1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Nguoi lai do song Da

81 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Người Lái Đò Sông Đà
Tác giả Nguyễn Tuân
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài Tiểu Luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 19,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc, thiên nhiên hùng vĩ trữ tình và đầy tiềm năng, cùng những con người lao động bình dị nhưng có thể làm nên những chiến c[r]

Trang 1

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

Nguyễn Tuân

Trang 2

I Tìm hiểu chung:

1 Tác giả: SGK Ngữ văn 11, tập I, tr 107

Trang 3

- Là người trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc

Trang 4

- Là người trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc

Trang 5

- Là người trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc

Trang 6

- Là người trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc

Trang 7

- Là nhà văn tài hoa và uyên bác

Trang 8

- Cú cỏ tớnh mạnh mẽ và phúng khoỏng

Thác n ớc trên sông đà

Trang 9

- Có cá tính mạnh mẽ và phóng khoáng

Đèo Cổng Trời

Trang 10

- Có cá tính mạnh mẽ và phóng khoáng

Gió Lào

Trang 11

- Có cá tính mạnh mẽ và phóng khoáng

Trăng “vàng nẫu”

Áo cà sa “vàng sư sãi” Chuối vàng “giẫy nẫy”

Viết văn là dốc cạn kho tàng chữ nghĩa

để chạy đua cùng tạo hóa, để khoe chữ

Trang 12

- Xuất xứ:

Trích trong tập tùy bút "Sông Đà" (1960) Gồm

15 bài tùy bút và một bài thơ phác thảo.

2 Tác phẩm:

- Hoàn cảnh sáng tác:

Thành quả nghệ thuật đẹp đẽ trong chuyến

đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc

rộng lớn của Tổ quốc.

Trang 13

- Mục đích sáng tác:

Tìm kiếm:

+ Chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc

+ “Thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ, thơ mộng

Trang 14

- Thể loại: Tùy bút:

+ Thể văn tự do, phóng túng.

+ Từ một sự kiện, một chuyện nào đó, nhà văn để liên tưởng, bàn bạc, bày tỏ cảm xúc.

+ Giàu chất kí và thấm đẫm chất trữ tình.

- Vừa kế thừa những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân từ trước Cách mạng, vừa có những thay đổi căn bản

Trang 15

+ Uyên bác, tài hoa,

+ Cảm quan: đời sống trụy lạc  công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

+ Tùy bút: hướng nội, khinh bạc, choán ngợp  hướng ngoại, đôn hậu

thay đổi căn bản

Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

Trang 16

II Đọc - hiểu văn bản:

Trang 17

II Đọc - hiểu văn bản:

Trang 18

II Đọc - hiểu văn bản:

1 Hình tượng con sông Đà:

a Tính hung bạo:

* Dưới con mắt của Nguyễn Tuân, tính hung bạo của con sông Đà hiện lên với những biểu hiện khác nhau:

Thượng nguồn: lắm thác, nhiều ghềnh, độ dốc lớn, nước chảy xiết.

Trang 19

TRẠM 3

Trạm 3: hình ảnh những cái hút nước.

Tài năng miêu

tả bậc thầy

Trang 20

- Thể hiện ở chỗ những vách đá bờ sông cao vút, dựng đứng:

Một loạt liên tưởng, so sánh cụ thể, độc đáo:

+ "Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời"

 hình dung được những vách đá dựng đứng cao vút

của cảnh đá hai bên bờ sông

 diễn tả được cái âm u, lạnh lẽo của khúc sông có

đá dựng thành vách

Trang 21

+ “Vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”

 so sánh vách đá với

bộ phận nhỏ hẹp ở cổ họng con người để diễn tả sự nhỏ, hẹp của dòng chảy sông

Đà

Trang 22

+ Liên tiếp là hai hình ảnh liên tưởng:

"đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách"

"Có quãng con nai con

hổ đã có lần vọt từ bờ sang bờ kia"

 lưu tốc dòng chảy là

rất lớn, rất nguy hiểm, nhất là vào mùa nước lũ.

Trang 23

 lưu tốc dòng chảy là rất lớn, rất

nguy hiểm, nhất là vào mùa nước lũ.

Trang 24

+ Một liên tưởng độc đáo:

"Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè cũng cảm thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ…"

 so sánh cái cảm giác giữa chốn thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ với một khoảnh khắc của đời sống hiện đại chốn thị thành  tạo cảm giác gần gũi

=> Hẹp, sâu, dốc thẳng đứng, tạo cảm giác rợn lạnh

Trang 25

 Thủ pháp điệp từ, điệp cấu trúc, nhiều thanh trắc liên tiếp  tạo âm hưởng dữ dội, dồn dập của cả ghềnh sông (như sôi lên, cuộn chảy dữ dội)

- Dòng nước ở "quãng mặt ghềnh Hát Lóng":

+ “hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió"

Trang 26

 nhân hoá con sông như một kẻ chuyên đi đòi nợ dữ dằn  một mối đe doạ thật sự bất cứ ai qua ghềnh sông như thế.

+ " cuồn cuộn gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy”

Trang 27

- Có những chỗ hút nước ghê rợn, chết người:

Trang 28

 Hình dung được cường lực thật ghê gớm của những cái hút nước.

+ So sánh:

giống như "cái giếng bê

tông thả xuống sông để

chuẩn bị làm móng cầu”,

"nước ở đây thở và kêu như

cửa cống cái bị sặc”,

“ nước ặc ặc lên như vừa rót

dầu xôi vào”

Trang 29

+ Ví con thuyền phải qua những vùng xoáy nước thật nhanh: như

“ô tô sang số nhấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực”

Trang 30

+ Tưởng tượng:

anh bạn quay phim táo tợn muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả đã “dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy hút sông Đà – từ đáy cái hút nhìn ngược lên”

Trang 31

+ Kết hợp kể và tả hiện thực về những cái thuyền bị cái hút nước hút xuống:

“thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”

 ấn tượng hãi hùng, sức tàn phá khủng khiếp.

Trang 32

=> Kết hợp kiến thức ở nhiều lĩnh vực (giao thông, điện ảnh…) làm hiện hình rõ nét hiện tượng và đọng lại ấn tượng nơi người đọc.

Trang 33

- Có những quãng sông có những thác nước

dữ dội:

Trang 34

Nhân cách hóa con sông, những thác nước thành một sinh thể dữ dằn, gào thét ghê rợn:

+ “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như

là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”

Trang 35

+ Có lúc, nó “rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu tre nứa nổ lửa”

 Gợi không khí của một trận cuồng lửa, dùng lửa để

tả nước – vốn tương khắc, giờ lại hòa hợp

 nhấn mạnh đặc tính hủy diệt ghê gớm của sông Đà

 khiến người đọc thán phục

Trang 36

- Có lúc sông Đà giống như một loài thủy quái hung ác bày thạch trận trên sông:

+ Đá:

Mỗi hòn đá là một tên lính thủy hung tợn, mặt thằng

đá nào cũng “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”, “méo mó”…

Đứng, ngồi, nằm, nghiêng đều có những nhiệm vụ riêng  bày sẵn thạch trận

Trang 37

+ Bày 3 trùng vi nhằm tước đoạt và hủy diệt đến cùng

sự sống của con người – giở mọi thủ đoạn, mưu mô để dẫn dụ con thuyền:

Trang 38

Chọn khúc sông ngoặt – khi tầm nhìn bị hạn chế để đánh phục kích:

“Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả một chân trời đá Đá ở đây từ ngàn năm đã mai phục hết trong lòng sông”

Trang 39

Dụ người vào sâu thế trận, đánh quật vu hồi  cô lập, chặn mọi đường sinh

Khi giáp lá cà: giở mọi ngón đòn hiểm ác: nước thác reo hò làm thanh viện  uy hiếp tinh thần đối phương

Trang 40

=> Bản chất của sông Đà: vừa “khắc nghiệt như

dì ghẻ, chúa đất” vừa hùng vĩ, dữ dội.

Công trình thuỷ điện sông Đà

Trang 41

* Tài năng nghệ của tác giả khi miêu tả tính hung bạo của con sông Đà:

- Thể hiện sự quan sát công phu và tìm hiểu kĩ càng

để nhận ra thật đúng sự hung bạo của sông Đà

- Để sông Đà hiện lên thật sinh động trước mắt người đọc, nhà văn đã vận dụng nhiều tri thức của nghệ thuật quân sự, võ thuật, điện ảnh…

- Sử dụng cách so sánh, liên tưởng rất độc đáo và bất ngờ:

"nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng”

- Ngôn ngữ miêu tả sinh động, giàu chất tạo hình

Trang 42

b Tính trữ tình:

* Hung bạo, dữ dằn là thế, nhưng nhiều khi sông Đà vẫn mang những nét dịu dàng, thơ mộng, trữ tình:

Trang 43

- Từ trên cao nhìn xuống:

“Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.”

Trang 44

 câu văn mềm mại như chính dòng nước đó

 Tác giả hình dung sông Đà đẹp và duyên dáng như

một người con gái trẻ trung, trữ tình và duyên dáng

Trang 45

- Màu sắc nước sông Đà biến đổi theo và mùa nào cũng đẹp :

+ “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô”

Trang 46

Mùa xuân dòng xanh ngọc bích

Trang 47

+ “Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”

Trang 48

- Trong cái nhìn của Nguyễn Tuân, sông Đà gắn

bó với con người như “một cố nhân” lâu ngày gặp lại:

Khi xa thì gợi nhớ, gặp lại thấy “ đằm đằm ấm ấm”,

“vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”

Trang 49

- Nhiều quãng sông đầy chất thơ:

+ Màu nắng trên sông: Gợi nhớ những câu thơ Đường cổ kính

Đường cổ kính (“(“Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” ),

+ Gợi nhớ những tứ thơ trữ tình đằm thắm của Tản Đà:

“Dải sông Đà bọt nước lênh bênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân không quen “một người tình nhân không quen biết”

Trang 50

- Phong cảnh hai bên bờ sông: có vẻ đẹp đa dạng, nên thơ:

+ “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”

 vẻ đẹp tĩnh lặng, yên ả, thanh bình như còn đó dấu tích của cha ông

Trang 51

+ “nương ngô nhú lên mấy là ngô non đầu mùa”, “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”, đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”

 vẻ đẹp tươi mới, tràn trề nhựa sống, như bắt đầu một mùa nẩy lộc sinh sôi

Trang 52

+ “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”

 vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính, tồn tại như một vĩnh hằng của tự nhiên

Trang 53

+ “Con hươu thơ ngộ”: ngẩng đầu nhung ra khỏi trên áng cỏ sương, như biết cất lên câu hỏi không lời:

“Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”

Trang 54

 “tiếng còi sương”  âm thanh trong tâm tưởng, dội về từ quá khứ  diễn tả cái yên lặng, tĩnh mịch đến mức người và vật giao cảm.

Trang 55

+ Đàn cá dầm xanh: “quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi”

 tạo nên hình ảnh tuyệt đẹp của sông Đà

Trang 56

=> Những hình ảnh trên sống gợi lên không khí mơ màng, khiến người đọc có cảm giác như lạc vào một thế giới kì ảo.

=> Những hình ảnh trên sống gợi lên không khí mơ màng, khiến người đọc có cảm giác như lạc vào một thế giới kì ảo.

Trang 57

* Tài năng nghệ thuật của tác giả qua việc miêu tả tính trữ tình của con sông Đà:

- Những đoạn văn viết về vẻ đẹp trữ tình của sông Đà cho thấy sự

sông Đà cho thấy sự công phu tìm tòi và vốn công phu tìm tòi và vốn

tri thức uyên bác của nhà văn.

- Viết ra những

- Viết ra những câu văn có âm điệu êm đềm câu văn có âm điệu êm đềm

cứ tuôn dài không thể dứt như chính dòng nước trên sông.

-

- Cảm nhận và miêu tả thiên nhiên bằng cái Cảm nhận và miêu tả thiên nhiên bằng cái

nhìn độc đáo của người nghệ sĩ, bằng phương diện

phương diện thẩm mĩ tài hoa thẩm mĩ tài hoa.

Trang 58

Mong manh phận đò Sông Đà

2 Hình tượng người lái đò:

Trang 59

2 Hình tượng người lái đò:

a Ông là người tài trí phi thường:

- Hiểu biết sâu sắc về con sông Đà:

+ “Nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”

+ “Thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơ cửa ải nước hiểm trở”

+ Biết rõ từng “cửa tử, cửa sinh” trên “thạch trận” sông Đà

+ “Nắm rất chắc quy luật của dòng nước sông Đà”

- Chỉ huy những cuộc vượt thác tài tình và khôn ngoan:

“Trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái”

Trang 60

b Ông là người rất mực dũng cảm trong những cuộc chiến đấu với con sông hung dữ:

- Đây là một cuộc chiến không cân sức:

+ Thiên nhiên: lớn lao, dữ dội:

Có thạch trận “đá hậu, đá tướng, đá tiền “ đá hậu, đá tướng, đá tiền

vệ” với nhiều thủ đoạn nham hiểm  hùng hậu, đông đảo, dữ dằn, hung hãn

Giăng sẵn trận đồ bát quái: với 3 lớp trùng 3 lớp trùng

vi vây bủa, 3 tập đoàn cửa sinh cửa tử, hệ thống boong ke, pháo đài đá chìm đá nổi, lộ diện hay giấu mặt

Trang 61

+ Con người:

Bé nhỏ, như sắp cạn kiệt sức lực:

Vũ khí trên tay chỉ là một cán chèo trên một con đò đơn độc hết chỗ lùi.

Trang 62

c Người lái đò đã chiến đấu một cách dũng cảm:

Như một vị tướng lão luyện, dày dạn kinh nghiệm, ông đò bình tĩnh tiến vào trận địa, lần lượt vượt qua từng trùng vây.

Trang 63

- Trùng vây 1:

+ Thạch trận trên sông: Như bầy thuỷ quái dàn trận

địa đợi sẵn: “4 cửa tử, 1 cửa sinh”; “sóng trận địa

thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà”

Trang 64

+ Khi con thuyền đến nơi:

o “Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào bẻ

gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình” dọa dẫm, sấn sổ, hiếu chiến

o “Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách

mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền Có lúc chúng đội cả thuyền lên”  hùng hổ

+ Khi con thuyền đến nơi:

o “Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào bẻ

gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình” dọa dẫm, sấn sổ, hiếu chiến

o “Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách

mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền Có lúc chúng đội cả thuyền lên”  hùng hổ

Trang 65

o “Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi vật ngửa mình ra”  hung hăng như một đấu sĩ bất bại

+ Tiếp đó, sóng thác tung ra “miếng đòn hiểm độc nhất”, quyết bóp chết người lái đò  giở ngón đòn hiểm hóc quyết định nhằm hạ gục đối phương

o “Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi vật ngửa mình ra”  hung hăng như một đấu sĩ bất bại

+ Tiếp đó, sóng thác tung ra “miếng đòn hiểm độc nhất”, quyết bóp chết người lái đò  giở ngón đòn hiểm hóc quyết định nhằm hạ gục đối phương

Trang 66

- Vượt trùng vây 1:

+ Người lái đò vẫn bình tĩnh:

“hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”

vật lộn với sóng thác gây nên:

“cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệt”

“Phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất, không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”.

Trang 67

- Trùng vây 2:

+ Lũ đá nơi cửa ải nước:

“Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn”

 nham hiểm, xảo quyệt

Trang 68

+ Thác nước:

“Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”

 hùng mạnh như thú dữ

Trang 69

+ Sóng nước:

“Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền

xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử”

 dai dẳng, hiếu chiến

+ Sóng thác: “không ngớt khiêu khích” con thuyền

Trang 70

- Vượt trùng vây 2:

luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng/ mà phóng nhanh về cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa

đá ấy”

 chiến thắng ngọn thác bằng những động tác điêu luyện, chuẩn xác, dũng mãnh

đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”

 những động tác táo bạo và vô cùng chuẩn xác.

Trang 71

- Trùng vây 3:

+ “Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả”+ “Luồng sống ở chặng ba này ngay giữa bọn đá hậu

vệ của con thác”

Trang 72

- Vượt trùng vây 3:

+ Chiếc thuyền cứ đà ấy lao đi như một mũi tên:

“Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó”.

+ “Thuyền vút qua cổng đá cánh cửa mở cánh khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được”

 dũng cảm, nhanh gọn, dứt khoát

Trang 73

c Nhận xét:

- Tương quan hai lực lượng không cân sức  nhấn mạnh nguyên nhân chiến thắng:

+ Sự ngoan cường, dũng cảm, ý chí + Sự ngoan cường, dũng cảm, ý chí

quyết tâm vượt qua những thử thách khốc liệt của cuộc sống

+ Tài trí, sự hiểu biết và kinh nghiệm + Tài trí, sự hiểu biết và kinh nghiệm

nhiều năm gắn bó với nghề sông nước.

Ngày đăng: 29/05/2021, 02:19

w