là một đứa trẻ mồ côi sống trong sự thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinhthần lại còn bị gia đình và xã hội ghẻ lạnh

Nguyên Hồng đợc đánh giá là nhà văn của phụ nữ và trẻ em không phải vì

ông viết nhiều về nhân vật này Điều quan trọng ông viết về họ bằng tất cả tấm lòngtài năng và tâm huyết của nhà văn chân chính Mỗi trang viết của ông là sự đồngcảm mãnh liệt của ngời nghệ sỹ , dờng nh nghệ sỹ đã hoà nhập vào nhân vật mà th-

ơng cảm mà xót xa đau đớn, hay sung sớng, hả hê

2 Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ

a Nhà văn đã thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc cho nỗi bất hạnh của ng ời phụ nữ

Thấu hiểu nỗi khổ về vạt chất của ngời phụ nữ Sau khi chồng chết vì nợ nầncùng túng quá, mệ hồng phải bỏ đi tha hơng cầu thực buôn bán ngợc xuôi dể kiếmsống Sự vất vả, lam lũ đã khiến ngời phụ nữ xuân sắc một thời trở nên tiều tuỵ

đáng thơng “Mẹ tôi ăn mặc rách rới, gầy rạc đi ”

Thấu hiểu nỗi đau đớn về tinh thần của ngời phụ nữ : Hủ tục ép duyên đãkhiến mẹ Hồng phải chấp nhận cuộc hôn nhân không tình yêu với ngời đàn ông gấp

đôi tuổi của mình Vì sự yên ấm của gia đình, ngời phụ nữ này phải sống âm thầm

nh một cái bóng bên ngời chồng nghiện ngập Những thành kiến xã hội và gia đìnhkhiến mẹ Hồng phải bỏ con đi tha hơng cầu thực , sinh nở vụng trộm dấu diếm

b Nhà văn còn ng ợi ca vẻ đẹp tâm hồn, đức tính cao quý của ng ời phụ nữ :

Trang 6

Giàu tình yêu thơng con Gặp lại con sau bao ngày xa cách, mẹ Hồng xúc

động đến nghẹn ngào Trong tiếng khóc sụt sùi của ngời mẹ, ngời đọc nh cảm nhận

đợc nỗi xót xa ân hận cũng nh niềm sung sớng vô hạn vì đợc gặp con Bằng cử chỉdịu dàng âu yếm xoa đầu, vuốt ve, gãi rôm mẹ bù đắp cho Hồng những tình cảmthiếu vắng sau bao ngày xa cách

c Là ng ời phụ nữ trọng nghĩa tình

Dẫu chẳng mặn mà với cha Hồng song vốn là ngời trọng đạo nghĩa mẹ Hồngvẫn trở về trong ngày dỗ để tởng nhớ ngời chồng đã khuất

d Nhà văn còn bênh vực, bảo vệ ng ời phụ nữ:

Bảo vệ quyền bình đẳng và tự do , cảm thông vời mẹ Hồng khi cha đoạn tangchồng đã tìm hạnh phúc riêng

Tóm lại: Đúng nh một nhà phê bình đã nhận xét “Cảm hứng chủ đạo bậc nhất trongsáng tạo nghệ thuật của tác giả Những ngày thơ ấu lại chính là niềm cảm thơng vôhạn đối với ngời mẹ Những dòng viết về mẹ là những dòng tình cảmthiết tha củanhà văn Không phải ngẫu nhiên khi mở đầu tập hồi ký Những ngày thơ ấu, nhà vănlại viết lời đề từ ngắn gọn và kính cẩn: Kính tặng mẹ tôi” Có lẽ hình ảnh ngời mẹ

đã trở thành ngời mạch cảm xúc vô tận cho sáng tác của Nguyên Hồng để rồi ôngviết về học bằng tìh cảm thiêng liêng và thành kính nhất

b Nhà văn trân trọng, ngợi ca phẩm chất cao quý của trẻ thơ:

Tình yêu thơng mẹ sâu sắc mãnh liết Luôn nhớ nhung về mẹ Chỉ mới nghe

bà cô hỏi “Hồng, mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mợ mày không”, lập tức,trong ký ức của Hồng trỗi dậy hình ảnh ngời mẹ

Hồng luôn tin tởng khảng định tình cảm của mẹ dành cho mình Dẫu xa cách

mẹ cả về thời gian, không gian, dù bà cô có tinh ma độc địa đến đâu thì Hồng cũngquyết bảo vệ đến cùng tình cmr của mình dành cho mẹ Hồng luôn hiểu và cảmthông sâu sắc cho tình cảnh cũng nh nỗi đaucủa mẹ Trong khi xã hội và ngời thânhùa nhau tìm cách trừng phạt mẹ thì bé Hồng với trái tim bao dung và nhân hậu yêuthơng mẹ sâu nặng đã nhận thấy mẹ chỉ là nạn nhân đáng thơng của những cổ tụcphong kiến kia Em đã khóc cho nỗi đau của ngời phụ ữ khát khao yêu thơng màkhông đợc trọn vẹn Hồng căm thù những cổ tục đó: “Giá những cổ tuch kia là mộtvật nh thôi”

Hồng luôn khao khát đợc gặp mẹ Nỗi niềm thơng nhớ mẹ nung nấu tích tụqua bao tháng ngày đã khiến tình cảm của đứa con dành cho mẹ nh một niềm tínngơng thiêng liêng thành kính Trái tim của Hồng nh đang rớm máu, rạn nứt vì nhớ

mẹ Vì thế thoáng thấy ngời mẹ ngồi trên xe, em đã nhận ra mẹ ,em vui mừng cấttiếng gọi mẹ mà bấy lâu em đã cất dấu ở trong lòng

c Sung s ớng khi đ ợc sống trong lòng mẹ

Lòng vui sớng đợc toát lên từ những cử chivội vã bối rối từ giọt nớc mắt giậnhờn, hạnh phúc tức tởi, mãn nguyện

d Nhà thơ thấu hiẻu những khao khát muôn đời của trẻ thơ:

Khao khát đợc sống trong tình thơng yêu che chở của mẹ, đợc sống tronglòng mẹ

Đề 3:

Trang 7

Qua đoạn trích: Trong lòng mẹ, em hãy làm sáng tỏ nhận định sau: “Đoạn tríchtrong lòng mẹ đã ghi lại những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”

Gợi ý:

a Đau đớn xót xa đến tột cùng:

Lúc đầu khi nghe bà cô nhắc đến mẹ, Hồng chỉ cố nuốt niềm thơng, nỗi đautrong lòng Nhng khi bà cô cố ý muốn lăng nục mẹ một cách tàn nhẫn trắngtrợn Hồng đã không kìm nén đợc nỗi đau đớn, sự uất c : “Cổ họng nghẹn ứ lại ,khóc không ra tiếng ” Từ chỗ chôn chặt kìm nén nỗi đau đớn, uất ức trong lòngcàng bừng lên dữ dội

b Căm ghét đến cao độ nhữn cổ tục

Cuộc đời nghiệt ngã, bất côngđã tớc đoạt của mẹ tất cả tuổi xuân, niềm vui,hạnh phúc Càng yêu thơng mẹ bao nhiêu, thi nỗi căm thù xã hội càng sâu sắcquyết liệt báy nhiêu: “Giá những cổ tục kia là một vật nh mới thôi”

c Niềm khao khát đ ợc gặp mẹ lên tới cực điểm

Những ngày tháng xa mẹ, Hồng phải sống trong đau khổthiếu thốn cả vậtchất, tinh thần Có những đêm Noen em đi lang thang trên phố trong sự cô đơ và

đau khổ vì nhớ thơng mẹ Có những ngày chờ mẹ bên bến tầu, để rồi trowr về trongnỗi buồn bực Nên nỗi khao khát đợc gặp mẹ trong lòng em lên tới cực

điểm

d Niềm vui s ớng, hạnh phúc lên tới cực điểm khi đ ợc ở trong lòng mẹ

Niềm sung sớng lên tới cức điểmkhi bên tai Hồng câu nói của bà cô đã chìm

đi, chỉ còn cảm giác ấm áp, hạnh phúc của đứa con khi sống trong lòng mẹ Đề 4:

- Bộ Hồng phải chịu nhiều nỗi ấm ức, khổ sở, thiếu thốn

- Nỗi khổ lớn nhất của Hồng là phải xa mẹ, em luụn thốm khỏt tỡnh mẹ

2 Hồng luụn dành cho mẹ những tỡnh cảm yờu thương vụ bờ bến

a Tỡnh mẫu từ thiờng liờng

- Dự bà cụ cú cố tỡnh bụi nhọ, xỳc xiểm cũng khụng làm tỡnh thương đối với

mẹ thay đổi

Dẫn chứng : ô Đời nào xỳc phạm đến tỡnh mẫu tử thiờng liờng ằ

b Yờu mẹ, muốn gặp mẹ mà phải kỡm nộn và giấu kớn tỡnh cảm vỡ khụng muốn nghe những lời xỳc phạm mẹ

Dẫn chứng : Khi núi chuyện đi thăm mẹ, Hồng khụng muốn đi

c, Khi bà cụ tiếp tục dựng những lời cay độc để núi về mẹ thỡ Hồng đau đớn, uất nghẹn tột độ

Dón chứng : Nước mắt chan hoà, rũng rũng cười dài trong tiếng khúc

3 Hồng sớm hiểu nguyờn nhõn làm mẹ khổ :

Trang 8

- Căm tức những thành kiến nặng nề ô Giỏ những cổ tục nghiến nỏt vụnmới thụi ằ

4 Hồng khao khỏt gặp lại mẹ và hạnh phỳc khi ở trong lũng mẹ

a Khao khỏt gặp lại mẹ : chạy rớu cả chõn, lo sợ khụng phải là mẹ

b Hạnh phỳc khi ở bờn mẹ : Nhận ra mẹ vẫn đẹp, khụng cũn nghe thấy gỡ nữa

III.Kết bài :

- Tình thơng mẹ là nét nổi bật trong tâm hồn bé Hồng

- Chúng ta cảm thông, thơng xót và trân trọng tình mẫu tử

đ

ề 5 : Về Những ngày thơ ấu, nhà văn Thạch Lam đã cho rằng, đó là Những ‘’

rung động cự điểm của một linh hồn bé dại ‘’ Hãy chứng minh nhận định trên.

Dàn ý :

I.Mở bài :

- trong lòng mẹ là trích đoạn cmả động phản ánh chân thực những rung cảm mãnh liệt đến độ cực điểm của một linh hồn trẻ dại- đúng nh nhà văn Thạch Lam đãcảm nhận

II Thân bài :

1 Lí giải thế nào là "những rung động cực điểm":

- Rung động: trạng thái con ngời nảy sinh các xúc cảm mạnh mẽ do tác động

2 "Những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại":

a) Khi nói chuyện với bà cô đó là nỗi đau cực điểm:

- nỗi đau của một em bé phải sống trong hoàn cảnh thiếu thốn tình cảm, không những không nhận đợc tình họ hàng thân thiết mà còn phảI chịu nghe những lời xúc xiểm cay độc từ chính bà cô ruột

- trái tim non nớt chỉ biết đau đớn chịu đựng: Cời dài trong tiếng khóc, nớc mắt chảy ròng ròng, cổ họng nghẹ ứ

- nỗi đau chuyển thành sự phẫn uất cao độ, biến thành ham muốn phản kháng cuồng nộ

b) Khi sống trong lòng mẹ đó là niềm hạnh phúc cực điểm:

- Bất ngờ đợc gặp lại mẹ trong lúc đang khao khát cháy bỏng, tâm hồ trẻ dại bùng lên những xúc cảm dồn nén bấy lâu

- mọi giác quan căng lên để tận hởng tình mẹ, để vơi đi bao nỗi đau đớn hờn tủi

III Kết bài:

- cảm nhận về tâm hồn bé hồng

Đề 6: Có nhà nghiên cứu nhận định Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi

đồng Nên hiểu nh thế nào về nhận định đó? Qua đoạn trích Trong lòng mẹ, em hãy

Trang 9

+ Nhà văn thấu hiểu, vô cùng trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, đức tính cao quý của phụ nữ và nhi đồng.

* Những tình cảm, cái nhìn ấy của Nguyên hồng qua đoạn trích Trong lòng mẹ:-Chú bé Hồng: + Nhà văn diễn tả thấm thía nỗi cơ cực, tủi nhục của chú bé Hồng: Nỗi đau đớn sống thiếu tình thơng của họ hàng bên nội, sống trong sự ghẻ lạnh của

họ hàng ( bà cô rắp tâm hành hạ Hồng để Hồng ruồng rẫy, khinh miệt mẹ)

+ Trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của chú bé Hồng: Những phản ứng khi nghe những lời châm chọc của bà cô Căm tức các cổ tục đày đoạ mẹ Lòng vui sớng vô hạn khi

gặp lại mẹ; những cảm xúc dâng trào, mơn man khi đợc ngồi trong lòng mẹ ( dẫn

chứng)

A Cuộc đời, con ngời Nam Cao

- Trước năm 1945, ụng dạy học tư và viết văn ễng là một nhà văn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn, truyện dài chõn thực viết về người nụng dõn nghốođúi bị vựi dập và người trớ thức nghốo sống mũn mỏi, bế tắc trong xó hội cũ

- Sau cỏch mạng thỏng Tỏm, ụng chõn thành, tận tuỵ sỏng tỏc phục vụ khỏng chiến : làm phúng viờn mặt trận, rồi làm cụng tỏc văn nghệ tại chiến khu Việt Bắc Cuối năm 1951, ụng đi cụng tỏc vào vựng sau lưng địch, hi sinh trong tư thế một nhà văn- chiến sĩ

- Nam Cao được nhà nước truy tặng ô Giải thưởng Hồ Chớ Minh ằ về văn học nghệ thuật (năm 1996)

- Nam Cao là tỏc giả của cuốn tiểu thuyết ô Sống mũn ằ và khoảng 60 truyện ngắn tiờu biểu nhất là cỏc truyện ô Chớ Phốo ằ, ô Lóo Hạc ằ, ô Mua nhà ằ, ô Đời thừa ằ, ô Đụi mắt ằ

- Nam Cao cú tài kể chuyện, khắc họa nhõn vật bằng độc thoại với bao trang đời ộo le, đầy bi kịch Người nụng dõn nghốo, người trớ thức nghốo là hai đề tài in

đậm trong truyện của Nam Cao Tỏc phẩm của Nam Cao biểu hiện ô một chủ nghĩa

nhõn đạo thống thiết ằ (Nguyễn Đăng Mạnh)

Ông xuất thân trong gia đình trun nông Ông là ngời con trai cả trong gia

đình đông anh em, ông là ngời duy nhất đợc học hành chu đáo Học xong trunghọc, ông vào Sài Gòn kiếm sống 3 năm chuyến đi này đã ảnh hởng không nhỏ đếnviệc sáng tác của nhà văn Vì ốm đau, ông trở về quê dạy học , rồi sống vất vởngbằng nghề viết văn Cuộc đời của một giáo khổ trờng t, của một nhà văn nghèo đã

ảnh hờng sâu sắc đến phong cách viết văn của Nam cao Sau cách mạng, Nam Caotiếp tục sáng tác phục vụ kháng chiến Năm 1951, trên đờng đi công tác, nhà văn

đã hi sinh

2 Con ngời Nam Cao

Trang 10

Hiền lành, ít nói, lạnh lùng Là nhà văn luôn gắn bó sâu nặng với quê Hơng

và những ngời nghèo khổ Mỗi trang viết của nhà văn là trang viết đày cảm động vềcon ngời quê hơng

3 Quan điểm sáng tác:

4 Phong cách viết truyện ngắn của Nam Cao.

Truyện của Nam Cao rất mực chân thực , thẫm đẫm chất trữ tình, đậm đà chấttriết lý Nam cao đặc biệt sắc sảo trong việc khám phá và diễn tả những quá trìnhtâm lý phức tạp của nhân vật Ngôn ngữ của Nam cao gần với ngôn ngữ ngời nôngdân Bắc bộ

II Về truyện ngắn "Lão Hạc":

1.Giới thiệu vắn tắt giỏ trị của truyện ngắn ô Lóo Hạc ằ

Viết về đề tài người nụng dõn trước cỏch mạng, ô Lóo Hạc ằ là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nam Cao, đăng bỏo lần đầu năm 1943 Truyện đó thể hiện một cỏch chõn thực, cảm động số phận đau thương của người nụng dõn trong

xó hội cũ và phẩm chất cao quý, tiềm tàng của họ Đồng thời, truyện cũn cho thấy tấm lũng yờu thương, trõn trọng đối với người nụng dõn và tài năng nghệ thuật xuấtsắc của nhà văn Nam Cao, đặc biệt trong việc miờu tả tõm lý nhõn vật và cỏch kể truyện

2 Giỏ trị nội dung

a Tỡnh cảnh cựng khổ và số phận bi đỏt của người nụng dõn trước cỏch mạng thỏng Tỏm

*Cũng như bao người nụng dõn khỏc, cuộc đời lóo Hạc bị võy bủa trong sự

nghốo đúi Đó nghốo, lại gúa vợ, lóo Hạc lầm vào cảnh một thõn gà trống nuụi con

- Khụng cú ruộng cầy, toàn bộ gia tài của lóo chỉ là một con chú và một mảnh vườn Mảnh vườn ấy cú được là do vợ lóo cố thắt lưng buộc bụng, dố sẻn mói mới

để ra được năm mươi đồng bạc tậu ằ Đú là mảnh vườn cũm cừi, hoa màu của nú cũng chỉ đủ để lóo ô bũn mút ằ Cho nờn lóo phải làm thuờ làm mướn, đem sức mỡnh đổi lấy miếng ăn

=> Đú là tất cả cuộc đời lóo đó khiến lóo thấm thớa cỏi kiếp nghốo tủi nhục củamỡnh, mà cú lần lóo đó chua xút thốt lờn rằng : ô nú chỉ nhỉnh hơn cỏi kiếp của một con chú ằ

ta chụp rồi Nú lại đó lấy tiền của người ta Nú là người của người ta rồi, chứ đõu cũn là con tụi ằ Cõu núi của lóo nhúi lờn một nỗi đau, bởi nú đó khỏi quỏt cả một cảnh đời cựng khổ một số phận thảm thương của người nụng dõn trong chế độ cũ

*.Bỏn chú :

- Anh con trai đi biền biệt, lóo sống thui thủi, trơ trợ một mỡnh trong nỗi bất hạnh ngày thờm chồng chất Chỉ cú con chú là bầu bạn sớm tối, con chú thành

Trang 11

« cậu Vàng », thành một người trong nhà lão « Con chó là của cháu nó mua đấy chứ » Lão vẫn không quên con chó là kỉ vật thiêng liêng, là tài sản của đứa con trai Có một mối dây liên lạc rất lạ lùng giữa lão Hạc, con chó và đứa con trai vắng mặt Cho nên, có bao nhiêu niềm thương, nỗi nhớ chất chứa trong lòng, lão dồn hết vào con chó Lão yêu quý «cậu vàng » như con, như cháu tưởng như không thể nào

có thể rời xa nó, tưởng như cuộc đời lão không thể thiếu nó

-Vậy mà, tình cảnh đói nghèo khốn quẫn đã buộc lão phải chia tay với nó Lão

bị ốm một trận kéo dài 2 tháng 18 ngày, không một người thân bên cạnh đỡ đần, săn sóc cho một bát cháo, hay một chén thuốc ! Tình cảnh ấy thật đáng thương ! Tiếp theo một trận bão to, cây cối, hoa màu trong vườn bị phá sạch sành sanh Làng mất nghề sợi Đàn bà congái trong làng đi làm thuê rất nhiều, giành hết mọi việc Sau trận ốm, lão Hạc yếu hẳn đi, chẳng ai thuê lão đi làm nữa Lão Hạc thành

ra thất nghiêp.Thóc cao, gạo kém, sức cùng, lực kiệt, lão Hạc đành phải bán con chó mà lão rất yêu quý Bán con chó là bán đi niềm vui, niềm an ủi cuối cùng của lão Lão đã đắn đo, do dự mãi khi quyết định bán con chó

- Và khi buộc lòng phải bán nó lão vô cùng đau đớn Bán nó xong, lão Hạc bị đẩy sâu xuống đáy vực bi thảm Lão cảm thấy mình là một kẻ « tệ lắm », đã già màcòn đánh lừa một con chó » Kể lại chuyện bán chó với ông giáo mà « Lão cố làm

ra vui vẻ Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậc nước » Lão tự nhận là một kẻ bất nhân, là tên lừa đảo đối với một con chó vốn tin yêu mình Có lẽ đây là giây phút đau đớn nhất trong cuộc đời lão, khiến cho « mặt lão đột nhiên co rúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão ngoeo vềmột bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc »

=> Cuộc đời lão Hạc là một dòng nước mắt chảy dài của những nỗi đau bất lực Nước mắt lão khi thì « rân rấn », lúc « ầng ậng », cả khi « cười cũng như mếu » Nước mắt ấy dường như đã cạn kiệt trong cuộc đời khổ đau, tủi cực của lão.Cho nên khi khóc, « mặt lão đột nhiên co rúm lại » Những vết nhăn xô lại với nhau

ép cho nước mắt chảy ra » Nhiều người cho rằng đây là cái tài miêu tả cuả Nam Cao, nhưng trước hết đó là cái tình của nhà văn đối với kiếp người tủi cực trong chế độ cũ Không có một sự cảm thông sâu sắc, không có một tình xót thương chânthành, không thể vẽ lên một nỗi đau hằn sâu trên khuôn mặt lão Hạc như vậy Một nét vẽ mà như cô đúc cả một cảnh đời, một kiếp người trong xã hội cũ

*Cái chết

- Nhưng thê thảm nhất vẫn là cái chết của lão Hạc sau những ngày ăn khoai,

ăn củ chuối, sung luộc, rau má, củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc để rồi cuối cùng lão

đã ăn bả chó mà chết Dĩ nhiên, lão lựa chọn cái chết ấy là vì đứa con trai nhưng suy cho cùng thì chính tình cảnh khốn quẫn, sự đói khổ đã đẩy lão đến bước đường cùng phải chết

- Đó là một cái chết thật là dữ dội và cũng vô cùng bi thảm : « Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ mới chết

Trang 12

=> Như vậy, nghèo khổ đã đẻ nặng lên cuộc đời làm thuê làm mướn khiến cholão sức cùng lực kiệt ; nghèo khổ lại cướp nốt đứa con trai của lão ; cướp nốt cả

« cậu vàng » thân yêu, niềm an ủi cuối cùng của lão ; và nghèo khổ lại đẩy lão đến cái chết đau đớn và thảm khốc như chưa từng thấy Cái chết ấy đã kết thúc một cảnh đời tủi cực và một số phận bi đát của người nông dân trước cách mạng tháng Tám Cuộc sống cùng khốn và cái chết bi thương của lão Hạc đã nói lên thấm thía

số phận thê thảm của người nông dân lao động trong xã hội tăm tối đương thời Không chỉ là nỗi đau, cái chết ấy còn là một lời tố cáo sâu sắc và mạnh mẽ cái chế

độ tàn ác, bất nhân đã gây nên những cảnh đời thê thảm như lão Hạc Với chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, Nam Cao đã nói lên bao tình thương xót đối với những con người đau khổ, bế tắc phải tìm đến cái chết thê thảm Chí Phèo tự sát bằng một mũi dao, Lang Rận thắt cổ chết và lão Hạc đã quyên sinh bằng bả chó Lão Hạc

đã từng hỏi ông giáo : « Nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng ? Câu hỏi ấy đã thể hiện nỗi đau khổ tột cùng của một kiếp người

* Số phận anh con trai lão- nhân vật không xuất hiện, chỉ hiện ra trong nỗi nhớcủa lão Hạc- cũng thật đáng thương : chỉ vì quá nghèo mà cô gái anh yêu thương trở thành vợ kẻ khác ; anh phẫn chí ra đi nuôi mộng « cố chí làm ăn, bao giờ có bạctrăm mới về », không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này nhục lắm » Nhưng, thật tội nghiệp, cái nơi mà anh ta tìm đến với hi vọng làm giầu lại là đồn điền cao

su Nam Kì, một địa ngục trần gian, thân phận phu cao su chỉ là thân phận nô lệ Còn lão Hạc thì cứ mong con mỏi mắt suốt tận ngày cuối đời

b Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao cả của lão Hạc.

Chính trong cảnh đời thê thảm ấy, ta lại thấy bừng sáng lên một vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao cả của lão Hạc Lão Hạc sống lủi thủi, thầm lặng, bề ngoài lão có vẻ như lẩm cẩm, gàn dở ; vợ ông giáo cũng chẳng ưa gì lão : « cho lão chết !

Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ ? Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ ! » Chính ông giáo cũng có lúc từng nghĩ là lão « quá nhiều tự ái », còn Binh Từ thì « bĩu môi nhận xét : Lão làm bộ đấy ! thật ra thì lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu ! » Nhưng kì thực lão Hạc có một nhân cách hết sức cao quý mà

bề ngoài không dễ thấy Đằng sau « manh áo rách » là một tấm lòng vàng » Nó được thể hiện qua tấm lòng của lão đối với con trai, đối với « cậu Vàng », qua việc gửi gắm vườn tược, tiền bạc cho ông giáo và nhất là qua cái chết thảm khốc mà lão

đã lựa chọn cho chính mình

* Lão Hạc, một con người chất phác, hiền lành và nhân hậu vô cùng

- Cái tình của lão đối với « cậu Vàng » thật là hiếm có, đặc biệt và Nam Cao đã

ghi lại tỏng những dòng chữ xúc động

+ Bởi không còn là con chó thường, cậu “vàng” đã trở thành người thân, niềm vui, niềm an ủi đối với cuộc sống cô đơn, lủi thủi một mình của lão + Lão “gọi nó là cậu Vàng như bà mẹ hiếm hoi gọi đứa con cầu tự Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra ao tắm, cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giầu (…) Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người

ta gắp thức ăn cho con trẻ

Trang 13

+ Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó” Đoạn lão nói chuyện với cậu Vàng về việc « định giết cậu để cưới vợ cho con trai rồi lại không giết nữa, để nuôi » đã bộc lộ sâu sắc tình cảm của lão Hạc đối với con chó thân yêu.

=> Có thể nói, cậu Vàng được lão Hạc chăm sóc, nuôi nấng như con, như cháu Nó

là nguồn vui, chỗ dựa tinh thần, nơi san sẻ tình thương, giúp lão Hạc vợi đi ít nhiều nỗi buồn cô đơn, cay đắng Cậu Vàng là một phần cuộc đời lão Hạc Nó đã toả sáng tâm hồn và làm ánh lên bản tính tốt đẹp của lão nông đau khổ, bất hạnh này

Vì thế, sau khi bán cậu Vàng đi, từ túng quấn, lão Hạc chìm xuống đáy bể bi kịch, dẫn đến cái chết vô cùng thảm thương

+ Tình thế cùng đường khiến lão phải tính đến việc bán “cậu Vàng” thì trong lão diễn ra một sự dằn vặt đau khổ Lão kể lại cho ông giáo việc bán “cậu vàng” với tâm trạng vô cùng đau đớn: “lão cười như mếu, đôi mắt ầng ậc nước” Đến nỗi ông giáo thương lão quá “muốn ôm chầm lấy lão mà oà lên khóc” Khi nhắc đến việc cậu Vàng bị lừa rồi bị bắt, lão Hạc không còn nén nổi nỗi đau đớn cứ dội lên : “mặtlão đột nhiên co dúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra.Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc Lão Hạc đau đớn đến thế không phải chỉ vì quá thương con chó,

mà còn vì lão không thể tha thứ cho mình vì đã nỡ lừa con chó trung thành của lão Ông lão “quá lương thiện” ấy cảm thấy lương tâm đau nhói khi thấy trong đôi mắt của con chó bất ngờ bị trói có cái nhìn trách móc… Thì ra tôi già bằng này tuổi đầurồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó Phải có trái tim vô cùng nhân hậu và trong sạch thì mới bị dày vò lương tâm đau đớn đến thế, mới cảmthấy có lỗi với một con chó như vậy

* Tấm lòng người cha ở lão Hạc đối với anh con trai mới thực cảm động, làm

nên tâm sự chính của nhân vật và mạch truyện chủ yếu của tác phẩm Nó liên quan đến cái tình của lão đối với cậu vàng, đến việc lão gửi gắm nhờ gửi ông giáo, và giải thích rõ cái chết thảm khốc của lão ở cuối truyện Đó là tấm lòng của người cha thương con, suốt cả cuộc đời lo lắng cho con và sẵn sàng hi sinh tất cả- kể cả tính mạng – cho đứa con thân yêu của mình Nam Cao đã thấu hiểu cái tình cha con, thiêng liêng, sâu sắc đó ở người lão nông nghèo khổ này và đã diễn tả thật cảmđộng trên từng trang viết của tác phẩm

+ Đầu tiên là việc anh con trai tính chuyện bán vườn để lo cưới vợ nhưng nghe lời bố, lại thôi Thấy con buồn, lão Hạc « thương con lắm, nhưng biết làm saođược ? » Đó là tình thương đầy bất lực của một người cha nghèo

+ Sau đó, anh con trai « sinh phẫn chí », bỏ làng, lìa cha, kí giấy đi làm dồn điền cao su Đứa con trai độc nhất của lão đã bị cái nghèo cướp nốt, lão vô cùng đau đớn Nỗi đau mất con khiến lão « chỉ còn biết khóc chứ biết làm thế nào

nữa ? Bởi « nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi » Lão Hạc kể lại chuyện khóc con, giống như lão đang khóc, đang đau nỗi đau xé ruột của người chahoàn toàn bất lực khi thấy con trai tuột ra khỏi tay mình để trở thành người của người ta

Trang 14

+ Trong nỗi đau ấy, khi chỉ còn sống cô đơn, thủi thủi một mình thì lão Hạc đãbiết chọn một cách sống cho con, vì con Đó là cách sống không tính đến bản thân mình, khiến cho tình yêu thương và lòng nhân hậu của lão đã hoá thành một nhân cách làm người, nhân cách làm cha Ta thấy trong từng nếp nghĩ của lão bao giờ cũng thấm đẫm đức hy sinh cao cả Trước khi đi phu, anh con trai dặn bố : « bòn vườn đất với làm thuê làm mướn cho người ta thế nào cũng đủ ăn » Nhưng lão đã

tự xóa đi cái quyền sở hữu của mình đối với mảnh vườn ấy : « cái vườn là của con

ta ( ) của mẹ nó tậu thì nó hưởng Lớp trước ta không bán là ta có ý giữ cho nó chứ có phải giữ để ta ăn đâu ! » Cho nên, lão làm thuê làm mướn để kiếm ăn Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra Lão chắc mẩm, thế nào đến lúc con lão trở về cũng có được một trăm đồng bạc Lão tính tiền ấy lão sẽ thêm vào cho con cưới vợ, nếu con đã đủ tiền cưới vợ thì cho nó để có chút vốn mà làm ăn Thương con mà vị tha, hi sinh như thế thì đó chính là lòng thương con mộc mạc, cụthể mà cao cả biết bao của những người lao động nghèo, ngay cả khi họ phải sống khốn quẫn nhất trong xã hội cũ Đến cả chuyện buộc phải bán chó, thì không phải chỉ vì không nuôi nổi nó, mà cái chính vẫn là vì con : « bây giờ tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu Tiêu lắm chỉ chết nó »

+ Nhưng cái chết mới là đỉnh cao của đức hy sinh, lòng vị tha-mà ở đây chính

là tình thương yêu sâu sắc của lão Hạc đối với đứa con trai

- Hoàn cảnh ngày càng cùng cực đã đẩy lão tới một sự lựa chọn đầy nghiệt ngã, bi đát : tiếp tục kéo dài sự sống tàn để trở thành kẻ báo hại cho con hay là chết

đi để trọn đạo làm người, trọn đạo làm cha Và lão đã chọn cái chết, không phải cho xong đời mình, mà chết cho con, vì con

+Lão đã âm thầm chuẩn bị cho cái chết từ lúc quyết định bán con chó, bán đi niềm vui, niềm an ủi cuối cùng của đời mình ; từ khi gửi gắm vườn tược, tiền bạc cho ông giáo ; và cả những lúc ăn sung luộc, ăn củ ráy để cuối cùng lão quyết định xin Binh Tư bả chó ! Có nỗi đau bán chó, có sự chu đáo và cẩn trọng trong việc gửi gắm nhờ vả ông gia,s có sự nhịn ăn mấy ngày liền thì mới có việc xin bả chó để tự kết liễu đời mình Có nghĩa là lão đã chuẩn bị chu đáo mọi việc cho con (và cả cho mình nữa) để sắn sàng đi vào một cái chết thật dữ dội và bi thảm Tất cả

vì con, một sự hi sinh thầm lặng cực kì to lớn !

=> Lão Hạc là một nông dân không được học hành, không có chữ nghĩa, càng không biết nhiều lí luận về tình phụ tử Nhưng cái chết dữ dội của lão là bằng chứng cảm động về cái tình phụ tử nguyên sơ, mộc mạc, nhưng thăm thẳm, thiêng liêng biết chừng nào

* Lão Hạc là một nông dân nghèo khổ mà trong sạch, giầu lòng tự trọng.

- Lão Hạc đã tìm đến cái chết mặc dù trong tay vẫn còn mấy chục bạc (không

kể vẫn còn mảnh vườn đáng giá mà không ít kẻ nhòm ngó)

- Bất đắc dĩ phải bán con chó ; bán xong rồi, lão đau đớn, lương tâm dằn vặt

« thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó »

- Ba sào vườn gửi lại nguyên vẹn cho con trai như một lời nguyền đinh ninh :

« Cái vườn là của con ta ( ) của mẹ nó tậu thì nó hưởng » Trước khi chết, lão gửi

Trang 15

lại ông giáo mảnh vườn cho con, và gửi lại 30 đồng hàng xóm Lão thà nhịn đói chứ không tiêu xu nào vào món tiền mà lão cậy ông giáo cầm giúp đó

- Với lòng tự trọng cao độ và nhân cách hết sức trong sạch, lão Hạc không muốn hàng xóm nghèo phải phiền luỵ về cái xác già của mình, đã gửi lại ông giáo toàn bộ số tiền dành dụm bằng nhịn ăn, nhịn tiêu của lão, để nhờ ông giáo đưa ra nói với bà con hàng xóm lo giúp cho lão khi lão chết Khi đã đem gửi hết đồng tiền cuối cùng, lão chỉ còn ăn uống đói khát qua bữa, bằng khoai ráy, củ chuối, rau má , nhưng lại kiên quyết từ chối mọi sự giúp đỡ của người khác, kể cả sự giúp đỡcủa ông giáo mà chắc lão hiểu là rất thân tình

- Nam Cao đã tinh tế đưa nhân vật Binh Tư, một kẻ « làm nghề ăn trộm » ở phần cuối truyện, tạo nên một sự đối sánh đặc sắc, làm nổi bật tấm lòng trong sạch,

tự trọng của lão Hạc, một lão nông chân quê đáng trọng Lão Hạc dù nghèo đói vẫnquyết sống bằng bàn tay lao động của mình trong khi ở xã hội đó có nhiều người đã

bị ngã quỵ trước bản năng (cái đói và miếng ăn) như Chí Phèo, Binh Tư Lang Rận Với cái chết đau đớn dữ dội mà lão Hạc tự chọn, ra đi vẫn giữ được tâm hồn thanh thản, nhân cách trong sạch, lão Hạc đã trở thành một vị thánh Là một ông già nông dân cùng khổ, lão Hạc đã thể hiện một khí tiết cao quý, có thức thức nhân phẩm rất cao Lão Hạc là con người của câu tục ngữ : « đói cho sạch, rách cho thơm », « thà thác trong còn hơn sống đục » Đó cũng là một nét nhân cách đáng trọng của người lao động nghèo

=> Tóm lại, cuộc đời của lão Hạc đầy nước mắt, nhiều đau khổ và bất hạnh Sống thì âm thầm, nghèo đói, cô đơn ; chết thì quằn quại, đau đớn Tuy thế, lão Hạc lại có bao phẩm chất tốt đẹp như hiền lành, chất phác, nhân hậu, trong sạch và

tự trọng Lão Hạc là một điển hình về người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ được Nam Cao miêu tả chân thực, với bao trân trọng, xót thương, thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết

c Nhân vật «Tôi »- người kể chuyện (cũng chính là tác giả, tuy vậy không nên

đồng nhất hoàn toàn với nhân vật về nguyên mẫu)

- Bên cạnh nhân vật lão Hạc là ông giáo, một nhân vật để lai bao ấn tượng đối với mỗi chúng ta về người trí thức nghèo trong xã hội cũ

- Không rõ họ tên là gì Hai tiếng « ông giáo » đã khẳng định vị thế của một con người giữa làng quê trước năm 1945 « nhiều chữ nghĩa, nhiều lí luận, người ta kiêng nể » Hai tiếng « ông giáo » từ miệng lão Hạc nói ra, lúc nào cũng đượm vẻ thân tình, cung kính, trọng vọng : « cậu vàng đi đời rồi ông giáo ạ ! « Vâng, ông giáo dạy phải ! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng » « Tôi cắn rơm, cắn cổlạy ông giáo »

- Hãy đi ngược thời gian, tìm về thời trai trẻ của ông giáo Là một con người chăm chỉ, ham mê, sống vì một lý tưởng đẹp, với bao mộng tưởng Ông đã từng lặnlội vào tận Sài Gòn, « hòn ngọc Viễn Đông » thời ấy để làm ăn, để học tập, để gây dựng sự nghiệp Cái va li « đựng toàn những sách » được người thanh niên ấy rất nâng niu », cái kỉ niệm « đầy những say mê đẹp và cao vọng » ấy, hơn sáu chục năm còn làm cho ta xúc động và quý trọng một nhân cách đẹp

Trang 16

- Con người « nhiều chữ nghĩa » ấy lại nghèo Sau một trận ốm nặng ở Sài Gòn, quần áo bán gần hết, về quê chỉ có một va li sách Nếu lão Hạc quý cậu Vàng bao nhiêu thì ông giáo lại quý những quyển sách của mình bấy nhiêu Bởi lẽ những quyển sách ấy đã làm bứng lên trong lòng ông « như một rạng đông » thời trai trẻ, làm cho cuộc đời thêm sắc màu ý vị, sống say mê, « trong trẻo, biết yêu và biết ghét »

- Cái nghèo vẫn đeo đẳng ông giáo mãi, « ông giáo khổ trường tư » Vận hạn xẩy ra luôn như ông nghĩ : « Đời người ta không chỉ khổ một lần » Sách cứ bán dần đi Chỉ còn giữ lại 5 quyển sách với lời nguyền : « dù có phải chết cũng không bán » Như một kẻ cùng đường phải bán máu Đứa con thơ bị chứng kiết lị gần kiệtsức, ông giáo đã phải bán nốt đi 5 cuốn sách cuối cùng, cái gia tài quý giá nhất của người trí thức nghèo « Lão Hạc ơi ! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu ? » Lời than ấy cất lên nghe thật não nuột, đã thể hiện một nhân cách đẹp trước sự khốn cùng : biết sống, và dám hi sinh vì cuộc sống !

- Ông giáo là một trí thức có trái tim nhân hậu rất đáng quý Ông là chỗ dựa

tinh thần, là niềm an ủi, tin cậy của lão Hạc Ông giáo là nơi để lão Hạc san sẻ bao nỗi đau, nỗi buồn Nhờ đọc hộ một lá thư, nhờ viết hộ một lá thư cho đứa con trai

đi phu đồn điền Tâm sự về mảnh vườn và và chuyện đứa con trai « phẫn cí » không lấy được vợ San sẻ về nỗi đau buồn sau khi bán cậu Vàng cho thằng Mục, thằng Xiên Có lúc là một điếu thuốc lào, một bát nước chè xanh, một củ khoai lang « lúc tắt lửa tối đèn có nhau » Ông giáo đã đồng cảm, đã thương xót, đã san

sẻ với lão Hạc với tất cả tình người Ai đã từng là độc giả của Nam Cao, chắc sẽ không bao giờ quên mẩu đối thoại này :

- Tôi bùi ngùi nhìn lão, bảo :

- Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng ?

- Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng ?

Lão cười và ho sòng sọc Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo :

- Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng : bây giờ cụ ngồi xuống phải này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm chè tươi thật đặc : ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào Thế là sướng.

- Vâng ! Ông giáo dậy phải ! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng ».

- Ông giáo đã thương lão Hạc « như thể thương thân » Không chỉ an ủi, động viên, mà ông còn tìm mọi cách để « ngấm ngầm giúp » khi biết lão Hạc đã nhiều ngày ăn khoai, ăn rau, ăn củ ráy trong lúc đàn con của ông giáo cũng đang đói ; cái nghĩa cử « lá lành đùm lá rách » ấy mới thật cao đẹp biết bao !

- Ông giáo nghèo mà đức độ lắm Trước khi ăn bả chó, lão Hạc đã gửi ông

giáo 30 đồng để phòng khi chết « gọi là của lão có tí chút », gửi lại ông giáo ba sào vườn cho đứa con trai Tình tiết ấy nói lên lão Hạc rất tin ông giáo Ông giáo là người để lão Hạc « chọn mặt gửi vàng » Giữa cái xã hội đen bạc thời ấy, một bà côdành cho đứa cháu nội một bát nước cháo đã vữa ra như một sự bố thí (Những ngàythơ ấu), vợ tên địa chủ bắt bí, bóp nặn người đàn bà khốn cùng để mua rẻ đứa con

Trang 17

gái lên bảy tuổi và ổ chó (Tắt đèn), một tên phụ mẫu ăn bẩn đồng hào đôi của chị nhà quê (Đồng hào có ma) ta mới thấy niềm tin, sự kính trọng của kẻ khốn cùng đối với ông giáo thật là thánh thiện.

- Trước cái chết dữ dội của Lão Hạc, cái chết « đau đớn và bất lình lình », chỉ

có ông giáo và Binh Tư hiểu Ông giáo khẽ cất lời than trước vong linh người lánggiềng hiền lành tội nghiệp Trong giọt lệ là những lời hứa của một nhân cách cao đẹp, đáng trọng : « Lão Hạc ơi ! Lão Hạc ơi ! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt ! Lãođừng lo gì cho cái vườn của lão Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn : Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã

cố để lại cho anh trọn vẹn ; cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào »

- Cùng chung với ông giáo Thứ trong « sống mòn », Điền trong « Trăng

sáng », nhân vật « tôi » trong « mua nhà », hình ảnh ông giáo trong truyện « lão Hạc » đã kết tinh cái tâm và cái tài của Nam Cao trong nghệ thuật xây dựng nân vật- nhà văn nghèo, ông giáo khổ trường tư- trong xã hội thực dân nửa phong kiến

Đó là những con người nghèo mà trong sạch, hăm hở và nhiệt tâm từng ôm ấp bao mộng đẹp, sống nhân hậu, vị tha Có người đã cho rằng, ông giáo là một nhân vật

tự truyện, mang dáng dấp hình bóng Nam Cao Ý kiến ấy rất lí thú

- Trong truyện « Lão Hạc », ông giáo vừa là nhân vật, vừa là người dẫn

chuyện Không phải là nhân vật trung tâm, nhưng sự hiện diện của ông giáo đã làm cho « bức tranh quê » ngày xa xưa ấy thêm sáng tỏ Nhân vật ông giáo là chiếc gương soi sáng cuộc đời và tâm hồn lão Hạc, đã tô đậm giá trị nhân đạo của truyện ngắn đặc sắc này

d Cách nhìn người của nhà văn Nam Cao.

Nam Cao đã phát biểu suy nghĩ về cách nhìn người : «Chao ôi! Đối với những

người ở quanh ta, nếu không cố tìm và hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy

họ là những người đáng thương ; không bao giờ ta thương ( ) Cái bản tính tốt củ người ta bị những nỗi lo lắng buồn đau, ích kỉ che lấp mất »

- Suy nghĩ của nhân vật «tôi» trên đây chính là một điểm quan trọng trong ý thức sáng tác của nhà văn Nam Cao Đó chính là vấn đề mà sau này Nam Cao gọi

là « Đôi mắt » ; phải xác định « đôi mắt » đúng đắn trong cách nhìn về quần chúng nghèo khổ Trong « Lão Hạc », nhà văn cho rằng đối với người nông dân lao động thì phải « cố mà tìm hiểu họ » thì mới thấy rằng chính những con người bề ngoài lắm khi « gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi » ấy chỉ là « những người đáng thương » và có « bản tính tốt », có điều, « cái bản tính tốt » ấy của họ thường bị những nỗi khổ cực, những lo lắng trong cuộc sống « che lấp mất » Tức là, nhà văn đặt ra vấn đề phải có tình thương, có sự cảm thông, và phải có cách nhìn có chiều sâu, không hời hợt, phiến diện chỉ thấy cái bề ngoài, nhất là không thành kiến, tàn nhẫn Có thể nói, chẳng những trong « Lão Hạc » mà trong cả « Chí Phèo », « LangRận », « một bữa no », « Tư cách mõ » và hầu hết truyện dài của Nam Cao, nhà văn đều đặt ra vấn đề « đôi mắt » Ông chính là luật sư đứng ra bênh vực cho một Chí Phèo, một anh Cu Lộ, một Lang Rận, một bà cái Tí, khẳng định rằng họ đều có

Trang 18

tình cản rất « đáng thương » và đều « bản tính tốt », nhưng chính cuộc đời quá khắcnghiệt đã đẩy họ vào con đường lưu manh hoặc làm những việc xấu xa Sau cách mạng, trong truyện ngắn « Đôi mắt » (1948), Nam Cao đã trực diện đặt ra vấn đề cần xác định « đôi mắt » đúng đắn để thấy được bản chất cách mạng của quần chúng nông dân đang là chủ lực của cuộc kháng chiến chống Pháp khi đó

Cho nên, có thể nói, vấn đề « đôi mắt » là một đặc điểm quan trọng trong quanđiểm sáng tác của Nam Cao, trở thành ý thức nghệ thuật thường trực trong suốt cuộc đời cầm bút của nhà văn có tấm lòng gắn bó sâu nặng với nhân dân

3 Giá trị nghệ thuật đặc sắc của truyện

« Lão Hạc » là một trong những truyện ngắn hay nhất của cây bút truyện ngắn bậc thầy Nam Cao Tài nghệ bậc thầy đó thể hiện ở nhiều khía cạnh và có những điểm nổi bật sau :

chuyện với « cậu Vàng », có thể thấy rõ cảnh sống cô đơn của lão, chất người trunghậu ( thể hiện qua thái độ âu yếm, chiều chuộng đối với cậu Vàng) và tình thương sâu nặng đối với đứa con trai đang ở xa Hoặc những chi tiết thể hiện phản ứng tâm

lí của lão Hạc xung quanh việc mà lão cho rằng đã « lừa cậu Vàng » : đau đớn, chua xót, hối hận, đã cho thấy rất rõ tâm hồn, tính cách ông lão nông dân nhân hậu,đáng thương ấy

- Cách dựng truyện, bút pháp trần thuật linh hoạt, mới mẻ Tác giả đi thằng vào giữa truyện ( cảnh lão Hạc nói chuyện với « tôi » về việc sẽ phải bán « cậu Vàng ») rồi mới nhẩn nhà đi ngược thời gian, kể về cảnh ngộ nhân vật, từ chuyện

« con chó là của cháu nó mua đấy » chuyển sang chuyện anh con trai đã bỏ đi phu,

để lại lão Hạc sống cô đơn và giờ đây đang lâm cảnh cùng đường Cách dẫn chuyện rất thoải mái, tự nhiên, có vẻ lỏng lẻo song kì thật thật chặt chẽ, tập trung, khắc hoạ nhân vật và thể hiện chủ đề

- Truyện rất mực chân thực, đồng thời thấm đượm cảm xúc trữ tình Qua nhânvật « Tôi », người kể chuyện, tác giả đã biểu lộ tự nhiên những cảm xúc, suy nghĩ của mình Chất trữ tình thể hiện ở giọng kể, ở những câu cảm thán nhiều khi khôngnén được cảm xúc, tác giả đã gọi tên nhân vật lên để trò chuyện, than thở : ( Lão Hạc ơi ! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão khong muốn bán con chó vàng của lão ! Hỡi ơi lão Hạc ! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều hơn ai hết ! », « Lão Hạc ơi, lão hãy yên lòng nhắm mắt ) Chất trữ tình còn thể hiện ở những lời mang giọng tâm sự riêng của « tôi », như chung quanh việc « Tôi » phải bán mấy quyển sách : « ôi những quyển sách rất nâng niu( ) kỷ niệm một thời hăng hái và tin

Trang 19

tưởng đầy những say mờ đẹp và cao vọng ằ Và thể hiện rừ nhất là ở những đoạn văn trữ tỡnh ngoại đề đậm màu sắc triết lý : ô Chao ụi ! Đối với những người ở quanh ta ằ Những cõu văn triết lý đú khụng hề cú giọng sỏch vở, trỡu tượng mà lànhững suy nghĩ gan ruột nờn cú sức thuyết phục đặc biệt.

=> Vừa tỉnh tỏo, chõn thực, vừa trữ tỡnh thắm thiết và đậm đà ý vị triết lớ, đú chớnh là đặc điểm bỳt phỏp văn xuụi Nam Cao được thể hiện rừ nột trong ô Lóo Hạc ằ

III- Kết bài :

Tỏc phẩm ô Lóo Hạc ằ đó làm cho em vụ cựng xỳc động Một truyện ngắn chứa chan tỡnh người, lay động bao nỗi xút thương khi tỏc giả kể về cuộc đời cụ đơn bất hạnh và cỏi chết đau đớn của một lóo nụng nghốo khổ Nhõn vật Lóo Hạc

đó để lại trong lũng ta bao ỏm ảnh khi nghĩ về số phận con người, số phận người nụng dõn Việt Nam trong xó hội cũ Cú biết bao nhiờu người nụng dõn đó sống nghốo khổ, cơ cực và cựng quẫn như lóo Hạc Xin cảm ơn nhà văn Nam Cao, ụng

đó giỳp ta nhỡn thấy vẻ đẹp tõm hồn và nhõn cỏch cao cả của họ, đem đến cho ta một niềm tin sõu sắc vào con người

ốm đã hết sạch sành sanh, lão đã phải kiếm ăn nh một con vật Nam Cao đã dungcảm nhìn thẳng vào nôic khổ về vật chất của ngời nông dân mà phản ánh

b Nỗi khổ về tinh thần

Đó là nỗi đau cả ngời chồng mát vợ, ngời cha mất con Những ngày tháng xacon, lão sống trong nỗi lo âu, phiền muộn vì thơn nhó con vì cha làm tròn fbổn phậncủa ngời cha Còn gì xót xa hơn khi tuổi già gần đất xa trời lão phải sống trong cô

độc Không ngời thân thích, lão phải kết bạn chia sẻ cùng cậu vàng

Nỗi đau, niềm ân hận của lão khi bán con chó Đau đớn đến mức miệng lãoméo xệch đi Khổ sở, đau xót buộc lão phải tìm đến cái chết nh một sự giảithoát Lão đã chọn cái chết thật dữ dội Lão Hạc sống thì mỏi mòn, cầm chừng quangày, chết thì thê thảm Cuộc đời ngời nông dân nh lão Hác đã không có lối thoát

2 Con trai lão Hạc

Vì nghèo đói, không có đợc hạnh phúc bình dị nh mình mong muốn khiếnanh phẫn chí, bỏ làng đi đồn điền cao su với một giấc mộng viển vông có bạc trămmới về Nghèo đói đã đẩy anh vào tấn bi kịch không có lối thoát

Không chỉ giúp ta hiểu đợc nỗi đau trực tiếp của ngời nông dân Truyện còngiúp ta hiểu đợc căn nguyên sâu xa nỗi đau của họ Đó chính là sự nghèo đói vànhững hủ tục phong kiến lạc hậu

II Truyện ngắn Lão Hạc giúp ta hiểu đợc vẻ đẹp tâm hồn cao quý của ngời nông dân

Trang 20

1 Lòng nhân hậu

Con đi xa, bao tình cảm chất chứa trong lòng lão dành cả cho cậu vàng Lãocoi nó nh con, cu mang, chăm chút nh một đứa cháu nội bé bỏng côi cút : lão bắtrận, tắm , cho nó ăn bàng bát nh nhà giầu, âu yếm, trò chuyện gọi nó là cậu vàng,rồi lão maaaawngs yêu, cng nựng Có thể nói tình cảm của lão dành cho nó nh tìnhcảm của ngời cha đối với ngời con

Nhng tình thế đờng cùng, buộc lão phải bán cậu vàng Bán chó là một chuyệnthờng tình thế mà với lão lại là cả một quá trình đắn đo do dự Lão cói đó là một sựlừa gạt, một tội tình không thể tha thứ Lão đã đau đớn, đã khóc, đã xng tội với ônggiáo , mong đợc dịu bớy nỗi dằng xé trong tâm can

Tự huỷ diệt niềm vui của chính mình, nhng lại xám hối vì danh dự lam ngờikhi đối diện trớc con vật Lão đã tự vẫn Trên đời có bao nhiêu cái chết nhẹ nhàng,vậy mà lão chọn cho mình cái chết thật đau đớn, vật vã dờng nh lão muốn tự trừngphạt mình trớc con chó yêu dấu

2 Tình yêu th ơng sâu nặng

Vợ mất, lão ở vậy nuôi con, bao nhiêu tình thơng lão đều dành cho con trailão Trớc tình cảnh và nỗi đau của con, lão luôn là ngời thấu hiểu tìm cách chia sẻ,tìm lời lẽ an ủi giảng dải cho con hiểu dằn lòng tìm đám khac Thơng con lão càng

đauđớn xót xa khi nhận ra sự thực phũ phàng : Sẽ mất con vĩnh viễn “Thẻ của

nó chứ đâu có còn là con tôi ” Nhữn ngày sống xa con, lão không nguôinỗi nhó thơng, niềm mong mỏi tin con từ cuối phơng trời Mặc dù anh con trai đibiền biệt năm sáu năm trời, nhng mọi kỷ niệm về con vẫn luôn thờng trực ở tronglão Trong câu chuyện với ông giáo , lão không quyên nhắc tới đứa con trai củamình

Lão sống vì con, chết cũng vì con : Bao nhiêu tiền bòn đợc lão đều dành dụmcho con Đói khat, cơ cực song lão vẫn gi mảnh vờn đến cùng cho con trai để lo chotơng lai của con

Hoàn cảnh cùng cực, buộc lão phải đứng trớc sự lựa chọn nghiệt ngã : Nếusống, lão sẽ lỗi đạo làm cha Còn muốn trọn đạo làm cha thi phải chết Và lão đãquyên sinh không phải lão không quý mạng sông, mà vì danh dự làm ngời, danh dựlàm cha Sự hy sinh của lão quá âm thầm, lớn lao

3 Vẻ đẹp của lòng tự trọng và nhân cách cao cả

Đối với ông giáo ngời mà Lão Hạc tin tởng quý trọng , cung luôn giữ ý đểkhỏi bị coi thờng Dù đói khát cơ cực, nhng lão dứt khoát từ hối sự giúp đỡ của ônggiáo , rồi ông cố xa dần vì không muốn mang tiếng lợi dụng lòng tốt của ngờikhác Trớc khi tìm đến cái chết, lão đã toan tính sắp đặt cho mình chu đáo Lão chỉ

có thể yên lòng nhắm mắt khi đã gửi ông giáo giữ trọn mảnh vờn, và tiền làm ma.Con ngời hiền hậu ấy, cũng là con ngời giầu lòng tự trọng Họ thà chết chứ quyếtkhông làm bậy Trong xã hội đầy rẫy nhơ nhuốc thì tự ý thức cao về nhân phẩm nhlão Hạc quả là điều đáng trọng

III Truyện giúp ta hiểu sự tha hoá biến chát của một bộ phận tầng lớp nông

dân trong xã hội đơng thời : Binh T vì miếng ăn mà sinh ra làm liều bản chất lumanh đã chiến thắng nhân cách trong sạch của con ngời Vợ ông giáo vì nghèo đóicùng quấn mà sinh ra ích kỷ nhỏ nhen, tàn nhẫn, vô cảm trớc nỗi đau của ngời khác

Trang 21

Là ngời sống gần gũi , gắn bó với ngời nông dân Nam Cao đã nhìn sâu hơn vào nỗi

đau tinh thần của nhà văn

2 Bằng cái nhìn yêu th ơng trân trọng, Nam Cao đã nhận ra vẻ đẹp tâm hồn

đáng quý của lão Hạc trong cuộc sống không phải giành cho con ngời.

a Nhà văn nhận thấy từ thẳm sâu tâm hồn lão Hạc tấm lòng nhân hậu thật

Mở rộng: Có thể so sánh cách nhìn trân trọng đối với ngời nông dân của Nam

Cao và cách nhìn có phần miệt thị, khinh bỉ ngời nông dân của Vũ Trọng Phụng Trong tiểu thuyết Vỡ đê, Vũ Trọng Phụng tả ngời nông dan nh những con ngờikhông có ý thức không cảm xúc, coi họ nh những bọn ngời xấu xa, đểu cáng Thấy

đợc cái nhìn của Nam Cao là cái nhìn tiến bộ và nhân dạo sâu sắc

3 Là cách nhìn có chiều sau tràn đầy lạc quan tin t ởng

Nam Cao nhìn ngời nông dân không phải bằng thứ tình cảm dửng dng của kẻtrên hớng xuống dới, càng không phải là hời hợt phiến diện Nam Cao luôn đào sâu,tìm tòi khám phá những ẩn khuất trong tâm hồn của lão Hạc , từ đó phát hiện ra nét

đẹp đáng quý : Đó là cái nhìn đầy lạc quan tin twongr vào phẩm hạnh tốt đẹp củangời nông dân Trớc cách mạng, không ít nhân vật của Nam cao đều bị hoàn cảnhkhuất phục, làm thay đổi nhân hình lẫn nhân tính Vậy mà kì diệu thay hoàn cảnhkhắc nghiệt đã không khiến một lão Hạc lơng thiện thay đổi đợc bản tính tốt

đẹp Lão đã bảo toàn nhân cách cao cả của mình để tìm đến cái chết : “Khôngcuộc đời cha hẳn đã đấng buồn ” thể hiện niềm tin của nhà văn vào nhân cáchvào sự tồn tại kiên cờng vào cái tốt

Đề số 3

Đọc mỗi tác phẩm văn chơng, sau mỗi trang sách, ta đọc đợc cả nỗi niềm bănkhoăn trăn trở của tác giả về số phận con ngơi Dựa vào những hiểu biết về LãoHạc, và Cô bé bán diêm hãy làm sáng tỏ nỗi niềm đó

Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về những tấn bi kịch không có lốithoát của tầng lớp thanh niên nông thôn lúc bấy giờ , điển hình là anh con trai lãoHạc Cuộc sống cùng quẫn, nghèo đói khiến anh không có nổi hạnh phúc bình gị

nh mình mong muốn bỏ đi đồn điền cao su với suy nghĩ viển vông : “Có bạc trămmới về”

Trang 22

II Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về số phận ngời trí thức trong xã hội

đ-ơng thời

Ông giáo là ngời có nhiều chữ nghĩa, giàu ớc mơ khát vọng cao đẹp có nhâncách đáng quý song lại sống trong cảnh nghèo dói Từ Sài Gòn trở về quê hơng, cảgia tài của ông chỉ có một va ly đựng toàn sách cũ ông đã bán dần những quyểnsách mà ông vẫn nân niu quý trọng Đây là nỗi đu khổ đối với ngơi trí thức bởisách là một phần của đời ông Vậy mà giờ đây vấn đề miếng cơm manh áo đã dậptắt những ớc vọng trong sáng đẩy ông vào thảm cảnh “Sống mòn ” không có lốithoát Qua tấn bi kịch của ông giáo Nam Cao không khỏi day dứt về số phận ngờitri thức trog xã hội đơng thời Họ mang trong mình ớc mơ hoài bão cao đẹp và kháyvọng nghề nghiệp

Tóm lại thông qua số phận ngời nông dân, ngời trí thức, Nam Cao muốn cấtlên tiếng kiêu cứu

III Những băn khoăn của An- đéc xen về số phận trẻ em nghèo

Một cô bé nhỏ xinh ngoan ngoãn đáng đợc sống đầy đủ lại phải chịu nhiềubất hạnh trái ngang

Từ khi gia đình tiêu tán gia đình em phải sống chui rúc trong xó tối tăm Côphải bàn diêm để kiếm sống Em bị bỏ đói, rét đầu trần chân đi đất cứ lang thangtrong đêm tối Rét buốt đã khiến đôi bnf tay em cứng đờ ra , chân bầm tím Emthiếu sự quan tâm tình thơng của gia đình và xã hội

Bà nội và mẹ cô những ngời thơng yêu em thì đã lần lợt ra đi Chỗ dựa tinhthần cuối cùng của em là ngời cha, nhng cha lại lạnh lùng tàn nhẫn, khiến em luônsống trong sợ hãi không muốn về nhà

Ngời đời thì lạnh lùng nhẫn tâm, vô cảm trớc tình cảnh của em, không ai đoáihoài đến lời chào của cô ngời ta còn diễu cợt trên nôi đau của em Nhà văn daydứt trớc cái chết của cô bé nhà văn đã cổ tích hachsuwj ra đi của em trong thanhthản, mãn nguyện

Đề 4:

Suy ngẫm về giá trị đích thực của một tác phẩm văb chơng, nhà văn Nam Caokhảng định: “Một tác phẩm giá trị phải vợt lên trên tất cả, bờ cõi và giới hạn phải làtác phẩm chung cho cả loài ngời Nó phải chứa đựng một cái gì đó lớn lao mạnh

mẽ Nó ca tụng lòng thơng tình bắc ái, sự công bình, nó làm cho ngời gần ngờihơn” Qua truyện ngắn lão Hạc của Nam Cao và truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng củaOHen-ri, hãy phân tích làm sáng tỏ nhận định trên

Hớng dẫn:

A Gải thích:

- Lời bàn luận của Nam Cao chứa đựng quan điểm về nghệ thuật chân chính,quan điểm đánh giá về tác phẩm văn chơng có giá trị đích thực Theo quan điểmcủa Nam Cao, một tác phểm có giá trị phải là tác phẩm chung cho cả loài ngời, nó

ca tụng tình thơng, lòng nhân ái sự công bằng, nghĩa là tác phẩm nghệ thuật mangnội ung nhân đạo sâu sắc Tác phẩm ấyphải xuất phát từ tình yêu thơng con ngời, vìhạnh phúc của con ngời

- Vấn đề tình thơng, luơn tâm, danh dự lẽ sống lẽ công bằng niềm vui hay nỗikhổ ở đời luôn là điều quan tâm lớn nhất của con ngời, ở mọi thời đại, mọi quốc gianhững tác phẩm hớng tới những vấn đề đó sẽ là tác phẩm muôn đời và sẽ có sứcsống lâu bền với ngời đọc

- Lời khẳng định của Nam Cao hoàn toàn có cơ sở, bởi có nhiều tác phảm ra đờicách đây vài ba thế kỷ song vẫn sống trong lòng bạn đọc bao thế hệ ở nhiều quốcgia khác nhau, truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao và chiếc lá cuối cùng đều lànhững tác phảm có giá trị đích thực vì chúng đều đề cập đến vẻ đẹp của tình ngời và

đức hy sinh cao cả Nà văn giúp cn ngời biết sống gần gũi nhau hơn

Đề bài 5: Phân tích nhân vật Lão Hạc.

Trang 23

Dµn ý

I - Mở bài

- Nam Cao là nhà văn nhân đạo Ông đã để lại những trang viết tâm huyết về người nông dân trước cách mạng tháng Tám

- Truyện ngắn « Lão Hạc » không chỉ miêu tả xúc động tình cảnh khốn cùng

và số phận bi đát của người nông dân mà còn là một câu chuyện xúc động về một nhân cách cao quý

- Cũng như bao cố nông cùng khổ khác, Lão Hạc là một lão nông nghèo khổ bất hạnh nhưng lại một con người có trái tim nhân hậu, lương thiện và có một tâm hồn, nhân cách cao cả

II-Thân bài

1 Lão Hạc là một lão nông nghèo khổ, bất hạnh

- Vợ mất sớm, một thân một mình gà trống nuôi con

- Sống bằng nghề cầy thuê, cuốc mướn

- Đứa con trai duy nhất vì nghèo mà phẫn chí bỏ đi

- Sống cô đơn, tội nghiệp, già cả, ốm đau

- Nghèo đói, sức cùng, lực kiệt-> Tìm đến cái chết để giải thoát

- Cái chết dữ dội, đau đớn, khổ sở, vật vã

=> Cuộc đời lão Hạc là số phận người nông dân bị đẩy đến bước đường cùng không lối thoát Cái chết của lão Hạc là lời tố cáo, lên án xã hội thối nát => Giá trị hiện thực sâu sắc

2 Là người sống rất nhân hậu

- Đối với mọi người : Sống tốt, chân thành

- Đối với con chó

+ Quý nó quá mức

+ Chăm sóc nó tỉ mỉ

+ Đau xót khi phải bán nó

- Đối với con trai

+ Nỗi đau bất lực của người cha vì nghèo mà không lo được hạnh phúc cho con

+ Khi con đi, tuyệt vọng, đau khổ như mất con, luôn mong con về

+ Chọn cách sống cho con, vì con, luôn để dành tiền cho con

+ Tìm đến cái chết để giữ tài sản cho con

3 Là người lương thiện và giầu lòng tự trọng

- Thà nhịn đói chứ không tiêu vào tiền của con

- Kiên quyết từ chối mọi sự giúp đỡ của người khác, kể cả sự giúp đỡ của ông giáo, người rất thân tình với ông

- Không muốn hàng xóm nghèo phải phiền luỵ về cái xác già của mình ( gửi ông giáo tiền lo ma chay cho mình)

- Chọn cái chết để giữ trọn phẩm giá

III- Kết luận

Trang 24

- Hỡnh ảnh lóo Hạc gõy ấn tượng đậm nột và cứ ỏm ảnh vương vấn khụng dứt trong lũng người đọc

- Cuộc đời lóo Hạc là một dũng nước mắt chảy dài của những nỗi đau triền miờn, bất tận

- Bờn trong cỏi vẻ bề ngoài gần như lẩm cẩm, gàn dở là một nhõn cỏch vụ cựng cao quý

- Người đọc xút xa trước cỏi chết của lóo Hạc bao nhiờu thỡ càng trõn trọng và vững tin ở nhõn cỏch bấy nhiờu

*

* *

Đề bài 6: Cuộc đời lão Hạc chồng chất những bi kịch: bi kịch làm cha và bi

kịch làm ngời Hãy phân tích truyện ngắn lão hạc để làm rõ nhận định trên.

* Giới thiệu khái quát nội dung truyện ngắn "Lão Hạc" trong sự so sánh với

các tác phẩm khác của Nam cao

1 Bi kịch làm cha của lão Hạc:

- Bất lực không có tiền cho con cới vợ, để ngời con trai duy nhất phẫn chí đi làm đồn điền cao su

- Đau xót khi tonà bộ số tiền dành dụm chắt chiu cho con, vì một trận ốm mà hết sạch

2 Bi kịch làm ngời của lão hạc:

- Dằn vặt, đau đớn vì trót lừa "Cởu Vàng"

- Bị đẩy vào sự lựa chọn khốc liệt: nếu muốn sống thì lỗi đạo làm cha, phạm

đạo làm ngời; nếu muốn trọn đạo làm ngời thì buộc phải chết

- Lão Hạc chọn cái chết để giữ trọn phẩm giá

3 ý nghĩa của những bi kịch:

- Phản ánh chiều sâu nội tâm đầy mâu thuẫn của nhân vật

- Thể hiện sâu sắc phẩm cách cao quý của nhân vật

- Có giá trị tố cáo sâu sắc xã hội đơng thời

1930 Cả hai ông đều quan tâm đến số phận ngời nông dân

- Viết về ngời nông dân, hai ông đều có một điểm chung: Khắc hoạ nỗi đau khổ cùng cực và phát hiện ra phẩm chất ngời sáng của học

II Thân bài :

1 Ngời nông dân với số phận bần cùng, đau khổ:

- Gia đình chị Dậu phải đối mặt với mùa su thuế:

+ Anh Dậu đau ốm vẫn bị đánh đập hành hạ dã man

+ Chị Dậu phải bán con, bán chó lấy tiền nộp su mà còn bị nhà Nghị quế giàu có tham lam ăn bớt mất hào bạc lẻ

+ Cái Tí bé bỏng không đợc sống cùng cha mẹ mà sớm phải chịu kiếp tôi đòi

Trang 25

+ Đủ tiền nộp su anh Dậu vẫn không đợc tha vì bọ cờng hào bắt đóng thuế cho cả ngời em trai đã chết.

=> tình cảnh bi thảm cùng quẫn

- Lão Hạc của Nam Cao phải đối diện với sự nghèo đói :

+ Ví nghèo mà gia đình lão li tán, vợ chết , con lão bỏ đi xa vì không đủ tiền cới vợ

+ Có con chó nuôi làm bạn cũng không thể giữ bên mình đợc vì nghèo

+ Phải đi làm thuê làm mớn kiếm sống qua ngày mà cũng không đợc

=> Ngời nông dân là tầng lớp bần cùng, bị đè nén áp bức, bóc lột tàn bạo, bị chà đạp không thơng tiếc, hiện tại cúng quẫn, tơng lai mịt mờ, tăm tối

2 Ngời nông dân với phẩm chất lơng thiện, tốt đẹp :

- Chị Dậu đảm đang tháo vát, làm trụ cột cho gia đình ;yêu chồng, thơng con ;mạnh mẽ, cứng cỏi ; tâm hồn trong sáng

- Lão Hạc hiền lành, lơng thiện, rất mực thơng con, giàu tự trọng, thà chết cũng không làm phiền hàng xóm

 Tình cảnh cực khổ của ngời nông dân khi bị dồn vào bớc đờng cùng

 Vẻ đẹp tâm hồn và sức mạnh của ngời nông dân (khi bị dồn vào bớc đờngcùng)

* Phân biệt chủ đề với các khái niệm khác:

VD: Bài thơ “ Qua Đèo Ngang”

Đại ý: - 6 câu thơ đầu: Cảnh Đèo Ngang lúc bóng xế tà

Trang 26

- 4 câu thơ cuối: Nỗi buồn cô đơn của nữ sĩ.

Chủ đề: Tâm trạng buồn, cô đơn cuả li khách khi bớc tới Đèo Ngang trong ngày tàn

+ Chủ đề với đề tài: Đề tài là tài liệu mà nhà văn lấy từ hiện thực cuộc sống đa

vào trong tác phẩm Nừu dề tài giúp ta xác định: Tác phẩm viết về cái gì? Thì chủ

đề lại giải đáp câu hỏi : Vấn đề cơ bản của tác phẩm là gì ?

a Mở bài: Giới thiệu chủ đề

b Thân bài:Triển khai các chủ đề ( qua các đoạn văn)

c Kết luận: Tổng kết chủ đề

* L

u ý : Trình tự phần thân bài theo một số trình tự sau: Không gian, thời gian, mạch

cảm xúc hoặc sự phát triển của sự việc

* Bài tập:

Bài tập 1: Có một bạn đợc phân công báo cáo kinh nghiệm học tập tại hội nghị học

tốt của trờng Bạn ấy dự định theo bố cục sau:

a Mở bài: chào mừng các đại biểu, các thầy cô và các bạn dự hội nghị

b Thân bài:

- Nêu rõ bản thân đã học nh thế nào ở lớp

- Nêu thành tích hoạt động Đội và thành tích văn nghệ của bản thân

- Nêu rõ bản thân học ở nhà thế nào

- Nêu rõ bản thân học trong cuộc sống

c Kết bài: Chúc sức khoẻ mọi ngời, chúc các bạn học tốt

Bố cục trên đã rành mạch và hợp lí cha? Vì sao? Theo em có thể bổ sung thêm điềugì?

Gợi ý:

Bố cục trên cha rành mạch vì:

- Mở bài: Cha nêu ra chủ đề mà văn bản đề cập

- Thân bài: Trình bày cha dày đủ, rõ ràng

- Kết luận cha tổng kết chủ đề

Bố cục trên cha rành mạch hợp lí vì bố cục cha có sự thống nhất về chủ đề, ýthứ 2 không nói về học tập ( lạc chủ đề)

Phần mở bài cha giới thiệu phần mình định báo cáo

Bổ sung ý 2: Nêu thành tích, kinh nghiệm học tập

Bài tập 2: Hãy tìm chủ đề cho đề bài sau:

“ Phân tích lòng thơng mẹ của chú bé Hồng trong đoạn trích : Trong lòng

mẹ

Gợi ý:

MB: Giới thiệu và khái quát tình cảm của chú bé Hồng đối với mẹ

TB: - Cảnh ngộ đáng thơng của chú bế Hồng

- Nỗi nhớ nhung và sự khát khao gặp mẹ

- Phản ứng quyết liệt của chú trớc bà cô, hủ tục PK nghiệt ngã

- Niềm vui sớng tột cùng của cậu bé Hồng khi đang trong lòng mẹ

KL: Khái quát lại tình mẫu tử thiêng liêng và nêu cảm nghĩ của bản thân

III Xây dựng đoạn văn trong văn bản.

1 Đoạn văn: Là phần văn bản đợc bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng cho đến chỗ

chấm xuống dòng, diễn đạt một nội dung tơng đối hoàn chỉnh

Trang 27

2 Trong đoạn văn:

+ Từ ngữ chủ đề:

+ Câu chủ đề:

3 Cách trình bày nội dung đoạn văn: 4 cách

a Trình bày nội dung đoạn văn theo cách song hành

Trang 28

“quạt trần” nằm trong phạm vi nghĩa của từ “ quạt”

* Chú ý: Một từ ngữ có thể có nghĩa rộng đối với từ ngữ này nhng lại có nghĩa hẹp

- Một trờng từ vựng có thể bao hàm nhiều từ vựng nhỏ hơn

Hoạt động của chân: bàn chân, ngón chân, nhảy, đứng …

Chân Bộ phận của chân: bàn chân, ngón, cổ chân …

Cảm giác của chân: tê, đau, mỏi, nhức …

Đặc điểm của chân: ngắn, dài, to, thẳng …

- Trờng từ vựng nhỏ nằm trong trờng từ vựng lớn có thể có sự khác biệt nhau về từloại

Trang 29

- Trờng mùi vị: mặn, ngọt, chua, cay…

- Trờng âm thanh: ngọt, chua, êm…

- Chuyển từ trờng vựng này => trờng từ vựng khác => giá trị nghệ thuật

VD: Nhà ai vừa chín quả đầu

Đã nghe xóm trớc vờn sau chín vàng.

=> Chuyển trờng từ vựng thính giác => trờng từ vựng khứu giác.

Bài tập:

Bài 1: Các từ sau đều nằm trong trờng từ vựng “ động vật” hãy xếp chúng vào cáctrờng từ vựng nhỏ hơn

“ gà, lợn, kêu, gầm, vuốt, đầu, chim, cá, sống, hét, nanh, xé, trống, đực, gặm, nhấm,

bò, khỉ, sủa, gáy, mõm, hí, lông, nuốt, cái, mái, vây…

lom khom: gợi dáng đi chậm, cúi đầu ( gù lng)

sừng sững: gợi hình ảnh sự vật rất to lớn ở trạng thái đứng im

gợi tả hình ảnh yếu ớt, tiều tuỵ

- réo rắt : âm thanh trầm bổng ngân xa

- ú ớ : Chỉ âm thanh giọng nói không rõ ràng, đứt quãng

- thờn thớt: chỉ vật dài

- gập ghềnh : chỉ sự bằng phẳng, lúc xuống lúc lên khó đi

- lanh lảnh : âm thanh trong, kéo dài, sắc

- the thé : âm thanh cao, chói tai

- gâu gâu: âm thanh tiếng chó sủa

Bài tạp 2 Tìm từ tợng hình thích hợp gợi tả dáng đi của ngời dựa vào những gợi ýsau:

GV hớng dẫn HS làm bài tập 2,4 Sách kiến thức cơ bản nâng cao Ngữ văn 8

A Từ ngữ địa phơng và biệt ngữ xã hội

I Kiến thức cơ bản cần nhớ

Trang 30

1 Từ ngữ địa phơng.

- Là từ ngữ dùng ở một hoặc một số địa phơng nhất định

VD:

- o ( NGhệ Tĩnh) => cô gái

- keo ( Miền Nam ) => lớn

- hỉm ( Thanh Hoá ) => bé gái

- nhút: thờng là mít non băm trộn với hoa chuối, cà, măng, cua cáy

+ Từ ngữ địa phơng tơng ứng với từ ngữ toàn dân

VD:

- Nghệ Tĩnh: bọ- cha; hòm – quan tài; mô - đâu…

- Nam Bộ : ghe- thuyền; chén - - bát; heo – lợn…

2 Biệt ngữ xã hội

- Là những từ ngữ chỉ dùng trong một tầng lớp xã hội nhất định

VD:

- Tầng lớp thợng lu, thị dân T sản thời Pháp thuộc: gọi cha mẹ là cậu, mợ

- Thời phongkiến : vua => trẫm; phụ nữ => thiếp…

- HS, SV : xơi gậy, lệch tủ, trúng tủ…

3 Sử dụng từ ngữ địa phơng và biệt ngữ xã hội

- Sử dụng từ ngữ địa phơng, biệt ngữ XH phải thực sự phù hợp với tình huống giáotiếp => biểu cảm

VD: O du kích nhỏ dơng cao súng

- Trong sáng tác văn học : Không nên lãm dụng quá mức = khó hiểu

- Sử dụng tạo màu sắc địa phơng, biệt ngữ XH

II Bài tập ( Sách kiến thức cơ bản nâng cao Ngữ văn 8 )

-Liên kết các đoạn văn trong văn bản

I Liên kết và tác dụng của liên kết các đoạn văn trong văn bản.

1 Khái niệm liên kết đoạn văn.

- Là tạo cho văn bản đảm bảo tính chỉnh thể về hình thức và tính thống nhất,trọn vẹn về nội dung

2 Tác dụng:

- Góp phần bổ sung ý nghĩa cho đoạn văn có chứa phơng tiện chuyển đoạn

- Đảm bảo tính mạch lạc trong lập luận, giúp cho ngời viết văn bản trình bàyvến đề một cách lôgíc, chặt chẽ; đồng thời giúp cho ngời tiếp nhận văn bản có thểlĩnh hội đợc đầy đủ nội dung của văn bản

II Cách liên kết các doạn văn trong văn bản.

1 Dùng từ ngữ liên kết.

* Vị trí: Các từ liên kết đoạn thờng đợc đặt đầu đoạn văn

* Các từ liên kết đoạn văn:

+ Quan hệ từ: và, nhng……

+ Đại từ, chỉ từ: đó, thế, này, đây, vậy,……

+ Các cụm từ thể hiện ý liệt kê : một là, hai là, ba là, thứ nhất, sau cùng, trớchết,,

+ Từ ngữ có ý nghĩa tổng kết, khái quát : Tóm lại, nhìn chung, tổng kết lại

+ Từ ngữ có quan hệ so sánh, tơng phản : nhng, trái lại, ngợc lại, tuy vậy……

Trang 31

+ Từ ngữ thay thế: Đó là, trớc đó, sau đó…

2 Dùng câu nối để liên kết các đoạn văn.

* Vị trí: Có thể đặt ở cuối đoạn trên, đầu đoạn dới hoặc giữa hai đoạn

Các từ ngữ liên kết đoạn đồng nghĩa hay gần nghĩa:

- Vậy mà: thế mà, vậy nhng, thế nhng, ấy thế mà,…

- Tuy nhiên: nhng, tuy vậy, song,…

- Mặt khác: mặt kia

- Cuối cùng: sau cùng, kết thúc là…

- Nói tóm lại: Tổng kết lại, tựu chung lại…

2 Bài tập 3 ( Tr 30)

Trang 32

Cụm văn thơ hiện đại

1/ Văn thơ yêu nớc đầu thế kỷ 20:

A: M ục đích yêu cầu :

- Kiến thức : qua cụm văn bản tự sự giúp học sinh nắm đợc :

- Những tác giả tác phẩm tiêu biểucủa văn học việt nam hiện đại giai đoạn 1930-1945với nhiều thể loại phong phú nh: Truyện ngắn , tiểu thuyết , hồi ký ,

đã phản ánh nhiều đề tài khác nhau : tâm trạng của em bé lần đầu tiên đi học( Thanh Tịnh) Kể lại hủ tục của chế độ phong kiến đã đẩy ngời phụ nữ nghèo khổ, bất hạnhTrong lòng mẹ ( Nguyên Hồng) Đặc biệt trong giai đoạn này nhiều nhà văn hiện thựcđã phản ánh khá chân thực cuộc sống của ngời nông dẩntớc cách mạng tháng 8/1945 nh Lão Hạc , Chị Dậu …đã bị chế độ thực dân phong kiếnđẩy vào con đờng cùng, phải bán con bán chó để nộp su cho nhà nớc nhng bọn tay sai tiép tục của ngời em đã chêt năm ngoái Đó là một thứ thuế dã man đã đánh vào ngời sống lẫn ngời chết Từ đó nhà chị Dậu không đủ tiền nộp su bị tay sai đánh đập tàn nhẫn Cuối cùng chị Dậu không chịu nỗi quyết liều mạng đứng dậy chống trã quyết liệi

- Lão Hạc phải tự tử bàng bã chó để quyết tâm bảo vệ tài sản cho đứa con

- Qua hình ảnh chị Dậu và lão Hạc cho ta thấy đợc hình ảnh ngời nông dân sốngdới chế độ thực dân phong kiến nghèo khổ và bất hạnh, nhng ở họ phẩm chất thật cao đẹp , đáng trân trọng , Chị Dậu , Lão Hạc …là nhân vật điển hình về ngời nông dân vịêt nam trớc cách mạng tháng 8/1945

1.Văn thơ yêu nớc đầu thế kỷ XX:

a.Khái quát về văn học Việt Nam

- Bối cảnh lịch sử: Năm 1858 Pháp nổ súng xâm lợc Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà (

Đà Nẵng ) biến đất nớc ta từ chế độ phong kiến thành một chế độ thực dân nữa phong kiến.Chúng ra sức bòn rút sức lao động của nhân dân ta, nhân dân ta một cổ hai tròng, ý thức thay đổi theo quan điểm, thẩm mỹ thay đổi theo

- Tình hình Văn học: Những năm đầu thế kỷ XX Văn học chuyển mình theo hớng hiện đại hoá, Văn học giai đoạn này là giai đoạn giao thời có sự đổi mới về nội dung về tất cả các mặt : t tởng, tình cảm, cảm xúc, tâm hồn, đã có cách cảm nghĩ của nhà văn đối với đất nớc con ngời và cả nghệ thuật

Đổi mới về hình thức: Chữ viết thay đổi, các tác phẩm Văn học hầu hết đựơc viết bằng chữ Quốc ngữ

Trang 33

Xuất hiện nhiều thể tài mới: báo chí, thơ mới, truyện ngắn hiện đại, tiểu thuyết, phóng sự, tuỳ bút, phê bình văn học.

Thay đổi ngôn ngữ văn học: Ngôn ngữ văn học trung đại mang tính quy phạm lám

điẻn tích điển cổ nay đợc thay thế bằng ngôn ngữ có thể gắn với đời sống bình ờng có tính dân tộc đậm đà hơn

th-Do hoàn cảnh thuộc địa nên văn học giai đoạn này bị kiểm soát nghiêm ngặt của bon thực dân.Chính vì vậy có thể chia văn học hợp pháp ( Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Phạm Duy Tốn ) và văn học bất hợp pháp ( Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh )

Cũng có thể chia thành hai khuynh hớng sáng tác lãng mạn ( Tản Đà), hiện thực ( Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Ngọc)

II.Khái quát về Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

1.Bối cảnh lịch sử: Mâu thuẫn giữa dân tộc ta và thực dân Pháp

Mâu thuẫn giữa nhân dân và giai cấp phong kiến

Đây là thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp gay gắt dẫn đến sự đấu tranh của các hình thái ý thức

Đảng CSVN ra đời( 1932) có sự tác động đến ý thức, t tởng của con ngời

Cách Mạng tháng 8 thành công nớc VNDCCH ra đời

2.tình hình văn học:

Đây là chặng đờng cuối cùng hoàn tất quá trình hiện đại hoá văn học Việt

Nam.Văn học giai đoạn này đạt nhiều thành tựu phong phú, bề thế, đặc sắc nhiều thể loại

Sự phân chia khu vực khuynh hớng văn học rõ rệt hơn giai đoạn 1900 – 19303.Các trào lu văn học 1930 – 1945

Trào l hiện thực với quan điểm sáng tác là nghệ thuật vị nhân sinh dẫn đến quan tâm đến số phận của con ngời, phản ánh đợc hiện thực cuộc sống, sự bần cùng của những con ngời một cổ hai tròng.Những tác phẩm tiêu biểu: Nam Cao ( Lão Hạc, Chí Phèo), Vũ Trọng Phụng có Giông tố, Số đỏ, Kỹ nghệ lấy tây…Ngô Tất Tố( Tắt

đèn)

Trào lu lãng mạn với quan điểm sáng tác nghệ thuật vì nghệ thuật.Lãng mạn phóng túng không bị bó buộc.Đó là tiếng nói của những cá nhân giàu cảm xúc, giàu lãng mạn khát khao bất hoà với thực tại ngột ngạt muốn thoát ly khỏi thực tại bằng mộng tởng đI sâu vào thế giới nội tâm

Những nhà thơ mới họ làm nên nỗi buồn nhân thế, thời thế, thân thế

Nội dung: Tình yêu nam nữ bình quyền, ý thức tự do trong mọi chuyên, số phận conngời

Giá trị: có nhiều yếu tố cơ bản, lành mạnh, đậm đà tính dân tộc góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới văn học theo hớng hiện đại hoá

2 Thơ mới: Xuất hiện 1932 - 1945

Là tiếng nói chủ yếu của giai cấp tiểu t sản thành thị

Trang 34

Sự xuất hiện của các giai cấp t sản và tiểu t sản thành thị những tình cảm, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lu văn hoá đông tây là nguyên nhân chính làm cho phong trào thơ mới ra đời.Ban đầu thơ mới ra đời để chống lại sự quy phạm củathơ cũ

Thơ nới có sự đổi mới về nội dung phi pháp

Đề tài ca ngợi tình bạn, tình yêu say đắm, vẻ đẹp thiên nhiên

 Cái Tôi trữ tình trong thơ mới

Trong thơ trữ tình cái Tôi chính là bóng dáng của nhà thơ và đấy là quan điểm chínhtrị, triết học, tôn giáo của nhà thơ về cuộc sống đợc bộc lộ dới dạng những cảm xúcThi sỹ thơ mới đã đối lập mình với thực tại bằng cách quay lng khớc từ những mối quan hệ bằng cách hớng vào bên trong nhng tự mình thu lại trong cảm hứng

riêng.Vì vậy nhà thơ ngày càng biến thành trung tâm vũ trụ đứng bằng cách chon von cô độc

Khát vọng thoát ly bản thân ngời nghệ sỹ đòi hỏi cái gì cũng phải tuyệt bích tuyệt mỹvà hoàn hảo.Họ ao ớc chân trời khoáng đạt để sáng tác nhng giữa thời buổi “ ma

âu gió mỹ” khát vọng đó không trở thành hiện thực, họ đâm ra vỡ mộng không tìm thấy hóng đI không hoà nhập với phong trào cách mạnh của quần chúng, họ cố gắng tìm cho mình một con đờng để thoát ly cuộc sống thực tại đồng thời cũng đI tìm một điểm tựa nào đó cho cuộc đời nhng càng đi tìm họ càng lạc lối, càng đi sâu vào cái tôi lại càng cô dơn vắng lặng

Thoát ly: - trốn vào tình yêu: đây là con đờng phổ biến nhất( Xuân Diệu)

- họ hớng đến thế giới lý tởng mà họ ớc mơ ( trăng, sao, vũ trụ, thiên đờng)

- họ trở về với quá khứ vàng son ( Thế Lữ, Vũ Đình Liên)Tóm lại thơ mới là tiếng thơ hớng nội – thoát ly buồn nhng giàu nhân bản

 Mở bài: Phan Bội Châu (1867-1940) hiệu là Sào Nam, quê ở Nghệ An,

Ông là chiến sỹ cách mạng vỹ đại của dân tộc ta hơn hai mơi năm đầu củathế kỷ XX.Ông còn là một nhà thơ, nhà văn lớn để lại nhiều kiệt tác chứa chan tinh thần yêu nớc chống xâm lăng

‘ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông’ là chùm thơ hai bài.Đây là bài thơ thứ nhất đợc Phan Bội Châu viết trong ngày đầu bị bắt giam

Bài thơ thể hiện khí phách hiên ngang bất khuất và phong tháI ung dung của ngời chiến sỹ yêu nớc cách mạng trớc cảnh tù đày nguy hiểm

Trang 35

 Thân bài:

- Hai câu đề: Nói lên một tâm thế đẹp của ngời chiến sỹ cách mạng “ Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lu – chạy mỏi chân thì hãy ở tù’

Một con ngời có tài cao chí lớn, trong mu đồ cứu nớc, cứu dân.Một nhà nho trang nhã, ung dung, đàng hoàng, vẫn là chấp nhận cảnh ngộ tù đày, vừa là một sự thách đố, thể hiện một tháI độ bất bình tĩnh, vừa rất chủ động trớc tai ơng hoạn nạn

- Hai câu thực: Nói về cuộc đời ngời chiến sỹ cách mạng phảI

xa gia đình, quê hơng, đất nớc, bôn ba hảI ngoại, phảI nếm trảI mọi thử thách gian truân, chịu cảnh tù tội

- Hai câu luận: Đối nhau, ngôn ngữ trang trọng, diễn tả một chí khí hiên ngang, một chí lớn phi thờng của ngời anh hùng muốn làm nên sự nghiệp vỹ đại.Thơ mang cốt cách anh hùng

‘ Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế – mở miệng cời tan cuộc oán thù’

- Hai câu kết: Khẳng định một niềm tin chói sáng, con đờng cách mạnh cứu nớc, cứu dân là con đờng vinh quang sáng ngời chính nghĩa, con đờng chiến đấu vì chính nghĩa đang

mở rộng phía trớc.Câu thơ thứ tám nói lên một chấp nhận, một thách thức coi thờng những nguy hiểm gian truân ‘ Thân

ấy vẫn còn, còn sự nghiệp – Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì

đâu’.Đó là niềm tự tin, lạc quan, bất khuất, tự làm chủ hoàn cảnh, mang cốt cách hào kiệt phong lu

 Kết bài: Đây là bài thơ viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đờng luật, giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ, cảm hứng anh hùng dào dạt “ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông” của Phan Bội Châu là bài ca yêu nớc, bài ca tự do

Tuần 22 ngày soạn 24/01/2010

- Giáo viên: Nghiên cứu soạn bài, tài liệu tham khảo

- Học sinh: tìm hiểu hai văn bản trên

C/ Tiến trình dạy và học:

Trang 36

- Hoạt động 1: Giáo viên kiểm tra các bài tập của học sinh

- Hoạt động 2: Dạy bài mới

1, Văn bản: Hai chữ nớc nhà

+ Tác giả, tác phẩm: Trần Tuấn Khải( 1895- 1983) bút hiệu á Nam, quê Nam

Định.Ông thờng mợn những đề tài lịch sử, hoặc những biểu tợng nghệ thuật bóng gió để bộc lộ nỗi đau mất nớc, nỗi căm giận bọn cớp nớc và bè lũ tay sai, nhằm khích lệ tinh thần yêu nớc của đồng bào và bày tỏ khát vọng độc lập tự do của mình.Thơ Oong vàop những năm 20 của thế kỷ XX đợc truyền tụng rộng rãI, nổi tiếng nhất là những bài hát theo các làn điệu dân ca, và những bài thơ mang các thể loại cổ truyền của dân tộc nh lục bát, song thất lục bát

Hai chữ nớc nhà là bài thơ mở đầu tập bút quan hoài hai, sấng tác năm 1926.Bài thơ mợn đề tài lịch sử thời quân Minh xâm lợc nớc ta, Nguyễn Phi Khanh bị giặt bắt

đem sang Trung Quốc, Nguyễn TrãI định đI theo cha, nhng tới biên giới phía Bắc, Nguyễn Phi Khanh đã khuyên Nguyễn TrãI nên quay về để lo tính việc trả thù nhà,

+ bài thơ là lời nhân vật Nguyễn Phi Khanh – ký thác tâm sự yêu nớc

+ Diễn biến tâm trạng đợc diễn tả thống thiết, nhiều cung bậc tạo nên sự xúc

động cho độc giả.Nghệ thuật thơ song thất lục bát điêu luyện

- cảnh ngộ biệt ly đầy bi phẫn, gợi trực tiếp về thực trạng nớc mất nhà tan.Nỗi đau của Nguyễn Phi Khanh – cũng chính làniềm bi phẫn của những ngời dân phảI chịu nỗi tủi nhạc nô lệ

- Cảnh đau thơng tang tóc của nớc nhà: suy ngẫm về thời thế tạo cảm xúc đau tức hờn căm, thảm cảnh của đất nớc gắn với nỗi đau nhân dân cho thấy rõ tội ác quân thù, gây ra trên sông núi là thực trạng ‘ nớc mất nhà tan’

- Lời chiêu hồn nớc thẫm đẫm máu lệ, khơI gợi trách nhiệm

tr-ớc vận ntr-ớc nghiêng ngã, là nỗi sầu đau nhờng xé tâm can có tác dụng thức tĩnh lơng tri trớc vận nớc – lời nhắn gửi thống thiết: Lời dặn con của Nguyễn Phi Khanh chính là lời kêu gọikín đáo trách nhiệm của thế hệ thanh niên trớc nỗi nhục nô lệ

Trang 37

+ Tiếng nói tình cảm sâu nặng cũng là lời tỏ bày tình yêu nớc nhà gắn nỗi đau dân tộc với nỗi đau con ngời, hoà hợp tình cảm riêng – chung.

+ Giọng điệu thơ phù hợp với tâm trạng, làm rõ thêm vẻ đẹp tâm hồn yêu nớc củanhân vật, cũng là của nhà thơ

 Kết bài: Phát biểu cảm nghĩ về giá trị của tình cảm yêu nớc trong bài thơ

2, Văn bản: Đập đá ở Côn Lôn

 Vài nét về tác giả, tác phẩm

- Phan châu Trinh (1872- 1926) hiệu Tây Hồ, quê Quảng Nam.Trong những năm đầu thế kỷ XX, Phan Châu Trinh là ngời đầu tiên đề xớng dân chủ, đòi bắt bỏ chế độ quân chủ ở Việt Nam.Hoạt động cứu nớc của Ông đa dạng, phong phú vàsôI nổi ở trong nớc, có lúc ở Pháp ở Nhật

- Phan châu Trinh là ngời giỏi biện luận và có tài văn

ch-ơng.Văn chính luận của Ông rất hùng biện và đanh thép, thơ văn trữ ,tình thẫm đẫm tinh thần yêu nớc và dân chủ

+ Năm 1908, Phan Châu Trinh bị khép tội xúi giục nhân dân nổi loạn trong phong trào chống thuế ở Trung Kỳ nên bị bắt đày ra Côn Đảo.Bài thơ ‘ Đập đá

ở Côn Lôn’ làm trong lúc Ông cùng các tù nhân khác bị bắt lao động khổ sai là

đập đá

 Luyện tập:

Đề ra: Phân tích bài thơ ‘ Đập đá ở Côn Lôn” của Phan Châu Trinh

 Mở bài : Phan Châu Trinh (1872- 1926) chiến sỹ cách mạng vỹ đại của dân tộc ta trong ba thập kỷ đầu thế kỷ XX.Ông còn để lại nhiều thơ văn thấm đ-

ợm tinh thần dân chủ và chứa chan tình yêu nớc.Bài thơ ‘ Đập đá ở Côn Lôn’

đã thể hiện khí phách hiên ngang bất khuất của ngời chiến sỹ cách mạng trong cảnh tù đày

 Thân bài:

- 4 câu đầu: vừa tả thực cảnh đập đá, vừa biểu lộ một tâm thế, một ý chí.Chí nam nhi, chí làm trai, coi việc đứng giữa đất Côn Lôn bị tù đày khổ sai là một thách thức nặng nề nhng chẳng hề nao núng, vẫn lừng lẫy làm cho lỡ núi non

- Hai câu 5,6 làm hiện lên một hình ảnh một chiến sĩ cách mạng có tâm hồnvà khí phách cao đẹp

- Hai câu kết: thể hiện bản lĩnh phi thờng của những ngời có chí lớn, mu đồ đại sự mà không thành, đó là những ngời anh hùng thất thế mà vẫn hiên ngang toát lên một phong tháI ung dung tự tại rất ngạo nghễ của nhà chiến sỹ

 Kết bài: Bài thơ tiêu biểu cho thơ ca viết trong nhà tù thực dân của các chiến

sỹ yêu nớc và cách mạng đầu thế kỷ XX.Sẵn sàng xả thân để cứu nớc, sắt son

Trang 38

thuỷ chung với dân tộc, bất khuất hiên ngang trớc cảnh tù đày, đó là cáI tâm cáI chí của Phan Châu Trinh thể hiện trong bài thơ.CáI chí của nhà cách mạnh tiền bối Phan Châu Trinh là bài học lớn cho chúng ta ngỡng mộ và noi theo.

Đề ra 2: Phân tích và phát biểu cảm nhận về khí phách kiên cờng của các chiến sỹ yêu nớc đầu thế kỷ XX qua hai tác phẩm ‘ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác’ ( Phan Bội Châu) và ‘ Đập đá ở Côn Lôn’ ( Phan Châu Trinh)

 Mở bài:

- Sơ lợc về thơ văn yêu nớc đầu thế kỷ XX qua hai nhà chiến

sỹ yêu nớc Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh

- Giới thiệu hai bài thơ của hai nhà thơ, sự thể hiện khí phách

và tâm hồn của ngời yêu nớc

 Thân bài:

- Hoàn cảnh, cảm hứng của hai tác phẩm: nhà tù đế quốc, thực dân giam cầm những chiến sỹ hoạt động cách mạng.Phan BộiChâu bị giam ở Quảng Châu còn Phan Châu Trinh bị đày ra Côn Đảo

+ Trớc hết là khí phách hiên ngang đợc thể hiện rất giống nhau giữa hai nhà thơ, cách thể hiện ý hết sức quen thuộc trong thi ca truyền thống là làm lập ngôn lập chí để thách thức một cách ngoạ nghễ với cảnh tù

+ Hình ảnh ngời chiến sỹ với chí lớn dời non lấp bể dù thất thế nhng vẫn không chịu cúi đầu.Vẻ đẹp của tấm lòng son sắt với sựnghiệp cách mạng

+ Tình cảm hớng về đất nớc cao cả và chân thành.Những bận rộn tâm t gắn liền với vận nớc vợt ra khỏi sự lo toan sống chết của bản thân.ý thơ bộc lộ tầm vóc cao cả, vỹ đại của tâm hồn

- Đánh giá về con ngời hai nhà yêu nớc qua bài thơ: khí phách hiên ngang của các chí sỹ yêu nớc, tình cảm và ý chí hớng vềvận mệnh đất nớc

- Nghệ thuật thơ mới mẻ, vợt lên khuôn mẫu của thi ca truyền thống

 Kết bài: Bài học rút ra từ nhân cách của hai nhà cách mạng tiền bối

Bài tập về nhà: Làm hoàn thiện các đề bài trên và làm thêm đề tiếp theo.

Đề ra: hình ảnh ngời anh hùng cứu nớc hiên ngang lẫm liệt qua bài thơ Đập đá

ở Côn Lôn ( Phan Châu Trinh).

Tuần 23: Ngày soạn: 30/01/2010

Phong trào thơ mới

A/ Mục tiêu cần đạt:- Giúp học sinh nắm lại một số bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới đã đựơc học trong chơng trình về nội dung và nghệ thuật

Trang 39

- Hình thành kỹ năng phát hiện, phân tích, bình giảng

- Qua làm cá đề giúp học sinh khả năng diễn đạt B/ Chuẩn bị bài học:

- Giáo viên: nghiên cứu soạn bài ra đề

- Học sinh: học theo hớng dẫn của giáo viên C/ Tiến trình dạy học:

Hoạt động 1: giáo viên kiểm tra bài tập của học sinh ở nhà

Hoạt động 2: dạy bài mới

Bài thơ Ông Đồ – Vũ Đình Liên

Đề ra: Cảm nhận của em về bài thơ cùng tên của Vũ Đình Liên

- Tác giả phác hoạ hình ảnh Ông Đồ đI từ thời quá khứ đến hiện tại, từ còn đến mất, từ thời khắc hoàn kim cho đến khi chỉ còn vang bóng

- Hình ảnh Ông Đồ thời quá khứ, thời điểm còn, thời khắc hoàng kim ( nho học đang chiếm vị thế quan trọng trong đời sống

Từ không khí vui tơI của ngày tết, hình ảnh Ông Đồ bày mực tàu giấy đỏ bên một góc phố đông để viết chữ là hình ảnh quen thuộc, không thể thiếu.Ông Đồ đã góp phần tạo nên đông vui của ngày tết bởi mọi ngời xúm xít thuê ông viết.Ông Đồ lúc này là vị trí trung tâm, mọi ngời đều tấm tắc khen tài, ngỡng mộ truớc tài năng của

Nỗi buồn của Ông nó lan toả sang cả các vật vô tri vô giác ‘ giấy …sầu’ ( phân tíchnghệ thuật nhân hoá)

Ngời buồn thì cảnh vật cũng buồn ‘ lá … bay’ ( phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình)

Cuối cùng hình ảnh Ông Đồ đã trở thành ngời thiên cổ.Mùa xuân đến hoa đào nở nhng Ông Đồ không xuất hiện.Ông đã nhập vào những ngòi muôn năm cũ

 Hình ảnh Ông Đồ cứ mờ dần, mờ dần rồi mất hút trên con đờng vô tận của thời gian, hình ảnh Ông Đồ chính là di tích tiều tuỵ đáng thơng của một thời tàn

Tác giả thể hiện tình cảm chân thành thơng cảm

Đề 2: Phân tích làm rõ cái hay của hai câu thơ sau trong bài thơ Ông Đồ của Vũ

Đình Liên

Trang 40

Giấy đỏ buồn không thắmMực đọng trong nghiên sầu Gợi ý: Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình – ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ.Ông Đồ buồn nên cảnh vật ở đây cũng nhuốm buồn.Mùa xuân nhng lại xuất hiện hình ảnh lá vàng, lá vàng gợi sự tàn tạ nó lại rơI trên giấy, giấy không có ngời thuê viết nên

cứ phơI giữa trời hứng lấy những lá vàng rơi.Ma bụi ma nhỏ, lất phất ở đây tác giả không chỉ ma xuân để tơI sức sống cho vạn vật mà…gợi ra một tê táI, lạnh lẽo, thê lơng của đất trời.Ma không lớn nhng nó làm con ngời lạnh tê tái

Nỗi buồn của Ông Đồ lan toả ra cả cảnh vật dờng nh đất trời cũng buồn cho Ông

Con hổ là hình tợng trung tâm của bài thơ.Mợn lời con hổ bị nhốt ở vờn bách thú, tác giả diễn tả niềm khao khát tự do mãnh liệt và tâm sự yêu nớc của con ngời những ngày nô lệ

+ con hổ nhớ tiếc về một thời tung hoành hống hách của ngày xa

 Kết bài: Tâm trạng của ocn hổ là một ẩn dụ để thể hiện một cách kín

đáo tình cảm của tác giả cũng là tâm trạng của sự yêu nớc của những ngời dân Việt Nam thửa ấy.Họ chán ghét cuộc sống tù túng tầm thờng của thực tại nô lệ và khao khát tự do

Tâm trạng ấy đã làm nên giá trị và sức sống bền lâu của nhà thơ

Đề 2: Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nhận xét về thơ Thế Lữ ‘ đọc đôI bài nhất là bài ‘Nhớ rừng” ta tởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thờng.Thế Lữ nh một viên tớng điều khiển điều khiển đội quân Việt ngữ bằng mệnh lệnh không thể cỡng đợc ( thi nhân Việt Nam)

Ngày đăng: 05/06/2021, 07:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w