Nguyễn Tuân là bậc thầy của ngôn ngữ, mỗi con chữ của ông dường như biết cựa quậy trên trang giấy. Trong tác phẩm Người lái đò sông Đà Nguyễn Tuân đã sử dụng rất nhiều những từ ngữ thuộc các lĩnh vực khác nhau, không những vậy ông còn chuyển trường nghĩa các từ ngữ khiến cho sự vật hiện lên độc lạ mà hấp dẫn.
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
-CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EUREKA
LẦN THỨ XVIII NĂM 2016
TÊN CÔNG TRÌNH:
HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA
TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số công trình:………
Trang 2BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA
TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN
Tóm tắt
Hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ văn chương,
nó tựa như là một biện pháp tu từ được các các nhà văn, nhà thơ ưa thích sử dụng Tùy
bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân hấp dẫn người đọc bởi những kết hợp ngôn
từ độc đáo do một số lượng lớn các từ ngữ đã được chuyển nghĩa, chuyển trường Sự chuyển dịch này tạo ra nhiều giá trị biểu đạt mới cho tác phẩm trong việc khắc họa hình tượng con sông Đà, người lái đò sông Đà cũng như qua đó để thể hiện tài năng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
1.Đặt vấn đề
Chuyển trường nghĩa là một hiện tượng khá đặc biệt trong sử dụng ngôn ngữ Chuyển trường nghĩa gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú mới lạ ẩn sau những vỉa tầng ngôn từ Vì vậy, chuyển đổi trường từ vựng có thể được coi là một biện pháp tu từ
hiệu quả trong sáng tác văn chương Tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân được rút từ tập tùy bút Sông Đà (1960) là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật
và tài năng của Nguyễn Tuân Người lái đò sông Đà không chỉ thôi miên người đọc vào
mê cung của cảnh vật sông Đà, những con người lao động bình dị trên sông nước mà còn hấp dẫn bởi những kết hợp ngôn từ độc đáo mang đậm nét tài hoa, uyên bác Nguyễn Tuân đã khéo léo gắn kết các từ ngữ thuộc nhiều trường nghĩa khác nhau tạo ra nhiều kiểu chuyển nghĩa, chuyển trường Tìm hiểu hiện tượng chuyển trường nghĩa trong đoạn trích “Người lái đò sông Đà”, chúng tôi mong muốn góp phần làm sáng tỏ hiện tượng chuyển trường nghĩa trong ngôn ngữ nói chung và trong đoạn trích “Người lái đò sông Đà” nói riêng Đồng thời kết quả thống kê, phân loại của bài viết cũng góp phần làm phong phú thêm ngữ liệu cho việc dạy văn trong nhà trường phổ thông Đây cũng là việc làm cần thiết góp phần hình thành kĩ năng lĩnh hội văn bản, đổi mới phương pháp dạy học tích hợp Văn - tiếng Việt trong chương trình giáo dục phổ thông
2.Nội dung
2.1 Sự chuyển dịch trường nghĩa và hiệu quả của sự chuyển trường
Sự chuyển trường nghĩa là hiện tượng "một từ ngữ thuộc một trường ý niệm này được chuyển sang dùng cho các sự vật thuộc một trường ý niệm khác"[1;68] Sự chuyển nghĩa trên của từ chính là cơ sở của sự chuyển trường nghĩa của từ Không phải bất cứ hiện tượng chuyển nghĩa nào cũng dẫn đến sự chuyển trường nghĩa của từ, nhưng có thể khẳng định, sự chuyển trường nghĩa bắt đầu từ sự chuyển nghĩa của từ Bởi vì, từ chuyển nghĩa- nội dung biểu thị của từ thay đổi- thì từ cũng chuyển sang trường nghĩa mới tương ứng với nội dung biểu thị mới của nó
Trang 3Tác dụng đầu tiên của hiện tượng chuyển trường nghĩa đối với ngôn ngữ là làm giàu vốn từ vựng Khi một từ chuyển trường nó biến thành từ đa nghĩa, từ vẫn giữ nguyên hình thức ngữ âm cũ nhưng lại mang một nội dung mới hay nghĩa mới, nội dung mới này luôn có quan hệ tương sinh với nội dung cũ (nghĩa cũ, nghĩa gốc) của từ Từ càng chuyển qua nhiều trường nghĩa thì càng mang nhiều nghĩa mới- nội dung biểu đạt của nó càng phong phú Sự chuyển trường nghĩa của từ không chỉ có tác dụng làm giàu cho vốn từ vựng, đáp ứng nhu cầu giao tiếp của con người mà còn góp phần làm tăng khả năng diễn đạt, tăng sức biểu cảm của ngôn ngữ Khi từ chuyển trường nghĩa, ngoài những giá trị biểu đạt mới xuất hiện ở trường nghĩa mới, từ còn giữ được ấn tượng ngữ nghĩa vốn có ở trường nghĩa cũ Đặc tính này làm cho giá trị biểu đạt của từ càng phong phú
Như vậy, hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ văn chương hiện đại Nó tựa như là một biện pháp tu từ, tạo ra những cách hiểu đầy thú vị, bất ngờ Khi chuyển trường nghĩa, từ không chỉ mang dấu ấn của trường nghĩa mới đang chứa nó mà còn mang dấu ấn của trường nghĩa cũ đã chứa nó Sự cộng hưởng của hai trường nghĩa này đưa đến cho từ một nội dung mới Để cắt nghĩa đầy đủ nội dung mới của từ, người tiếp nhận phải huy động những hiểu biết của mình về hai trường nghĩa mà
từ đã và đang có mặt cộng với những liên tưởng do từ gợi ra Trong tác phẩm Người lái
đò Sông Đà Nguyễn Tuân đã chuyển trường hàng loạt các từ ngữ để phục vụ đắc lực
trong việc khắc họa hình ảnh con Sông Đà và hình ảnh người lái đò
2.2.Sự chuyển dịch trường nghĩa trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
Qua khảo sát, tôi nhận thấy có 110 trường hợp chuyển đổi trường nghĩa trong Người lái đò Sông Đà Dựa vào nét nghĩa chung nhất của các trường nghĩa và sự chuyển đổi trường nghĩa của các đơn vị từ trong tác phẩm tôi nhận thấy rằng trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà hiện tượng chuyển trường nghĩa xảy ra chủ yếu là từ trường nghĩa người
chuyển qua trường chỉ sự vật (sông nước); ngoài ra còn có từ trường nghĩa động vật sang trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước) cụ thể như sau
2.2.1.Trường nghĩa con người chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước)
Trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, số lượng từ được chuyển từ trường
nghĩa con người (bộ phận cơ thể người, tính cách, hành động) qua trường nghĩa chỉ sự vật
là lớn nhất (101 từ), nó được thể hiện cụ thể như sau:
STT Từ được chuyển
không biết rằng cái thuyền bụng chửa thì
chứa được nhiều hàng
Trang 4Nhưng bụng thuyền mà to thì không
lách qua được luồn nước hẹp thắt chịt lại giữa của đá; cho nên cái thuyền then đuôi
én mới dài mình, mới thắt bụng lại như
một cô thiếu nữ thít chặt cạp xiêm chưa muốn vội làm người mẹ.
Quãng này mà khinh suất tay lái thì
cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
Sóng nước như thể quân liều mạng vào
sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng
và hông thuyền.
2 Mặt 2 Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ
ngược
Mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến
ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè
thất vọng
3 Hông, gối 1 Sóng nước như thể quân liều mạng
vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền.
cát có hang lạnh.
một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn
hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo đốt nương xuân.
6 Nhăn nhúm, méo mó 1 Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ
ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó
hơn cả mặt nước chỗ này.
7 Bệ vệ, oai phong lẫm
liệt 1 thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm
oai phong lẫm liệt.
Bình, dòng sông lại lố nhố một số thác khác nó vẫn dọa người trên thuyền, nhưng tính chất đã bớt hung ác hơn cái đám thác
Trang 5Sơn La Lai Châu.
9 Độc dữ, nham hiểm 1 Vào loại độc dữ nham hiểm nhất là
các thác Mằn Hi Mằm Thẳm, Hát Nhạt
Hát Lai, Soong Pút Soong Mon, Hát Moong Hát Tiếu.
10 Nghênh ngang, vô ý 1 Nhiều bè gỗ rừng nghênh ngang vô ý
là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống.
11 Tâm địa 1 Một thứ thiên nhiên Tây Bắc có
nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và
tâm địa một thứ kẻ thù số một.
ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó
hơn cả cái mặt nước chỗ này.
13 Làm mình làm mẩy,
giận dỗi vô tội vạ
1 Cái con sông hàng năm và đời đời
kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò sông Đà
14 Lắm bệnh lắm chứng,
dịu dàng, bẳn tính 1 Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông
lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy
mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt
gỏng thác lũ ngay đấy.
15 Ác 1 Con sông đã ác như người dì ghẻ,
chúa đất chia bến ngăn sông càng làm cho Sông Đà ác thêm.
16 Oán trách, van xin,
khiêu khích, giọng
gằn, chế nhạo
1 Tiếng nước thác nghe như là oán
trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như
là khiêu khích, giọng gằn và chế nhạo.
17 Tiu nghỉu 1 Mặc dầu cái thằng đá tướng đứng
chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh
lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào của sinh nó trấn lấy.
Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp
Trang 6lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu
dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.
Bình, dòng sông lại lố nhố một số thác khác nó vẫn dọa người trên thuyền, nhưng
tính chất đã bớt hung ác hơn cái đám thác Sơn La Lai Châu.
cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
cái bị sặc.
là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột
xuống.
lại réo to mãi lên.
hết trong lòng sông.
25 Nhổm, vồ 1 Hình như mỗi lần có chiếc thuyền
nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào
đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền.
26 Đứng, ngồi, nằm 1 Những hòn những tảng mới trông
tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tùy
theo sở thích tự động của đá to đá bé.
27 Giao việc, bày thạch
trận
1 Nhưng hình như Sông Đà đã giao việc
cho mỗi hòn Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông.
28 Chia, chặn ngang,
đòi, ăn chết
1 Đá tảng đá hòn chia làm ba hàng
chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái
thuyền.
29 Canh, dụ, đi vào, 1 Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa
Trang 7đánh khuýp quật vu
hồi đá trông như là sơ hở, nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương
đi vào sâu nữa, vào tận tuyến giữa rồi nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại.
30 Chọc thủng, đánh tan,
tiêu diệt
1 Nếu lọt vào đây rồi mà cái thuyền du
kích ấy vẫn chọc thủng được tuyến hai,
thì nhiệm vụ của những boong-ke chìm và
pháo đài đá nổi ở tuyến ba phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá, phải tiêu diệt tất cả
thuyền trưởng thủy thủ ngay ở dưới chân thác.
thuyền vụt tới.
thanh viện cho đá
Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng
thác luồng sinh.
đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng
tên tuổi trước khi giao chiến.
34 Lùi lại, tiến gần vào 1 Một hòn khác lùi lại một chút và thách
thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào.
35 Hò la, ùa vào, bẻ gãy 1 Mặt nước hò la vang dậy quanh mình,
ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên
cánh tay mình.
36 Đá trái, thúc gối, đội 1 Sóng nước như thể quân liều mạng
vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào
bụng và hông thuyền Có những lúc chúng
đội cả thuyền lên.
37 Bám, túm, đòi, lật
ngửa
1 Nước bám lấy thuyền như đồ vật túm
thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra
giữa trận nước vang trời thanh la não bạt.
38 Đánh, bóp chặt 1 Sóng thác đã đánh đến miếng đòn
hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở
Trang 8bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò.
dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè
suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất
cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy.
Bốn năm bọn thủy quân của ải nước
bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi
vào tập đoàn của tử.
bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi
vào tập đoàn của tử.
41 Vặn 1 Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát
có hang lạnh.
đá
bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn của tử.
chiến ở của vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh
lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào của sinh nó trấn lấy.
ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác.
cả những người lái đò Sông Đà, vào bậc chân chính đều thuộc lòng như người chài biển thuộc kỳ con nước sinh con nước rút thủy triều.
47 Khai sinh, xin nhập
quốc tịch, trưởng
thành
1 Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh
Đông tỉnh Vân Nam, lấy tên là Ly Tiên (theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tên Trung Quốc của Sông Đà lại là Bả Biên Giang) mà đi qua một vùng núi ác, rồi đến
Trang 9gần nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến
ngã ba Trung Hà thì chan hòa vào Sông Hồng.
rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới
lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.
lên những hòn những tảng mới trông
tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tùy
theo sở thích tự động của đá to đá bé.
kích ấy vẫn chọc thủng được tuyến hai, thì
nhiệm vụ của những boong-ke chìm và pháo đài nổi ở tuyến ba phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác.
51 Thách thức 1 Một hòn khác lùi lại một chút và
thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần
vào.
nước, của đá thác.
lũ đá nơi ải nước hiểm trở này.
54 Thất vọng 1 Chúng vẫn không ngớt khiêu khích,
mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào
cửa sinh nó trấn lấy.
Bảng 1: Trường nghĩa con người chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước) 2.2.2.Trường nghĩa động vật chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước)
Trang 10Không chỉ sử dụng từ ngữ chuyển từ trường chỉ người sang trường chỉ sự vật mà Nguyễn Tuân còn chuyển từ ngữ từ trường chỉ động vật sang trường chỉ sông nước (4 lần) được thể hiện cụ thể như sau:
STT Từ chuyển trường
dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng,
sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè
suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất
cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy.
2 Rống lên, gầm 1 Thế rồi nó rống lên như tiếng một
ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá
tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét
với đàn trâu da cháy bùng bùng.
luồng rồi, ông đò ghì cương lái
Bảng 2: Trường nghĩa động vật chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước)
Nhờ việc chuyển đổi từ ngữ từ trường nghĩa con người, động vật chuyển qua trường chỉ sự vật đã đem lại giá trị biểu đạt cao cho tác phẩm, hình ảnh con sông Đà hiện lên đầy
ấn tượng với những nét hung bạo và trữ tình Trên nền thiên nhiên ấy hình ảnh người lái
đò hiện lên hết sức độc đáo, qua đó ta thấy được tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc sử dụng ngôn ngữ nói riêng và trong sáng tạo nghệ thuật nói chung
2.3 Giá trị biểu đạt của sự chuyển đối trường nghĩa trong Người lái đò Sông Đà
của Nguyễn Tuân
Với việc chuyển trường các từ ngữ khiến Sông Đà và hình ảnh người lái đò hiện lên gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc Con Sông Đà hiện lên như một sinh thể sống động
có diện mạo, tính cách, nội tâm giống như con người Nó là một nhân vật văn học có hai tính cách cách nổi bật vừa hung bạo dữ dội, lại vừa trữ tình nên thơ Càng khắc họa con Sông Đà ấn tượng bao nhiêu thì hình ảnh người lái đò lại nổi bật bấy nhiêu, qua việc sử dụng từ ngữ ta thấy được tài năng cũng như phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
2.3.1 Vẻ đẹp hung bạo của Sông Đà qua việc chuyển trường nghĩa
Nguyễn Tuân đặc biệt ham mê cảm giác mạnh vì vậy đứng trước vẻ đẹp hùng vĩ của Sông Đà ngòi bút của ông như cựa quậy sống động Ông tung ra một đạo quân ngôn ngữ
Trang 11rồi chuyển trường nghĩa các từ đó để miêu tả dòng sông với nét tính cách hung bạo dữ tợn
Nguyễn Tuân đã sử dụng những từ vốn dùng để chỉ các bộ phận của cơ thể con người chuyển sang chỉ bộ phận của thuyền, đá, dòng sông (11 lần) điều này khiến cho sự vật hiện lên giống như con người, chúng cũng có những bộ phận cơ thể khác nhau Từ được
chuyển trường nhiều nhất là từ bụng nó là bộ phận tiếp giáp nhiều nhất với mặt nước của
thuyền, qua việc chuyển trường này nó thể hiện sự hiểu biết của tác giả về thuyền đi trên Sông Đà cũng như cho thấy sự mạnh mẽ của Sông Đà bởi bụng thuyền là phần rộng và vững trãi nhất của thuyền vậy mà khi đến dòng Sông Đà hung bạo nó cũng có nguy cơ bị lật ngửa, bị mắc kẹt lại nơi đây Không chỉ có các bộ phận như con người đá nước Đà giang còn có những ngoại hình riêng
Với việc chuyển trường các từ vốn dùng để chỉ ngoại hình của con người sang chỉ ngoại hình của đá (3 lần) Nguyễn Tuân đã khiến mỗi hòn đá không chỉ có những bộ phận
cơ thể mà chúng còn có những diện mạo khác nhau Qua đó ta thấy được rằng những hòn
đá trên sông Đà không phải là những sự vật vô tri mà chúng cũng có những đặc điểm riêng gây được ấn tượng cho người đọc Cùng với đó Nguyễn Tuân còn sử dụng những từ chỉ tính cách phẩm chất của con người chuyển sang chỉ các sự vật trên Sông Đà Qua việc chuyển trường các từ chỉ tính cách, phẩm chất của con người sang chỉ sông, đá, thiên nhiên…(11 lần) Nguyễn Tuân đã đem tới cho người đọc những cảm nhận thú vị, con Sông Đà kia phải chăng chính là đứa con ngỗ nghịch của bà mẹ tạo hóa, chúng luôn hằn học, gây hấn với con người; mỗi sự vật nơi đây đều có những tâm tư tình cảm riêng Việc chuyển trường nghĩa các từ vốn để chỉ trạng thái, tình cảm của con người chuyển sang trường chỉ sự vật (7 lần) ta thấy đá nước trên sông Đà hiện lên thật độc đáo chúng hiện lên với những tình cảm thật phức tạp cũng giống như con người lúc thì hung tợn dữ dằn; nhưng lúc lại dịu dàng đằm thắm Qua đó ta thấy được khả năng sử dụng từ ngữ chính xác của Nguyễn Tuân, ông đã nắm bắt được đúng thần thái của sự vật từ đó gây được ấn tượng mạnh với người đọc Lũ đá nước trên Sông Đà còn gây ấn tượng bởi những hoạt động giống như con người
Đặc biệt Nguyễn Tuân đã huy động một đội quân ngôn ngữ hùng hậu chỉ các hoạt động, hành động của con người chuyển sang chỉ các hoạt động của đá, nước (51 lần) để tạo nên một mê hồn trận bằng đá linh hoạt biến hóa khôn lường Đá tồn tại giống như con người với đủ những cử chỉ hành động, Nguyễn Tuân đã thật tài tình khi dựng được khí sắc của sự vật Đá giống như một lũ côn đồ hiếu chiến, từ thuở khai thiên lập địa đã sinh
ra để gây hấn với con người; mỗi hòn đá, luồng nước nơi đây đều có một chức vụ, một nhiệm vụ riêng
Ông còn sử dụng những từ chỉ chức vụ nghề nghiệp của con người chuyển sang chỉ sự vật (4 lần) tác giả đã khiến cho mỗi một hòn đá trên Sông Đà đều có những chức vụ và có những nhiệm vụ riêng, chúng như đang bày binh bố trận để đánh lừa con thuyền vào chỗ chết Cùng với đó, Nguyễn Tuân đã sử dụng những từ chuyên dùng để chỉ con người chuyển sang chỉ các sự vật trên Sông Đà