Với kết quả tích cực thu được từ việc áp dụng sáng kiến này, tôi mong được các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ và đặc biệt là đối với giáo viên cấp tiểu học có thể ứng dụng sáng kiến v[r]
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Thế kỉ XXI là thế kỉ của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn cầu Cùng với hội nhập về kinh tế và văn hóa thì vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đặt ra và ngày càng được coi trọng Việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Tiếng Việt trở nên rất quan trọng và cấp thiết Là một môn học có vị trí quan trọng hàng đầu của bậc Tiểu học, Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của Tiếng Việt (hệ thống âm, thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp,…) Đồng thời hình thành cho học sinh kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) là bốn kĩ năng quan trọng gắn liền với cuộc sống của mỗi người Khi
có kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt sẽ giúp học sinh học tốt các môn học khác Giúp học sinh có cơ hội phát triển óc thẩm mĩ Vì thế, ở trường tiểu học Tiếng Việt giúp học sinh có, nhận thức đúng đắn, có tình cảm thái độ hành vi của con người Việt Nam hiện đại, sống và hòa nhập với tập thể Ngược lại, khi vốn Tiếng Việt tốt lại tác động đến khả năng cảm thụ thơ văn của học sinh
Môn Tiếng Việt lớp 4 được chia ra thành các phân môn cụ thể gồm: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, Kể chuyện Phân môn Luyện từ và câu với thời lượng 2 tiết mỗi tuần (trong tổng số 8 tiết Tiếng Việt) có một vị trí rất quan trọng Ở lớp 4, phân môn Luyện từ và câu sẽ cung cấp cho học sinh các kiến thức quan trọng về cấu tạo từ (từ đơn, từ ghép, từ láy) và từ loại (danh từ, động từ, tính từ) và các bài tập Mở rộng vốn từ Các kiến thức về cấu tạo từ và từ loại là những nội dung kiến thức mới và khá phức tạp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 4
Do đó, các em gặp không ít khó khăn với các bài tập có nội dung kiến thức này Các em thường nhầm lẫn, chưa phân biệt đúng giữa các loại từ và các từ chia theo cấu tạo nên hay làm sai bài Từ thực tế đó, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu thực trạng, đưa ra một số biện pháp giúp học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh khối lớp 4 học tốt hơn phân môn Luyện từ và câu
2 Tên sáng kiến: Một số biện pháp dạy học các dạng bài của phân môn Luyện
từ và câu cho học sinh lớp 4, trường Tiểu học Chấn Hưng - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc.
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Nguyễn Phú Thọ
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Chấn Hưng
- Số điện thoại: 0978112235
- Email: info@123doc.org
Trang 24 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
- Họ và tên: Nguyễn Phú Thọ
- Chức vụ: Giáo viên
- Địa chỉ: Trường Tiểu học Chấn Hưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
5.1 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
- Sáng kiến có thể áp dụng để giảng dạy, hướng dẫn học sinh học các bài có nội dung thuộc phân môn Luyện từ và câu cho học sinh khối lớp 4, 5 trong trường Tiểu học Chấn Hưng nói riêng và bậc Tiểu học nói chung
- Áp dụng bồi dưỡng học sinh năng khiếu, các câu lạc bộ Tiếng Việt học trong và ngoài nhà trường
- Bồi dưỡng học sinh tham gia các sân chơi trí tuệ, các cuộc thi học sinh năng khiếu môn Tiếng Việt như Trạng nguyên Tiếng Việt; CLB Văn Tuổi thơ;
5.2 Vấn đề mà sáng kiến giải quyết
- Giúp học sinh có kiến thức, kĩ năng trong việc tìm hiểu, phân tích và làm chính xác các bài tập của phân môn Luyện từ và câu như phân tách danh giới từ, tìm từ đơn, từ ghép, từ láy hay phân loại danh từ, động từ, tính từ Các bài tập mở rộng vốn từ, bài tập về các kiểu câu và cấu tạo ngữ pháp của câu
- Học sinh biết nhận diện các dạng bài tập, vận dụng kiến thức lí thuyết để làm bài tập đảm bảo chính xác hơn
- Đề xuất một số nội dung và ý kiến để góp phần nâng cao chất lượng dạy – học các dạng bài thuộc phân môn Luyện từ và câu
- Nâng cao kết quả học tập phân môn Luyện từ và câu nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
Sáng kiến bắt đầu được áp dụng từ tháng 09 năm 2018
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
7.1.1 Cơ sở lí luận:
Nhận thức được tầm quan trọng của môn Tiếng Việt với học sinh nói chung
và học sinh Tiểu học nói riêng Môn học trang bị nền tảng cở sở cho sự phát triển ngôn ngữ, nhận thức và nhân cách Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp vô cùng quan trọng Nó giúp diễn những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy biết được những giá trị trừu tượng mà các giác quan khó thể hiện được Luyện từ và câu là một
Trang 3phân môn chiếm thời lượng dạy học lớn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học Phân môn cung cấp hệ thống từ ngữ, kiến thức ngữ pháp, hành văn làm trang bị cho việc học tập cũng như cuộc sống về sau
7.1.2 Cơ sở thực tiễn:
Để việc dạy học các dạng bài Luyện từ và câu lớp 4 có hiệu quả đặt là vấn đề rất được giáo viên quan tâm Thực tế dạy học, tôi cũng như các đồng nghiệp đã gặp phải không ít những khó khăn Việc cung cấp vốn từ cho học sinh, việc hướng dẫn làm các bài tập Luyện từ và câu mang tính khuôn mẫu, học sinh ghi nhớ một cách máy móc và thiếu sáng tạo Học sinh cũng học một theo cách ghi nhớ máy móc mà thiếu sự vận dụng linh hoạt sáng tạo Do đó, việc tìm các biện pháp nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và học của học sinh trong giờ Luyện từ và câu là vấn đề rất được quan tâm của cả giáo viên và các cấp quản lí
Trong quá trình dạy học phân môn Luyện từ và câu, đặc biệt các nội dung phức tạp về từ đơn, từ ghép, các kiểu từ ghép chỉ ra rất nhiều hạn chế Về nội dung và thời lượng dạy học còn ít Học sinh không nắm vững kiến thức dẫn đến chán học và hiệu quả không cao Từ thực tế đó cho thấy, việc tìm ra các biện pháp hiệu quả trong dạy học các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 là rất quan trọng và cần thiết
Trên đây là những lí do thúc đẩy tôi suy nghĩ, nghiên cứu tìm tòi để đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao kết quả giảng dạy giờ học phân môn Luyện từ và câu của lớp tôi nói chung và trường Tiểu học Chấn Hưng nơi tôi công tác nói riêng
7.2 Về nội dung sáng kiến
7.2.1 Thực trạng dạy và học phân môn Luyện từ và câu
* Đối với chương trình sách giáo khoa.
Phân môn Luyện từ và câu của chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 gồm 2 tiết/tuần trong tổng số 8 tiết Tiếng Việt Sau mỗi tiết hình thành kiến thức kết hợp với bài tập vận dụng là một số tiết luyện tập thực hành Số tiết học có nội dung vận dụng, thực hành còn hạn chế dẫn đến học sinh chưa được vận dụng kiến thức nhiều
* Đối với giáo viên.
Phân môn Luyện từ và câu trang bị cho học sinh hệ thống vốn từ ngữ, kỹ năng sử dụng Tiếng Việt trong học tập và giao tiếp Giáo viên là nhân tố chính trong việc nâng cao chất lượng dạy học Khi nghiên cứu quá trình dạy hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, tôi thấy phân
Trang 4môn Luyện từ và câu có nhiều phần kiến thức khó, bản thân giáo viên nếu không nắm vững kiến thức và kĩ năng giảng dạy sẽ hạn chế hiệu quả dạy học
- Một số ít giáo viên còn hạn chế trong việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Giáo viên còn ngại tìm tòi, nghiên cứu tài liệu đổi mới để áp dụng vào giảng dạy
- Cách dạy học của nhiều giáo viên còn đơn điệu, thiếu hấp dẫn nên học sinh không hứng thú học tập
- Nhiều giáo viên chưa coi trọng việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ hay tay nghề
- Trang thiết bị, tài liệu phục vụ dạy học còn hạn chế cũng góp phần ảnh hưởng đến chất lượng dạy học
* Đối với học sinh.
Học sinh chưa ý thức được vai trò của môn học nên chưa thực sự chú tâm hay dành thời gian phù hợp cho việc học là thực hành bài
Học sinh không có hứng thú học phân môn này hoặc là chỉ một số ít học sinh
có nhận thức khá mới thích học
Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu, từ loại Từ đó dẫn đến việc nhận diện phân loại, xác định hướng làm bài thiếu chính xác Việc xác định yêu cầu, nội dung bài còn nhầm lẫn nhiều
Học sinh chỉ làm bài theo trí nhớ máy móc mà chưa đi sâu vào phân tích dữ kiện bài, hệ thống kiến thức
Nhiều học sinh thuộc lí thuyết rất nhanh nhưng vận dụng vào làm bài thì lại còn sai nhiều Điều đó cho thấy học sinh tiếp thu kiến thức một cách máy móc, thụ động và thiếu sự vận dụng linh hoạt
Để nắm bắt chất lượng học sinh trước khi tiến hành nghiên cứu, tôi đã cho học sinh lớp 4E (do tôi chủ nhiệm) làm bài kiểm tra nhỏ như sau :
Đề bài: Xác định từ đơn, từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau.
“Mưa mùa xuân xôn xao, phơi phới Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại, rơi
mà như nhảy múa”.
Kết quả khảo sát thu được từ 32 học sinh như sau:
Trang 5Kết quả cho thấy có tới 10 em chưa biết xác định từ đơn, từ ghép, từ láy Thậm chí bài làm cũng trình bày chưa rõ ràng, thể hiện việc nắm kiến thức sơ sài
Từ đó cho thấy rất cần có các biện pháp phù hợp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn
7.2.2 Một số dạng bài tập Luyện từ và câu điển hình của lớp 4.
+ Phân tích cấu tạo của tiếng;
+ Tìm các từ, ngữ, thành ngữ, tục ngữ về các chủ đề;
+ Điền các dấu câu thích hợp vào chỗ trống;
+ Tìm từ đơn, từ phức và đặt câu với từ tìm được;
+ Tìm từ ghép (từ ghép phân loại, từ ghép tổng hợp), từ láy và đặt câu;
+ Tìm động từ, danh từ, tính từ;
+ Phân biệt các kiểu câu chia theo mục đích nói;
+ Xác định thành phần của câu (Chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ)
7.2.3 Một số biện pháp thực hiện:
* Phương pháp nghiên cứu.
Từ thực tế giảng dạy và kinh nghiệm của cá nhân, tôi đã nghiên cứu và rút ra được nhiều kinh nghiệm thông qua các bài học trên lớp, trước hết tôi yêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau
1 Đọc thật kỹ yêu cầu đề bài.
2 Nắm chắc yêu cầu của đề bài Phân tích nội dung bài và mối liên hệ với nội dung kiến thức lí thuyết đã học.
3 Vận dụng kiến thức để giải quyết yêu cầu bài tập.
4 Kiểm tra kết quả.
Mỗi một dạng bài cụ thể, giáo viên cần nghiên cứu và lựa chọn phương pháp
và hình thức tổ chức giảng dạy phù hợp cho đối tượng học sinh cụ thể của mình Giúp học sinh hiểu được vai trò của phân môn trong môn Tiếng Việt
Với các bài tập về các kiểu câu, học sinh nhận biết ý nghĩa và mục đích sử dụng của từng loại câu và vận dụng vào giao tiếp phù hợp
Ví dụ: Câu hỏi được sử dụng với các mục đích khác nhau, cụ thể như :
- Hỏi về điều mình chưa biết;
- Khen, chê;
- Để khẳng định, phủ định;
- Thể hiện yêu cầu, đề nghị
Trang 6* Một số phương pháp tổ chức dạy Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 :
Dựa vào các dạng bài cơ bản của phân môn, có thể đưa ra một số phương pháp dạy học cụ thể như sau:
- Đối với các dạng bài mở rộng vốn từ
Ví dụ: Tìm các từ ngữ, thành ngữ tục ngữ
- Thể hiện lòng nhân hậu (yêu thương con người);
- Trái nghĩa hoặc đồng nghĩa với nhân hậu;
- Thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó;
- Đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với đoàn kết
Cùng với vốn từ ngữ được cung cấp trong sách giáo khoa, giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm và đại diện nhóm trình bày ý kiến trước lớp
+ Nhóm 1: Nhân hậu, nhân ái, nhân đức, nhân nghĩa,…
+ Nhóm 2: Gian ác, ác độc, ac đức, ác nhân, thất đức,…
+ Nhóm 3: Đoàn kết, gắn bó, gắn kết, giúp đỡ, …
+ Nhóm 4: Chia lìa, chia rẽ, chia ly, chia tay, …
- Dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy
Ví dụ: Tìm các từ láy, từ ghép chứa các tiếng cho trước sau đây:
+ Tươi
+ Lạnh
+ Mơ
Giáo viên tiến hành tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm Học sinh trao đổi cùng tìm từ theo yêu cầu bài và khái niệm từ đã học
Tươi Tươi cười, tươi tốt Tươi tắn, tươi tươi
Lạnh Lạnh buốt, lạnh giá Lành lạnh, lạnh lùng
Tiếp theo, giáo viên yêu cầu học sinh làm cá nhân đặt câu với một trong các
từ tìm được :
+ Em tươi cười chào mọi người.
+ Mùa đông, trời lạnh giá.
+ Nam ngồi mơ màng trong lớp.
* Hướng dẫn học sinh so sánh từ láy, từ ghép:
Giáo viên củng cố cho học sinh, giúp học sinh nắm chắc khái niệm đã học + Từ luôn luôn phải có nghĩa và nó là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên câu
Trang 7+ Từ láy, từ ghép đều là từ có nghĩa (từ phức) Từ láy là những từ phối hợp những tiếng có phụ âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và giống nhau
+ Từ ghép là từ được tạo nên bằng cách ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau Dựa vào sự khác nhau về cách tạo từ trên mà học sinh phân biệt từ ghép và từ láy
Giáo viên có thể lấy thêm ví dụ:
+ Từ ghép: bàn ghế, nhà cửa, hoa quả, quần áo,…
+ Từ láy: lề mề, nho nhỏ, lạnh lùng,…
- Dạng bài về tính từ, động từ, danh từ
Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 còn có nội dung quan trọng và chiếm một thời lượng khá lớn đó là nội dung về từ loại Nội dung gồm một số kiến thức sau:
+ Danh từ chung và danh từ riêng;
+ Động từ;
+ Tính từ
Ví dụ 1: Viết tên 2 bạn nam và 2 bạn nữ trong lớp em Tên các bạn là danh
từ chung hay danh từ riêng ? Vì sao ?
- Giáo viên tổ chức cho học sinh nêu miệng tên các bạn cùng lớp Học sinh viết lại tên các bạn vào vở rồi quan sát tên vừa viết Nhận xét về cách viết để trả lời câu hỏi của bài tập
+ Tên 2 bạn nam: Trần Văn Hoàng; Lê Nam Khánh Hưng
+ Tên 2 bạn nữ: Nguyễn Thị Trà My; Bùi Hồng Ngọc
Tên của các bạn là danh từ riêng vì đó là tên riêng của một người Tên đó được viết hoa
Ví dụ 2: Tìm danh từ, động từ, tính từ có trong các câu thơ sau:
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày
Đây là bài tập giúp học sinh ôn tập lại khái niệm từ loại Học sinh tìm từ loại theo yêu cầu
+ Giáo viên cho học sinh nêu lại khái niệm đã học về Danh từ, động từ, tính từ.
+ Cho học sinh chia tách danh giới từ
Cảnh/ rừng/ Việt Bắc/ thật/ là/ hay/
Vượn/ hót/ chim/ kêu/ suốt/ cả/ ngày/
+ Tìm các từ và phân loại theo yêu cầu
Trang 8Kết quả như sau:
- Danh từ: cảnh, rừng, Việt Bắc, vượn, chim, ngày
- Động từ: hót, kêu
- Tính từ: hay, suốt
Khi học sinh quen với các bước làm của dạng bài này thì với các bài tương tự các
em sẽ làm nhanh và chính xác hơn
- Các dạng bài tập về câu (các kiểu câu, câu theo mục đích nói).
Dạng bài tập về phân loại các kiểu câu cũng là dạng bài chiếm thời lượng khá lớn trong phân môn Học sinh được học về khái niệm các kiểu câu (câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến) Dấu hiệu nhận biết các câu, ý nghĩa của mỗi loại câu và cách đặt câu sao cho đảm bảo nội dung, hình thức và ý nghĩa
a) Câu kể.
Câu kể là câu được sử dụng phổ biến nhất Câu kể được dùng để kể, miêu tả sự vật,
sự việc Câu kể được viết hoa chữ đầu câu và kết thúc câu bằng dấu chấm
Có ba kiểu câu kể, gồm:
+ Câu kể kiểu Ai làm gì ?
+ Câu kể kiểu Ai là gì ?
+ Câu kể kiểu Ai thế nào ?
Ví dụ 1: Đặt một vài câu kể để:
a) Kể một số việc em làm ở trường
b) Tả chiếc áo em đang mặc đến lớp
c) Nói lên suy nghĩ của em về mẹ
d) Cảm xức của em khi được nhận món quà em thích
Giáo viên cho học sinh xác định yêu cầu bài Xác định xem ứng với mỗi nội dung thì sẽ chọn viết kiểu câu kể nào và lựa chọn những nội dung gì cho phù hợp Kể về những việc làm chính ở lớp, miêu tả cảm xúc thì chọn cảm xúc gì ?
Cho học sinh làm bài cá nhân và nối tiếp trình bày ý kiến
a) Ở lớp, em thường làm trực nhật.
b) Em mặc một chiếc áo màu xanh rất đẹp.
c) Em yêu quý và biết ơn mẹ suốt đời.
d) Em rất hạnh phúc khi mẹ tặng cho em chiếc áo mới.
Trang 9Ví dụ 2: Khi muốn mượn bạn quyển sách, em có thể chọn những cách nói nào dưới
đây?
a) Cho mượn quyển sách
b) Bạn cho mình mượn quyển sách chút nhé !
c) Hùng có thể cho mình mượn quyển sách này được không ?
Giáo viên cho học sinh liên hệ cá nhân, lựa chọn và nêu lí do mình chọn cách
nói đó Ví dụ: Học sinh chọn cách nói c (Hùng có thể cho mình mượn quyển sách
này được không ?) vì cách nói vừa đủ nội dung lại đảm bảo phép lịch sự trong giao
tiếp
Giáo viên nhấn mạnh ý nghĩa của việc sử dụng câu trong cuộc sống hàng ngày đảm bảo phù hợp cả về nội dung và phép lịch sự
b) Câu hỏi:
Câu hỏi là kiểu câu quan trọng và được sử dụng phổ biến trong sách cũng như trong cuộc sống hàng ngày Đối với việc giữ lịch sự khi đặt câu hỏi và phù hợp với nội dung cần hỏi
Ví dụ: Đặt câu hỏi với mỗi nội dung sau cho phù hợp.
- Hỏi bạn giờ đi học nhóm;
- Hỏi mượn bạn chiếc bút;
- Hỏi nhờ chị mở giúp của sổ;
- Hỏi để thay lời chào
Dạng bài tập này củng cố khắc sâu cho học sinh về cách đặt câu hỏi có nội dung yêu cầu trước Học sinh cần chú ý đặt những câu hỏi đảm bảo lịch sự, tránh những câu hỏi làm phiền lòng người khác
Giáo viên khắc sâu cho học sinh dấu hiệu nhận biết câu hỏi, gồm :
+ Nội dung câu hỏi về một điều chưa biết;
+ Câu kết thúc bởi dấu chấm hỏi;
+ Trong câu có các từ để hỏi (từ nghi vấn): ai, gì, nào, sao, phải không, ở đâu , …
Học sinh sẽ gặp nhiều sai lầm trong việc đặt thành các kiểu câu khác không phải câu hỏi nội dung câu cũng có thể không đúng yêu cầu bài
- Hỏi bạn giờ đi học nhóm :
+ Mấy giờ chúng ta bắt đầu học nhóm ?
- Hỏi mượn bạn chiếc bút :
+ Cậu có thể cho tớ mượn chiếc bút này không ?
Trang 10- Hỏi nhờ chị mở giúp của sổ :
+ Chị có thể mở giúp em chiếc cửa sổ không ạ ?
- Hỏi để chào :
+ Bác đi làm về rồi à ?
Sau khi học sinh học xong nội dung này, giáo viên chú ý cho học sinh liên hệ thực
tế và đặt câu trong các tình huống cụ thể
c) Câu khiến
Dạng bài tập này củng cố khắc sâu cho học sinh về khái niệm câu khiến cách đặt câu khiến có nội dung yêu cầu trước Học sinh cần chú ý đặt những câu khiến phù hợp yêu cầu bài
Giáo viên khắc sâu cho học sinh dấu hiệu nhận biết câu khiến, gồm :
+ Nội dung câu hỏi về việc nêu yêu cầu đề nghị hay mong muốn của người nói với người nghe, người viết với người đọc;
+ Câu kết thúc bởi dấu chấm hoặc chấm than;
+ Trong câu có các từ để cầu khiến: hãy, đừng, chớ, nên, phải, làm ơn, …
Ví dụ 1: Chuyển các câu kể thành câu khiến cho phù hợp:
- Lan học bài
- Hùng làm trực nhật
- Hoa chăm chỉ
- Hoa luôn cố gằng học tập
Với bài tập này trước hết tôi cho học sinh phân tích mẫu với 1 câu Ví dụ:
Hoa chăm chỉ.
Cho học sinh nhận xét, so sánh mẫu so với câu ban đầu Thêm vào các từ cầu khiến chỉ mức độ khác nhau để viết thành các câu khiến khác nhau nhưng với nội dung không thay đổi Thay dấu kết thúc câu
- Hoa chăm chỉ đi !
- Hoa phải chăm chỉ !
- Mong Hoa hãy chăm chỉ !
Giáo viên cho học sinh so sánh các câu, nhận xét và rút ra kết luận: Muốn đặt
câu khiến có thể dùng một trong các cách sau: Thêm các từ hãy, đừng, chớ, nên, phải vào trước động từ và cuối câu dùng dấu chấm than (!) hoặc dấu chấm (.).
Ví dụ 2: Em hãy đặt câu khiến theo mỗi yêu cầu dưới đây :
a Câu khiến có hãy, (đừng, chớ) ở trước động từ.