1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giáo trình lịch sử các học thuyết pháp lý phần 2

75 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Chính Trị La Mã Cổ Đại
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử Các Học Thuyết Pháp Lý
Thể loại Giáo Trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Calvin thực tế đã đóng vai trò như một chính quyền thế tục, và tính chất dân chủ, giáo lý tôn trọng lao động, tiết kiệm, tư tưởng vươn tới sự giàu có đã ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất

Trang 1

Chương 4

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ LA MÃ CỔ ĐẠI

1 Khái quát chung

Nhà nước La Mã xuất hiện tương đối sớm và trải qua một thời kì phát triển lâu dài Lịch sử của La Mã cổ đại gắn liền với cuộc đấu tranh gay gắt giữa các tầng lớp xã hội từ khi các quan hệ thị tộc bộ lạc bước vào giai đoạn tan rã hoàn toàn và sự hình thành các quan hệ chiếm hữu nô lệ Tư tưởng chính trị và pháp lý ở La Mã cổ đại được hình thành trong điều kiện phát triển tột đỉnh của phương thức sản xuất chiếm hữu nô

lệ và sau đó là sự sụp đổ của nó Các mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô đạt đến độ sâu sắc nhất đồng thời diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các chủ đất lớn và nhỏ, các tộc trưởng và thị dân về vấn đề ruộng đất, vấn đề quyền chính trị K Marx nhận xét rằng:

"Có thể hoàn toàn coi lịch sử bên trong của nước Cộng hòa La Mã là cuộc đấu tranh của tiểu điền chủ với đại điền chủ, đương nhiên là dưới dạng thay đổi đặc biệt do chế

độ nô lệ tạo nên"1 Các mâu thuẫn xã hội sâu sắc càng trầm trọng thêm do có cuộc đấu tranh trong nội bộ thượng tầng giai cấp thống trị - giữa quý tộc thị tộc và quý tộc công nghiệp thương mại

Trong tư tưởng thống trị của La Mã cổ đại, các vấn đề về nhà nước: Nguồn gốc, thiết chế và hình thức của nó; các vấn đề về nô lệ; địa vị pháp lý của các tầng lớp khác nhau của người tự do; việc bảo vệ sở hữu cá nhân có vị trí quan trọng Tư tưởng chính trị - pháp lý của La Mã cổ đại có nhiều nét giống với Hi Lạp cổ đại, song so với

Hi Lạp, tư duy chính trị của La Mã nghèo nàn hơn nhiều Theo một số tác giả thì sự tiếp nhận các quan điểm của Plato và của Aristote của người La Mã rất non yếu và hạn chế Sở dĩ như vậy là vì những lý do sau:

Thứ nhất, người La Mã vốn có tinh thần thực tiễn nên nền cộng hòa đã sản sinh

ra những con người cầm quyền nhà nước, những cố vấn pháp lí, những nhà hùng biện, những quân lính trung thành với các công việc thực tế và các bài học của họ, lo lắng đến sự kiện hơn là quan tâm soạn thảo các lí thuyết

Thứ hai, người La Mã rất năng động, lại chịu sự tác động của chiến tranh, bởi

những cuộc hội nghị chính trường và bởi việc theo đuổi những vinh dự đã làm cho họ

xa cách phương hướng nghiên cứu duy lí Phạm vi lãnh thổ rộng là sản phẩm của những cuộc chinh phục mà La Mã đã tiến hành trên thế giới cũng không thuận lợi cho việc nghiên cứu lý luận

Thứ ba, người La Mã có tính kiêu căng, họ tự tôn sùng họ quá mức nên họ chỉ

1 C.Mác v Ph ngghen , To n t p, t p 28, Ti ng Nga, Nxb Chính tr qu c gia, M.1962, tr 238

Trang 2

quan tâm đến lịch sử của riêng họ mà không quan tâm nghiên cứu các thiết chế của của các dân tộc khác vì họ cho rằng đó chỉ là những dân tộc bị họ đánh bại hoặc phải phụ thuộc vào họ nên không đáng tìm hiểu

Tuy vậy, ở La Mã thời kì này cũng đã xuất hiện nhiều khuynh hướng tư tưởng đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau như tư tưởng của những người nô lệ khởi nghĩa, tư tưởng của nền dân chủ chiếm hữu nô lệ, tư tưởng của các luật gia La Mã…

2 Tư tưởng chính trị của Nô lệ khởi nghĩa

Đồng thời với cuộc khởi nghĩa đầu tiên của các nô lệ ở Sicile đã nổ ra cuộc khởi nghĩa lớn ở Tiểu Á (132 - 129 tr.CN) dưới sự lãnh đạo của Aristonic, trong đó có tầng lớp nghèo khổ tự do và nô lệ tham gia Aristonic hứa hẹn thành lập "nhà nước mặt trời" (ông vay mượn tư tưởng này từ tác phẩm không tưởng cùng tên của Yambun), nơi có sự ngự trị của tự do, bình đẳng và bác ái

Nói chung, các cuộc đấu tranh của những người nô lệ đã chỉ rõ mong muốn không gì lay chuyển nổi của họ là xóa bỏ áp bức và nô dịch Đồng thời, mặc dù những người nô lệ đã không thể tạo nên hệ tư tưởng chính trị hài hòa, nhưng những phong trào của họ đã có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển tư tưởng và học thuyết chính trị được hình thành trong xã hội chiếm hữu nô lệ

3 Tư tưởng chính trị của nền dân chủ Chiếm hữu Nô lệ

Trong thời gian các đội quân lê dương La Mã chiến đấu chống những người nô lệ

ở Sicile thì ở chính La Mã cũng không bình yên Một phong trào dân chủ mạnh mẽ của nông dân phá sản đã được triển khai dựa trên cơ sở cuộc đấu tranh của những người tự

do sản xuất nhỏ - tiểu nông với đại điền chủ Người nông dân bị phá sản bắt đầu cuộc đấu tranh đòi phân chia điền địa, gắn cuộc đấu tranh này với đòi hỏi dân chủ hóa Nhà nước La Mã

Tư tưởng của Tiberi phần nhiều trùng hợp với những tư tưởng chính trị của nền dân chủ chiếm hữu nô lệ Hi Lạp, đã được em trai ông là Gai Grakho phát triển trong cuộc đấu tranh với Viện nguyên lão và đã góp phần tạo lập khối liên minh rộng lớn giữa nhân dân nông thôn và thành thị với các hiệp sĩ Năm 123 TR.CN, khi được bầu làm người đứng đầu tòa án, Gai Grakho đã đưa ra một số dự luật quan trọng trong đó đáng lưu ý là dự luật giảm 50% giá bánh mì, dự luật cho phép người nghèo được đi xem ở nhà hát, dự luật về quyền được trả tô thuế bằng tiền áp dụng cho dân Tiểu Á, dự luật chuyển giao quyền xét xử trong Viện nguyên lão cho tầng lớp các hiệp sĩ

Ý nghĩa quan trọng của các dự luật trên (dù chúng chưa được thực hiện triệt để)

là đã thể hiện đầy đủ tư tưởng pháp luật công bằng, phi bạo lực và nó đã có ảnh hưởng

Trang 3

lớn tới quá trình hoàn thiện nhà nước theo khuynh hướng dân chủ nảy sinh trong cuộc đấu tranh gay gắt giữa các thế lực chính trị đối kháng ở La Mã Đặc biệt, ý nghĩa chính trị của đạo luật bánh mì do Gai đưa ra là ở chỗ: Nhà nước có trách nhiệm giúp đỡ về vật chất cho thị dân Người ta nói rằng, sau khi đạo luật được thông qua, Gai đã nói:

"Bằng một cú đánh, tôi đã tiêu diệt Viện nguyên lão"1 Anh em Grakho đã bảo vệ cả tư tưởng mở rộng các quyền của những người tự do nghèo khó, dân chủ hóa quân đội Phong trào của anh em Grakho đã bị thất bại vì việc duy trì chế độ tiểu điền chủ

cố hữu như là một trong những cơ sở của chế độ cộng hòa là không thể được Sau khi đàn áp xong phong trào này, giới quý tộc đã được tăng cường và cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng mạnh mẽ bởi vì với sự phát triển của đại điền chủ tư hữu, quyền chính trị của đa số công dân La Mã ngày càng bị cắt xén và mất dần

4 Tư tưởng chính trị của Marc Tulli Cicero (106 -43tr.CN)

Cicero vừa là nhà tư tưởng, vừa là nhà chính trị và nhà luật học Các quan điểm chính trị của ông là sự trung hòa các quan điểm của Plato, Aristote và một số nhà tư tưởng khắc kỉ Ông trực tiếp làm chính trị trong 25 năm, đã từng giữ các chức vụ như pháp quan, quản lí viên thị chính, quan án đô thị, Chấp chính viên tối cao, Tổng đốc Sicile Giữa những năm 70 - 60 tr.CN, ông lập ra cái gọi là một đảng cộng hòa trung tâm Ông tập hợp một liên minh gồm những tư nhân tài chính giàu có từ tầng lớp trung lưu, bộ phận ôn hòa của tầng lớp quý tộc và bộ phận ôn hòa của những người bình dân, chính liên minh này đã giúp ông vào được viện chấp chính năm 63 Sau khi xảy

ra vụ ám sát Cesar, ông đứng đầu phe đối lập và bị ám sát ngày 12/12/43 tr.CN, đầu rời khỏi thân, tay bị chặt gửi về La Mã và bày ở mũi tàu Nhận xét về Cicero, Graston Borrissier đã viết: "Cicero đôi khi do dự và quá mềm yếu thì cuối cùng bao giờ cũng là

để bảo vệ điều mà ông coi như lợi ích của công lí và pháp quyền Khi lợi ích đó luôn

bị thất bại, ông đã làm tròn sự phục vụ cuối cùng cho lợi ích đó mà nó có thể đòi hỏi những người bảo vệ, ông đã làm vẻ vang nó bằng cái chết của ông”2

Tác phẩm Nước cộng hòa gồm 6 quyển:

+ Quyển 1: Về những hình thức khác nhau của chính phủ;

+ Quyển 2: Các thiết chế La Mã;

+ Quyển 3: Về bản chất con người và công lí trong tất cả các chính phủ;

+ Quyển 4: Về giáo dục và đời sống gia đình;

+ Quyển 5: Về các phong tục khắc khổ của thời cổ đại;

1 Xem: “L ch s các h c thuy t chính tr trên th gi i”, sđd, tr 94

2 L ch s các t t ng chính tr , S d, tr.142

Trang 4

+ Quyển 6: Về những quan hệ của tôn giáo và hạnh phúc của các xã hội

Sau khi nghiên cứu về nhà nước trong Nước cộng hòa, ông lại khảo cứu các luật thích hợp nhất với các nhà nước trong tác phẩm Luật pháp Tác phẩm này gồm 3 quyền:

+ Quyển 1: Nghiên cứu nguồn gốc của pháp quyền;

+ Quyển 2: Các luật tôn giáo;

+ Quyển 3: Tổ chức chính quyền, đoàn pháp quan và các quy tắc chính trị thực hành

Hai tác phẩm này của Cicero là sự hỗn hợp từ Nền cộng hòa và Luật pháp của Plato, theo sự luận giải của Cicero thì đó là lí tưởng về chính phủ tốt nhất và công dân tốt nhất, được rút ra đồng thời trong mối quan hệ tất yếu của chúng Vì thế, có người

đã chỉ trích ông là ăn cắp văn của Plato, song lại có người nhận xét: "Nước cộng hòa của Cicero không phải là sự ăn cắp văn của Plato, cũng không phải sự biện hộ có dự tính trước cho ngôi hoàng đế mà là một bức vẽ rất tốt về lí tưởng con người nhà nước,

do Cicero lấy ở tư duy Hi Lạp với kinh nghiệm cá nhân chín muồi của ông và do đó đã thích ứng với tư duy La Mã và với khuôn khổ chính trị của thành bang cộng hòa"1 Theo Cicero, điều bât hạnh nhất đối với người tốt là bị buộc phải tuân theo người xấu Nhưng những người ác sẽ thắng lợi một cách tất yếu nếu những người tốt không tham dự vào các công việc chung và nước cộng hòa sẽ bị phân thành nhiều mảnh Đối với những người tốt thì sẽ là không đủ nếu chỉ quan tâm đến mình mà bỏ qua các việc công cộng Họ cần phải theo dõi bước đi của việc công hàng ngày và chấp nhận các quy tắc của nó Chính trị học La Mã bao hàm một con đường đi lớn, nó làm cho người

ta liên tiếp phải trải qua các chức pháp quan khác nhau để cuối cùng đi đến việc chấp chính

Theo ông, người công dân tốt nhất là người có văn hóa, có tài năng và quyền uy Người đó có phẩm chất của người công dân mà Plato gọi là các nhà triết học chấp chính, còn Cicero gọi họ là con người có uy thế tinh thần Quan niệm của Cicero về quyền lực là quan niệm của một quyền uy tốt bụng, theo ông nhà chính trị tác động tới những người bị cai trị với chức năng phụ trợ và tiết chế, điều hòa

Khi quyền uy thuộc về một vài người được lựa chọn thì người ta nói rằng thành bang được cai trị bởi nhóm ưu tú hay chế độ quý tộc

Cuối cùng, chính phủ nhân dân là chính phủ ở đó tất cả quyền lực thuộc về nhân dân"2

1 L ch s các t t ng chính tr , S d, tr.143

2 L ch s các t t ng chính tr , S d, tr.150

Trang 5

Như vậy, Cicero khẳng định rằng:

- Bản chất nhân loại, lí tính chính nghĩa công bằng phát ra những mệnh lệnh phải được tôn trọng bởi người nghe những mệnh lệnh ấy

- Những mệnh lệnh ấy của lí tính công bằng không thể bị thay đổi bởi pháp quyền thực chứng và các quyền lực công cộng phải bất lực ngay trong môi trường của chúng

- Những biểu hiện của lí tính công bằng đó phải có một tính chất vĩnh hằng và phổ biến

Người nào không biết đến ba nguyên tắc đó sẽ không biết đến bản chất con người trong bản thân mình

Nói chung, Cicero đã viện dẫn đến pháp luật tự nhiên để chống lại luật pháp thành văn của nhà nước lúc đó, đó là thứ pháp luật tồn tại trước những văn bản, trước pháp luật của pháp quan, trước những lời nghị án của các quan tòa

5 Tư tưởng chính trị của Thiên chúa giáo

Sự khủng hoảng của chế độ chiếm hữu nô lệ ngày càng tăng đã dẫn tới sự cùng cực của quần chúng lao động Những người nông dân và thợ thủ công bị phá sản và biến thành "những người nghèo khổ tự do" không còn phương tiện sinh sống Đặc biệt

là tình cảnh khốn cùng của những người nô lệ bị chủ nô bóc lột tàn nhẫn ở nhiều nơi của đế quốc La Mã đã bùng nổ các cuộc khởi nghĩa của nô lệ và nhân dân bị áp bức, nhưng tất cả họ đều bị nhà nước chiếm hữu nô lệ đàn áp dã man Sự bất lực của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh với bọn bóc lột đã dẫn tới sự gia tăng tâm lí tín ngưỡng, sự tìm kiếm "niềm an ủi tinh thần" trong tôn giáo

Sứ mệnh của quyền lực là làm cho công bằng ngự trị, chính trong mục đích đó

mà uy lực đã được đem lại cho ông vua Công bằng bản thân nó có trước quyền lực, không thay đổi, vĩnh hằng, tối thượng chung trong không gian và trong thời gian, nó

áp đặt cho tất cả các ý thức Theo Augustin, uy lực không phải là một điều xấu mà so với công bằng, nó không phải là cái thứ nhất mà là cái thứ hai Quyền lực, bản thân nó

có tất cả cái phải sợ nếu tách xa sự công bằng Ông viết: "Các vương quốc không có công bằng là gì nếu không phải là những việc tham nhũng, cướp bóc" Vậy công bằng nằm ở đâu? Nó cốt ở chỗ làm bổn phận của mình với sự đúng đắn nhất, trả lại cho mỗi người cái mà mình mắc nợ

Nhiệm vụ thứ ba của người thủ lĩnh là phải cố vấn cho nhân dân mình Họ phải đặt quyền uy của họ vào việc phục vụ nhân dân họ Có thể thấy các quan điểm của kinh phúc âm thể hiện khá rõ trong lập luận của Augustin Theo ông, chỉ huy là một mặt của lòng từ thiện; thần dân là những người anh em nên việc áp đặt ý chí đối với họ

Trang 6

cũng là điều tốt vì để thực hiện được việc chỉ huy họ Do đó, "quyền uy phải được chấp nhận như là một sự phục vụ và được yêu thích như là một việc làm phúc" Với sự công bằng làm gốc và việc từ thiện làm ngọn, thành bang tạo ra hạnh phúc cho các công dân Cương lĩnh của Augustin về thành bang là trật tự, đoàn kết, hòa bình, trật tự giành được bằng đoàn kết và đoàn kết được thực hiện bằng hòa bình

Về mối quan hệ giữa nhà nước và nhà thờ, Augustin cho rằng, quyền lực nhà nước và quyền lực nhà thờ là rất khác nhau và độc lập với nhau Mỗi loại quyền lực chỉ phụ thuộc vào bản thân mình và vào Thượng đế, vận động trên những phương diện khác nhau Do vậy, mọi sự can thiệp của quyền lực này vào quyền lực khác vừa là phạm tội vừa là nguy hiểm cho lợi ích chung hoặc cho chính nó

Nói chung, Augustin đặt lòng tin sâu sắc vào các hoàng đế Thiên chúa giáo và cũng chú ý đến việc đồng nhất nhà nước với nhà thờ thông qua việc tuyên bố vai trò của nhà nước như là điều mong muốn của Thượng đế là để duy trì trật tự và khẳng định sự tất yếu phải phục tùng các thiết chế ấy để vâng theo những số phận thiên mệnh ngay cả khi các vua chúa hay các hoàng đế thay đổi tôn giáo hay là người phi đạo Ông khẳng định rằng chế độ nô lệ cũng là do Chúa định Mặc dù mọi người bình đẳng theo tự nhiên nhưng "kẻ nô lệ phải là nô lệ vì những tội lỗi của mình", "kẻ nô lệ phải là

nô lệ vì có lỗi" trước Chúa và bởi vậy nô lệ phải hoàn toàn cam chịu phục vụ chủ của mình Theo ông, sở hữu cá nhân, bất công xã hội, sự tồn tại kẻ giàu, người nghèo là "ý Chúa" Ông viết: "Ai đã tạo ra những thứ đó? Chúa! Sinh ra người giàu là để giúp người nghèo, sinh ra người nghèo là để thử thách người giàu "

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4:

1 Đánh giá một số giá trị tiêu biểu của tư tưởng chính trị La Mã cổ đại?

2 Nội dung tư tưởng chính trị của Thiên chúa giáo?

Trang 7

Chương 5

CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ TÂY ÂU TRUNG CỔ

1 Khái quát chung

Sau khi chế độ chiếm hữu nô lệ Lamã sụp đổ vào thế kỷ V-VI ở Tây Âu đã xuất hiện các nhà nước, chế độ phong kiến dần hình thành Nền tảng của chế độ phong kiến

là sở hữu ruộng đất của lãnh chúa phong kiến Xã hội chia thành hai giai cấp chính: các chúa phong kiến nắm hầu hết ruộng đất và nông dân bị bần cùng hoá, lệ thuộc vào các chúa phong kiến Tới thế kỷ IX chủ nghĩa phong kiến hình thành xong ở tất cả các nước ở Tây Âu Đồng thời vào thời gian này, Tây âu bị chia nhỏ thành các quốc gia phong kiến, không lệ thuộc vào chính quyền trung ương tập quyền chiếm hữu ruộng đất khác nhau "Cơ cấu đẳng cấp của chế độ chiếm hữu ruộng đất và các đội hộ vệ vũ trang gắn liền với cơ cấu đẳng cấp đó, đã đem lại cho quý tộc quyền lực đối với nông nô".1

Nhận xét về hệ tư tưởng thời trung cổ, F Engels viết: "Trong tay bọn giáo sĩ, chính trị và luật học, cũng như tất cả các ngành khoa học khác vẫn chỉ là những ngành của khoa học thần học và những nguyên lý thống trị thần học cũng được áp dụng cho chính trị và luật học" Kinh thánh cũng có hiệu lực trước mọi toà án như là pháp luật, khoa học luật học trong một thời gian dài vẫn còn đặt dưới sự giám hộ của thần học ".2

Như vậy, tư tưởng thần quyền như một "đám mây mù dầy đặc" bao trùm trên bộ Tây Âu trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội

2 Các học thuyết chính trị tiêu biểu

2.1 Học thuyết thần quyền

Với sức mạnh kinh tế, chính trị và sự thống trị về tinh thần của mình, nhà thờ thiên chúa giáo mưu toan bắt các lãnh chúa phong kiến quý tộc, và toàn xã hội phải quy phục và lệ thuộc vào mình Các giáo hội tích cực tuyên truyền các học thuyết thần quyền nhằm thống trị thế giới Một trong những học thuyết được phổ biến rộng rãi là

"học thuyết mặt trời và mặt trăng", trong đó cho rằng "mặt trăng toả sáng nhờ mặt trời, vương quyền chói sáng nhờ giáo hoàng" Thuyết lý "hai gươm" cũng được phổ biến

1 K Marx và.F Engels: Toàn tập, tiếng Việt, NXB Sự thật, Hà Nội, 1996, t.3, tr.45

2 K.Marx và F Engels: Tuyển tập tiếng Việt NXB Sự thật Hà Nội, T II, tr 205-206

Trang 8

rộng rãi, theo đó nhà vua có được gươm báu của mình - là chính quyền, nhờ có giáo hội và do đó cũng phải phục tùng giáo hội

2.2 Các phong trào tà giáo

Suốt chiều dài lịch sử chính trị nhân loại về cơ bản có hai dòng tư tưởng: phản động và tiến bộ đối lập nhau, nó thuộc về những giai cấp có lợi ích rất khác nhau Phong trào tà giáo ở Tây Âu được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn từ thế kỷ X - XIII; giai đoạn XIV - XV

Các phong trào tà giáo là sự phản kháng cách mạng của nhân dân lao động chống lại sự áp bức, bóc lột phong kiến vào thời trung cổ Tà đạo thời trung cổ, theo định nghĩa của F Engels là: "Sự đối lập có tính chất cách mạng chống chế độ phong kiến" (1)

Phong trào tà giáo lớn đầu tiên bao trùm toàn bộ Châu Âu bắt đầu vào thế kỷ X ở Bungari Quyền lợi của nông dân Bungari bị nô dịch được thể hiện trong phong trào tà giáo "thánh thiện" mang tính chất chống phong kiến Các nhà truyền giáo thánh thiện tuyên truyền không mệt mỏi học thuyết của mình trong giai cấp bị áp bức ở Bungari:

"Dạy cho đồng bào không tuân chủ chính quyền, - một người đương thời của phong trào thánh thiện viết, - nguyền rủa bọn giàu có, căm thù vua chúa, nguyền rủa các tộc trưởng, phê phán bọn quan lại, coi việc phục vụ vua chúa là đớn hèn trước Chúa và mọi kẻ nô lệ không được phục vụ cho ông chủ của mình"

Một trong những đại diện đầu tiên của tà giáo thị dân là giáo sư Trường Đại học tổng hợp Ôcxpho Giôn Oaiclíp, người vào cuối thế kỷ XIV đã chống lại sự phụ thuộc của nhà thờ ở Anh vào giáo hoàng Lamã và sự thâm nhập của nhà thờ vào công việc nhà nước Oaiclip phê phán tôn tu đẳng cấp trong giáo hội và sự giàu có của nó, khi khẳng định rằng những điều đó trái với kinh thánh

Run sợ trước quy mô ngày càng to lớn của phong trào Taborít, những người theo phái Traních đã thoả hiệp với giai cấp phong kiến chống lại họ Sự phản bội này và sự mâu thuẫn trong trường phái Taborit đã dẫn tới sự thất bại của họ, song những khẩu hiệu do họ đưa ra, chỉ ít lâu sau được Tômat Mundơ sử dụng trong thời kỳ cải cách tôn giáo ở Đức

2.3 Tư tưởng chính trị của thời đại Phục hưng

Cho đến thế kỷ XVI, chế độ phong kiến và hệ tư tưởng chính trị của nó đã bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng Sự khủng hoảng và bắt đầu tan rã của chế độ phong kiến là một hiện tượng hợp với quy luật phát triển của lịch sử Điều này được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:

1

C.Marx và Ph.Angghen: Tuyển tập, tiếng Việt, NXB Sự thật, Hà Nội, 1981, t.II, tr.206

Trang 9

Cùng với xuất hiện nền kinh tế hàng hoá, các quan hệ xã hội và giai cấp phát triển nhanh theo hướng bị phân hoá, sự phân công lao động xã hội ở đô thị trong thời

kỳ phát triển với tốc độ nhanh của các hình thức công trường thủ công và ở nông thôn

do bộ phận nông dân bị phá sản để làm thay đổi bộ mặt xã hội phương Tây và cùng với sự thay đổi đó là những bước phát triển quan trọng trong đời sống chính trị

Đương nhiên, vì vừa mới ra đời trong lòng chế độ phong kiến chưa bị sụp đổ hoàn toàn, giai cấp tư sản còn non yếu về mọi mặt, và trong những chừng mực nhất định nó phải dựa vào thế lực phong kiến để tìm ra một mô hình xã hội phù hợp với quyền lực cho cả đôi bên Nhưng điều này không phủ nhận tính tích cực trong tư tưởng chính trị của giai cấp tư sản mà nội dung bao trùm là sự khẳng định những quyền năng cơ bản của con người, và giá trị đích thực của con người hữu sản trong cuộc sống thực tại khi giáo lý không đủ sức để che đậy bản chất của chế độ phong kiến phi nhân quyền

Như vậy, tư tưởng chính trị - pháp luật ở Tây Âu thời kỳ phong kiến khủng hoảng và tan rã chứa đựng hai nội dung chủ yếu: nội dung mang tính tư sản và nội dung mang tính bình dân, và sự xuất hiện những trào lưu tư tưởng chính trị - pháp luật

đó được bắt đầu từ thời đại Phục hưng

Thời kỳ Phục hưng theo nghĩa hẹp của từ này chính là một phong trào trí thức bắt đầu vào cuối thế kỷ thứ XV, và bành trướng mạnh vào thế kỷ XVI, nhằm xem xét lại những kiến thức của thời Trung cổ, để trở về với thời Thượng cổ cổ điển Nhưng theo nghĩa rộng, thì Phục hưng có có ý nghĩa không những chỉ khôi phục, mà còn dựa vào quyền hành của Đức Giáo hoàng trên phương diện tinh thần và dựa vào quyền hành của Hoàng đế trên phương diện trần tục Trên phương diện trần tục, những quốc gia thống nhất dưới chế độ quân chủ chuyên chế như Pháp, Anh và Tây Ban Nha, càng ngày càng mạnh thêm, và các Vua Chúa của những quốc gia này càng ngày càng có nhiều quyền lực Trong khi đó với sự khám phá ra Châu Mỹ của Colomb, và sự khám phá ra con đường đi tới án độ qua ngõ Cáp của Vasco de Gama, có tác động làm đảo lộn nền kinh tế thế giới

Trên phương diện tinh thần dần dần cũng bị đảo lộn bởi sự khám phá ra nghề in vào cuối thế kỷ thứ XV

Người đi đầu trong xu hướng chính trị nói trên là Niccolò Machiavelli

(1469-1527) Machiavelli là nhà ngoại giao và nhà chính trị tư tưởng của nước Italia thời kỳ

văn nghệ phục hưng Ông xuất thân trong một gia đình quí tộc, người cha yêu thích nghiên cứu các tác phẩm cổ điển, từ nhỏ ông đã chịu ảnh hưởng và sự rèn luyện của cha, năm mười hai tuổi đã có thể dùng chữ la tinh viết lách, hoàn thành sự nghiệp học hành của mình tại Đại học Phraleorta

Trang 10

Năm 1527, nhân dân Phraleorta khởi nghĩa, một lần nữa xua đuổi gia tộc Matichi, khôi phục lại nước cộng hoà, Machiavelli yêu cầu khôi phục lại chức quan cũ nhưng không được, ông lâm bệnh rồi mất vào năm đó, hưởng thọ 58 tuổi

2.4 Tư tưởng chính trị của phong trào cải cách Tôn giáo, và phong trào chống chuyên chế

Cuối thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI - đời sống kinh tế - chính trị xã hội đã bước vào giai đoạn phát triển cơ bản Những gì người ta làm được trong thời kỳ Phục hưng lại được củng cố bằng niềm tin vào khả năng thay đổi những bế tắc trong "tâm linh luận" mà Ky tô giáo là vòng luẩn quẩn của sự bế tắc đó Và cải cách tôn giáo là biện pháp mà người phương Tây sử dụng để mưu toan thay đổi xã hội của họ

Lãnh tụ của phong trào Cải cách Tôn giáo là Martin Luther (1483-1546), con của một nhà giàu có trong giới xí nghiệp hầm mỏ Là một luật sư trẻ, một nhà thần học, có lúc Martin Luther đã trải qua sự khủng hoảng về tinh thần để rồi từ đó ông bắt đầu nhận xét về Giáo hội như là một kẻ ngộ đạo Ngày 31 tháng 10 năm 1517, ông đã dán 95 luận đề của mình lên cửa nhà thờ Wittengerg ở Saxonie và hành động này đã

mở đầu cho thời kỳ Cải cách tôn giáo, đưa đến sự ra đời của một giáo hội tách rời hẳn giáo hội Ky tô La mã Năm 1528 Luther đã công khai lên án Giáo hoàng và Giáo hội, ông phủ nhận cái gọi là "Giai cấp tinh thần" (giới giáo sĩ) và cho rằng nếu đã gọi có một "giai cấp tinh thần"thì mọi người Ky tô giáo đều thuộc giai cấp tinh thần đó Điểm khác biệt trong quan niệm của Clavin so với quan niệm của Luther thể hiện

ở chỗ Calvin rất tin vào sự cao cả vĩ đại của Thượng đế và bi quan trước sự bé nhỏ của con người Chỉ có Thượng đế, theo ý của Calvin, mới có thể tự cứu rỗi bằng đức tin Tuy nhiên, Thượng đế đã chọn rất ít người để cứu rỗi và không biết là ai sẽ được Thượng đế đoái tới, nên chỉ còn hy vọng mà thôi Đây là điểm nổi bật trong lý thuyết của Calvin Trong suốt 23 năm, Calvin đã giữ quyền cai trị tối cao ở Genéve và Genéve đã như là "xã hội thần quyền", và Giáo hội Calvin thực tế đã đóng vai trò như một chính quyền thế tục, và tính chất dân chủ, giáo lý tôn trọng lao động, tiết kiệm, tư tưởng vươn tới sự giàu có đã ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất của chính quyền nhà nước, thoả mãn phần nào nguyện vọng của giai cấp tư sản mới xuất hiện trong cuộc đấu tranh chống thiết chế chính trị của chủ nghĩa phong kiến và cuối cùng phong trào cải cách đã chuẩn bị những tiền đề cơ bản cho sự ra đời và phát triển của các học thuyết chính trị - pháp luật giai đoạn tiếp sau đó

Theo cách đánh giá của Grotius thì pháp luật thực định phong kiến đã vi phạm nghiêm trọng quyền con người và tự do tư hữu bị chà đạp bởi bạo lực và sự đố kỵ phong kiến Vì vậy, chế độ phong kiến không còn là sự bảo đảm nữa, chế độ đó cần phải bị lật đổ Thiết chế nhà nước được tạo dựng say này phải do sự thoả thuận giữa

Trang 11

những người hữu sản, quyền lực nhà nước đó là tối thượng, là quyền lực không phụ thuộc trong trách nhiệm thông qua các đạo luật, xét xử, bổ nhiệm và giám sát hoạt động cả các quan chức, thu thuế, giải quyết những vấn đề liên quan đến chiến tranh và hoà bình, ký kết các hiệp ước quốc tế v.v

Nhà tư tưởng xuất sắc thứ hai ở Hà Lan sau thời kỳ cách mạng là Baruc Spinôza (1632 - 1677) Tư tưởng của Spinôza hình thành trong hoàn cảnh của cuộc đấu tranh gay gắt giữa các phe phái chính trị ở Hà Lan nhằm khôi phục chế độ quân chủ hoặc phủ nhận chế độ đó mà ca ngợi tính hợp lý của thiết chế cộng hoà

Theo Spinôza thì sức mạnh nhà nước không thể là vô hạn Điều làm cho tư tưởng của Spinôza khác với tư tưởng của một số người khi đề cao quyền lực tuyệt đối của nhà nước đối với cá nhân con người Spinôza đặc biệt nhấn mạnh những giá trị tự

do của con người trong quyền tín ngưỡng và ngôn luận Ông phủ nhận mọi sự ràng buộc từ phía nhà nước hoặc nhà thờ đối với tư duy của con người và cho rằng sức mạnh của nhà nước phụ thuộc vào việc nhà nước đó có bảm đảm quyền lợi cho đám đông được hay không Trong trường hợp nếu pháp luật của nhà nước bị vi phạm từ phía những người cầm quyền thì sẽ gây ra sự phản đối trong dân chúng và sức mạnh của nhà nước sẽ bị suy giảm Spinôza đã khuyên các quan chức hãy tôn trọng tài sản,

an ninh, danh dự và nhiều lợi ích khác của dân chúng, và theo ông thì chế độ quân chủ chuyên chế là một hình thức chính thể nguy hại cho quyền tự do tự nhiên của con người Mặc dầu coi nền dân chủ là hình thức nhà nước tốt nhất bởi nó "gần với tự do

và tự nhiên hơn cả", nhưng Spinôda cũng đưa ra một số dự án nhằm cải tạo chế độ quân chủ Theo ông, quyền lực trong nhà nước quân chủ phải thuộc về thiết chế đại biểu Nó thông qua các đạo luật và giám sát việc thực hiện những đạo luật đó của các quan chức và chánh án Người đứng đầu nhà nước có quyền lực hạn chế trong việc giải quyết những bất đồng nếu chúng nảy sinh và hạn chế những mưu toan của ai đó muốn gây nguy hại cho quyền lợi của tất cả

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 5:

1 Trình bày khái quát nội dung tư tưởng chính trị Tây Âu trung cổ?

2 Điểm tương đồng và khác biệt giữa tư tưởng chính trị Thần quyền và Tôn giáo?

Trang 12

Chương 6

CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ CỦA ANH THỜI CẬN ĐẠI

1 Khái quát chung

Cuộc cách mạng tư sản Anh thế kỷ XII được coi là dấu mốc cho sự phát triển của nền dân chủ phương Tây, cách mạng tư sản phương Tây Cuộc cách mạng này tấn công vào chế độ phong kiến chuyên chế Học thuyết chính trị Anh thời kỳ này được coi như là cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản Anh Các nhà tư tưởng chính trị Anh thời cách mạng đã đề cập đế những vấn đề mâu thuẫn trực diện với vương quyền phong kiến như quyền tự nhiên, chủ quyền nhân dân, phân chia quyền lực Những tư tưởng này được thể hiện tập trung ở hai nhà tư tưởng là Thomas Hobbes và John Locke Những tư tưởng dân chủ ở Anh tiếp tục được phát triển bởi J S Mill

2 Các học thuyết chính trị tiêu biểu

2.1 Học thuyết chính trị của John Locke (1632 - 1704)

John Locke sinh năm 1632 tại Wrington, hạt Somerset, và qua đời 72 năm sau

đó vào năm 1704, trong môt gia đình Thanh giáo Ông học cử nhân và thạc sĩ tại đại

học Oxford Năm 1689, ông viết một danh tác chính trị để đời Khảo luận thứ hai về

chính quyền Học thuyết của ông tập trung vào vấn đề quyền tự nhiên, khế ước xã hội

và phân chia quyền lực

Tuy nhiên vì những lý do nhất định, con người không thể sống trong trạng thái tự nhiên với quyền tự do và bình đẳng một cách tuyệt đối Không đồng ý với Hobbes, Locke cho rằng trạng thái tự nhiên không phải là một trạng thái hỗn độn vì có luật tự nhiên điều chỉnh : ‘’ Trạng thái tự nhiên có luật tự nhiên để cai quản, bắt buộc mọi người phải tuân thủ ; và lý trí- vốn là luật này, huấn thị cho toàn thể loài người- những người có ý chí riêng nhưng phải tham vấn nó, rằng tất cả đều bình đẳng và độc lập với nhau Không ai được phép làm hại đến sinh mạng, sức khoẻ, tự do hay tài sản của người khác vì tất cả đều là tuyệt tác của một đáng sáng tạo toàn năng và thông thái vô hạn.’’1

Người ta bước sang trạng thái dân sự như thế nào ? Bằng con đường mọi người cùng ký kết với nhau một khế ước xã hội để thành lập ra nhà nước Locke lập luận về việc ký kết khế ước xã hội như một phương thức thành lập ra nhà nước, bước vào xã hội chính trị của con người: “Con người, như đã nói, theo luật tự nhiên, tất cả đều tự

do, bình đẳng và độc lập, không một ai có thể bị đưa ra khỏi tình trạng này và phải

1

John Locke Khảo luận thứ hai về chính quyền NXB Tri thức, 2005, tr.35-36

Trang 13

khuất phục trước quyền lực chính trị của người khác mà không có sự chấp thuận của chính người bị đặt ra Cách duy nhất mà một người tước bỏ của chính mình quyền tự

do tự nhiên và gắn với những ràng buộc của xã hội dân sự, là bằng sự đồng thuận với những người khác để cùng liên kết và hợp nhất trong một cộng đồng, vì cuộc sống tiện lợi, an toàn, và thành bình giữa họ với nhau, trong sự thụ hưởng một cách bảo đảm đối với sở hữu của họ, và một sự an ninh lớn hơn [ trước đây, trong trạng thái tự nhiên] để chống lại bất cứ thứ gì không thuộc về điều đó Bất kỳ thành viên nào của loài người cũng có thể thực hiện điều này, vì nó không gây phương hại đến tự do của những người còn lại; có thể nói, [khi hành động như vậy] họ được để lại trong sự tự do của trạng thái tự nhiên Khi có một lượng bất kỳ nào đó của loài người đã chấp thuận việc xây dựng một cộng đồng hay chính quyền, họ vì thế và tức khắc hợp thành tổ chức và làm nên một cơ thể chính trị, nơi mà đa số có quyền hành động và quyết định so với những người còn lại.”1

Locke cũng nói rằng lập luận của ông về quyền lật đổ cơ quan lập pháp của nhân dân cũng đúng với cơ quan hành pháp Quy kết chung của ông là người nào sử dụng quyền lực trái với sự uỷ thác ban đầu thì không thể tiếp tục được uỷ thác Những người lập quốc của nước Mỹ là những người đâu tiên ảnh hưởng đậm nét của những tư tưởng

này, thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập của họ:

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 6:

1 Khái quát chung về các học thuyết Anh thời cận đại?

2 Nội dung cơ bản của tư tương chính trị Jonh Locke?

1

John Locke Khảo luận thứ hai về chính quyền NXB Tri thức, 2005, tr.137-138

Trang 14

Chương 7

CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP THỜI CẬN ĐẠI

1 Khái quát chung

Các học thuyết chính trị của Pháp trong thời cận đại đặt biệt phát triển trong giai đoạn diễn ra trước, trong, và sau khi diễn ra cuộc đại cách mạng Pháp năm 1789 Do

đó, cần điểm qua những sự kiện quan trọng liên quan đến cuộc cách mạng này

Cuộc cách Pháp 1789 là cuộc cách mạng tư sản lật đổ nền quân chủ phong kiến của triều đại Bourbons, thiết lập chính quyền tư sản, mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Pháp Lực lượng cách mạng chủ yếu là đẳng cấp thứ ba gồm giai cấp tư sản, công nhân, nông dân, quý tộc lớp dưới Tại Hội nghị tam giới tháng 5 năm

1789 đại biểu đẳng cấp thứ ba đòi quyền bình đẳng trước pháp luật Thái độ ngoan cố của nhà vua dẫn đến việc thành lập Hiệp hội dân tộc của đẳng cấp thứ ba (17.6), thành lập Quốc hội lập hiến (9.7) Đỉnh cao của cuộc khởi nghĩa quần chúng là ngày 14.7.1789 phá ngục Bastille Cuộc cách mạng gồm ba giai đoạn Trong giai đoạn thứ nhất, phái lập hiến cầm quyền (tháng 7.1789 đến tháng 9.1792), công bố Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (26.8.1789), bầu Quốc hội lập pháp (1.10.1791) Đầu năm

1792, Áo và Phổ ký hiệp ước liên minh quân sự kêu gọi các nước Châu Âu tham gia chiến tranh chống nước Pháp cách mạng Trước nguy cơ mất nước, nhân dân Pháp nổi dậy (10.8.1792) lật đổ chính quyền, thay thế bằng chính phủ Girondins Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phái Girondins nắm quyền từ tháng 8.1792 đến tháng 6.1793, thành lập hội nghị Quốc ước và tuyên bố nước Pháp theo chế độ cộng hòa (22.9.1792), quyết định xử tử vua Lu-I XVI (21.1.1793) Lực lượng cánh tả, phái Jaconbins, các công dân

đã thành lập Công xã ở các địa phương đòi hỏi tăng cường chiến đấu chống ngoại xâm

và cải thiện đời sống của dân nghèo, đã nổi dậy lật đổ chính phủ Girondins ngày 2.6.1793 Giai đoạn thứ ba là gian đoạn pháp Jacobins nắm quyền từ tháng 6.1793 đến tháng 7.1794 do Robespierre đứng đầu đã quyết định chính sách chia ruộng đất cho dân nghèo, soạn thảo Hiến pháp 1793 (chưa công bố), thành lập đội quân cách mạng

để trấn áp kẻ thù bên trong và đẩy lùi kẻ thù bên ngoài bằng những biện pháp kiên quyết Nhờ vậy nước Pháp thoát khỏi nguy cơ bị xâm lược Do sự phân hóa nội bộ, chính quyền Jacobins bị lật đổ bởi cuộc đảo chính Thermidor ngày 27.7.1794 Robespierre và các bạn chiến đấu bị hành quyết Cuộc nổi dậy của phái bảo hoàng bị Napoleon đề bẹp và năm 1796 thành lập đốc chính, năm 1796 Napoleon chiến thắng ở Arcole; năm 1797 Babeuf bị hành quyết Năm 1798 liên minh lần thứ hai chống Pháp

Trang 15

thất bại Năm 1799 cuộc đảo chính của Napoleon và việc thành lập Nhiếp chính ngày

9, 10, tháng 11 là sự kiện đánh dấu sự kết thúc của cách mạng.1

Học thuyết chính trị Pháp thời kỳ này thể hiện rõ tinh thần dân chủ qua các học thuyết về quyền tự nhiên, khế ước xã hội, chủ quyền nhân dân, phân chia quyền lực là

cơ sở tư tưởng quan trọng cho cách mạng Pháp Tinh thần dân chủ trong đó tiếp tục được phát triển sau cách mạng

2 Các học thuyết chính trị tiêu biểu

2.1 Học thuyết chính trị của Charles de Secondat Montesquieu (1689 - 1755)

Montesquieu (1689 - 1755) sinh trong một gia đình quý tộc giầu có ở Chaateau

de la Brède Năm 27 tuổi ông được thừa kế tước vị Chánh án tòa án tỉnh Bordeaux cùng gia tài Ông đã học luật và làm chánh án trong 10 năm Những quyến rũ của cuộc sống ở trị trấn bắt đầu làm ông ghê tởm và ông đã bán chức Thẩm phán và dời đi Paris Nhưng ông không ở Paris lâu mà đi du lịch vòng quanh Châu Âu và nhờ đó ông có tư liệu để viết danh tác « Tinh thần pháp luật » Ông đã đi thăm Áo, Hung, Venice, La

Mã, Thụy Sĩ, Hòa Lan, và sau cùng là Anh, nơi đâu ông ở 2 năm Tuy có nhiều đặc điểm của người Anh ông không ưa, nhưng ông cảm phục nền tự do của họ Thực tế, một trong những đoạn quan trọng nhất trong Tinh thần pháp luật không có gì hơn là một bài tán tụng Hiến pháp Anh, mà Montesquieu tin rằng hiến pháp đó là nền tảng của những tổ chức tự do ông thấy ở nước này.2 Học thuyết chính trị của Montesquieu bao quát nhiều vấn đề từ bản chất của pháp luật, đến các hình thức chính quyền, phân chia quyền lực, địa chính trị…nhưng quan trọng nhất là học thuyết phân chia quyền lực

Thuyết phân quyền của Mongtesquieu không phải là một sự suy luận pháp lý diễn dịch mà là từ sự quan sát nước Anh lúc bấy giờ Sự mô tả Hiến pháp Anh chính là nguồn cảm hướng cho suy luận của Montesquieu về phân quyền.3

Nội dung đầu tiên trong học thuyết phân quyền của Montesquieu là quyền lực nhà nước được cấu thành bởi ba hình thái cơ bản (tam quyền): lập pháp, hành pháp, và

tư pháp: “ Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều hợp với luật dân sự Với quyền thứ nhất, nhà vua hay pháp quan làm ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và sửa đổi hay huỷ bỏ luật này Với quyền lực thứ hai, nhà vua

Trang 16

quyết định hoà hay chiến, gửi Đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân Người ta gọi đây là quyền tư pháp, và trên kia là quyền hành pháp quốc gia.”1

Nội dung tiếp theo là quyền lực nhà nước phải được tổ chức làm sao cho tự do của công dân được bảo đảm: “Tự do chính trị của công dân là sự yên tâm vì mỗi người nghĩ rằng mình được an ninh Muốn đảm bảo tự do chính trị như vậy thì chính phủ phải làm thế nào để mỗi cồng dân không phải sợ một công dân khác.”2

Mongtesquieu kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúc bấy giờ Chế độ quân chủ chuyến chế là tổ chức quyền lực phi lý Chuyên chế là hình thức cầm quyền của một người phủ nhận pháp luật, nhà nước phụ thuộc vào sự lộng quyền của người cầm quyền Chế độ chuyên chế sở dĩ tồi tệ, phi lý là vì: nhà nước tồn tại vốn biểu hiện của ý chí chung nhưng trong chế độ chuyên chế nó lại biểu hiện ý chí đặc thù; chế độ chuyên chế với bản chất vô pháp luật và ý chí tuỳ tiện của nó lại trái với bản chất pháp luật và nhu cầu pháp luật Mongtesquieu nhận thấy pháp luật gồm nhiều lĩnh vực, phân ngành rõ rệt, cho nên tập trung vào một người duy nhất là trái với bản chất của nó Gắn với bản chất của chế độ chuyên chế là tình trạng lạm quyền Vì vậy việc thanh toán hiện tượng lạm quyền chỉ có thể là đồng thời là sự thanh toán chế độ chuyên chê Theo Mongtesquieu một khi quyền lực được tập trung vào một mối, kể cả một người hay một tổ chức, thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn Từ đó, Mongtesquieu cho rằng tổ chức quyền lực nhà nước theo phương thức phân chia quyền lực nhà nước để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạm làm quyền, bảo đảm quyền tự do của con người

Mongtesquieu viết:" Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì không còn tự do nữa; vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy sẽ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài Cũng không có gì là do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp, thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của

kẻ đàn áp Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết.”3

Trang 17

Chứng nghiệm vào những thực tế, nhận xét của Montesquieu rất đúng Tự do sẽ không có nếu quyền lập pháp và quyền hành pháp chập vào một bàn tay Vì người nắm quyền lực sẽ đặt ra những quy tắc thuận tiện cho mình cai trị và sẽ không ban hành các quy tắc gây bất lợi cho mình

Quyền lập pháp nhập với quyền tư pháp thì tự do cũng sẽ bị đe doạ Nếu một người vừa có quyền lập pháp vừa có quyền tư pháp thì sẽ: làm luật cho những trường hợp hay cá nhân mà ông ta muốn hại, chẳng hạn một nhà độc tài làm ra những đạo luật riêng nhằm bỏ tù những kẻ chống đối mình; sẽ không đem thi hành hành đạo luật cho những cá nhân mà ông ta bênh vực hay biệt đãi, chẳng hạn một nhà độc tài đóng vai trò thẩm phán sẽ không phạt tù những kẻ thân thuộc đã phạm tội Như vậy, luật không còn là luật nữa vì không có có giá trị tổng quán nữa mà thay đồi tuy theo ý muốn chủ quan của nhà cầm quyền

Lạm quyền là thuộc tính của quyền lực nhà nước Một người càng có nhiều quyền hành trong tay thì càng có khả năng lạm quyền Nếu một người hay một cơ quan nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp thì tự do của dân chúng sẽ không còn gì Phân quyền có nghĩa là ba quyền đó được giao cho những cơ quan khác nhau, độc lập với nhau có phương thức hình hành riêng, cách thức hoạt động, lĩnh vực hoạt động riêng Tương ứng với ba quyền đó là ba cơ quan: cơ quan lập pháp là Quốc hội, cơ quan hành pháp là Chính phủ, cơ quan tư pháp là toà án

Một ý tưởng tiếp theo của thuyết phân quyền là sự bình đẳng giữa các ngành quyền lực Mongtesquieu cho rằng quyền lực tối thượng được phân chia thành ba hình thái quyền lực cơ bản là lập pháp, hành pháp, và tư pháp nên không có ngành quyền lực nào được gọi là tối thượng Ba ngành quyền lực này nganh bằng với nhau, bình đẳng với nhau, không ngành nào cao hơn ngành nào Thuyết phân quyền quan niệm rằng mỗi cơ quan đại diện quốc gia thi hành một nhiệm vụ, một quyền hạn và chỉ có nhiệm vụ quyền hạn ấy mà thôi Cơ quan lập pháp chỉ có quyền lập pháp, chỉ có nhiệm

vụ làm luật Cơ quan hành pháp chỉ có quyền hành pháp, nghĩa là nhiệm vụ thi hành luật lệ Cơ quan tư pháp chỉ có quyền tài phán, nhiệm vụ xét xử để áp dụng pháp luật Phân chia quyền hạn thôi chưa đủ, mà phải có sự độc lập giữa các cơ quan Nghĩa là các cơ quan không có hành động hỗ trợ nào Ví dụ, quyền hành pháp không

có quyền trình các sáng kiến lập pháp lên cơ quan lập pháp

Một khi tam quyền đã được phân lập rồi thì vấn đề tiếp theo là làm sao thể ba quyền đó kiểm soát lẫn nhau Để tránh tập trung quyền lực vào tay một hay một nhóm người thì cần phải có một cơ chế kiểm soát quyền lực, mà khả thi nhất là dung quyền lực để kiểm soát quyền lực Như vậy người ta sẽ trách được rỏi ro là: một quyền lực mạnh quá sẽ có tham vọng trở nên độc đoán vì rằng kinh nghiệp vĩnh viễn cho hay là:

Trang 18

ai có quyền cũng sẵn sàng lạm quyền Do đó thuyết phân quyền của Mongtesquieu đặt vấn đề: Phải làm thế nào cho cái việc quyền hành ngăn chặn quyền hành trở nên một

sự dĩ nhiên Một chính phủ ôn hoà là một chính phủ trong đó sự lạm quyền không thể xẩy ra được, nhở ở một lối tổ chức nào, một tổ chức có thể phân phối những thẩm quyền của chủ quyền quốc gia cho những lực lượng chính trị khác biệt nhau, để khiến cho "quyền hành ngăn chặn quyền hành."

Tiếp theo, Montesquieu nói đến công cụ để hành pháp ngăn chặn lập pháp Trước tiên là quyền của hành pháp quy định thời hạn và thời gian các phiên họp của ngành lập pháp: “Cơ quan lập pháp không nên tự mình triệu tập lấy mình Nêu để cho cơ quan hành pháp quy định thời hạn và thời gian các cuộc họp nghị viện tuỳ theo tình huống mà cơ quan hành pháp cho là cần thiết.”1 Ngoài ra, quyền hành pháp không có quyền đưa ra các sáng kiến trước lập pháp (như quyền trình dự án luật của chính phủ trước nghị viện ở nhiều nước Châu Âu ngày nay), nhưng có quyền ngăn cản việc thi hành các đạo luật đã được ngành lập pháp thông qua (như quyền phủ quyết của Tổng thống Mỹ ngày nay) Montesquieu lập luận: “Nếu cơ quan hành pháp không có quyền ngăn cản các dự định của cơ quan lập pháp, thì cơ quan lập pháp sẽ trở thành chuyên chế, tự ban cho mình mọi thứ quyền hành mà xoá bỏ mọi thứ quyền lực khác.”2 Nếu như quyền hành pháp có quyền ngăn cản đối với quyền lập pháp thì quyền lập pháp cũng có quyền xem xét việc thi hành các đạo luật mà mình đã ban hành ra: “Trong một nước tự do, nếu cơ quan lập pháp không nên có quyền ngăn cản cơ quan hành pháp thì

nó phải có chức năng xem xét các đạo luật đã ban hành được thực hiện như thế nào.”3Ngay nay, ta gọi đây là quyền giám sát của nghị viện

Thuyết tam quyền phân lập của Mongtesquieu có ảnh hưởng sâu sắc đến những quan niệm sau này về tổ chức nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức nhà nước của các nước tư bản Học thuyết này là một nguồn quan trong của chủ nghĩa lập hiến Đa số Hiến pháp của các nước tư bản hiện nay đều tuyên bố phân quyền là một nguyên tắc

cơ bản của việc tổ chức quyền lực nhà nước

Theo cơ chế phân quyền, các ngành quyền lực độc lập nên sự lạm quyền được kiểm soát Hơn nữa, với cơ chế phân quyền, không một ngành quyền lực nào có thể được coi là đại diện duy nhất cho chủ quyền nhân dân Mỗi một ngành quyền lực chỉ đại diện cho chủ quyền nhân dân trên một phương diện nhất định: nghị viện sẽ đại diện cho chủ quyền nhân dân trên phương diện lập pháp, chính phủ trên phương diện hành

Trang 19

pháp, và toà án trên phương diện tư pháp Do đó, không một cơ quan nào có thể thao túng được toàn bộ quyền lực của dân chúng

Chính quyền hợp hiến ở Mỹ theo sát học thuyết phân quyền hơn (nhưng không phải là tuyệt đối) Về mặt tổ chức, theo mô hình tổng thống chế, cả lập pháp và hành pháp đều được thành lập từ dân chúng (nhân dân bầu ra cả Nghị viện và Tổng thống; các Bộ trưởng không thể đồng thời là thành viên của Nghị viện Về mặt hoạt động, Tổng thống không có quyền trình dự án luật lên Nghị viện mặc dù có những quyền có thể ảnh hưởng đến ngành lập pháp như quyền đọc thông điệp trước Nghị viện Về cơ chế chịu trách nhiệm, Nghị viện không thể giải tán tập thể các Bộ trưởng của Tổng thống; Tổng thống không có quyền giải tán Nghị viện

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 7:

1 Khái quát chung về nội dung tư tưởng chính trị Pháp thời cận đại?

2 Nội dung cơ bản của học thuyết chính trị Mongtesqiue?

Trang 20

Chương 8

CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ ĐỨC THỜI CẬN ĐẠI

1 Khái quát chung

Không khí chính trị xã hội Đức trước ngưỡng cửa năm 1789 bề ngoài không khác gì mấy không khí ảm đạm và thê lương của đời sống xã hội Đức các thập kỷ đầu thế kỷ X VIII Cuộc cách mạng tư sản Pháp vĩ đại hệt như tia chớp đã đánh vào đất nước này Tất cả đều bắt đầu chuyển động Những cuộc nổi dậy bùng lên ở Baden, Xacxôn, Phantxơ Sự bất bình của thị dân thể hiện ra mặt Mùa thu năm 1793 đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở các quận Xilêdi và Maintxơ và đã tuyên bố thiết lập nền cộng hoà

Ba vấn đề mấu chốt cần phải giải quyết trên đất Đức là: thành lập sự thống nhất dân tộc; dân chủ hoá chế độ nhà nước, chế độ pháp luật, bãi bỏ chế độ nông nô Tư sản Đức, thời đó là phe đối lập với chế độ phong kiến cổ hủ - như trước đây, vẫn lo ngại những hành động cấp tiến, họ sự đưa hẳn vào những tầng lớp rộng rãi người lao động Các nhà tư tưởng của họ coi trọng việc hcuyển những tư tưởng cách mạng của thế kỷ sang ngôn ngữ khó hiểu của triết học và mài mòn những mũi dùi các vấn đề chính trị thực tiễn nóng bỏng của thời đại Giá trị cao nhất họ tuyên bố là ý thức, tự do trí tuệ v.v Điều quan tâm chính của họ là làm thế nào chính phủ không nổi giận

Tin tức về cách mạng Pháp được đón nhận ở Đức rất khác nhau Các nhóm thị dân và tiểu tư sản mừng rỡ Giai cấp thống trị, quan lại địa chủ và giáo hội thì chán nản, tức giận và căm hờn Giới phản động quý tộc phong kiến phản ứng điên cuồng Nhất là trường phái lịch sử pháp quyền và các trào lưu bảo thủ khác gần với nó, đối lập với khuynh hướng khai sáng và cộng hoà cách mạng đã thể hiện rõ nhất sự căm thù những cải cách nhà nước và pháp luật của cuộc cách mạng Pháp

2 Các học thuyết chính trị tiêu biểu

2.1 Học thuyết chính trị của Imanuel Kant (1724 -1804)

I.Kant sinh năm 1724 trong một gia đình quý tộc Phổ ở Keninxbec, trong một gia đình nghèo đã rời bỏ xứ TôCách lan từ 100 năm trước Thời trẻ Kant rất sùng mộ tôn giáo, thời tráng nên ông xa giáo đường và về già ông duy trì đức tin Ông tại trường đại học tổng hợp Keninxbec Trừ một thời gian ngắn đi dạy ở một làng lân cận, vị giáo sư nhỏ người lặng lẽ này, con người rất yêu thích giảng về địa lý và nhân chủng học về những xứ xa xôi - không bao giờ rời khỏi đô thị quê hương mình Đến năm 1755 ông bắt đầu giảng dạy siêu hình học và các môn học tự nhiên ở đây Từ năm

Trang 21

1770 ông chủ yếu quan tâm đến vấn đề triết học I.Kant là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng phương Tây trước K.Marx

Giáo sư triết học trường đại học tổng hợp Keninxbec là I.Kant (1724-1804) ở Đức là người đầu tiên hệ thống hoá chủ nghĩa tự do - nền tảng tư tưởng cho giai cấp tư sản Vào thời đại của Kant do bị áp chế bởi chế độ chuyên chế và giáo hội, giai cấp tư sản Đức tỏ ra hết sức hèn nhát Về các vấn đề quan trọng nhất của thời đại, giai cấp này có lập trường hết sức dao động, và thậm chí đôi khi quá bảo thủ Kant đặt ra mục đích phân tích lập trường này như là lập trường duy nhất hợp lý, tạo cho nó nền tảng triết học thẩm mỹ và từ đó biện minh cho nó

Kant quá yếu sức về thể chất đến nỗi ông phải theo những phương thức nghiêm nhặt để giữ gìn sức khoẻ; ông nghĩ tốt hơn không nên nhờ đến một y sĩ Bởi thế ông sống tới tuổi tám mươi Vào năm thất tuần ông viết một tiểu luận "Về năng lực tâm lý

để khắc phục cảm giác bệnh hoạn nhờ sức mạnh của quyết ý" Một trong những nguyên tắc yêu thích của ông là chỉ thở bằng mũi, nhất là khi ở ngoài trời; do đó về mùa thu, đông và xuân, ông thường không cho phép ai nói chuyện với ông trong những buổi đi dạo hàng ngày: im lặng tốt hơn là cảm lạnh Ông suy ngẫm mọi sự chu đáo trước khi hành động; và bởi thế ông ở độc thân suốt đời Có hai lần ông suy nghĩ đến việc cầu hôn một thiếu nữ, nhưng suy nghĩ lâu quá nên lần đầu thì thiếu nữ kết hôn với một người dạn dĩ hơn, và lần sau thì cô kia dọn nhà khỏi Koenigsberg trước khi nhà triết học có thể quyết định Có lẽ ông nghĩ, như Nietzsche, rằng hôn nhân sẽ chướng ngại ông trong công việc theo đuổi chân lý một cách đứng đắn "Một người đàn ông có gia đình, Talleyrand thường bảo, sẽ làm bất cứ việc gì để kiếm tiền" Và vào năm hai mươi hai tuổi, Kant đã viết với tất cả lòng nhiệt thành tốt đẹp của tuổi trẻ:

"Tôi đã chuyên chú vào đường hướng hành động mà tôi quyết địh giữ Tôi sẽ đi con đường của tôi và không gì ngăn cản được tôi đi theo đường ấy"

Tràn đầy tinh thần khai sáng và phần nào chủ nghĩa cá nhân của trường phái pháp quyền tự nhiên, nguyên tắc hòn đá tảng cho các quan điểm xã hội của Kant là: mỗi cá nhân có phẩm hạnh toàn diện, có giá trị tuyệt đối; nhân cách không phải là công cụ thực hiện các kế hoạch nào đó, thậm chí của những kế hoạch cao thượng nhất

về phúc lơi xã hội Con người là chủ thể có ý thức về phẩm giá Về thực chất, khác biệt với thiên nhiên xung quanh con người trong hành vi của mình phải tuân thủ những đạo luật đạo đức Đạo luật này là đương nhiên và không chịu những ảnh hưởng của hoàn cảnh và do đó là tất yếu

Thực chất của tự do là cái bên trong của nhân cách con người Con người bẩm sinh có khả năng ứng xử theo mục đích và theo những cách thức phù hợp với mục đích

đó Song vấn đề là ở chỗ không phải ai cũng sử dụng được tự do cá nhân một cách

Trang 22

đúng mức và do đó nó trở thành chuyên quyền Tổng thể các điều kiện hạn chế chuyên quyền của người này đối với người khác bằng các đạo luật chung khách quan về tự do,

sẽ loại trừ xung đột pháp lý trong xã hội, được Kant goi là pháp luật Từ cách hiểu pháp luật như vậy cho thấy pháp luật có nhiệm vụ điều chỉnh hình thức bên ngoài các hành vi con người, pháp luật mới có tính tuân thủ chung Song đạt được điều đó bằng cách nào? Thông qua việc tạo cho nó hiệu lực bắt buộc Bằng cách đó tạo ra cầu nối pháp luật với nhà nước, bởi lẽ chỉ có quyền lực xã hội mới tạo được cho pháp luật hiệu lực bắt buộc, quyền lực đó là nhà nước

Theo Kant có ba loại pháp luật: pháp luật tự nhiên; pháp luật thực tế; và pháp luật công lý Pháp luật tự nhiên là những nguyên tắc tiên nhiệm tất nhiên; pháp luật thực tế, mà nguồn là những ý chí của người lập pháp, pháp luật công lý là những đòi hỏi khát vọng không được pháp luật quy định và nó không được bảo đảm bằng cưỡng chế Pháp luật tự nhiên về phần mình chia thành hai nhánh: luật tư và luật công Luật

tư điều chỉnh các mối quan hệ giữa các cá nhân với tư cách là các chủ sở hữu, còn luật công điều chỉnh các mối quan hệ giữa mọi người liên minh thành cộng đồng các công dân (nhà nước), với tư cách là các thành viên của tổng thể chính trị Chế định cơ bản của luật tư là sở hữu dưới hình thức chiếm hữu thực tế mang tính pháp lý trong điều kiện của trật tự dân sự, khi ý chí chung được mọi người thừa nhận ngự trị trên ý chí của mỗi cá nhân

Về hình thức nhà nước Kant chia ra ba dạng: chuyên chế, quý tộc và dân chủ Ông cho rằng trung tâm của vấn đề tổ chức nhà nước là phương thức nhân dân cầm quyền Từ quan điểm này ông phân biệt hình thức dân chủ và độc tài Hình thức đầu dân chủ dựa trên sự phân tách quyền lực hành pháp khỏi quyền lực lập pháp, còn hình thức độc tài thì hoà nhập cả hai vào nhau Với Kant nền cộng hòa không đồng nghĩa với dân chủ, cũng như chuyên chế không hoàn toàn đồng nhất với độc tài Ông phản bác việc đồng nhất các khái niệm đó Hơn nữa ông tin rằng hình thức chính quyền chuyên chế hoàn toàn là có thể là nền cộng hoà (nếu trong đó tách quyền hành pháp khỏi lập pháp), còn nền dân chủ (với sự tham gia của tất cả vào thực hiện quyền lực

và sẽ cực kỳ khó khăn khi muốn tách hoạt động lập pháp khỏi hành pháp) thì dễ dàng chuyển hoá thành chuyên chế và dung hoà với nó Có lẽ ông coi hình thức quân chủ lâp hiến là đã chấp thuận hơn cả

Xuất phát từ quan niệm khẳng định tính nghịch lý của phát triển xã hội, một mặt Kant đánh giá cao vai trò của các xung đột xã hội Ông coi đó không chỉ là động lực thúc đẩy phát triển lịch sử, mà còn là một điều cao cả đáng được trân trọng, nếu như

Trang 23

chúng "được tiến hành một cách đúng đắn." 1 Mặt khác Kant kêu gọi tất cả các dân tộc hãy thiết lập mỗi quan hệ hoà bình, hữu nghị Kêu gọi tất cả các quốc gia hãy đoàn kết xây dựng một liên bang tất cả dân tộc trên hành tinh

Tư tưởng xây dựng một thế giới đại đồng của tất cả các dân tộc, vì sự phồn vinh của nhân loại, vì tự do của mỗi con người phù hợp với xu hướng chung của thời đại ngày nay

2.2 Học thuyết chính trị pháp luật của Hegel G.F (1770 – 1830)

G.F Hegel là một nhà biện chứng lỗi lạc bậc tiền bối của triết học Macxít Theo nhận xét của Ph.Angghen, ông "không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa nên trong mọi lĩnh vực, ông xuất hiện như là một người vạch thời đại" (1)

G.F Hegel sinh năm 1770 trong một gia đình quan chức cao cấp ở Stut-ga thuộc Đức, sau đó theo học khoa triết, thần học ở Trường Đại học Tổng hợp Tubingen Thời trẻ, ông chủ yếu quan tâm nghiên cứu các vấn đề lịch sử, pháp quyền và tôn giáo Hegel là người có công rất lớn đóng góp cho lí thuyết của Nhà nước pháp quyền Theo ông Nhà nước pháp quyền là sự thể hiện trong thực tế những ý niệm dưới hình thức nhất định của tồn tại thực tế con người Pháp luật là sự thể hiện của tư tưởng tự

do Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là “hiện thực của tự do” và là “tồn tại thực tế của ý chí tự do.” Trong xã hội, nhà nước ở vị trí cao nhất và cao hơn cả con người Pháp quyền vừa là sự sáng tạo vừa là sản phẩm của nhà nước Con người không thể tồn tại thiếu nhà nước Sự phân quyền trong nhà nước là nhằm đảm bảo sự tự do công cộng, chống lạm quyền, chuyên chế, vũ lực và phi pháp Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, sự phân chia tuyệt đối quyền lực lại là nguy cơ dẫn đến thù địch và chống đối

Tự do sở hữu tài sản là thành quả vĩ đại nhất của thời đại cách mạng tư sản kéo theo việc đòi tự do hợp đồng Nhà nước là nền tảng của pháp quyền, là pháp nhân cao nhất

có quyền uy và sức mạnh chỉ huy toàn xã hội Ông coi Nhà nước pháp quyền là biểu hiện của lí trí sáng suốt đối với hình thức tồn tại thực tế của con người Nhà nước là biểu hiện cao nhất của pháp luật cụ thể, biểu hiện cao nhất của tự do Ông tập trung vào việc chống sự tuỳ tiện, vô pháp luật của cá nhân con người Nhưng Nhà nước pháp quyền của Hegel luôn gắn với duy tâm Ông coi, nhà nước là sự ngoạn du của trời trên trái đất Nhà nước pháp quyền là một trong những học thuyết có cách hiểu rất khác nhau, tuỳ theo sự vận dụng của từng nước

Trang 24

Thực chất của vũ trụ, theo ông là ý niệm tuyệt đối tự phát triển - nó siêu tự nhiên

và khởi thuỷ duy tâm (giống như Chúa tạo nên thiên nhiên và con người Sự phát triển của ý niệm tuyệt đối tự phát triển này trải qua ba giai đoạn: giai đoạn lô gích, hay là sự tồn tại của thể tuyệt đối trước khi tạo ra thiên nhiên, giai đoạn hai là giai đoạn tự nhiên hay thời kỳ thể tuyệt đối thâm nhập vào thế giới vật chất, thời kỳ thứ ba là thời

kỳ lý trí hay thời kỳ thể tuyệt đối trở lại với chính mình (tự tư duy) trong trí tuệ con người

Theo Hegel, xã hội loài người phát triển trải qua 4 loại hình thái nhà nước có tính lịch sử toàn thế giới Hình thái nhà nước có tính lịch sử toàn thế giới đầu tiên là nhà nước phong kiến phương Đông Trong nhà nước phong kiến phương Đông, những vấn

đề nhân quyền, lợi ích cá nhân, quyền tự do cá nhân chưa được thừa nhận Hình thái Nhà nước có tính lịch sử toàn thế giới tiếp theo sẽ là Nhà nước chủ nô Hy Lạp Trong Nhà nước chủ nô Hy Lạp, cái đặc thù đã “nhú lên", nhân quyền, lợi ích cá nhân, quyền

tự do cá nhân của một bộ phận xã hội (giới chủ nô) đã được công nhận, nhưng nhân quyền, lợi ích cá nhân, quyền tự do cá nhân của tất cả mọi người (bao gồm nô lệ) thì chưa được công nhận

Theo Hegel, nhà nước chính trị thể hiện sự thống nhất quyền lực sống động trên

cơ sở phân hoá, khác biệt hợp lý của 3 loại quyền lực: 1) quyền của cái phổ quát (đại diện cho ý chí của tất cả các tầng lớp xã hội), nói cách khác, đó là quyền lập pháp Thiết chế tương ứng với nó là nghị viện (Thượng nghị viện và Hạ nghị viện) 2) Quyền của cái đặc thù (giải quyết các vấn đề đặc thù, liên quan đến từng tầng lớp, trường hợp

cụ thể trên cơ sở các luật lệ phổ quát do nghị viện ban hành) Đó là cơ quan hành pháp Thiết chế tương ứng là chính phủ 3) Quyền của cái đơn nhất, nói cách khác, đó là quyền của nguyên thủ quốc gia, người ký các quyết định của nhà nước và có một số quyền phủ quyết đối với nghị viện Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực của cái đơn nhất (nguyên thủ quốc gia) không phải là thứ quyền lực tuỳ tiện như trong các kiểu Nhà nước khác, mọi văn bản để nguyên thủ quốc gia ký đều do các cơ quan chức năng chuẩn bị kỹ lưỡng, cho nên, về thực chất, chữ ký của nguyên thủ quốc gia chỉ có

ý nghĩa, theo cách nói của Hegel, là "đánh dấu chấm trên đầu chữ i"

Quan niệm nhà nước pháp quyền của Hegel hoàn toàn khác với quan niệm nhà nước pháp trị Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước hợp lý, chỉ có thể được hình thành trong xã hội hiện đại (khi đã có xã hội công dân) Luật pháp của Nhà nước pháp quyền nghiễm nhiên được đề cao, không cẩn bất cứ một áp lực nào, vì nó là sản phẩm của một Nhà nước hợp lý Sự đề cao pháp luật chỉ là hệ quả chứ không phải

là tiền đề của Nhà nước pháp quyền Không phải cứ đề cao pháp luật là có được nhà nước pháp quyền Theo Hegel, Nhà nước hợp lý là Nhà nước mà trong đó, sự thống

Trang 25

nhất giữa ý chí của cá nhân với quy luật phát triển tất yếu của xã hội được đảm bảo Muốn thế, Nhà nước này phải là một Nhà nước chính trị, sự thống nhất của quyền lực

là sự thống nhất hữu cơ - thống nhất trên cơ sở phân hoá, đối lập hợp lý của 3 thiết chế quyền lực: 1) Nghị viện: cơ quan lập pháp, đại diện cho ý chí của toàn dân, 2) Chính phủ: cơ quan hành pháp, giải quyết công việc hàng ngày của đất nước trên cơ sở các quy định pháp luật, 3) Nguyên thủ quốc gia: người đứng đầu đất nước, có quyền quyết định cuối cùng đối với các công việc của đất nước Nhà nước này chỉ có thể được hình thành khi xã hội công dân đã ra đời Hai nền tảng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là gia đình và xã hội công dân

Hegel cho rằng, nhân quyền thể hiện quyền tự do của con người đối với tồn tại bên ngoài, trước hết là các sản phẩm lao động do chính mình làm ra (quyền sở hữu, ký kết hợp đồng kinh tế, quyền thành lập và tham gia các hiệp hội ) Đạo đức thể hiện quyền tự do của con người đối với chính bản thân mình: con người lấy mình làm đối tượng, tự bắt mình tuân theo các khuôn mẫu hành vi, ứng xử mà mình cho là tất, thiện Chính vì thế, hành vi đạo đức mới là hành vi tự nguyện Quyền của đạo đức cao hơn nhân quyền Tuy nhiên, cả nhân quyền và đạo đức cũng chỉ là những quyền tự do có tính hình thức, phiến diện, không thực chất nếu không phù hợp với quốc quyền, với luật pháp của Nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền là sự thống nhất biện chứng "chân lý" của gia đình và xã hội công dân Nền tảng của nhà nước là cái lý tính Cái lý thể hiện qua các quy định pháp luật của Nhà nước pháp quyền giống như các mạch máu xuyên suốt các thiết chế

xã hội công dân và gia đình, thâm nhập vào các quy định cảm tính của gia đình và trí tỉnh của xã hội công dân, khắc phục tính chủ quan, phiến diện, sự hạn chế của chúng Trong Nhà nước pháp quyền, tình yêu (gia đình), nhân quyền, đạo đức (xã hội công dân) và cái lý tính (Nhà nước chính trị) thống nhất với nhau Theo Hegel, Nhà nước sẽ tồn tại vĩnh cửu Quyền của Nhà nước chỉ thấp hơn quyền của thời đại.1

Bảo vệ tính hợp lý của tư hữu tư sản, Hegel phê phán dự án "cộng sản chủ nghĩa" của Plato Ông cũng không đồng ý với Rousseauvề việc bãi bỏ bất công tài sản Đồng thời ông đấu tranh chống các quyền phong kiến Hegel tin tưởng rằng chúng không phù hợp với khái niệm đúng về sở hữu, mà theo đó chủ ruộng đất phải là những người

sở hữu và canh tác chung Hegel cũng không chấp nhận chế độ nông chế độ nông nô

và nô lệ, vì lẽ chúng chà đạp nhân phẩm con người "Trong tự nhiên sự vật, có quyền tuyệt đối của kẻ nô lệ giành cho mình tự do" Phán luận như vậy không hề làm Hegel

1

Xem, Phạm Chiến Khu, tạp chí Triết học , 2007 số 6

Trang 26

ủng hộ tư tưởng bình đẳng giữa tất cả mọi người Ông bác bỏ tư tưởng này vì cho rằng

nó trái ngược tự nhiên

Khẳng định "lịch sử toàn thế giới là sự tiến bộ trong ý thức tự do, sự tiến bộ mà chúng ta cần phải nhận thức trong tính tất yếu của nó"1 Hegel coi sự phát triển về tự

do là chuẩn mực cơ bản đánh giá sự ưu việt của thời đại này so với thời đại khác, của dân tộc này với dân tộc khác Từ đây, ông chia lịch sử thế giới như sau:

Thời kỳ tiền

sử

Mông muội

Phương Đông cổ đại

Hy lạp Lamã cổ đại Nước Đức thiên chúa

giáo, trung cổ và cận đại

Không ai tự

do

Chế độ quân chủ một người được tự

Ở đây, dĩ nhiên Hegel hiểu tự do theo góc độ duy tâm, coi đó là sự nhận thức và thực hiện những quy luật tất yếu của tự nhiên với tư cách là hiện thân của tinh thần tuyệt đối, hay cụ thể hơn, "tự do con người thể hiện trong sự hiểu biết và làm theo ý chúa"2 Song ở một mức độ đáng kể, nó toát lên tư tưởng sâu sắc khẳng định tự do, cũng như trình độ giải phóng con người và chinh phục tự nhiên là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá sự biến bộ lịch sử Nó cũng chỉ ra tiến trình phát triển văn minh nhân loại diễn ra theo xu hướng ngày càng khẳng định nhân cách con người, làm cho "con người là chúa tể số phận và sứ mạng của mình"3

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 8:

1 Khái quát chung về nội dung tư tưởng chính trị thời cận đại

2 Giá trị pháp luật của nội dung tư tưởng của Hegel G.F?

1 GV Ph Hêgel: Triết học lịch sử Sđd T VIII tr 19

2 G.V.Ph Hêgel: Triết học tôn giáo Thủ tướng 1976, tr 385 (bản tiếng Nga)

3 C.V.Ph.Hêghen các tác phẩm nhiều năm khác nhau Thủ tướng tr 545 (bản tiếng Nga)

Trang 27

Chương 9

CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ CỦA MỸ THỜI CẬN ĐẠI

1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm tư tưởng chính trị thời kỳ đấu tranh độc lập ở Mỹ

Sự hưng thịnh của hệ tư tưởng chính trị tiến bộ thế kỷ XVIII không chỉ có ở châu

Âu Tư tưởng chính trị tiến bộ đã truyền bá sang cả các thuộc địa Anh, những thuộc địa được thiết lập vào các thế kỷ XVII- XVIII ở bên bờ Đại Tây Dương của Bắc Mỹ Cách mạng tư sản Mỹ là một cách mạng thứ hai sau Cách mạng Anh Cuộc cách mạng này chịu ảnh hưởng trực tiếp của cách mạng Anh, nhưng lại mang hình thức một cuộc chiến tranh vì tự do, vì nền độc lập của các thuộc địa của Anh ở Châu Mỹ la tinh Kết quả của sự phát triển đến mức gay gắt các mâu thuẫn bên trong cũng như các mâu thuẫn với mẫu quốc là cuộc chiến tranh giành độc lập 1775 - 1783, "cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại để chống lại bọn Anh áp bức"1 Về thực chất đó là cuộc nội chiến mang tính giai cấp Các động lực của cuộc nội chiến này là nông dân và công nhân, để đứng dậy không chỉ về độc lập đất nước, mà còn vì cải cách kinh tế xã hội , vì các quyền và tự do chính trị Cuộc chiến tranh giải phóng đã kết thúc bằng thắng lợi của nhân dân Mỹ, họ đã nêu tấm gương đấu tranh cách mạng chống ách nô lệ phong kiến, là tiền đề cho cuộc cách mạng phải phóng ở Pháp

Trong lịch sử tư tưởng chính trị cách mạng Mỹ chính "Tuyên ngôn về các quyền" của đại diện Vơcginia, về sau đã được tái hiện trong "Tuyên ngôn độc lập Mỹ" và trong nhiều tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của các bang khác nhau Những quan điểm cơ bản của Tuyên ngôn này là; mọi người đều có quyền bẩm sinh là được sống, tự do, sở hữu, hạnh phúc và an ninh; nhân dân là cội nguồn của quyền lực và có chủ quyền, chính phủ là đày tơ của nhân dân, mọi quyền lực nhà nước hoạt động vì lợi ích của nhân dân, vì nếu vi phạm điều đó thì nhân dân có quyền thủ tiêu chính phủ không thích hợp với mình có quyền phân chia quyền lực

Tháng 1-1776 nhà dân chủ cách mạng Thomas Paine , trong bài "ý tưởng duy lý"

đã kêu gọi nhân dân Mỹ làm chiến tranh giành độc lập và tách các thuộc địa Bắc Mỹ khỏi mẫu quốc, dựa vào nguyên tắc quyền tự nhiên Tư tưởng này được thể hiện trong

"Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ" (Thông qua ngày 4-7-1776; trong

đó những tư tưởng bình đẳng, tự do và mưu cầu hạnh phúc được coi như những quyền không thể tách rời, không thể chối cãi của mỗi con người Tuyên ngôn tuyên bố chủ

1 V.I.Lênin Toàn tập, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, 1978, t37, tr 67

Trang 28

quyền nhân dân, quyền làm cách mạng của họ và tạo lập nhà nước độc lập, ý ngiã lịch

sử của Tuyên ngôn này thể hiện ở chỗ các quan điểm của học thuyết chính trị đã được tuyên bố thành những nguyên tắc thực tiễn của đời sống chính trị trong một văn bản của quốc gia

2 Các học thuyết chính trị tiêu biểu

2.1 Những quan điểm chính trị của T Jefferson

Tên tuổi T Jefferson (1743 - 1826) nhà tư tưởng và hoạt động chính trị vĩ đại,

nổi bật nhất trong lịch sử đấu tranh chống giải phóng của nhân dân Mỹ Ông là tác giả của văn kiện cách mạng vĩ đại nhất thời kỳ đó là "Tuyên ngôn độc lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ"

Từ lập trường học thuyết khế ước xã hội và các quyền tự nhiên không thể tách

rời của con người T Jefferson phê phán hình thức nhà nước quân chủ và bảo vệ tư

tưởng chủ quyền nhân dân Nhà tư tưởng này trong tác phẩm "Khái quát chung về các quyền của nước Mỹ thuộc Anh" khi xem xét tương quan giữa quyền lực nhà vua và chủ quyền nhân dân, đã viết rằng "nhà vua chính là ông quan chính của nhân dân, được bổ nhiệm làm chuyển động bộ máy nhà nước khổng lồ tồn tại vì hạnh phúc của nhân dân, và bởi vậy vua được đặt dưới sự kiểm tra của nhân dân

Nhà nước, và nói chung của tổ chức chính trị, theo ý T Jefferson là phải đảm bảo

tự do và hạnh phúc cho mọi con người Bởi vậy trong trường hợp lạm quyền hay bạo lực từ phía chính quyền nhà nước theo đuổi mục đích áp bức con người bằng nền chuyên chế, thì không chỉ bằng quyền, mà còn là trách nhiệm tự nhiệm của nhân dân

phải lật đổ chính quyền nhà nước đó Đó là những quan điểm của T Jefferson về tính

hợp pháp của cách mạng được thể hiện trong "Tuyên ngôn độc lập Mỹ" Những quan điểm này phản ánh mối quan tâm và lợi ích của các tầng lớp dân chủ trong nhân dân

Mỹ trong việc thiết lập những thể chế nhà nước mới Ông cho rằng, tư tưởng chủ quyền nhân dân không thể tách rời của nhân dân làm cách mạng trong tuyên ngôn, dù cho nó được hiểu một cách hình thức thế nào đi nữa và sẽ tiếp tục đóng vai trò tiến bộ

T Jefferson phê phán sâu sắc Hiến pháp 1787 có nhiều nét phản dân chủ: không

có quyền tự do ngôn luận, báo chí v.v Theo sáng kiến của ông và những người khác

đã thông qua 10 điểm bổ sung vào văn bản hiến pháp có hiệu lực vào năm 1791 và

tuyên bố một số quyền hạn và tự do dân chủ tư sản T Jefferson là một người tượng

trưng một cách thích hợp của cách mạng Mỹ Lý tưởng của ông có tính cách hết sức cách mạng, nhằm mục đích hướng chính phủ, chế độ và luật pháp phải tôn trọng con người Về mối quan hệ giữa chính phủ và nhân dân, ông viết: "nếu có một lúc xảy ra rằng dân chúng trở lên lơ đãng đối với việc nước thì bạn và tôi, và Quốc hội và những

Trang 29

hội đồng, những vị thẩm phán, những vị thống đốc, chúng ta tất cả sẽ trở thành những con chó sói

Nội dung tư tưởng của T Jefferson là những tư tưởng tiến bộ, góp phần rất lớn

trong cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ Với những nội dung tiến bộ tư tưởng của T Jefferson có ảnh hưởng rất nhiều trong tổ chức và hoạt động của chính quyền Mỹ

2.2 Những quan điểm chính trị của Thomas Paine

Với những tư tưởng chính trị cấp tiến vào thời kỳ chiến tranh giành độc lập đã xuất hiện nhà dân chủ cách mạng tư sản Thomas Paine (1737 - 1890) Không một người bình thường nào tiên đoán được tương lai rực rỡ của Thomas Paine, khi ông tới châu Mỹ vào năm ba mươi bảy tuổi Cho tới tuổi ấy đời ông chỉ là một chuỗi nhưng thất bại và thua thiệt Công việc nào ông bắt tay vào làm cũng đều đi đến kết quả không ra gì

Vì lý do nào đó chỉ trong vòng một ít năm, mà Thomas Paine, một người di cư vừa đặt chân tói châu lục mới lại nổi danh là một trong những tác giả viết Anh ngữ xuất sắc nhất, một trong những nhân vật được tranh luận hơn hết trong lịch sử Hoa Kỳ một kẻ nổi loạn và một nhà cách mạng mà ai cũng biết tên tuổi, người ta sợ và ghét, hoan hô và ca ngợi tận hang cùng ngõ hẻm tất cả các thuộc địa của Anh ở Châu Mỹ, ở Anh quốc và cả ở Tây Âu nữa? Hình như cuộc hành trình qua đại dương đã ảnh hưởng trong việc biến đổi kỳ dị con người và tính tình của ông, đang từ một kẻ tầm thường đột nhiên biến thành một thiên tài

Theo lời ông thì chính tại trường này, ông đã “hấp thụ được một nền giáo dục thật tốt và một số kiến thức hữu ích đáng kế” Thực hành vốn trái ngược với lý thuyết – nên óc thông tuệ về khoa học và phát minh của Paine đã nổi bật lên ngay từ hồi đó

và ông vẫn giữ được tài năng ấy trong suốt cả cuộc đời bận rộn sau này

Sau thời kỳ đi học ngắn ngủi ấy, Paine bắt đầu tập sự học nghề của cha là làm áo nịt phụ nữ Ba năm học nghề, rồi phần thì vì sức quyến rũ của biển khơi, phần vì quá chán ngàn công việc buồn tẻ đương làm, ông trốn khỏi nhà và xin vào đoàn thuỷ thủ tầu cướp biểu “Terrble” do viên thuyển trưởng có cái biệt danh ghê gớm là “Tử Thần” chỉ huy Được cha giải thoát, ông lại trở về tiếp tục nghề cũ cho tói năm mười chín tuổi Rồi ông lại lao mình vào đoàn thuỷ thủ “HOàng Đế nước Phổ” cũng là một tầu cướp biển và ở đấy trong một thời gian ngắn

Khi đã chán cách nhìn lãng mạn về cuộc đời thuỷ thủ lênh đênh trên biển, Paine trở về tiếp tục nghề cha, nhưng lần này ở Luân Đôn chứ không phải ở Thetford như trước Cửa hiệu ông giúp việc lần này ở gấn phố Drury Lane Lúc nhàn rỗi, ông đi dự các buổi nói chuyện về thiên văn học

Trang 30

Tiếp đó là những năng buồn lo, bối rối, lạc lõng Ở Sandwich, ông lập gia đình với một cô hầu mồ côi mẹ, nhưng chưa được một năm thì bà vợ này chết Nhạc phụ ông làm nghề thu thuế công quản, và Paine cũng bị lôi cuốn vào đó Cái nghề này dành cho ông nhiều nhàn rỗi và nhiều lợi ích khác

Paine được thu nhận làm viên chức sở thuế công quản Thật không còn gì làm mất bạn bè và cảm tình một cách chắc chắn hơn nữa, vì nghề của ông là bắt bọn buôn lậu Kẻ giầu, người nghèo đều căm ghét ông Sau khi bị đuổi việc vì “Thiếu tinh thần” không thi hành luật lệ được nghiêm chỉnh, ông trở lại làm nghề áo nịt trong một thời gian ngắn, rồi lại xoay sang dạy học với một số lương đói rách là 25 bảng Anh trong một năm ở Kesnington

May mắn là trong thời kỳ sống ở Luân Đôn, ông đã Benjamin Franklin lúc ấy đang làm đại diện các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ Có thể vì đã nhận thấy thiên tài của Paine nên Franklin đã thuyết phục Paine hãy sang Châu Mỹ thử thời vận.Franklin viết cho con rể mình là Rachard Bache ở Philadelphia giới thiệu Paine là “một thanh niên tháo vát đáng quý” Franklin cũng đề ngị nên dùng Paine đứng bán hàng, làm phụ giáo trongmột trường học, hay làm phụ tác giám thị Lá thứ của Franklin là vốn liếng chính của Paine khi ông đặt chân đến Philadelphia vào đầu tháng Chạp năm 1774

Tuy nhiên Paine cũng đã đem theo một thứ vốn liếng loại khác vô giá Đó là kinh nghiệm cuộc sống của bản thân Ông đã biết ở Anh công lý được áp dụng tàn ác như thời trung cổ như thế nào; ông đã nếm cái nghèo hèn ty tiện; ông cũng từng được nghe

và đọc nhiều về các quyền tự nhiên của con người, ông cũng đã thấy hố sâu phân cách hàng triệu dân thường với con số vài ngàn tôn thất và quý tộc ở Anh và ông cũng biết cách bầu cử vào hạ nghị viện Anh ở địa phương thối nát ra sao; và ông cũng không lạ

gì sự đồi truỵ và ngu xuẩn của quý tộc Anh lúc ấy Vì đã suy nghĩ kỹ lượng về những vấn đề đó nê Paone có một tấm lòng trắc ẩn sâu xa đối với nhân loại, một lòng yêu chế

độ dân chủ và biết phải tiến hành ra sao để đạt tới một cuộc cải cách chính trị và xã hội toàn diện

Năm tuần lễ sau, hội đầu tiên của những người Mỹ chống chế độ nô lệ được thành lập ở Philadelphia Tiếp theo, ông tham gia vào công cuộc đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, đề xuất những đạo luật quốc tes quy định bản quyền cho các tác giả, tố cáo nhữn tàn ác đối với loại vật, chế giễu tục đấu gươm hay đấu súng và đòi bãi bỏ chiến tranh, thay bằng thương lượng hoà bình mỗi khi có bất hoà giữa các quốc gia Tuy nhiên, giữa lúc Paine viết những điều trên thì ông cũng không thể không đóng một vai trò quan trọng trong một cuộc chiến tranh khốc liệt đang lan rộng nhanh chóng Những trận đánh ở Concord, Lexington và ở đồi Bunker đã diễn ra vào mùa xuân 1775 Sau “cuộc tàn sát ở Lexington” vào tháng tư, Paine đã viết cho Benfamin

Trang 31

Franklin như sau: “Tôi thấy thật khổ tâm khi nghe ngọn lửa tàn phá quốc gia réo ở bên tai đúng lúc tôi đặc chân tới”

Ở mười ba thuộc địa của Anh ở châu Mỹ, người ta rất chia sẻ thái độ cần phải theo lúc ấy, các ý kiến đi từ thái cực này sang thái cực khác Những người như Samuel Adams và Jokn Hancock thì tán thành chiến tranh, còn nhóm bảo thủ thì lại trung thành với vua nước Anh

George Washington, Benjamin Franklin và Thomas Jefferson nhóm các lãnh tụ vẫn muỗn giữ lòng trung thành với Anh quốc và tỏ ra không mấy tin ở ý tưởng tách ra

và độc lập Cả 2 khoá I và II của Quốc hội toàn miền đều thông qua những nghị quyết khẳng định các thuộc địa vẫn trung thành với Hoàng đế Anh quốc, chỉ kiến nghị triều đình chấp thuận các yêu sách của họ ngay giữa những luồng tư tưởng khác nhau, giữa

sự mâu thuẫn về quan niệm và tình cảm, giữa sự tranh cãi căng thẳng ấy, có một người

đã nhìn thấy được các sự kiện sẽ diễn ra theo hướng nào Ngay từ đầu, Thomas Paine

đã nhận thấy cuộc phân ly giữa Anh quốc và các thuộc địa ở Bắc Mỹ là không thể tránh khỏi Ông đã dành cả mùa thu năm 1775 để ghi lại những nhận định của ông Trước khi xuất bản, Paine đưa tác phẩm của mình cho bạn bè đọc Một trong số bạn của ông, bác sĩ Benjamin Rush, đề nghị nên đề tựa là: Lương tri (Common Sense) và

đã giúp Paine tìm nơi xuất bản Đó là Robert Bell gốc người Scotland, chủ hiệu sách kiêm nhà in ở Philadelphia

Cuốn Lương tri ra đời ngày 19 tháng Giêng năm 1776, “Do một người Anh viết ra”; đó là một cuốn sách nhỏ dày bốn mươi bảy trang Trong vòng ba tháng, số bản in tiêu thụ được lên đến 120.000, tổng cộng số tiền thu được ước lượng lên đến nửa triệu bảng, một tỷ lệ tiêu thụ tương đương với số 30 triệu bản ở Hoa kỳ ngày nay Có lẽ tất

cả những trí thức đương thời ở mười ba thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ đã đọc cuốn sách này

Phần đầu cuốn sách nhỏ này trình bày nguồn dốc và bản chất của chính quyền dựa theo hiến pháp của nước Anh Quan niệm về chính quyền của các tác giả được tỉnh bày trong những câu đại loai như sau:

“Chính quyền, ngay cả khi trong một tình thế thuận lợi nhất, cũng chỉ là một thứ tội ác cần thiết ; còn khi tình hình rối ren thì cái chính quyền ấy sẽ không chịu nhân nhượng Chính quyền, cũng như y phục xuất hiện khi con người không còn được sống

tự nhiên Cung điện của vua chúa đã được xây dựng trên sự đổ nát của cuộc sống thiên đường Văn minh càng cao bao nhiều thì chính quyền càng khó lành hiền bấy nhiêu.” Paine lý luận là nguồn gốc và bản chất của chính quyền là do “thế giới không cai trị được bằng đạo đức cho nên cần có chính quyền Đó là mục đích của chính quyền, tức là boả vệ tự do và an ninh”

Trang 32

Giữa xã hội và chính quyền có mâu thuẫn sâu sắc Con người sống thành xã hội,

vì nhờ hợp tác với người khác mà một số nhu cầu cần thiết của con người có thể được thoả mãn Trong tình trạng đó, con người có một số quyền tự nhiên như quyền được tự

do, bình đẳng Nói theo lý tưởng thì con người phải được sống trong hoà bình và hạnh phúc mà không cần có chính phủ, nếu như “xúc cảm của lương tâm” họ đều “trong sáng, thuần nhất, và họ tuân theo tiếng nói của lương tâm” Nhưng bản chất con người

là hèn yếu và có khuynh hướng làm trái với đạo đức nên mới cần đến một sức mạnh kìm hãm họ; và sức mạnh đó là do chính quyền mà có Tuy nhiên nền an ninh, sự tiến

bọ và niềm an ủi của con người lại phụ thuộc vào xã hội nhiều hơn vào chính quyền Tập quán và phong tục xã hội, mối quan hệ và quyền lợi giữa người với người có tác động mạnh hơn là các thể chế chính trị

Nhiệm vụ chính yếu của chính quyền tức là trách nhiệm trước xã hội, Paine cho

là hoàn toàn không có trong bản hiến pháp nước Anh Hiến pháp ấy phức tạp đến nỗi không thể xác định được ai là kẻ chịu trách nhiệm về bất cứ một điều gì Phần độc nhất đáng ca ngợi trong hiến pháp ấy là quyền của người dân Anh, ít ra cũng trên lý thuyết, là được cử người vào hạ viện của Quốc hội

Paine đề nghị một chế độ chính trị có một quốc hội lập pháp được bầu cử theo thể thức dân chủ cho các thuộc địa1, một Tổng thống và một nội các, với ngành tư pháp chịu trách nhiệm trước quốc hội

Trong nhiều đoạn Paine đã tỏ thái độ đặc biệt gay gắt và chua cay đối với Hoàng

đế George đệ tam Sau vụ quân đội hoàng gia Anh tàn sát những người khỏi nghĩa ở Lexington, ông viết:

“Tôi không công nhận tên Hoàng đế kiểu Ai Cập này của nhà nước Anh, một tên vua ương ngạnh và cau có Tôi khinh bỉ cái kẻ vô hạnh, mang danh hiệu giả mạo Cha của thần dân mà sao có thể thản nhiên nghe tin dân con bị tàn sát, mà vẫn ngủ yên được trong khi lương tâm của y vấy máu những người dân con kia!”

Trong một đoạn sau ông thêm:

“Có người hỏi: Còn vua Mỹ thì ở đâu? Tôi sẽ trả lời bạn là ông ấy ngự trị ở trên cao và không gây tại hoạ gì cho nhân loại như tên hôn quân ở Anh quốc”

Sau khi bài phát biểu mạnh mẽ những ý tưởng về chế độ quân chủ, Paine đề cập

đế “Một vài ý nghĩ về hiện trạng doanh thương ở Mỹ” Ông đã nhấn mạnh vào những dẫn chứng kinh tế để chứng minh sự cần thiết phải phân ly với nước Anh Về chủ

1

Đây là mói về các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ lúc bầy giờ vẫn chưa nổi lên chống lại Anh quốc đề lập thành Hoa

Kỳ như ngày nay

Trang 33

trương của phải bảo thủ Tories ở Mỹ cho rằng các thuộc địa ở Bắc Mỹ đã phát triển được là nhờ mối liên hệ với nước Anh, Paine trả lời:

Paine bác bỏ luận điệu cho rằng nước Anh đã che chở cho thuộc địa của học chống lại người Tây Ban Nha, người Pháp và người da đỏ bản xứ

“Nước Anh có thể che chở nước Thổ Nhĩ Kỳ vì những lý do tương tự, tức là để bảo vệ cho nền thương mại và thuộc địa của mình, và trong bất cứ trường hợp nào, sự che chở ấy cũng được thực hiện bằng tiền của chúng ta, bị coi là tiền của nước Anh” Paine nhấn mạnh rằng châu Mỹ đã từng là “nơi tị nạn cho những người ở khắp châu Âu bị ngược đãi vì yêu chuộng quyền tự do công dân và tự do tín ngưỡng Ngay tai tỉnh này cũng không có tới một phần ba dân số thuộc dòng giống người Anh Vì vậy tôi quả quyết cho rằng cách gọi “nước mẹ” hay “nước anh em’ chỉ áp dụng cho Anh quốc là sai lầm, là thiển cận và hẹp hòi”

Paine cho rằng có rất nhiều điểm bất lợi trong việc tiếp tục gắn vào nước Anh và

ta đã thấy được trong đoạn ông viết sau đây một phần nào ý kiến mà sau này được diễn

tả ra qua lời nhắc nhở1 của George Washington đó là phải “sáng suốt trong việc quyết định liên minh lâu dài với bất cứ khu vực nào trên thế giới”, và qua chính sách của Thomas Paine như sau “Hoà bình, buôn bán và hữu nghị chân thành với tất cả các quốc gia – không liên kết riêng với bất cứ một quốc gia nào”

Điều mà chúng ta không bao giờ làm được trong khi phụ thuộc vào nước Anh , là chúng ta buộc phải đứng về phía nước Anh để làm tăng giá trị cho chính sách của quốc gia này Châu Âu khó có hoà bình lâu dài vì chế độ quân chủ đã bắt rễ quá đậm ở đấy;

và khi xẩy ra chiến tranh giữa nước Anh với tất cả một quốc gia khác nào, nền thương mại của châu Mỹ sụp đổ vì châu Mỹ dính chặt với nước Anh”

Trong khi áp bức còn đè nặng lên thế giới bên ngoài, châu Mỹ phải mở rộng cánh cửa tự do và chuẩn bị nơi tị nạn cho những người bị ngược đãi trên khắp thế giới” Tóm lại, những lý do khiến Paine tin tưởng “Không có gì giải quyết được nhanh chóng những vấn đề của chúng ta cho bằng một bản tuyên ngôn độc lập rõ ràng và dứt khoát” Ông đề ra bốn nhận định để kết luận cuốn Lương tri:

1 Trong khi các tỉnh Bắc Mỹ còn bị coi là thuộc địa của nước Anh thì sẽ không một quốc gia nào khác có thể đứng ra hoà giải những mối bất hoà giữa nước Anh và các tỉnh thuộc địa ở châu Mỹ

1

Trước khi rời khỏi chức Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, Washington có thảo ra mười điều nhắc nhỏ quốc dân

mà ông cho rằng Hiến pháp Hoa Kỳ còn thiếu

Trang 34

2 Nước Pháp hay Tây Ban Nha sẽ chẳng giúp chúng ta nối kết lại sự đứt đoạn và xiết chặt lại mối quan hệ giữa Mỹ và nước Anh vì làm như thế sẽ thiệt hại cho quyền lợi của quốc gia họ;

3 Khi người dân Mỹ nhìn nhận mình là thần dân của triều định Anh quốc thì những quốc gia khác sẽ coi họ là những kẻ phiến loại, và do đó chỉ dành ít cảm tình cho họ;

4 Kết quả sẽ cực kỳ tốt đẹp nếu dân các thuộc địa ở Mỹ lập một bản tuyên ngôn nói rõ sự bất bình và ý định cắt đứt mọi liên hệ với nước Anh rồi gửi tới tất cả mọi quốc gia khác, bày tỏ ý chí hoà bình thân thiện và sự mong muốn thiết lập bang giao thương mại với các quốc gia ấy

2.3 Những quan điểm chính trị của Hamilton (1757 - 1804)

Hamilton sinh ngày 11 háng 1 năm 1755, tại thị trấn Charlestown Ông là con ngoài giá thú của James Hamilton, một nhà buôn nghèo, có dòng dõi quý tộc với Rachel Fawcett, một người Pháp theo đạo Tin lành Năm 1766cha dượng đã chuyển gia đình ông về đảo St Croix, thuộc địa của Đan mạch lúc bấy giờ Mẹ ông tác động đến sự hình thành nhân cách của Hamilton, bà dạy ông nói tiếng Pháp Đức Cha Knox, một giáo sỹ dòng Trưởng Lão dạy ông những kiến thức cơ bản Khi mẹ mất ông xin làm thư ký cho một hãng buôn, vì vậy kiến thức tài chính và kinh doanh của ông tương đối thuần thục

Năm 1772 Hamilton đến cư trú tại New York, ông vào học Học viện Barber tại Elizabethtown Năm 1773 ông vào học trường King’s College ở thành phố New York (nay là trường Đại học Tổng hợp Columbia) ở thành phố New York, những cuộc cách mạng tư sản Mỹ đã làm gián đoạn việc học hành của ông Năm 1974 mặc dù vẫn còn trẻ tuổi nhưng Ông đã công bố một loạt các bài báo khoa học có tính chất rất chính trị, được nhiều người rất kính trọng và vị nể Năm 1776 – 1777, chiến tranh bùng nổ, ông

ở trong quân dội với chức vụ đại ý pháo binh và có nhiều chiến công quan trọng Cuối những năm này ông được phong chức trung tá, với chức vụ thư ký cho tướng Washington Ông trở thành người bạn tâm tình gần gũi của Washington và được Wasington quý mến vì trình độ học thuật và tính tình ngay thẳng của ông Năm 1780, Hamilton lấy Elizabeth Schuyler, con gái một gia đình giàu có và có nhiều thế lực chính trị Năm 1781, sau một số bất đồng với một số người trong chính quyền Wasington ông từ chức, nhưng vẫn giữ quan hệ rất tốt với Wasington, họ thường xuyên trao đổi với nhau về cá công việc của chính quyền

Ông hiểu rõ tính chất quan trọng của tiền bạc và những điều kiện kinh tế của nước cộng hoà non trẻ Ông cũng hiểu rằng sự khan hiếm tiền bạc là mối đe doạ đưa

Trang 35

quốc gia trẻ tiến vào tình trạng kiệt quệ toàn thể: Nếu không có tiền luân chuyển, mãi lực sẽ ngưng trệ, sản phẩm sẽ không luân chuyển, sản xuất cũng sẽ kiệt quệ đi

Hamilton nhận thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa sự thịnh vượng kinh tế và sự thống nhất quốc gia Ông nói: "Tất cả hệ thống tài chính của ông là để liên kết chặt chẽ hơn những tiểu bang trong khối liên hiệp"

Ông có mục đích cao cả làm cho mọi biện pháp để bảo vệ Liên bang hợp chủng quốc, cho nên tư tưởng của ông muốn chống lại sự phản kháng của dân chúng, bảo vệ quyền lợi của tư sản và chủ nô, bảo vệ tư hữu Dân chủ theo Hamilton là sự ngự trị của dân đen nhằm mục đích chống lại sở hữu

Khi đấu tranh chống dân chủ, Hamilton đã bảo vệ tư tưởng về quyền hành pháp mạnh, bảo vệ quân chủ lập hiến Một khi đòi hỏi đó không được đáp ứng thì lại đòi hỏi thiết lập quyền lực tổng thống suốt đời, tức là thẩm quyền vô hạn cho tổng thống Ông

ta đưa ra và bảo vệ tư tưởng quyền lực trung ương mạnh để đàn áp quần chúng bị áp bức và khởi nghĩa nhân dân Ông đề nghị cử các thống đốc bang do chính phủ bổ nhiệm chính phủ có quyền to lớn, như quyền phủ quyết mọi đạo luật của các bang

3.4 Các quan điểm chính trị của James Madison (1751 – 1836)

Madison sinh năm 1751, con cả trong gia đình mang giòng dõi quý tộc đồn điền Madison là một người thông minh, nhưng sức khoẻ rất ốm yếu, chăm học hỏi Năm

1771 ông đã tốt nghiệp trường đại học New Jersey Ông rất quan tâm đén lĩnh vực chính quyền và luật pháp, ông học thêm một năm nữa sau đại học và có mong muốn theo đuổi nghề mục sư Năm 1775 ông tham gia Uỷ ban An toàn của quận Orange Năm 1776 tham dự Hội nghị Lập hiến của bang Virginia Sau đó Ông tham gia Viện dân biểu của Thị xã , tham gia Hội đồng tiểu bang Vì sức khoẻ yếu ông không thể tham gia được trong quân đội Năm 1787 Madison được chọn làm đại diện cho bang Virginia tham dự Hội nghị Lập hiến của Quốc hội Hợp bang Mặc dù là đại biểu trẻ nhất trong các đại diện của các tiểu bang, nhưng ông lại có vai trò rất quan trọng trong các cuộc tranh luận của Hội nghị lập hiến Madison là nhân vật xuất chúng trong Hội nghị lập hiến Ông là một trong số đại biểu ủng hộ mô hình chính quyền trung ương mạnh Ông biện hộ không mệt mỏi cho chính quyền trung ương, mặc dù bị nhiều người bác bỏ Ông là tác giả của phương án của tiểu bang Virginia, phương án này trở thành nền tảng của Hiến pháp Mỹ pháp hiện hành

Năm 1809 , Ông kế nhiệm Jefferson làm Tổng thống thứ tư của Hợp chúng quốc Hoa kỳ Sau khi kết thúc nhiệm kỳ thứ hai ở cương vị Tổng thống Mỹ quốc ông về hưu, trông coi trang trị Montpelier ông vẫn tích cự tham gia các hoạt động xã hội Ông giành nhiều thời gian vào soạn thảo và ghi lại diễn biến Hội nghị lập hiến năm

1787 Bốn năm sau khi ông quan đời Chính phủ Mỹ quốc đẫ cho xuất bản ấn phẩm

Trang 36

trên với nhan đề của cuốn sách với tên: Những ghi chép về Hội nghị Lập Hiến năm

1787 Đây là bản ghi chép rất có giá trị về Hội nghị này

Con người quản lý con người cũng là một dạng công việc của con người, cũng như các các công việc khác vậy thôi, việc bỏ công bỏ sức, bỏ tiền bạc tài sản ra thì phải thu được kết quả mong đợi Kết quả đó phải đo được bằng một thước đo nào đấy

Mà thước đo quan trọng và phổ thông nhất của hoạt động con người là phải được so sánh với hoạt động tương tự của con người khác, tức là phải có một sự cạnh tranh, cũng như theo cách nói của Madison "danh vọng phải được kiềm chế bằng danh vọng"1 Đó cũng là một đặc tính cơ bản của con người

Một bản hiến pháp tốt chỉ khi nào tạo ra một cơ chế cạnh tranh Phân công phân nhiệm rạch ròi giữa các cơ quan cũng như việc phân quyền trong nhà nước tư sản cũng

là để nhằm mục đích tạo ra một thứ cạnh tranh đó mà thôi Việc phân công, phân nhiệm không chỉ nằm ở chiều ngang ở cấp trung ương giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp, mà còn cả theo chiều dọc giữa trung ương với địa phương và địa phương với địa phương Các ngành, các cấp cả trung ương và địa phương đều phải cạnh tranh để cùng làm tốt cho nhân dân, cho con người, khi họ ở bất kể nơi đâu và bất kể khi nào

Về nguyên tắc, thì sự hạn chế quyền lực được tạo ra từ một cơ chế kiểm soát bên trong có hiệu quả hơn bên ngoài, như phòng bệnh tốt hơn chữa bệnh làm vậy Kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong tức là cách kiểm soát ngay trong lòng các cơ quan nhà nước, trước khi các hành vi hoạt động của nhà nước phát huy tác dụng ra bên ngoài Ví dụ như cơ chế kìm chế đối trọng là một biểu hiện rõ nét nhất của khái niệm kiểm soát quyền lực bên trong Kiểm soát bên ngoài tức là những kiểm tra quyết định của nhà nước sau khi đã phát huy tác dụng Ví dụ việc xét xử của toà án đối với các quyết định quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 9:

1 Khái quát chung về tưởng chính trị cận đại Mỹ?

2 Nội dung tư tưởng chính trị của Madison?

1

Xem, Madison, The federalist papers, N 51

Trang 37

và Ăng ghen, Lênin đã đưa cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10 Nga đến thắng lợi Tư tưởng chính trị của Lênin chủ yếu thể hiện trong các đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa bị áp bức bóc lột, tư tưởng về cách mạng vô sản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc.1

Để tránh trùng lặp với một số môn học khác như Triết học Marx-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Kinh tế- chính trị Marx-Lênin, chúng tôi sẽ tập trung phân tích một số quan niệm của chủ nghĩa Marx-Lênin về Nhà nước và pháp luật

2 Một số quan niệm của Chủ nghĩa Max- Lênin về nhà nước pháp quyền 2.1 Về nguồn gốc và bản chất của nhà nước

Morgan, một nhà dân tộc học người Mỹ, có một công trình nổi tiếng là " Ancient Society" Những kết quả nghiên cứu của tác phẩm này đã được Ăng-ghen tham khảo trong việc nghiên cứu chi ra nguồn gốc của quyền lực nhà nước trong tác phẩm " Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước" xuất bản lần đầu tiên vào năm 1884

Trước tiên, Ăng-ghen lý giải về cơ sở kinh tế- xã hội của sự xuất hiện nhà nước,

và quyền lực nhà nước " Bây giờ, chúng ta đến ngưỡng của của thời đại văn minh Nó

mở đầu bằng một bước tiên trong sự phân công Trong giai đoạn thấp nhất, loài người

1

Viện đại học mở Hà nội Một số vấn đề cơ bản của khoa học chính trị, H, 1995, tr145

Ngày đăng: 31/05/2021, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w