Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 1Bài giảng Thị trường chứng khoán
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC CHỦ THỂ THAM GIA TTCK
1.1.1 Cơ sở hình thành TTCK
Lịch sử đã chứng minh rằng: sự ra đời, tồn tại và phát triển TTCK là sản phẩm tấtyếu khách quan của nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường Nhìn chung, sự ra đờicủa TTCK ở các quốc gia đều bắt nguồn từ hai nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, mâu thuẫn trong quan hệ cung - cầu vốn tiền tệ.
Đây là nguyên nhân mang tính tiền đề cho sự xuất hiện TTCK
Thực tế cho thấy, các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội, trước hết là Nhà nước và cácdoanh nghiệp, vì những lý do khác nhau mà thường có nhu cầu huy động vốn để bổ sungthiếu hụt ngân sách của mình Cầu vốn là lượng vốn cần thiết để tiến hành quá trình đầu
tư, xây dựng, sản xuất kinh doanh hay phục vụ cho một mục đích tiêu dùng nào đó của cácchủ thể trong nền kinh tế
Đồng thời trong nền kinh tế - xã hội, cũng luôn có cung vốn Cung vốn là lựơng vốnhiện đang nhàn rỗi trong xã hội và có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau, hoặc chotiêu dùng, hoặc cho các hoạt động đầu tư, xây dựng, sản xuất kinh doanh
Với mỗi quốc gia nguồn cung vốn bao gồm: nguồn cung trong nước và nguồn cung
từ bên ngoài
Nguồn cung trong nước: có thể chia thành nguồn cung từ tích luỹ và nguồn cân đối
tạm thời
Nguồn cung từ tích luỹ Nguồn cung này bao gồm tiết kiệm của dân chúng, lợi nhuận
của các doanh nghiệp, các quỹ chuyên dụng Tuỳ theo tình hình phát triển kinh tế của mỗinước mà nguồn cung từ tích luỹ cao thấp khác nhau Đây là nguồn cung có tính chất dàihạn và tương đối ổn định
Nguồn cân đối tạm thời Đây là nguồn cung vốn từ việc cân đối tạm thời các nguồn
tiền hoặc quỹ chưa sử dụng đến của ngân sách hay của các doanh nghiệp, Nguồn vốnnày mang tính chất tạm thời vì vậy nó không ổn định Tuy nhiên quy mô của nó cũngkhông phải nhỏ
Nguồn vốn từ bên ngoài: Đây là nguồn vốn từ các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế
hay các quốc gia khác chuyển đến, thường là từ các nước phát triển sang các nước chậmphát triển Nguồn vốn này bao gồm: kiều hối, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp(đầu tư chứng khoán, các khoản cho vay, viện trợ, ) Nguồn cung vốn từ bên ngoài cóquy mô lớn nhưng là nguồn cung không liên tục và cũng không ổn định vì nó phụ thuộcchủ yếu vào các yếu tố khách quan bên ngoài hơn là các yếu tố chủ quan trong phạm viquốc gia
Tất cả các nguồn vốn dù ở bên trong hay ngoài một quốc gia, hợp lại thành nguồncung về vốn, đáp ứng nhu cầu vốn trong nền kinh tế Tuy nhiên đây chỉ là những nguồnvốn tiềm năng Bởi vì, các nguồn cung vốn trên không phải luôn luôn sẵn sàng đáp ứngnhu cầu của người cần vốn tại bất cứ thời điểm nào, cho bất cứ đối tượng nào, với bất cứquy mô nào
Như vậy, cung - cầu vốn tiền tệ xuất hiện và tồn tại là một thực tế khách quan, cầnđược giải quyết hợp lý và hiệu quả để tạo điều kiện cho nền kinh tế - xã hội tồn tại và phát
Trang 2triển Trong xã hội hiện đại, việc giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ tương quan giữacung và cầu vốn tiền tệ có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau: hoặc thông quaviệc sử dụng các định chế tài chính trung gian (ngân hàng, công ty tài chính, ) hoặc thôngqua việc việc sử dụng mô hình định chế tài chính trực tiếp - đó chính là TTCK Đây là mộttrong những lý do mà thị trường này còn được gọi là thị trường vốn Với cơ chế hoạt độngcủa thị trường vốn, lực lượng cung và cầu vốn tiền tệ có thể gặp gỡ nhau trực tiếp để đápứng nhu cầu của nhau Nhờ vậy, mâu thuẫn trước mắt tạm thời được giải quyết, để rồi lạixuất hiện những mâu thuẫn mới đòi hỏi tiếp tục giải quyết Và đây chính là nguồn "nănglượng", là xung lực để duy trì và phát triển hoạt động của TTCK.
Thứ hai, sự xuất hiện các loại chứng khoán.
Đây là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của TTCK
+ Về phía Nhà nước: Khi ngân sách Nhà nước bị thiếu hụt, cũng có nghĩa là cầu về
vốn tiền tệ xuất hiện, Chính phủ có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tạo ra nguồn
bù đắp cho sự thâm hụt đó như: phát hành tiền, vay các ngân hàng, tìm nguồn tài trợ từ cácđối tác nước ngoài, Tuy nhiên các biện pháp này đều có những hạn chế và có thể gâynên những hậu quả nhất định đối với nền kinh tế xã hội quốc gia Vì vậy, một biện phápđược coi là tối ưu hơn cả, đó là Nhà nước trực tiếp vay nợ của mọi tầng lớp dân cư cũngnhư các chủ thể khác trong nền kinh tế dưới hình thức tín dụng Nhà nước, bằng cách pháthành trái phiếu chính phủ
+ Về phía doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là chủ thể thứ
hai (sau Nhà nước), cũng có nhu cầu rất lớn và thường xuyên về vốn tiền tệ Được chủđộng tạo vốn, doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương án tài trợ hiệu quả nhất, nghĩa là với chiphí sử dụng vốn thấp nhất, ít rủi ro nhất Nói chung, doanh nghiệp có hai giải pháp cơ bảnđáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư Trước hết là khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp Tuynhiên khả năng này là hạn chế và thường chỉ đáp ứng một phần nào đó nhu cầu vốn đầu
tư Biện pháp thứ hai là huy động vốn từ bên ngoài Chủ yếu có hai phương án, hoặc làvay vốn từ các tổ chức tín dụng, hoặc là phát hành trái phiếu hay cổ phiếu Biện pháptruyền thống là vay ngân hàng, bên cạnh những ưu điểm cũng bộc lộ những khó khăn vàhạn chế nhất định về thủ tục, điều kiện, tài sản đảm bảo, số lượng tiền vay Việc phát hànhtrái phiếu hay cổ phiếu mở ra khả năng tài trợ to lớn với những ưu điểm nổi trội so với cácphương pháp truyền thống Các loại cổ phiếu và trái phiếu do công ty phát hành, chính làchứng khoán
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, sự xuất hiện các loại chứng khoán hoàntoàn là yêu cầu cần thiết và khách quan Vấn đề là làm thế nào để chứng khoán phát hành
ra được nhà đầu tư chấp nhận Đối với nhà đầu tư, điều mà họ quan tâm khi đầu tư vốn làtiền lời thu được từ khoản đầu tư, mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản như thế nào, Nếu đầu tư vào chứng khoán, khả năng thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vàokhả năng mua bán chứng khoán Để tạo ra được khả năng đó, con đường duy nhất hợp lý
là phải hình thành cơ chế của một thị trường riêng biệt - một loại thị trường chuyên mônhoá các giao dịch mua bán những sản phẩm tài chính, các chứng khoán trung và dài hạn.Như vậy, sự ra đời của các loại chứng khoán cũng như quá trình thương mại hoáchúng vừa thoả mãn yêu cầu của người có vốn và người cần vốn, vừa là cơ sở để hìnhthành TTCK
Nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển của TTCK cho thấy: TTCK cũng như tất cảcác loại thị trường khác, buổi bình minh của thị trường được hình thành một cách rất tựphát và sơ khai, từ những nhu cầu riêng lẻ của các thành viên trong xã hội mà lúc đầu chủyếu là các thương gia Khoảng giữa thế kỷ XV, tại một số các thành phố lớn ở các nước
Trang 3phương Tây, các thương gia thường xuyên gặp nhau tại các quán cà phê để trao đổi, muabán các hàng hóa (nông sản, khoáng sản, ngoại tệ, chứng từ có giá) Điểm đặc biệt là trongnhững cuộc thương lượng này, các thương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi v130ới nhau,không có hàng hoá, ngoại tệ hay bất cứ một loại giấy tờ nào Những cuộc trao đổi này lúcđầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người tăng lên Quy mô giao dịch cũng ngày cànggia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Khái niệm “thị trường” dần dầnxuất hiện cùng với việc thống nhất các quy tắc giao dịch giữa các thành viên của thịtrường vào những năm giữa thế kỷ XV.
Phiên chợ riêng (lữ quán của gia đình Vanber) đầu tiên diễn ra năm 1453 tại Bruges(Bỉ) Trước lữ quán này có một bảng hiệu vẽ hình 3 túi da với một tiếng Pháp “Bourse”tức là “mậu dịch trường” hay còn gọi là “sở giao dịch” Mậu dịch trường là một bảng hiệuchung, ba túi da tượng trưng cho 3 nội dung của mậu dịch trường: mậu dịch trường hànghoá, mậu dịch trường ngoại tệ và mậu dịch trường chứng khoán Đến năm 1547 mậu dịchtrường tại thành phố Bruges bị suy sụp khi Bruges mất hẳn sự phồn vinh vì eo biển dẫntàu bè vào thị trấn bị cát lấp mất Thị trường được dời đến hải cảng Auvers (Bỉ) Mậu dịchAuvers phát triển nhanh, và từ kinh nghiệm của nó mậu dịch trường ở các nước bắt đầuphát triển Tại London vào giữa thế kỷ XVIII, một mậu dịch trường được thiết lập theomẫu mậu dịch trường Auvers gọi là Stock Exchange, nơi mà sau này gọi là Sở giao dịchchứng khoán London Kế tiếp sau đó là các mậu dịch trường của các nước Pháp, Ý, Đức,Bắc Âu… cũng được thành lập
Với việc phát triển quy mô giao dịch một cách nhanh chóng, sự gia tăng các thànhviên cũng như hàng hóa và nội dung giao dịch, thị trường dần dần được phân chia thànhcác thị trường khác nhau với các hàng hóa và tính chất giao dịch khác nhau như: thịtrường hàng hóa và dịch vụ, thị trường hối đoái, thị trường hợp đồng tương lai, thị trườngchứng khoán …
Phương thức giao dịch truyền thống ban đầu được diễn ra ngoài trời với những kýhiệu giao dịch bằng tay Lòng bàn tay hướng về phía người gọi là lệnh mua, lòng bàn tayhướng ngược phía người gọi là lệnh bán, các ngón tay biểu thị mức giá… Cho tới năm
1921, ở Hoa Kỳ, các khu chợ được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán chínhthức được thành lập Cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ,các phương thức giao dịch cũng ngày càng được hoàn thiện để từng bước nâng cao quy
mô và chất lượng giao dịch Nếu trong thời kỳ đầu của TTCK, các giao dịch được thựchiện thủ công, bảng đen phấn trắng thì vào những năm cuối thế kỷ XX hệ thống giao dịchđiện tử hầu như đã hoàn toàn thay thế
Lịch sử ra đời và phát triển của thị trường trên thế giới cho thấy, các nước phát triểntheo cơ chế thị trường đều phải tuân theo các quy luật khắt khe của thị trường: quy luật giátrị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu Trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố sảnxuất đều là hàng hoá, vì vậy phải có các loại thị trường giành cho từng loại hàng hoá đó.Chính vì thế, trong cơ cấu thị trường của các nước, bên cạnh thị trường hàng hoá tiêudùng, còn có thị trường tư liệu sản xuất, thị trường sức lao động, thị trường dịch vụ thôngtin, TTCK Điều đó chứng tỏ, TTCK là một yếu tố cấu thành đặc biệt quan trọng của nềnkinh tế thị trường, nó ra đời tự phát và tồn tại khách quan trong nền kinh tế
1.1.2 Khái niệm và các đặc điểm của TTCK
Thuật ngữ "thị trường" là một khái niệm cơ bản của kinh tế học và đã được nhiều nhàkinh tế học định nghĩa Nếu hiểu "thị trường" một cách đơn giản là nơi mua bán hàng hoáthì không sai, nhưng không đầy đủ và không thấy được những loại thị trường không có
Trang 4"chợ" mua bán tập trung Hơn nữa, nếu hiểu như vậy thì thật khó giải thích được nhữngloại thị trường "vô hình" với những loại hàng hoá "vô hình" đã và đang ngày càng pháttriển như thị trường vốn, thị trường dịch vụ,
Xét về bản chất, thị trường là mối quan hệ kinh tế tổng hợp của 5 thành tố: hàng hoá,cung cầu, giá cả, phương thức giao dịch và thanh toán Như vậy, nơi nào, lúc nào có đủ 5thành tố thì nơi đó, khi đó diễn ra hoạt động của thị trường Với nhận thức này chúng ta sẽthấy được các loại thị trường "vô hình", những loại thị trường không có chợ mua bán tậptrung tại một địa điểm cố định Những khác biệt còn lại là quy mô của thị trường đó rộnghay hẹp, phổ biến hay chưa phổ biến, hiện đại hay còn thô sơ
Có nhiều loại thị trường khác nhau tùy theo tiêu thức phân chia Căn cứ vào đốitượng giao dịch thì có thể kể tới các loại thị trường như: thị trường hàng hoá và dịch vụ,thị trường sức lao động, thị trường vàng, thị trường ngoại tệ, thị trường chứng khoán
TTCK là gì?
TTCK là thị trường diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán chứng khoán Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp, khi người mua mua được
chứng khoán lần đầu từ những người phát hành chứng khoán, và ở thị trường thứ cấp khi
có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành từ thị trường sơ cấp
Như vậy, TTCK là 1 bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra quá trình pháthành, mua bán các chứng khoán, đó là các công cụ nợ và công cụ vốn (còn gọi là công cụ
sở hữu) Bản chất của TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu vốn đầu
tư Giá chứng khoán chứa đựng các thông tin về chi phí vốn, hay còn gọi là giá của vốnđầu tư TTCK là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.Chứng khoán được phát hành và mua bán trên TTCK bao gồm nhiều loại khác nhautùy theo tiêu thức phân loại Nếu căn cứ vào thời gian sử dụng vốn sẽ có chứng khoánngắn hạn và chứng khoán dài hạn Các chứng khoán ngắn hạn thường được mua bán trênthị trường tiền tệ Các chứng khoán dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu thường được pháthành, mua bán trên TTCK Vì vậy trên thực tế, đôi khi người ta đồng nhất giữa TTCK vớithị trường vốn
Đặc điểm của TTCK
Thứ nhất, hàng hoá của TTCK là những hàng hóa đặc thù - các loại chứng khoán Đó
là những công cụ chuyển tải giá trị như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứngkhoán phái sinh Chứng khoán có những đặc điểm khác biệt so với các loại hàng hóathông thường Nếu như mỗi loại hàng hóa thông thường đều có tính năng tác dụng và mụcđích sử dụng riêng (mua để sử dụng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua để đáp ứngnhu cầu tiêu dùng cá nhân như ăn, mặc…) thì chứng khoán không có những tính năng tácdụng riêng đó Vì thế ở các thị trường hàng hóa dịch vụ, người sản xuất - người bán vàngười mua đều rất quan tâm tới hình dáng, mẫu mã, kích thước, chất liệu, tác dụng, giáthành và giá cả của sản phẩm; thì ở TTCK, do chứng khoán là những công cụ chuyển tảigiá trị nên người ta chỉ quan tâm đến chứng khoán đó thật hay giả, khả năng sinh lợi và rủi
ro tiềm ẩn thế nào, khả năng thanh khoản ra sao Nói cách khác, việc phát hành, giao dịchcác chứng khoán với tư cách là hàng hoá trên TTCK của tổ chức phát hành, của nhà đầu tưnhằm mục đích huy động các nguồn vốn nhàn rỗi cho đầu tư, đồng thời thực hiện việcchuyển dịch các dòng tiết kiệm và đầu tư nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận
Thứ hai, TTCK được đặc trưng bởi định chế tài chính trực tiếp, những người có khả
năng cung ứng vốn có thể điều chuyển vốn trực tiếp cho người cần vốn mà không cầnthông qua các trung gian tài chính (ngân hàng, công ty tài chính, ) với tư cách là một chủ
Trang 5thể riêng biệt, độc lập thực hiện huy động vốn để phân phối vốn nhằm đạt được những lợiích riêng.
Chúng ta đều đã biết, các nguồn tài chính có thể được chuyển dịch từ người cungsang người cầu bằng một trong hai hình thức: tài chính gián tiếp hoặc trực tiếp
Tài chính gián tiếp: vốn được luân chuyển từ người cung vốn qua các trung gian tàichính (như ngân hàng thương mại, công ty tài chính…) rồi mới được chuyển tới người cầuvốn Trung gian tài chính đứng giữa người cung và người cầu vốn, tiến hành tập trung cácnguồn tài chính từ những người cung vốn và trả cho họ một khoản tiền lãi nhất định; sau
đó sử dụng các nguồn lực tài chính huy động được để cho những người cầu vốn vay và thu
từ họ một khoản tiền lãi nhất định Trung gian tài chính được hưởng một khoản thu nhập
từ phần chênh lệch giữa thu từ cung ứng nguồn lực tài chính và chi cho huy động cácnguồn lực tài chính
Tài chính trực tiếp: vốn hay các nguồn tài chính được luân chuyển trực tiếp từ ngườicung vốn sang người cầu vốn Trong quá trình vận động này, nguồn tài chính không dừnglại ở bất kỳ một tổ chức tài chính trung gian nào Người có nhu cầu sử dụng vốn phải trảchi phí sử dụng vốn cho người cung vốn Tuy nhiên, trong hình thức tài trợ trực tiếp,nguồn vốn có thể luân chuyển tới người có nhu cầu theo 2 hình thức: tài trợ trực tiếp quatrung gian và tài trợ trực tiếp không qua trung gian
Hình 1.1: Quá trình chu chuyển vốn trên thị trường tài chính
Tài trợ trực tiếp qua trung gian là một hình thức luân chuyển các nguồn tài chínhtrong đó ngoài người cung vốn và người cầu vốn còn xuất hiện một trung gian đứng ra tổchức, thu xếp việc thực hiện giao dịch tài chính giữa người cung và người cầu Ở hìnhthức này, nguồn tài chính không dừng lại ở trung gian (như trong tài trợ gián tiếp) song
Tài chính gián tiếp
Thị trường tài chính
Người trung gian
1.Ngân hàng2.Tổ chức KD tiền tệ3.Công ty môi giới CK4.Nhà môi giới độc lập5.Tổ chức, cá nhân nước ngoài
Vốn
Vốn
Vốn
VốnVốn
Trang 6người cung và người cầu vốn phải trả một khoản phí nhất định đối cho người trung gianngoài chi phí sử dụng vốn, ví dụ: hoa hồng đại lí, phí bảo lãnh phát hành chứng khoán…Đây là loại hình luân chuyển các nguồn tài chính phát sinh khá phổ biến trên thị trường.Tài trợ trực tiếp không qua trung: là hình thức luân chuyển trực tiếp các nguồn tàichính giữa người cung vốn và người cầu vốn mà không cần qua bất kỳ một trung gian nào.Người cung vốn và người cầu vốn trực tiếp thỏa thuận các điều kiện giao dịch Trong hìnhthức này, người có nhu cầu vốn chỉ phải trả chi phí sử dụng vốn cho người cung vốn để cóquyền sử dụng vốn trong những khoảng thời gian nhất định Loại hình luân chuyển cácnguồn tài chính này phát sinh phổ biến trong phát hành chứng khoán nội bộ, mua chứngkhoán trực tiếp từ tổ chức phát hành, hoặc trên thị trường tự do (thị trường ngầm),
Thực tế phát triển TTCK cho thấy, hầu hết các hoạt động phát hành chứng khoán đểhuy động vốn của các tổ chức phát hành được thực hiện thông qua các hình thức tài trợtrực tiếp qua trung gian hoặc không qua trung gian
Thứ ba, hoạt động mua bán trên TTCK chủ yếu được thực hiện qua người môi giới.
TTCK được cấu thành bởi nhiều bộ phận thị trường, trong đó TTCK tập trung và thịtrường OTC là những bộ phận quan trọng Do hàng hóa của thị trường này là các công cụchuyển tải giá trị, nên bằng những giác quan thông thường nhà đầu tư khó có khả năngphân biệt được chứng khoán đó có đảm bảo yêu cầu về mặt pháp lí cũng như chất lượngcủa chúng Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nhà đầu tư, đảm bảo TTCK hoạtđộng đúng pháp luật, công bằng, công khai và hiệu quả, luật pháp các nước thường quyđịnh hoạt động mua bán chứng khoán trên các thị trường có tổ chức phải thông qua cáctrung gian, đó là những nhà môi giới chứng khoán đã được cấp phép là thành viên giaodịch của thị trường đó Các nhà đầu tư muốn mua hoặc bán chứng khoán không thể đến thịtrường đàm phán để mua bán trực tiếp, mà bắt buộc phải đặt lệnh mua bán qua các nhàmôi giới chứng khoán
Thứ tư, TTCK gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo
TTCK bao gồm nhiều bộ phận thị trường khác nhau, trong đó TTCK tập trung là bộphận trung tâm Ở thị trường này tất cả mọi người đều được tự do tham gia mua và bántheo nguyên tắc hoạt động của thị trường Không có sự áp đặt giá cả trên TTCK, giá cả ởđây được xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh các thông tin cóliên quan đến chứng khoán
Thứ năm, TTCK về cơ bản là thị trường liên tục Sau khi các chứng khoán được phát
hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứcấp TTCK đảm bảo cho những người đầu tư có thể chuyển các chứng khoán của họ nắmgiữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của TTCK Chính những đặc điểm này là cơ sở
để phân biệt sự khác nhau giữa TTCK với các thị trường khác; đồng thời đó cũng là nhữngđiểm nhấn tạo ra sự hấp dẫn của TTCK đối với các tổ chức phát hành, nhà đầu tư và kinhdoanh chứng khoán Đặc biệt đối với các tổ chức phát hành, TTCK là kênh huy động vốntrung và dài hạn rất thuận lợi vì với đặc điểm "thị trường chứng khoán là thị trường liêntục" đã tạo điều kiện cho các nguồn vốn ngắn hạn của nhà đầu tư, trở thành nguồn vốn dàihạn của nhà phát hành
1.1.3 Các chủ thể tham gia TTCK
Tham gia TTCK bao gồm nhiều chủ thể như: tổ chức phát hành, nhà đầu tư, tổ chứckinh doanh chứng khoán, tổ chức phụ trợ, tổ chức quản lí TTCK
Trang 7● Tổ chức phát hành chứng khoán
Tổ chức phát hành chứng khoán là các tổ chức cần vốn và thực hiện huy động vốnthông qua TTCK Tổ chức phát hành là người cung cấp chứng khoán - hàng hóa củaTTCK Thông thường tổ chức phát hành bao gồm:
- Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương: phát hành trái phiếu chính phủ vàchính quyền địa phương
- Doanh nghiệp (bao gồm cả các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng vàphi tài chính): phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp
- Công ty quản lí quỹ đầu tư: phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư
● Nhà đầu tư chứng khoán
Nhà đầu tư chứng khoán là những người bỏ tiền đầu tư vào chứng khoán nhằm mụcđích thu lợi nhuận Nhà đầu tư có thể được chia thành nhiều loại như nhà đầu tư tổ chức,nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
+ Nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK Cũnggiống như những hoạt động đầu tư khác, mục đích của đầu tư chứng khoán để tìm kiếm lợinhuận Tuy nhiên, mỗi nhà đầu tư có khả năng tài chính, tâm lí đầu tư và điều kiện nhânthân… khác nhau Do vậy, họ sẽ có thái độ khác nhau đối với rủi ro
Các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái thận trọng thường không thích rủi ro và rấtbảo thủ trong các phương thức đầu tư Họ tìm mọi cách để giảm rủi ro và tìm kiếm lợinhuận từ những chứng khoán có rủi ro thấp, đầu tư dài hạn vào một số chứng khoán nhấtđịnh
Các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái mạo hiểm thường sẵn sàng chấp nhận rủi
ro nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận thu được Họ thường đầu tư vào các chứng khoán
có tỉ lệ rủi ro cao nhưng có lợi nhuận kì vọng lớn, thường đầu tư ngắn hạn mà không đầu
tư lâu dài vào bất cứ một loại chứng khoán nào
+ Nhà đầu tư tổ chức (còn gọi nhà đầu tư chuyên nghiệp)
Nhà đầu tư tổ chức là các tổ chức thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng
lớn Các tổ chức này thường có các bộ phận chức năng bao gồm các chuyên gia có kinhnghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư Nhìn chung có thể kểđến một số nhà đầu tư chuyên nghiệp sau:
- Các quỹ tín thác đầu tư: được thành lập nhằm thu hút vốn của nhiều nhà đầu tư cánhân đề đầu tư trên TTCK Ưu điểm nổi bật của hình thức đầu tư qua các quỹ tín thác là
có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi cácchuyên gia có kinh nghiệm
- Các công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm quản lí phí bảo hiểm của những ngườitham gia bảo hiểm và sử dụng số tiền đó để đầu tư dưới các hình thức như: gửi ngân hàng,đầu tư vào chứng khoán Để đảm bảo khả năng thanh toán bảo hiểm của các công ty bảohiểm, pháp luật các nước thường có các quy định khá chặt chẽ về tỉ trọng các khoản đầutư
- Các quỹ hưu trí và quỹ bảo hiểm xã hội khác Các quỹ này thu phí đóng góp định kìcủa các cá nhân để sau này trả cho họ lương hưu hay các khoản trợ cấp khác Phần phí thuđược chưa phải chi trả có thể được các nhà quản lí quỹ đầu tư vào các chứng khoán có độ
an toàn cao như trái phiếu chính phủ
- Các công ty tài chính, các NHTM… cũng có thể trở thành nhà đầu tư chuyênnghiệp khi họ mua bán chứng khoán cho chính mình
● Người kinh doanh chứng khoán
Trang 8Tham gia KDCK có thể bao gồm nhiều tổ chức như: CTCK, công ty quản lí quỹ đầutư… và cá nhân hành nghề độc lập.
+ Công ty chứng khoán
CTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán,thực hiện một hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấnđầu tư chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận
Tùy theo điều kiện về năng lực tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật và nguồn nhân lực
mà một CTCK có thể đảm nhận tất cả các nghiệp vụ kinh doanh hoặc chỉ đảm nhận một
số nghiệp vụ nhất định theo giấy phép kinh doanh
+ Công ty quản lý quỹ đầu tư
Công ty QLQ là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung cấp dịch vụ quản lýquỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Công ty QLQ là người thành lập và quản lí quỹ tín thác bằng cách: (1) đứng ra xinphép thành lập quỹ, phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng để tạo vốn cho quỹ; (2)lựa chọn và thực hiện đầu tư vốn của quỹ vào chứng khoán hoặc tài sản khác phù hợp vớiđiều lệ của quỹ; (3) xác định lợi nhuận của quỹ và tư vấn cho người lưu giữ tài sản củaquỹ để phân phối lợi nhuận Việc thành lập và hoạt động của quỹ và công ty QLQ đượcthực hiện theo luật tín thác đầu tư Theo luật này một hợp đồng tín thác được kí kết bởi tất
cả các bên tham gia vào quỹ: công ty quản lí quỹ, tổ chức giám sát bảo quản (thường làngân hàng giám sát hoặc ngân hàng tín thác), và những người đầu tư
● Người cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chứng khoán (tổ chức phụ trợ)
Để đảm bảo cho TTCK có thể vận hành một cách bình thường, bên cạnh các chủ thểnêu trên cần có các tổ chức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chứng khoán như: tổchức lưu kí chứng khoán và thanh toán bù trừ, tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm, tổ chứctài trợ chứng khoán, tổ chức kiểm toán, công nghệ thông tin TTCK…
- Tổ chức lưu kí chứng khoán và thanh toán bù trừ
Tổ chức lưu kí chứng khoán và thanh toán bù trừ là tổ chức nhận lưu giữ bảo quảncác chứng khoán của khách hàng và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ các giaodịch mua bán chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là tổ chức chuyên thực hiện việc đánh giá về tìnhhình hiện tại và triển vọng hoạt động của các doanh nghiệp dưới dạng các hệ số tín nhiệm.Nhà đầu tư có thể dựa vào các hệ số tín nhiệm do các công ty đánh giá hệ số tín nhiệmcung cấp để cân nhắc trước khi ra quyết định đầu tư
● Người quản lí và giám sát thị trường
Tùy theo chính sách phát triển thị trường và thực tế phát triển TTCK của mỗi quốcgia mà việc quản lí và giám sát TTCK được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau Thôngthường tham gia quản lí giám sát TTCK bao gồm: Nhà nước (thông qua các cơ quan chứcnăng như UBCKNN, NHNN…), các tổ chức tự quản (Sở giao dịch, Hiệp hội các nhà kinhdoanh chứng khoán…)
- Cơ quan quản lí nhà nước đối với TTCK
Trang 9Sự quản lí của nhà nước đối với TTCK là nhân tố rất quan trọng để đảm bảo cho thịtrường hoạt động trật tự, công bằng, đúng pháp luật Tuy nhiên mô hình quản lí nhà nướcđối với TTCK ở các nước đều có những điểm khác nhau Nhìn nhận khái quát có thể thấy
có hai loại mô hình về cơ quan quản lí nhà nước đối với TTCK: Một số nước giao nhiệm
vụ quản lí nhà nước đối với TTCK cho một bộ của Chính phủ, thường là bộ Tài chính(Nhật Bản, Hàn Quốc…), một số nước thành lập cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ:
Ủy ban chứng khoán (Mĩ…) Bên cạnh bộ Tài chính hoặc Ủy ban chứng khoán, một số bộngành khác cũng có chức năng tham gia quản lí TTCK ở một lĩnh vực thuộc thẩm quyền
Ví dụ: Ngân hàng Trung ương quản lí các NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh cóliên quan đến chứng khoán như hoạt động thanh toán bù trừ, Bộ Tư pháp có trách nhiệm
xử lí các hành vi gian lận trên TTCK…
- Sở giao dịch chứng khoán
SGDCK là nơi giao dịch các chứng khoán đã được niêm yết Nhiệm vụ của Sở giaodịch là tổ chức vận hành thị trường thông qua các bộ phận chức năng như: quản lí niêmyết, quản lí giao dịch, quản lí công bố thông tin, thanh tra giám sát… trên cơ sở các vănbản pháp luật của nhà nước và các quy định của Sở
Sở giao dịch ở nhiều nước là tổ chức tự định chế bao gồm các công ty chứng khoánthành viên, trực tiếp điều hành và giám sát các hoạt động giao dịch chứng khoán Khi pháthiện ra các hành vi vi phạm quy chế thị trường, SGD tiến hành xử lí, áp dụng các biệnpháp cưỡng chế thích hợp Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng cácquy định của ngành chứng khoán, Sở có trách nhiệm báo cáo lên Ủy ban chứng khoán đểgiải quyết Hoạt động điều hành và giám sát của SGD phải được thực hiện trên cơ sở phùhợp với các quy định pháp luật có liên quan
- Hiệp hội các nhà KDCK
Hiệp hội các nhà KDCK là tổ chức của các CTCK và một số thành viên khác hoạtđộng trong ngành công nghiệp chứng khoán được thành lập với mục đích bảo vệ lợi íchcho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung Hiệp hộicác nhà KDCK thường là tổ chức tự điều hành, tham gia quản lí giám sát thị trường theomột số nội dung chủ yếu sau:
+ Ban hành các quy định đối với thành viên và có trách nhiệm giám sát việc thựchiện các quy định của các thành viên Hiệp hội
+ Thu nhận các khiếu nại của khách hàng đối với các CTCK thành viên Xử lí các viphạm của thành viên theo quy chế của Hiệp hội
+ Đề xuất các kiến nghị đối với các cơ quan quản lí Nhà nước về các biện pháp pháttriển thị trường
1.2 PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Theo đối tượng giao dịch
● Thị trường cổ phiếu (Stocks Market)
Thị trường cổ phiếu, còn gọi là thị trường vốn (vốn cổ phần) là thị trường mà đốitượng giao dịch là các loại cổ phiếu của các công ty cổ phần Thị trường cổ phiếu được coi
là bộ phận cơ bản và giữ vị trí quan trọng nhất của hệ thống TTCK Nói đến TTCK người
ta thường đồng nghĩa với thị trường cổ phiếu
Thị trường cổ phiếu có một số đặc điểm sau:
+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại cổ phiếu (còn gọi là các công cụ vốn)như: cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu phổ thông), cổ phiếu ưu đãi
+ Nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu giữ vai trò là cổ đông, là đồng sở hữu một phần công
Trang 10ty cổ phần - tổ chức phát hành ra cổ phiếu đó.
+ Do cổ phiếu không có thờì hạn nên để thu hồi vốn đầu tư, thông thường nhà đầu tưkhông thể yêu cầu tổ chức phát hành mua lại mà phải đem bán chúng (chuyển nhượngquyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thị trường cổ phiếu
● Thị trường trái phiếu (Bonds Market)
Thị trường trái phiếu, còn gọi là thị trường nợ là nơi giao dịch các loại trái phiếu.Trái phiếu được giao dịch trên thị trường bao gồm trái phiếu chính phủ và chính quyền địaphương, trái phiếu công ty, trái phiếu ngân hàng…
Thị trường trái phiếu có một số đặc điểm sau:
+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại trái phiếu (còn gọi là các công cụ nợ)như: công trái quốc gia, trái phiếu đầu tư, trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, kì phiếungân hàng
+ Nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu giữ vai trò là chủ nợ của tổ chức phát hành
+ Do trái phiếu có kì hạn nên việc thu hồi vốn đầu tư có thể thực hiện trực tiếp từ tổchức phát hành (nếu trái phiếu đã đến ngày đáo hạn) Trường hợp ngược lại, nhà đầu tưphải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thịtrường trái phiếu
● Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư
Thị trường chứng chỉ quỹ là nơi giao dịch các loại chứng chỉ quỹ
Thị trường chứng chỉ quỹ có một số đặc điểm sau:
+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại chứng chỉ quỹ do các công ty quản líquỹ đầu tư phát hành
+ Nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ là người ủy thác cho công ty quản lý quỹ thựchiện hoạt động đầu tư tập thể theo điều lệ của quỹ Nhà đầu tư không có quyền kiểm soáthàng ngày đối với hoạt động đầu tư của quỹ
+ Tùy theo đặc điểm của từng loại quỹ đầu tư mà nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ
có thể thu hồi vốn đầu tư trực tiếp từ quỹ hoặc phải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền
sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thị trường chứng chỉ quỹ
● Thị trường chứng khoán phái sinh (Derivatives Market)
Là nơi giao dịch các loại chứng khoán phái sinh như quyền mua cổ phần, chứngquyền, quyền chọn, hợp đồng kì hạn, hợp đồng tương lai TTCK phái sinh là thị trường
mà sự ra đời và phát triển của nó bắt nguồn từ chính việc phát hành, giao dịch các loạichứng khoán gốc Sự tồn tại và phát triển của thị trường này có ý nghĩa quan trọng, gópphần thúc đẩy thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu hoạt động sôi động và hiệu quảhơn
Tiêu thức phân chia này giúp chúng ta có thể đánh trình độ phát triển của nền kinh tếnói chung cũng như chính bản thân phát triển của TTCK nói riêng Với những nước pháttriển, sự phát triển của thị trường cổ phiếu là biểu trưng cho sự phát triển của nền kinh tế.Song hành cùng với sự phát triển và hoàn thiện của thị trường, các loại chứng khoán pháisinh cũng ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu đa dạng, đồng thời cung cấp các công cụphòng chống rủi ro cho các nhà đầu tư, kinh doanh chứng khoán
1.2.2 Theo các giai đoạn vận động (quá trình lưu thông) của chứng khoán
● Thị trường sơ cấp (Primary market)
Là thị trường diễn ra các giao dịch phát hành các chứng khoán mới
TTCK sơ cấp có vai trò tạo vốn cho các tổ chức phát hành và chuyển hoá các nguồnvốn nhàn rỗi trong công chúng vào đầu tư
Trang 11Đặc điểm của thị trường sơ cấp:
+ Trên thị trường sơ cấp, chứng khoán là phương tiện huy động vốn đối với nhà phát
hành đồng thời là công cụ đầu tư các nguồn tiền nhàn rỗi đối với các nhà đầu tư
+ Chủ thể giao dịch: trên thị trường sơ cấp, người bán chứng khoán là các tổ chứcphát hành, người mua là các nhà đầu tư
+ Kết quả giao dịch trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế + Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường sơ cấp là thị trường không liên tục
● Thị trường thứ cấp (Secondary market)
Là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán các chứng khoán đã được phát hành trênthị trường sơ cấp
Vai trò của TTCK thứ cấp là thực hiện việc di chuyển vốn đầu tư giữa các nhà đầu tưchứng khoán Nếu xét trên góc độ kinh tế vĩ mô, TTCK thứ cấp là một định chế tài chínhquan trọng trong quá trình điều tiết vốn đầu tư giữa các ngành, các lĩnh vực, tạo ra một sựcân đối mới cho nền kinh tế
+ Kết quả hoạt động của thị trường thứ cấp không làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh
tế mà chỉ có vai trò làm thay đổi quyền sở hữu vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư của thịtrường
+ Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường thứ cấp là thị trường liên tục Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp một mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau,làm tiền đề cho sự phát triển của TTCK Thị trường sơ cấp có vai trò tạo hàng hóa chohoạt động của thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp làm gia tăng tính thanh khoản củachứng khoán, đảm bảo cho sự phát triển của thị trường sơ cấp
Phân chia và nghiên cứu TTCK theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng trong việcphân tích quan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá hiệntrạng nền kinh tế cũng như vị trí và uy tín của các tổ chức phát hành thông qua sự biếnđộng giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp
1.2.3 Theo cơ chế hoạt động
● Thị trường chứng khoán chính thức
TTCK chính thức (còn gọi là thị trường có tổ chức) là thị trường mà sự ra đời và hoạtđộng được thừa nhận, bảo hộ về mặt pháp lý Các hoạt động giao dịch của thị trường nàynằm dưới sự kiểm soát và chịu sự ảnh hưởng bởi cơ chế điều tiết gián tiếp của Nhà nước.Nếu xét trên hình thức và cơ chế giao dịch, thị trường có tổ chức bao gồm:
+ Thị trường tập trung
TTCK tập trung là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thựchiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch
Đặc điểm của TTCK tập trung:
- TTCK tập trung có địa điểm giao dịch cố định
- Các chứng khoán được giao dịch tại TTCK tập trung phải thoả mãn những điềukiện nhất định và hoàn tất thủ tục niêm yết, thường là chứng khoán của những công ty lớn,
có danh tiếng, đã qua thử thách của thị trường
- Phương thức giao dịch chủ yếu là đấu giá hoặc ghép lệnh để hình thành giá cả cạnh
Trang 12tranh tốt nhất trong các phiên giao dịch
- Thành viên tham gia giao dịch có giới hạn, thường chỉ bao gồm những tổ chức hoặc
cá nhân có đủ điều kiện và đã được cơ quan quản lí của nhà nước về lĩnh vực chứng khoán
và TTCK cấp phép thành viên
- Nhà nước quản lí đối với thị trường thông qua các pháp luật chuyên ngành về CK
& TTCK
+ Thị trường phi tập trung (còn gọi là thị trường OTC - Over the Counter)
Thị trường OTC là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng khoán không diễn
ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua hệ thống máy vi tính và điện thoại kết nối giữacác thành viên của thị trường
Đặc điểm của TTCK OTC:
- TTCK OTC không có địa điểm giao dịch cố định Các giao dịch được tiến hành quamạng lưới các CTCK phân tán trên khắp quốc gia
- Các chứng khoán được giao dịch tại đây là các chứng khoán chưa được niêm yếttrên bất kỳ thị trường tập trung nào và thường bao gồm các chứng khoán có tiêu chuẩnthấp hơn chứng khoán được niêm yết trên thị trường tập trung - chứng khoán của các công
So sánh thị trường OTC với thị trường tập trung
- Địa điểm giao dịch phi tập trung
- Giao dịch qua mạng máy tính điện tử
- Thỏa thuận giá, hoặc mua bán theo giá
- Được tổ chức quản lí chặt chẽ bởi các cơ
quan quản lí nhà nước và tổ chức tự quản
- Quản lí nhà nước đối với thị trường thông
qua hệ thống các văn bản pháp luật chuyên
ngành (luật chứng khoán) và các văn bản
pháp luật có liên quan
- Tổ chức tự quản là hiệp hội các nhà
KDCK hoặc sở giao dịch
- Cơ chế thanh toán đa dạng
- Địa điểm giao dịch tập trung
- Giao dịch qua mạng hoặc không qua mạng
- Giá cả được hình thành theo phương thứcđấu giá tập trung hoặc khớp lệnh
- Giao dịch chứng khoán loại 1 (có tiêuchuẩn cao hơn)
- Không sử dụng các nhà tạo lập thị trường(đối với các thị trường đấu giá theo lệnh)
- Được tổ chức quản lí chặt chẽ bởi các cơquan quản lí nhà nước và tổ chức tự quản
- Quản lí nhà nước đối với thị trường thôngqua hệ thống các văn bản pháp luật chuyênngành (luật chứng khoán) và các văn bảnpháp luật có liên quan
- Tổ chức tự quản là sở giao dịch
- 1 cơ chế thanh toán bù trừ đa phương
● Thị trường chứng khoán không chính thức (TTCK tự do )
TTCK tự do (The free markets): còn gọi là thị trường ngầm, hay thị trường chợ đen,
là thị trường ở đó các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán không được thực hiệnqua hệ thống giao dịch của thị trường tập trung và thị trường OTC, nó ra đời và hoạt độngmột cách tự phát theo nhu cầu của thị trường
Trang 13TTCK tự do là thị trường mà hoạt động giao dịch mua bán, chuyển nhượng chứngkhoán có thể diễn ra ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào, có thể thông qua các nhà môi giớihoặc do chính những người có nhu cầu đầu tư, mua bán chứng khoán thực hiện
Dưới góc độ pháp lý, TTCK tự do là thị trường mà sự ra đời, tồn tại và hoạt độngkhông được thừa nhận và bảo hộ bởi các pháp luật chuyên ngành về chứng khoán vàTTCK Nó ra đời và hoạt động bởi các nhu cầu tự phát của thị trường Do không được bảo
hộ về mặt pháp lý nên việc mua bán chứng khoán trên thị trường tự do chứa đựng nhiềurủi ro như lừa đảo, hàng giả, hàng không có thật…
So sánh thị trường OTC và thị trường tự do
- Có tổ chức chặt chẽ
- Giao dịch phi tập trung
- Thỏa thuận giá qua mạng, hoặc mua bán
theo giá niêm yết
- Chứng khoán loại 2
- Có quản lí nhà nước và tự quản
- Không có tổ chức
- Giao dịch phi tập trung
- Thỏa thuận giá trực tiếp và thủ công
- Chứng khoán chưa niêm yết tại TTCK tậptrung và thị trường OTC
- Không có sự quản lí nhà nước bởi các luậtchuyên ngành về CK & TTCK
Thị trường có tổ chức và thị trường tự do là hai bộ phận cùng song song tồn tại vàphát triển Xét về lịch sử, thị trường tự do ra đời sớm hơn rất nhiều so với thị trường có tổchức Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như sự gia tăng vai tròkiểm soát của Nhà nước thì quy mô và phạm vi hoạt động của thị trường tự do ngày cànggiảm đi rõ rệt ngược lại với sự phát triển nhanh chóng của thị trường có tổ chức
Xem xét hoạt động TTCK theo tiêu thức này giúp chúng ta có thể đánh giá được vaitrò cũng như mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của TTCK nói riêng cũngnhư toàn bộ nền kinh tế nói chung
1.2.4 Theo thời hạn thanh toán
● Thị trường giao ngay
Thị trường giao ngay là thị trường mà việc giao nhận chứng khoán và thanh toánđược diễn ra ngay trong ngày giao dịch hoặc trong thời gian thanh toán bù trừ theo quyđịnh
Đặc điểm của TTCK giao ngay:
- Việc kí ký hợp đồng giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện ở hiện tại
- Việc chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được thực hiện ngaytrong ngày giao dịch, hoặc trong thời gian thanh toán bù trừ theo quy định của thị trườngmỗi nước (T+1 hoặc T+2 hoặc T+3)
● Thị trường kỳ hạn
Thị trường kì hạn là thị trường mà việc giao nhận chứng khoán và thanh toán đượcdiễn ra sau ngày giao dịch một khoảng thời gian nhất định
Đặc điểm của TTCK kì hạn:
- Việc kí ký hợp đồng giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện ở hiện tại
- Việc chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được thực hiện trongmột khoảng thời gian nhất định theo hợp đồng đã kí kết Tùy theo cơ chế hoạt động của thịtrường theo kiểu Âu hay kiểu Mĩ mà ngày thực hiện hợp đồng (chuyển giao quyền sở hữu
Trang 14chứng khoán và thanh toán) được thực hiện sau ngày giao ngay một khoảng thời gian đã kíhay bất cứ ngày nào trong thời hạn của hợp đồng
1.3 CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TTCK
1.3.1 Chức năng của TTCK
TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính được ví như là hệ thống các con kênhkhơi thông dòng chảy cho các nguồn vốn đầu tư Thông qua các con kênh này, vốn sẽchảy từ nơi thừa về nơi thiếu, từ nơi sử dụng có hiệu quả thấp sang nơi sử dụng có hiệuquả cao hơn, vốn sẽ chảy sang các ngành, các lĩnh vực cần ưu tiên phát triển theo đòi hỏicủa xã hội cũng như các định hướng phát triển nền kinh tế của Chính phủ
Với tư cách là một định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế thị trường, TTCKđược nhìn nhận với hai chức năng cơ bản là tập trung huy động vốn đầu tư và điều tiết cácnguồn vốn trong nền kinh tế
● Tập trung huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thông qua các giao dịch trên được thực hiện trên TTCK sơ cấp, các nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội… được tập trungcho các hoạt động đầu tư của các tổ chức phát hành
- Thông qua phát hành trái phiếu, Nhà nước huy động vốn để thực hiện các chươngtrình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các công trình công cộng, thực hiện côngnghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
- Các doanh nghiệp, các ngân hàng, tổ chức tài chính sử dụng vốn huy động đượcqua phát hành trái phiếu, cổ phiếu để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển thị trường, mởrộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao thị phần doanh nghiệp, củng cố vị trí trênthương trường
● Điều tiết các nguồn vốn trong nền kinh tế
TTCK nói chung, TTCK thứ cấp nói riêng là nơi tạo tính thanh khoản cho các loạichứng khoán Thông qua thị trường này nhà đầu tư có thể thu hồi vốn hoặc chuyển vốnđầu tư một cách dễ dàng thông qua các hoạt động bán và mua các loại chứng khoán Mặt khác, trong nền KTTT, bên cạnh những doanh nghiệp thành đạt, không ít doanhnghiệp có hiệu quả kinh doanh thấp kém, thậm chí có nguy cơ phá sản Những doanhnghiệp này có thể phải chấp nhận giải pháp thu hẹp phạm vi kinh doanh ở một lĩnh vựcnào đó bằng cách rút bớt vốn đầu tư khỏi các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp để đầu tư vào một lĩnh vực khác thông qua việc mua các chứng khoán đang đượcgiao dịch trên TTCK Điều đó cũng đồng nghĩa với việc vốn đầu tư tự phát điều tiết từ cácngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng thấp sang các ngành, các lĩnh vực có hiệu quả sửdụng cao hơn
1.3.2 Vai trò của TTCK
Việc tạo lập và phát triển TTCK có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp phát triểnkinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường Nó là kênh bổ sung nguồn vốn trung và dàihạn cho nền kinh tế Tuy nhiên, nếu không có đầy đủ các điều kiện cần thiết để đảm bảocho sự tồn tại và phát triển thì TTCK cũng có thể gây nên những tác hại không lường đốivới nền kinh tế - xã hội Chính vì thế nhận thức được đầy đủ vai trò tích cực cũng nhưnhững bất lợi của TTCK có một ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng thị trường và xâydựng chính sách quản lý thị trường một cách hữu hiệu
Ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều tồn tại TTCK với các vaitrò chủ yếu sau:
Trang 15- TTCK là kênh huy động, tập trung và luân chuyển vốn linh hoạt của nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, TTCK được xem như một trung tâm thu gom mọinguồn vốn tiết kiệm lớn nhỏ của từng hộ dân cư, các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trongcác doanh nghiệp, các tổ chức tài chính và từ nước ngoài, tạo thành một nguồn vốnkhổng lồ tài trợ cho nền kinh tế, mà các phương thức khác không làm được Qua đó tạo ra
cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và thu được lợinhuận nhiều hơn Nó giúp cho Nhà nước giải quyết thiếu hụt ngân sách bằng cách pháthành trái phiếu, tạo và tăng thêm nguồn vốn để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, cácngành kinh tế mũi nhọn
- TTCK góp phần kích thích cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Thông qua TTCK, các doanh nghiệp có thể sử dụng vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi đểđầu tư chứng khoán như là một tài sản kinh doanh và ngược lại, các chứng khoán đó sẽđược chuyển thành tiền khi cần thiết
Hơn nữa TTCK còn giúp các doanh nghiệp xâm nhập lẫn nhau thông qua việc muabán cổ phiếu Việc sáp nhập, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanhnghiệp đều có thể thực hiện thông qua TTCK Thậm chí khi một doanh nghiệp bị phá sản,
nó cũng không mất đi, mà nó sẽ được bán vào tay một số cổ đông khác và các cổ đôngmới này sẽ tiếp tục duy trì, phát triển sự hoạt động của doanh nghiệp
Luật lệ của TTCK bắt buộc các doanh nghiệp tham gia thị trường phải công bố côngkhai, minh bạch tình hình tài chính, kết quả kinh doanh hàng quý, hàng năm trước dânchúng, để dân chúng cũng như các nhà đầu tư khác có thể nhận định, đánh giá được công
ty Bên cạnh đó, việc mua bán cổ phiếu của công ty một cách tự do, khiến người có cổphiếu trở thành sở hữu chủ của công ty, họ có thể kiểm soát công ty một cách dễ dàng quacác cơ quan quản lý công ty và nhận biết được khả năng hoạt động của công ty qua sựchấp nhận của TTCK Chính những điều này buộc các doanh nghiệp phải tính toán kỹlưỡng trong việc huy động và sử dụng vốn, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
- TTCK góp phần đa dạng hóa các hình thức đầu tư và huy động vốn trong nền kinh tế
TTCK đưa đến cho công chúng những công cụ đầu tư mới, đa dạng, phong phú, phùhợp với từng đối tượng có tâm lý và chiến lược riêng Với một hệ thống các loại chứngkhoán khác nhau của nhiều ngành kinh tế và các chủ thể khác nhau, người tiết kiệm có thể
tự mình lựa chọn, hoặc thông qua những nhà tài chính chuyên môn lựa chọn những hìnhthức đầu tư thích hợp nhất Nhờ vậy, vốn nhàn rỗi trong xã hội sẽ được thu hút vào côngcuộc đầu tư Vốn đầu tư sinh lời, càng kích thích ý thức tiết kiệm và đầu tư trong dânchúng Nếu không có TTCK thì nguồn tiết kiệm trong dân chúng có thể vẫn tiếp tục nằmyên dưới dạng cất trữ, không sinh lời cho bản thân người tiết kiệm và cũng chẳng đónggóp gì cho quá trình phát triển kinh tế
Như vậy, TTCK là nơi cung cấp các cơ hội đầu tư có lựa chọn cho công chúng, từ đónâng cao tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện về vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế
- TTCK là tấm gương phản ánh thực trạng và tương lai phát triển của doanh nghiệp
Thị giá chứng khoán của một doanh nghiệp đang giao dịch trên TTCK được coi là cơ
sở quan trọng đánh giá thực trạng hoạt động của doanh nghiệp đó trong hiện tại cũng nhưtrong tương lai Thị giá cổ phiếu cao hay thấp biểu hiện trạng thái kinh tế của doanhnghiệp Đặc biệt, mức độ cổ tức và giá thặng dư của cổ phiếu (chênh lệch giữa giá thị
Trang 16trường và mệnh giá) thể hiện khả năng mang lại lợi tức và thu nhập cho các cổ đông Triểnvọng tương lai của mỗi doanh nghiệp cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thị giá cổphiếu và sự diễn biến quá trình biến động thị giá cổ phiếu của công ty.
Như vậy thông qua sự biến động về giá cả chứng khoán và các chỉ số trên TTCK,người ta có thể đánh giá được tình trạng "sức khoẻ" của một doanh nghiệp nói riêng cũngnhư của nền kinh tế nói chung cả trong hiện tại và tương lai
- TTCK là công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén vàchính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế đangtăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu suy thoái củanền kinh tế Vì thế, TTCK được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụquan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK,chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thiếu hụtngân sách và quản lí lạm phát Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số biện pháp,chính sách tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo sự phát triển cân đốicủa nền kinh tế…
- TTCK là công cụ góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
TTCK là công cụ cho phép vừa thu hút, vừa kiểm soát vốn đấu tư nước ngoài mộtcách hữu hiệu, vì nó hoạt động theo nguyên tắc công khai Nghĩa là mội đối tượng thamgia mua bán chứng khoán phải công khai và cập nhật toàn bộ những thông tin liên quanđến giá trị chứng khoán, công khai khả năng tài chính trong các giao dịch mua bán chứngkhoán Tính chuyên nghiệp của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ góp phần từng bước làmthay đổi tư duy trong đầu tư kinh doanh, đổi mới cơ chế quản lí theo xu thế quản lí hiệnđại, từng bước góp phần khắc phục tình trạng đầu tư thiếu thông tin hoặc thông tin khôngtrung thực, thiếu chính xác, đầu tư theo tâm lí, theo trào lưu đám đông của các nhà đầu tưtrong nước Hoạt động mua bán chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài làm tăng tínhsôi động của thị trường, qua đó góp phần quan trọng vào sự phát triển của TTCK của cácquốc gia, đặc biệt là ở các TTCK mới hình nổi
Như vậy TTCK không chỉ là công cụ cho phép thu hút và kiểm soát vốn đấu tư nướcngoài; mà còn góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia.Ngoài ra, TTCK còn có các vai trò tích cực khác như: đảm bảo tính thanh khoản chochứng khoán, làm giảm áp lực lạm phát, thúc đẩy quá trình cổ phần hoá DNNN…
1.3.3 Các khía cạnh tiêu cực trên TTCK
TTCK không phải là một công cụ vạn năng, nó không thể giải quyết được tất cả cácnhu cầu của nền kinh tế đặt ra Bên cạnh những tác động tích cực đó, do đặc điểm của cácgiao dịch chứng khoán mà rất dễ nảy sinh các hành vi vi phạm các nguyên tắc, các quychế trong hoạt động mua bán, đó là "thao túng thị trường", "giao dịch nội gián", mua bán
CK ngoài TTCK không chính thức làm ảnh hưởng đến mục tiêu “công bằng, hiệu quả vàphát triển ổn định” của thị trường
● Thao túng thị trường
"Thao túng thị trường" có thể được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, nhưng tựu
chung lại đều là những hành vi cố ý gây tác động đến thị trường bằng cách vận dụng quyluật cung - cầu hoặc các hành vi nhân tạo khác, để tác động đến giá cả chứng khoán, nhằmđạt được mục tiêu có lợi cho riêng mình Thao túng thị trường thường được thể hiện dướicác hình thức cụ thể sau:
Trang 17- Một là, đầu cơ chứng khoán Trên TTCK, hoạt động đầu tư chứng khoán được xem
là hoạt động cơ bản nhất của thị trường Tuy vậy, cũng như bất kỳ hoạt động kinh tế nào,bên cạnh hoạt động đầu tư chứng khoán tích cực thông thường thì hoạt động đầu cơ chứngkhoán, hay các nhà kinh tế còn gọi là hoạt động đầu tư mang tính chất đầu cơ, cũng songsong tồn tại và là nhân tố hết sức quan trọng và phức tạp trên TTCK Đầu tư và đầu cơ đều
là những hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận Hoạt động đầu tư có thể là ngắnhạn, trung hạn hoặc dài hạn, còn hoạt động đầu cơ thường mang tính ngắn hạn Các nhàđầu tư chứng khoán thường mua chứng khoán để nhận thu nhập từ chứng khoán đó manglại, còn các nhà đầu cơ thường là những người mua bán chứng khoán để tìm kiếm lơinhuận từ chênh lệch giá chứng khoán qua những lần mua đi bán lại trên TTCK Bằng sựtáo bạo của mình, họ chớp lấy thời cơ để mua hoặc bán chớp nhoáng các chứng khoán.Như vậy, mục tiêu của người đầu cơ không phải là nhận lợi tức của chứng khoán và thâmnhập vào các công ty danh tiếng mà là kiếm lời thông qua việc mua bán để hưởng chênhlệch giá chứng khoán Họ sẵn sàng chấp nhận sự rủi ro, mạo hiểm để hy vọng thu đượcnhiều lợi nhuận cho mình Vì vậy, những người đầu cơ thường hay tập trung vào nhữngchứng khoán mà nhiều người cho rằng chúng có mức độ rủi ro cao Họ thường quan tâmkhai thác những thông tin có tính chất nhất thời, thẩm định, dự đoán những khả năng cótính chất bất thường Đầu tư và đầu cơ đều là những hoạt động kinh doanh, giữa chúng cómức độ độc lập nhất định và có thể chuyển hoá lẫn nhau Trên thực tế, một người muachứng khoán với mục đích ban đầu là đầu tư, nhưng do giá chứng khoán họ đang nắm giữlên giá hoặc sụt giá một cách nhanh chóng khiến họ phải quyết định bán đi các chứngkhoán mà mình đang nắm giữ nhằm kiếm lời từ sự chênh lệch giá mua bán, hoặc bán đi đểhạn chế rủi ro khi giá xuống, và vô tình họ đã trở thành một nhà đầu cơ chứng khoán tạmthời Có thể nói rằng, trong hoạt động đầu tư đã nhen nhóm những yếu tố mang tính chấtđầu cơ và ngay trong đầu cơ cũng có nhân tố của đầu tư Thực tiễn hoạt động của TTCK
có rất nhiều ví dụ sinh động về mối liên hệ rất chặt chẽ cũng như ranh giới mỏng manhgiữa đầu tư và đầu cơ
Trên TTCK, các nhà đầu cơ là những người dám bỏ tiền ra mua những loại chứngkhoán khi có nhiều người bán, nhưng có rất ít người mua Và ngược lại, họ cũng sẵn sàngbán khi có nhiều người mua nhưng có ít người bán Chính các nhà đầu cơ, bằng kinhnghiệm, óc kinh doanh và tiền bạc của mình, họ đã giúp cho hoạt động của thị trườngkhông bị gián đoạn Trên góc độ đó, những nhà đầu cơ cũng có vai trò tích cực làm choTTCK có tính thanh khoản cao, hoạt động giao dịch trên trên thị trường thêm phần sôiđộng Vì vậy, những hoạt động đầu cơ này đều được các thị trường cho phép thực hiện.Tuy nhiên, cũng có những hành động đầu cơ bị cấm Đó là những hành động nhằmtạo ra sức ép về cung cầu một loại chứng khoán nào đó trên thị trường dẫn đến hình thànhgiá chứng khoán không đúng với giá trị đích thực của nó, để có lợi cho người đầu cơ vàgây thiệt hại cho những nhà đầu tư khác Ví dụ: các nhà đầu cơ kết hợp với nhau cùng liêntục mua, hoặc bán một loại chứng khoán, gây nên sự khan hiếm hay thừa thãi một cách giảtạo, dẫn đến giá cả chứng khoán sẽ gia tăng hoặc giảm sút một cách đột ngột Khi giá đãtăng hoặc hạ đến một điểm tối ưu, một người trong số đó sẽ bán ra hoặc mua vào hết,
- Hai là, hiện tượng chèn ép, cá lớn nuốt cá bé Đó là hành vi những thương gia lớn
thường đẩy giá lên hoặc gìm giá xuống để thu lợi, gây nên những thiệt hại cho nhữngngười có số lượng chứng khoán ít ỏi, vì trên TTCK giá cả hoàn toàn do cung cầu quyếtđịnh
- Ba là, loan truyền tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc về hiện trạng và
triển vọng của một đơn vị kinh tế Điều này có thể gây nên những hậu quả xấu cho đơn vị
Trang 18phát hành, cho thị trường và cho các nhà đầu tư chân chính Hiện tượng “các tin đồn thấtthiệt” có thể đem đến tình trạng cổ phiếu được đưa ra bán ồ ạt làm giá trị cổ phiếu giảmđột ngột, hoặc tình trạng đầu tư gia tăng làm giá cổ phiếu tăng nhanh vượt quá giá trị thựccủa chúng Những người có ý đồ xấu có thể đứng ra mua (hoặc bán) cổ phiếu đó để khốngchế công ty và hưởng một số lãi đáng kể sau khi tin đồn đã được kiểm chứng.
- Bốn là, cố ý gây sai lệch hay sự hiểu lầm về hoạt động giao dịch của một loại chứng
khoán
- Năm là, tìm mọi biện pháp để duy trì, ổn định mức giá chứng khoán nhằm tạo ra
những lợi thế cho việc chào bán hoặc phát hành chứng khoán mới
- Sáu là, thực hiện các giao dịch được sắp đặt trước, giao dịch giả tạo
● Giao dịch nội gián
"Giao dịch nội gián" là những trường hợp người trong nội bộ tổ chức phát hành,
hoặc những người do trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ nào đó mà có được nhữngthông tin chưa công bố ra công chúng, đã sử dụng hoặc trao cho người khác sử dụngnhững thông tin này để đầu tư, tham gia giao dịch có lợi cho mình Đối tượng để thực hiệnhành vi giao dịch nội gián là những người trong nội bộ bộ máy quản lý của tổ chức pháthành Họ nắm được các thông tin nội bộ nhờ vào tư cách thành viên của tổ chức quản lý,lãnh đạo, giám sát hoặc nhờ vào chức năng của họ trong tổ chức phát hành
Thông tin nội bộ là những thông tin quan trọng, chưa được công bố, liên quan đếnmột hoặc nhiều người phát hành, một hoặc nhiều người mua, bán chứng khoán có kỳ hạn,một hoặc nhiều sản phẩm tài chính đã được niêm yết, mà nếu thông tin đó được công bố
sẽ có khả năng ảnh hướng đến giá chứng khoán, giá hợp đồng quyền chọn, hoặc giá sảnphẩm tài chính có liên quan Thông tin nội bộ bao gồm: những thay đổi lớn trong chínhsách đầu tư, quản lý của công ty niêm yết, giao dịch của công ty với ngân hàng bị đình chỉ,công ty gặp tổn thất do hiểm hoạ thiên nhiên, các vụ kiện tụng lớn, tình trạng phá sản haythâu tóm của công ty, những khó khăn trong việc trả nợ của công ty, những thay đổi trongban quản trị, các kế hoạch sáp nhập, giải thể công ty, v,v
Mua bán nội gián được xem như là một hành vi phi đạo đức về mặt thương mại và đingược lại nguyên tắc: mọi nhà đầu tư phải có cơ hội như nhau
● Các hành vi khác
Mua bán chứng khoán trên TTCK tự do cũng có thể gây nên những hậu quả khólường, vì bộ phận quản lý không thể biết được việc chuyển nhượng quyền sở hữu của mộtđơn vị nào đó Mọi sự mua bán bên ngoài có khả năng tạo áp lực cho các nhà đầu tư khác,thậm chí đưa đến việc khống chế hay thay thế cả lãnh đạo của công ty Do đó hầu hết cácthị trường đều quy định mọi sự mua bán cổ phiếu đã đăng ký với TTCK phải được thựchiện thông qua TTCK
Những mặt tiêu cực nêu trên và những biến tướng tinh vi của nó có thể hạn chế vàkhắc phục được bằng việc ban hành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và có sự quản lý,giám sát thường xuyên của các cơ quan chức năng Nhà nước
1.4 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TTCK
TTCK là sản phẩm tất yếu khách quan của một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thịtrường TTCK ra đời đã mở ra một kênh huy động vốn mới trong nền kinh tế Tuy nhiên,
để đảm bảo cho TTCK ra đời và hơn thế nữa đó là sự phát triển ổn định, bền vững thì đòihỏi phải có những điều kiện nhất định Kinh nghiệm phát triển TTCK ở các nước chothấy, TTCK chỉ có thể hình thành và phát triển khi có đủ các điều kiện sau:
Trang 191.4.1 Điều kiện về kinh tế
- Sự phát triển của nền kinh tế
TTCK là một thị trường bậc cao Vì vậy, nó chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tếhàng hoá - tiền tệ và các quan hệ thị trường ngày càng phát triển một cách ổn định, bềnvững Cũng giống như các thị trường khác, TTCK chỉ phát triển khi và chỉ khi nền kinh tếtăng trưởng ổn định biểu hiện ở sự gia tăng đều đặn của tổng sản phẩm quốc dân và quốcnội, tỉ lệ thất nghiệp thấp…
- Tình hình lưu thông tiền tệ
Chỉ khi kinh tế phát triển, chế độ lưu thông tiền tệ ổn định, lạm phát được kiểm soát
ở mức vừa phải, lãi suất được hình thành theo quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường, giátrị đồng nội tệ được ổn định thì công chúng mới yên tâm, tin tưởng tham gia đầu tư chứngkhoán
- Hàng hóa
Trên TTCK, hàng hoá là yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên tính sôi độngcủa thị trường Vì vậy, để TTCK không ngừng phát triển và hoàn thiện phải tạo ra cho thịtrường một lượng chứng khoán đa dạng, phong phú, đủ về số lượng, đảm bảo về chấtlượng, phù hợp với nhu cầu và tâm lý đa dạng của công chúng đầu tư
- Thu nhập dân cư
Khối lượng và tỷ trọng tiết kiệm trong tổng số thu nhập sẽ quyết định mức độ hoạtđộng của TTCK Khi thu nhập bình quân đầu người thấp thì tỷ trọng chi tiêu cho tiêu dùngcao và tỷ trọng này càng giảm khi thu nhập bình quân đầu người tăng Vì thế, TTCK chỉ
có thể phát triển khi và chỉ khi thu nhập quốc dân cũng như thu nhập bình quân đầu ngườikhông ngừng tăng lên
1.4.2 Điều kiện về pháp lý
Cũng giống như các thị trường khác, để TTCK ra đời, tồn tại và không ngừng pháttriển không thể thiếu các điều kiện về pháp lí Môi trường pháp lí trong lĩnh vực CK vàTTCK thường bao gồm:
- Các quy chế về quản lý nhà nước đối với quá trình hình thành và vận hành thịtrường
- Các quy chế quản lý đối với các chủ thể tham gia thị trường: chủ thể quản lý, chủthể phát hành, chủ thể kinh doanh dịch vụ, nhà đầu tư…
- Các quy chế quản lý đối với các hoạt động trên TTCK như: phát hành, niêm yết,giao dịch, công bố thông tin, lưu kí và thanh toán bù trừ…
Thực tế phát triển TTCK ở các nước cho thấy, TTCK chỉ có thể phát triển nếu quốcgia đó ban hành được một hệ thống các văn bản pháp lý đầy đủ, đồng bộ, có tính tiên liệu
và hiệu lực pháp lí cao (bao gồm các văn bản luật và dưới luật có liên quan trực tiếp hoặcgián tiếp đến CK & TTCK), ổn định trong thời gian dài Một hệ thống pháp lý chắp vá,không đồng bộ, tính pháp lý thấp và thay đổi thường xuyên sẽ làm TTCK hoạt độngkhông ổn định, hiệu quả thấp kém và chậm phát triển
Trang 201.4.3 Điều kiện về nhân lực
Con người là yếu tố có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường Vìvậy, để đảm bảo cho TTCK không ngừng phát triển và hoàn thiện phải có đội ngũ chuyêngia chứng khoán giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và phẩmchất, tư cách đạo đức tốt trên các lĩnh vực:
- Các chủ thể hoạch định chính sách, tổ chức, quản lý thị trường,
- Các chủ thể tác nghiệp trên thị trường: môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnhphát hành, lưu kí chứng khoán, tư vấn và quản lí danh mục đầu tư…
- Các chủ thể tham gia thị trường với vai trò phụ trợ: định mức tín nhiệm, kiểm toán,thanh toán bù trừ
- Các nhà đầu tư và các nhà quản trị doanh nghiệp
1.4.4 Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật
Để phục vụ cho các giao dịch chứng khoán cần có hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuậttương thích, đó là:
- Hệ thống giao dịch: chuyển lệnh, ghép lệnh, hệ thống yết giá,
- Hệ thống công bố thông tin,
- Hệ thống lưu ký, thanh toán,…
TTCK phát triển đồng nghĩa với việc quy mô thị trường ngày càng mở rộng, khốilượng các hoạt động trên thị trường ngày càng tăng lên Điều đó đòi hỏi hệ thống trangthiết bị cho thị trường cũng phải không ngừng nâng cấp, hiện đại hóa mới có thể đảmbảo cho thị trường hoạt động một cách nhanh chóng, an toàn và hiệu quả
Trên đây là bốn điều kiện cơ bản để đảm bảo cho thị trường hình thành, phát triển ổnđịnh và bền vững Mức độ phát triển, hoàn thiện của các điều kiện là cơ sở nền tảng cho
sự phát triển của TTCK Các điều kiện này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ ràngbuộc lẫn nhau Nếu như yếu tố kinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật là nền tảng, yếu tố pháp
lý là công cụ, yếu tố tâm lý là động lực thì yếu tố con người là bao trùm lên tất cả các yếu
tố đó Có đủ các yếu tố nêu trên là điều kiện đảm bảo TTCK hoạt động đều đặn, lànhmạnh, có hiệu quả và ngày càng phát triển
Trang 21- “Chứng khoán là một tài sản xác định về số lượng và có khả năng trao đổi, hoặcmột công cụ có thể trao đổi đại diện cho giá trị tài chính"
- “Chứng khoán là một văn bản pháp lý, chứng nhận cho người cầm giữ nó có nhữngnhững quyền nhất định đối với một loại tài sản nào đó"
- “Chứng khoán là thuật ngữ dùng để chỉ các chứng từ có giá xác nhận khoản tiền màngười chủ sở hữu đã bỏ ra để được quyền hưởng các khoản lợi tức nhất định theo những
kỳ hạn nhất định”
- “Chứng khoán là các công cụ xác nhận quyền chủ sở hữu (cổ phiếu) hoặc quyềnchủ nợ (trái phiếu) đối với tổ chức phát hành”
- Theo Luật Chứng khoán của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Việt Nam thì ‘‘chứng khoán là bằngchứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốncủa tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi
sổ hoặc dữ liệu điện tử ’’
Dù ghi nhận chứng khoán ở góc độ nào, theo cách nào, thì chứng khoán cũng đại
biểu cho một số tiền nhất định mà người đầu tư đã ứng ra với mục đích là nó sẽ đem lại cho người sở hữu các quyền và lợi ích nhất định Tùy theo loại chứng khoán đầu tư mà
người sở hữu chứng khoán có được các quyền và lợi ích khác nhau Nếu đầu tư mua cổphiếu, nhà đầu tư có quyền là người chủ sở hữu một phần vốn của công ty cổ phần, đượchưởng thu nhập do cổ phiếu mang lại đó là cổ tức Nếu đầu tư mua trái phiếu, nhà đầu tư
có quyền là chủ nợ đối với tổ chức phát hành, được hưởng thu nhập do trái phiếu mang lại
đó là trái tức Ngoài ra, nhà đầu tư còn có quyền chuyển nhượng chứng khoán do mình
nắm giữ theo các quy định của pháp luật Vì thế, chứng khoán có thể được mua bán và
được lưu thông với tư cách là hàng hoá trên TTCK
Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà chứng khoán có thể pháthành theo một, hai hoặc cả ba hình thức kể trên Ở những nước phát triển, chứng khoánthường được phát hành dưới hình thức bút toán ghi số và dữ liệu điện tử Ở những nướckém phát triển, chứng khoán thường được phát hành dưới hình thức chứng chỉ
● Phân loại chứng khoán
Chứng khoán có nhiều loại Tùy theo các tiêu thức phân loại mà có thể chia chứngkhoán thành các loại khác nhau
+ Theo khả năng chuyển nhượng, chứng khoán được phân thành chứng khoán ghi
danh (ghi tên) và chứng khoán vô danh (không ghi tên)
- Chứng khoán ghi danh là loại chứng khoán có ghi tên người chủ sở hữu Loạichứng khoán này có được phép chuyển nhượng nhưng phải tuân theo những quy địnhpháp lý cụ thể về chuyển nhượng quyền sở hữu, như: thủ tục xác nhận của tổ chức pháthành, hoặc của cơ quan công chứng
Trang 22- Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi tên người chủ sở hữu Loạichứng khoán này được chuyển nhượng dễ dàng, không phải tuân theo những quy địnhpháp lý cụ thể về chuyển nhượng quyền sở hữu Người mua có trách nhiệm chi trả chongười bán theo giá cả đã được xác định.
+ Theo tính chất sở hữu và nguồn gốc của chứng khoán, các chứng khoán được
phân thành chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, chứng khoán phái sinh
- Chứng khoán vốn (Equity Securities): là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợiích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn của tổ chức phát hành Người muachứng khoán này (cổ phiếu - stock / share hoặc các loại chứng khoán khác đại diện chomột tỉ lệ sở hữu) có vai trò là người chủ sở hữu một phần vốn của tổ chức phát hành chứngkhoán
- Chứng khoán nợ (Debt Securities): là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi íchhợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành Người muachứng khoán này (tín phiếu kho bạc /treasury Bond, kỳ phiếu ngân hàng / banknote, tráiphiếu / bond ) có vai trò là người chủ nợ, người cho vay đối với tổ chức phát hành chứngkhoán Tổ chức phát hành có nghĩa vụ trả cho người sở hữu chứng khoán nợ một khoảntiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong những khoảng thời gian đã xác định
- Chứng khoán phái sinh (Derivatives Securities) là các công cụ tài chính có nguồngốc từ chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ với chứng khoán gốc như : quyền mua cổ phần/ rights certificate, chứng quyền / warrants, quyền chọn / options, hợp đồng kì hạn /forward, hợp đồng tương lai / future, hợp đồng hoán đổi / swap
+ Theo đặc điểm thu nhập do chứng khoán mang lại, chứng khoán được chia
thành : chứng khoán có thu nhập cố định (trái phiếu có lãi suất cố định, cổ phiếu ưu đãi),chứng khoán có thu nhập biến đổi (trái phiếu có lãi suất thả nổi, cổ phiếu thường)
2.1.2 Các đặc trưng cơ bản của chứng khoán
Chứng khoán có nhiều loại, mỗi loại có những điểm khác nhau nhất định, nhưngchúng đều có các đặc trưng cơ bản sau :
● Tính sinh lợi (Yield)
Tính sinh lợi của chứng khoán là khả năng đem lại thu nhập cho người sở hữu chúng
Các chứng khoán luôn chứa đựng một khả năng sinh lợi nhất định bởi lẽ khi pháthành ra chúng, nhà phát hành luôn hứa hẹn, cam kết một khoản thu nhập sẽ thanh toán chonhà đầu tư, chính vì điều này mà nhà đầu tư mới bỏ vốn mua chứng khoán với tư cách làmột hoạt động đầu tư
Với các loại chứng khoán khác nhau thì mức độ và tính chất các khoản thu nhập màchứng khoán đem lại cho người nắm giữ cũng khác nhau Có những loại chứng khoán màthu nhập của nó cho nhà đầu tư tương đối ổn định trong suốt thời gian đầu tư, ngược lại cónhững loại chứng khoán mà thu nhập của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng, hiệuquả các hoạt động kinh tế của tổ chức phát hành, cũng như tình hình quan hệ cung cầu loạichứng khoán đó trong nền kinh tế Đối với cổ phiếu, người nắm giữ cổ phiếu sẽ đượchưởng cổ tức hàng năm khi công ty cổ phần hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả vàquyết định chi trả cổ tức cho cổ đông, ngoài ra họ còn có thể có thêm một khoản thu nhậptiềm năng trong tương lai dưới dạng chênh lệch giá chứng khoán nếu giá thị trường của cổphiếu tăng Đối với trái phiếu, theo các kỳ hạn cam kết của tổ chức phát hành, các trái chủđược quyền nhận trái tức, ngoài ra họ cũng có thể nhận thêm một khoản thu nhập thứ hai
là chênh lệch giá nếu giá thị trường cuả trái phiếu đó tăng lên
Trang 23hệ thống), và cũng có những rủi ro riêng gắn liền với từng loại chứng khoán nhất định (rủi
ro không hệ thống) Các chứng khoán khác nhau, thì mức độ và tính chất rủi ro sẽ khácnhau Khi đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư có thể gặp các loại rủi ro sau:
+ Rủi ro vỡ nợ: là rủi ro xảy ra khi người phát hành chứng khoán không thể thực
hiện thanh toán đúng hạn các khoản lãi và gốc cho người mua chứng khoán Rủi ro vỡ nợ
có thể do rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính của tổ chức phát hành
+ Rủi ro lạm phát: Trong lĩnh vực đầu tư vào các công cụ tài chính, lạm phát làm cho
mức sinh lời danh nghĩa có sự khác biệt so với mức sinh lời thật Khi mức sinh lời danhnghĩa nhỏ hơn sự mất giá của đồng tiền thì đó chính là rủi ro lạm phát
+ Rủi ro hối đoái: khi nhà đầu tư trong nước mở rộng đầu tư chứng khoán trên thị
trường vốn quốc tế, nếu sức mua của đồng ngoại tệ tại thời điểm thu hồi vốn đầu tư giảm
so với lúc bỏ vốn đầu tư, sẽ làm cho nhà đầu tư bị thiệt thòi khi chuyển sang đồng bản tệ
+ Rủi ro thị trường: là những rủi ro do biến động trên TTCK gây ra dẫn đến giảm giá
chứng khoán, giảm tính thanh khoản của chứng khoán
+ Rủi ro kĩ thuật: là những rủi ro do các sự cố kĩ thuật, hoặc kĩ năng tác nghiệp của
những người hành nghề chứng khoán gây nên
+ v.v…
Các loại rủi ro liên quan đến đầu tư chứng khoán rất đa dạng Hiểu rõ, tiên liệu vàsẵn sàng có các giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, phòng chống rủi ro là điều kiện có ýnghĩa quan trọng khi quyết định đầu tư vào chứng khoán Hơn thế nữa, trên TTCK, hànghóa được giao dịch rất phong phú làm gia tăng cơ hội lựa chọn cho các nhà đầu tư Songvấn đề đặt ra là sự lựa chọn đó xuất phát từ những căn cứ nào? Rủi ro của chứng khoán làmột trong những căn cứ quan trọng mà các nhà đầu tư phải tính toán, so sánh để có mộtquyết định tối ưu cho đầu tư của mình
● Tính thanh khoản (Liquidity)
Tính thanh khoản của chứng khoán (còn được gọi là tính hoán tệ, tính lỏng, tính lưu thông) là khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền của người nắm giữ chứng khoán
Các chứng khoán khác nhau thì có tính thanh khoản khác nhau Một chứng khoánđược coi là có tính thanh khoản cao nếu nó có thể chuyển đổi thành tiền một cách dễ dàngtrong thời gian ngắn và không có rủi ro sụt giảm giá trị tiền tệ của chứng khoán đó
Tính thanh khoản của mỗi chứng khoán cao hay thấp phụ thuộc vào:
+ Thời gian và chi phí cho việc chuyển đổi chứng khoán thành tiền,
+ Việc đảm bảo, duy trì giá trị ban đầu của chứng khoán
Ba đặc trưng: tính sinh lợi, tính rủi ro, tính thanh khoản nói trên của chứng khoán cómối liên hệ chặt chẽ với nhau Thông thường, các chứng khoán có rủi ro tiềm ẩn cao thìkhả năng sinh lợi cao Đó chính là yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư nắm giữ các chứng khoán cómức rủi ro dự kiến cao Giữa khả năng sinh lợi và tính hoán tệ cũng có mối liên hệ mậtthiết Các chứng khoán có tính hoán tệ cao thì mức sinh lời thấp đồng thời ít rủi ro Vì vậycác nhà đầu tư thường chọn các chứng khoán có tính hoán tệ cao, bởi những chứng khoánnày thường có lợi thế trong giao dịch Bất cứ lúc nào người nắm giữ chứng khoán cũng cóthể bán nó với thời gian ngắn nhất, ở mức giá hợp lý nhất
Trang 24Tính sinh lợi của chứng khoán đã thu hút một số lượng nhất định nhà đầu tư nắm giữchúng Tuy nhiên, tính rủi ro lại là yếu tố tác động buộc họ phải cân nhắc xem lúc nào thìnên đầu tư nắm giữ chứng khoán và lúc nào nên rút vốn đầu tư Còn tính thanh khoản củachứng khoán sẽ chuyển hoá hình thức đầu tư trung và dài hạn thành ngắn hạn, làm linhhoạt hoá các công cụ đầu tư, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chứng khoán có thể thu hồivốn đầu tư hoặc di chuyển vốn đầu tư một cách dễ dàng
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu các đặc trưng của chứng khoán
- Không loại chứng khoán nào có lợi thế tuyệt đối Vì vậy, nghiên cứu các đặc trưngcủa chứng khoán giúp người đầu tư lựa chọn loại chứng khoán phù hợp với tâm lý, khảnăng tài chính và kết quả phân tích, đánh giá, dự báo về mỗi loại chứng khoán trong từngthời kì
- Mỗi nhà đầu tư có tâm lý khác nhau Để phát triển TTCK, nhà nước cần có cơ chế
tổ chức, quản lí phát hành thích hợp nhằm đa dạng hóa các loại chứng khoán phát hành.Đây cũng là điều kiện quan trọng để khai thác triệt để tiềm năng cung ứng vốn của nềnkinh tế, nâng cao khả năng huy động vốn cho các tổ chức phát hành
2.2 CÁC LOẠI CHỨNG KHOÁN
2.2.1 Trái phiếu (Bonds)
2.2.1.1 Khái niệm
Có thể nhìn nhận trái phiếu theo nhiều cách khác nhau
- Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận khoản nợ vay của nhà phát hành đối vớingười nắm giữ trái phiếu, nhà phát hành phải hoàn trả vốn vay gốc và lãi đầy đủ, đúng hạnnhư đã cam kết trong trái phiếu
- Trái phiếu là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (bên vay)phải trả cho người nắm giữ trái phiếu (bên cho vay) một khoản tiền xác định bao gồmkhoản cho vay ban đầu và lãi trong những khoảng thời gian cụ thể
- Trái phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, chứng nhận người sở hữu trái phiếu(trái chủ) đã cho người phát hành trái phiếu vay một số tiền nhất định, theo các điều kiệnnào đó
- Theo Luật Chứng khoán của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 thì ‘‘trái phiếu là loại chứng khoán xác nhậnquyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức pháthành’’
Trái phiếu là hàng hoá được mua bán trên thị trường Vì vậy, khi phát hành cũng nhưkhi đầu tư, người phát hành và người đầu tư cần hiểu rõ các thuật ngữ sau:
- Trái chủ: Chủ sở hữu trái phiếu, là người bỏ vốn mua trái phiếu
- Mệnh giá trái phiếu (Nominal Principal / Face Amount / Face of Value): Mệnh giá
trái phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu Mệnh giá trái phiếu thường đượcghi trên trái phiếu, là số tiền mà tổ chức phát hành căn cứ vào đó để xác định trái tức (lợitức trái phiếu) phải trả cho trái chủ Mệnh giá cũng thể hiện số tiền người phát hành phảihoàn trả khi trái phiếu đến hạn thanh toán
- Giá phát hành (Issue Price): Là giá bán của trái phiếu khi phát hành (giá mà nhà
đầu tư mua trái phiếu khi nó được phát hành) lần đầu tiên Số tiền thuần mà tổ chức pháthành nhận được là hiệu số giữa giá phát hành và phí phát hành Thông thường, giá pháthành được xác định theo tỷ lệ % của mệnh giá Tuỳ theo tình hình của thị trường và điềukiện của người phát hành, tuỳ theo khoảng thời gian cách quãng giữa ngày bán trái phiếu
và ngày phát hành mà giá phát hành trái phiếu có thể là 1 trong 3 trường hợp: hoặc giá
Trang 25phát hành bằng mệnh giá (ngang giá trái phiếu), hoặc giá phát hành cao hơn mệnh giá (giágia tăng), hoặc giá phát hành nhỏ hơn mệnh giá (giá chiết khấu).
- Thị giá trái phiếu: Là giá trái phiếu được giao dịch, mua bán trên thị trường tại một
thời điểm nhất định
- Thời hạn của trái phiếu (Term to Maturity / Maturity): là khoảng thời gian kể từ
ngày phát hành trái phiếu đến ngày tổ chức phát hành hoàn trả số tiền gốc cho trái chủ.Ngày mà khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu.Thông thường, trái phiếu có thời hạn > 10 năm gọi là trái phiếu /Bonds, trái phiếu có thờihạn từ 1 đến 10 năm gọi là Notes, trái phiếu có thời hạn < 1 năm gọi là tín phiếu / Bills
- Kỳ trả lãi (Coupon Dated): Là khoảng cách (thời gian) giữa 2 thời điểm liên tiếp
mà tại đó người phát hành trả lãi cho trái chủ Lãi suất trái phiếu thường được công bốtheo năm, nhưng việc thanh toán lãi trái phiếu có thể được thực hiện 6 tháng một lần
- Lợi tức trái phiếu (còn gọi là trái tức hay tiền lãi của trái phiếu): là số tiền lãi mà
trái chủ thu được từ trái phiếu theo kỳ hạn trả lãi cam kết của tổ chức phát hành
- Lãi suất (coupon)
Khi phát hành trái phiếu tổ chức phát hành thường công bố trước mức lãi suất mà họ
sẽ trả cho nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu Đó chính là lãi suất danh nghĩa
+ Lãi suất danh nghĩa (Nominal Interest) là tỷ lệ lãi suất mà tổ chức phát hành camkết trả cho trái chủ Lãi suất danh nghĩa thường được công bố theo một kỳ hạn nhất định,phổ biến là một năm Thường thì lãi suất này cố định cho đến khi đáo hạn, tuy nhiên nóvẫn có thể thay đổi theo chỉ số thị trường tiền tệ hoặc theo thỏa thuận giữa tổ chức pháthành và trái chủ Lãi suất danh nghĩa là căn cứ để xác định lợi tức của trái phiếu
Lợi tức trái phiếu = Lãi suất (danh nghĩa) x Mệnh giá
Khi đầu tư trái phiếu, ngoài lãi suất danh nghĩa, nhà đầu tư cần quan tâm đến lãi suấthiện hành, lãi suất hoàn vốn, lãi suất đáo hạn, lãi suất kì hạn
+ Tỉ suất lãi hiện hành / lãi suất hiện hành (Current Yield - CY): là tỷ lệ % giữa tổng
số tiền lãi trong năm với giá thị trường hiện hành Tỉ suất lãi hiện hành có thể lớn hơn, nhỏhơn hoặc bằng lãi suất danh nghĩa
Tổng thu nhập
Tỉ suất lãi hiện hành =
Thị giá
Tìm hiểu về các phép toán tài chính trong phân tích chứng khoán
- Lãi đơn: Là số tiền lãi chỉ tính trên số vốn gốc mà không tính trên số tiền lãi do sốvốn gốc sinh ra
Công thức: Si = Po (i) x n
Trong đó Si là lãi đơn, Po(i) là tiền gốc, n là số năm
- Lãi kép: Là số tiền không chỉ tính trên vốn gốc mà còn tính trên số tiền lãi do vốngốc sinh ra Nó chính là lãi tính trên lãi hay còn gọi là lãi kép
- Giá trị tương lai của một số tiền hiện tại
Giá trị tương lai của môt số tiền hiện tại chính là giá trị của số tiền này ở thời điểmhiện tại cộng với số tiền lãi mà nó sinh ra trong một khoảng thời gian từ hiện tại cho đếnmột thời điểm nào đó trong tương lai
Công thức: FVn = Po x (1+i)n
FV1 = Po + Po i = Po (1+i)
Trang 26FV2 = FV1+ FV1i = Po(1+i) +Po(1+i)x i = Po(1+i)(1+i) = Po (1+i)2
……….
Ví dụ: FV10 = 1000$ x (1+8%) 10 = 2159$
- Giá trị của một số tiền trong tương lai: Để có số tiền đó trong tương lai thì phải bỏ
ra bao nhiêu tiền ở hiện tại
Công thức: PVo = FVn / (1+i)n
Ví dụ: PVo = 1000 / 1+8%) 10 = 794$
- Xác định yếu tố lãi suất
- Xác định yếu tố kỳ hạn
- Giá trị thời gian của dòng tiền tiệ
+ Dòng tiền tệ: Là một chuỗi các khoản thu nhập hoặc chi trả xảy ra qua một sốthời kỳ nhất định
Dòng niên kim: Là dòng tiền tệ bao gồm các khoản bằng nhau xảy ra qua một sốthời kỳ nhất định
Dòng tiền tệ hỗn tạp: Là dòng tiền tệ không bằng nhau xảy ra qua một số thời kỳnhất định
+ Thời giá của dòng tiền tệ
Giá trị tương lai của dòng niên kim: Là tổng giá trị tương lai của từng khoản tiền Txảy ra ở từng thời điểm n khác nhau
n
m i
Số tiền Thời điểm n Giá trị tương lai ở thời điểm n
1
………
+ Lãi suất hoàn vốn (Internal Rate of Return - IRR): Là lãi suất y nào đó làm chogiá trị hiện tại của các khoản tiền thu được trong tương lai bằng lượng tiền bỏ ra mua tráiphiếu ở hiện tại
CF1 CF2 CFn-2 CFn-1 CFn n CFt
Pb = - + - + … + - + - + - = -
(1+y)1 (1+y)2 (1+y)n-2 (1+y)n-1 (1+y)n t=1 (1+y)t
Trong đó: Pb là giá mua trái phiếu, CFt khoản tiền thu được trong năm thứ t, n là sốnăm
Qua công thức trên cho thấy, lãi suất hoàn vốn của trái phiếu là thước đo mức sinhlời của trái phiếu có tính đến yếu tố thời gian và giá mua trái phiếu Khi giá mua thay đổi
Trang 27thì lãi suất hoàn vốn cũng thay đổi theo Khi giá trái phiếu có lãi suất cố định bằng mệnhgiá của nó thì lãi suất hoàn vốn bằng với lãi suất danh nghĩa của trái phiếu.
Giá trái phiếu và lãi suất hoàn vốn có tương quan nghịch đảo, khi giá trái phiếugiảm thì lãi suất hoàn vốn tăng và ngược lại
Ví dụ: Một trái phiếu có lãi suất cố định 10%/ năm, mệnh giá 100.000đ, thời hạn 10năm Nếu mua trái phiếu ở mức giá khác nhau thì lãi suất hoàn vốn khác nhau
C C C C F n 1 F
PV = - + - + … + + - + - = C +
(1+y)1 (1+y)2 (1+y)n-1 (1+y)n (1+y)n t=1 (1+y)t (1+y)n
Trong đó: PV là giá trái phiếu, n là số kì trả lãi, C là tiền lãi của một kì trả lãi, F làmệnh giá trái phiếu, y là lãi suất đáo hạn
Lãi suất đáo hạn có thể xác định theo công thức gần đúng sau:
Trong đó: i1, i2 : mức lãi suất lựa chọn (i2> i1 và i2- i1≤ 1%)
NPV1: giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất i1 ; NPV1>0
NPV2: giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất i2 ; NPV2<0
Lãi suất đáo hạn là đại lượng được sử dụng thường xuyên để đo lường mức sinh lờithực tế của trái phiếu Trên thị trường trái phiếu ở các nước, lãi suất đáo hạn của nhữngtrái phiếu chủ yếu thường được niêm yết hàng ngày và được công bố trên các phương tiệnthông tin đại chúng Vì vậy, lãi suất đáo hạn chính là một công cụ phân tích đầu tư rất hữuích trong hoạt động kinh doanh mua bán chứng khoán
+ Tỉ lệ thu nhập trên số tiền đầu tư / Lãi suất kì hạn: Một nhà đầu tư có thể khôngnắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn Họ mua trái phiếu và nắm giữ đến một ngày nhấtđịnh sau đó bán trái phiếu đi Khoản tiền lãi mà nhà đầu tư có thể nhận được trong thờigian nắm giữ có thể bao gồm: tiền lợi tức trái phiếu tính theo mệnh giá và lãi suất, cáckhoản lãi hay lỗ từ chênh lệch giá bán và giá mua trái phiếu (còn gọi là lãi vốn)
Lãi suất kì hạn đo lường mức sinh lời khi nắm giữ một trái phiếu trong một kì hạnnhất định và được xác định theo công thức sau:
Trang 28- Phí suất: là một khái niệm được sử dụng để xác định chi phí (giá cả) thực tế mà
người phát hành phải chi trả cho việc sử dụng một đơn vị tiền vay Nó được xác định bằng
tỷ lệ % giữa tổng chi phí vay thực tế mà người phát hành phải trả trong một năm với giábán (giá phát hành) trái phiếu Chi phí vay thực tế phải trả bao gồm: lãi trái phiếu, chi phíphát hành, hoa hồng trả các tổ chức bảo lãnh, v.v,
Việc nghiên cứu các thuật ngữ liên quan tới trái phiếu có có ý nghĩa quan trọng, bởi
nó là những căn cứ ban đầu giúp các tổ chức phát hành cũng như các nhà đầu tư có thểđưa ra các quyết định tối ưu cho mình Đối với tổ chức phát hành, nó là cơ sở để lựa chọncác hình thức và phương thức phát hành có lợi nhất, giảm thiểu chi phí phát hành và huyđộng vốn nhanh nhất phù hợp với thực tế cung cầu vốn trên thị trường Đối với các nhàđầu tư, việc lựa chọn loại trái phiếu, thời hạn đầu tư… sẽ là những tiêu chí quan trọng đểxác định hiệu quả vốn đầu tư cũng như rủi ro mà họ phải chấp nhận trong tương lai
2.2.1.2 Đặc điểm của trái phiếu
Thực chất phát hành trái phiếu là một hình thức vay nợ, người vay phát hành mộtchứng chỉ (hoặc sử dụng các bút toán ghi sổ, hoặc các dữ liệu điện tử) trong đó xác định
số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay và phương thức trả nợ Chính vì vậy, trái phiếu cónhững đặc điểm sau:
- Trái phiếu là chứng khoán nợ và có thời hạn Đến ngày đáo hạn, người sở hữu tráiphiếu được hoàn trái
- Thông thường trái phiếu có lợi tức được xác định trước Tùy theo từng loại tráiphiếu mà lợi tức có thể là cố định hoặc thay đổi theo lãi suất thị trường
- Mệnh giá trái phiếu luôn được thể hiện trên bề mặt của trái phiếu
- Trái phiếu có thể chuyển nhượng cho người khác sở hữu
- Quan hệ kinh tế - tài chính phát sinh giữa người nắm giữ trái phiếu và tổ chức pháthành là quan hệ giữa chủ nợ và khách nợ
2.2.1.3 Phân loại trái phiếu
Trang 29Trái phiếu công ty bao gồm nhiều loại như: trái phiếu không có đảm bảo, trái phiếu
có đảm bảo, trái phiếu thu nhập, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có thể thu hồi Mỗi loạithường chỉ khác nhau một số chi tiết nhỏ
- Trái phiếu không có bảo đảm (Non Secured Bond): là loại trái phiếu khá thôngdụng, nó được bảo đảm bằng uy tín của doanh nghiệp phát hành
- Trái phiếu được bảo đảm (Secured Bond) là trái phiếu mà doanh nghiệp đem tài sản
cụ thể của mình đảm bảo cho khả năng hoàn trả vốn cho trái chủ Việc phát hành sẽ thôngqua một tổ chức tài chính có khả năng bảo lãnh phát hành Nếu doanh nghiệp không thanhtoán trái phiếu đúng hạn thì trái chủ có quyền yêu cầu các cơ quan chức năng phát mại tàisản đó để thu hồi vốn và trái tức
- Trái phiếu cầm cố (Mortage Bond) là trái phiếu được phát hành trên cơ sở vật cầm
cố của doanh nghiệp, thường là bất động sản
- Trái phiếu được bảo lãnh (Guaranteed Bond) là trái phiếu được một tổ chức khácđứng ra bảo lãnh thanh toán trái tức và vốn của trái phiếu đó khi trái phiếu không đượcthanh toán đúng hạn Tổ chức bảo lãnh thường là các ngân hàng, công ty tài chính, công tybảo hiểm
- Trái phiếu thu nhập (Income Bond) là loại trái phiếu mà việc thanh toán lãi tráiphiếu cho trái chủ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phát hành; có lãithì chia, không có lãi thì thôi, không có quy định tích lũy trái tức Loại trái phiếu nàythường phát hành khi doanh nghiệp mới phục hồi, giá bán của nó thường thấp hơn mệnhgiá
- Trái phiếu chuyển đổi (Convertible Bond) là loại trái phiếu có thể chuyển đổi sang
cổ phiếu thường nếu như nó đáp ứng được các điều kiện chuyển đổi Việc phát hành loạitrái phiếu này nhằm làm tăng tính hấp dẫn cho đợt phát hành Khi phát hành tổ chức pháthành thường quy định giá chuyển đổi, tỉ lệ chuyển đổi, thời gian chuyển đổi
Giá chuyển đổi (Conversion Price - CP) có thể cố định trong suốt thời hạn của tráiphiếu, hoặc thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể
Ví dụ: một trái phiếu chuyển đổi có thời hạn 20 năm, trên trái phiếu quy định 5 nămđầu giá chuyển đổi là 2 USD một cổ phiếu thường; 5 năm kế tiếp là 2,5 USD; 10 năm cònlại là 3 USD một cổ phiếu thường
Giá chuyển đổi cũng có thể quy định theo số lượng cổ phiếu được chuyển đổi Ví dụ:
50 cổ phiếu đầu tiên chuyển đổi theo giá 2 USD, 100 cổ phiếu tiếp theo chuyển đổi theogiá 3 USD
Tỉ lệ chuyển đổi (Conversion Ratio - CR) là số lượng cổ phiếu có thể chuyển đổi từtrái phiếu và có thể tính theo công thức: CR = F / CP (trong đó F là mệnh giá trái phiếu)
Ví dụ: Trái phiếu mệnh giá 1000.000 đ, giá chuyển đổi là 100.000 đ thì tỉ lệ chuyểnđổi là 1000.000 / 100.000 = 10 Như vậy cứ 1 trái phiếu thì chuyển đổi được 10 cổ phiếuhay có thể nói tỉ lệ chuyển đổi là 1:10
Tại thời điểm chuyển đổi, nếu giá thị trường của trái phiếu ngang bằng với giá thịtrường của số cổ phiếu được chuyển đổi thì việc chuyển đổi là ngang giá Nếu giá thịtrường của trái phiếu nhỏ hơn giá thị trường của số cổ phiếu được chuyển đổi thì việcchuyển đổi có lợi cho nhà đầu tư và ngược lại
Ví dụ: Vào thời gian hiệu lực của việc chuyển đổi, giá thị trường của trái phiếu nêutrên là 1.200.000 đ; Giá cổ phiếu được chuyển đổi là 150.000 đ Tổng giá thị trường của
số cổ phiếu được chuyển đổi là 10 x 150.000 = 1.500.000 đ Trong trường hợp này, nhàđầu tư nên thực hiện việc chuyển đổi, vì việc chuyển đổi mang lại cho nhà đầu tư mộtlượng giá trị gia tăng 300.000 đ / 1 trái phiếu chuyển đổi
Trang 30- Trái phiếu có thể thu hồi (còn gọi là trái phiếu hoàn vốn - Callable Bond) là loại tráiphiếu mà doanh nghiệp có thể hoàn vốn cho trái chủ trước thời hạn Việc hoàn vốn này cóthể xảy ra bất cứ lúc nào trong thời hạn của trái phiếu, hoặc cũng có thể quy định sau mộtthời hạn nào đó kể từ khi phát hành.
♦ Trái phiếu Chính phủ (Government Bond) và trái phiếu chính quyền địa phương.
Đây là công cụ vay nợ của Chính phủ hay chính quyền địa phương nhằm bù đắp thiếu hụtngân sách và xây dựng các công trình công cộng
Thông thường, Chính phủ giao cho Bộ Tài chính phát hành TPCP và Bộ Tài chínhcũng chịu trách nhiệm trả nợ các loại trái phiếu này TPCP là loại an toàn nhất vì có nguồnngân sách của Chính phủ đảm bảo, vì vậy giá TPCP trên thị trường thường ít biến động.Các loại trái phiếu ngắn hạn có thể do Ngân hàng Trung ương phát hành theo sự uỷ nhiệmcủa Bộ Tài chính Loại trái phiếu này không chỉ nhằm mục đích vay vốn cho ngân sáchquốc gia mà còn nhằm thực hiện chính sách tiền tệ, khắc phục tình trạng lạm phát, đảmbảo hợp lý khối lượng tiền trong lưu thông
TPCP và chính quyền địa phương có nhiều loại như: tín phiếu kho bạc (TreasuryBill), tín phiếu kho bạc trung hạn (Treasury Notes), trái phiếu kho bạc (Treasury Bond),công trái quốc gia, trái phiếu công trình (còn gọi là trái phiếu đầu tư), v.v
● Căn cứ vào phương thức trả lãi
- Trái phiếu trả lãi trước (còn gọi là trái phiếu chiết khấu): là loại trái phiếu khi phát
hành, tổ chức phát hành thanh toán ngay tiền lãi trái phiếu cho người mua bằng cách khấutrừ tiền lãi vào mệnh giá
Trái phiếu này có đặc điểm là được phát hành theo giá chiết khấu, tiền lãi được thanhtoán một lần vào thời điểm phát hành, khi đến hạn thanh toán, tổ chức phát hành chỉ hoàntrả số tiền bằng mệnh giá của trái phiếu
Ví dụ: Tín phiếu kho bạc mệnh giá 100.000 đ, thời hạn một năm, lãi suất 10% / năm,phát hành theo hình thức chiết khấu Giá phát hành (giá mua trái phiếu khi phát hành) là:100.000 đ – 10% x 100.000 đ = 90.000 đ
Đến ngày đáo hạn, tổ chức phát hành (kho bạc nhà nước) sẽ trả cho trái chủ số tiềntheo mệnh giá 100.000 đ
Lãi suất thực (lãi trả sau) của trái phiếu này sẽ là:
(100.000 – 90.000) / 90.000 = 0,1111 hay 11,11% / năm
- Trái phiếu trả lãi định kỳ: là trái phiếu mà trái tức được thanh toán cho trái chủ theo
những định kỳ nhất định nào đó (thông thường là 6 tháng hoặc một năm)
Trái phiếu này được phát hành theo mệnh giá, đến những định kỳ đã cam kết của tổchức phát hành, các trái chủ được thanh toán trái tức tương ứng với thời gian của kỳ trảlãi
- Trái phiếu trả lãi sau: là loại trái phiếu mà toàn bộ trái tức được thanh toán một lần
vào thời điểm trái phiếu đáo hạn Trái phiếu này được phát hành theo mệnh giá Trái tứcđược xác định căn cứ vào mệnh giá, lãi suất, thời hạn của trái phiếu và được thanh toánđồng thời với mệnh giá của trái phiếu cho trái chủ
● Căn cứ vào trái phiếu có kèm phiếu lãi hay không
- Trái phiếu kèm phiếu lãi (Coupon Bond) là loại trái phiếu có cuống lãi (coupon)kèm theo, trên đó ghi lãi suất cùng với thời hạn của trái phiếu Khi trả trái tức, tổ chứcphát hành cắt rời phiếu lãi và trả tiền lãi cho trái chủ
- Trái phiếu không phiếu lãi (Zero - Coupon Bond) là loại trái phiếu hoặc là không cóphiếu lãi đính kèm, hoặc không có trái tức Trái phiếu này được bán với giá thấp hơnmệnh giá, khi hoàn vốn được trả theo mệnh giá Thực chất đây là trái phiếu chiết khấu hay
Trang 31trái phiếu trả lãi trước.
● Căn cứ vào tính chất lãi suất
- Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu có lãi suất được xác định trước và
không thay đổi trong suốt thời gian tồn tại của trái phiếu Với loại trái phiếu này, sau khiđược phát hành, trái tức luôn phải được thanh toán đúng với lãi suất mà tổ chức phát hành
đã cam kết
- Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái phiếu mà tổ chức phát
hành không ấn định một mức lãi suất cố định trong suốt thời hạn lưu hành của trái phiếu.Loại trái phiếu này, lãi suất được xác định căn cứ vào lãi suất trên thị trường vào thời điểmtrả lãi để tính và trả lãi cho trái chủ Hay nói cách khác, lãi suất sẽ được xác định căn cứvào mức độ lạm phát của nền kinh tế và quan hệ cung cầu vốn trên thị trường vào các thờiđiểm trả lãi Trên thực tế khi phát hành trái phiếu lãi suất thả nổi người ta thường sử dụngmột mức lãi suất nào đó (được coi là lãi suất chuẩn, ví dụ như: lãi suất trái phiếu chínhphủ, lãi suất LIBOR - London Interbank Offered Rate, SIBOR - Singapore InterbankOffered Rate ) để tham chiếu và công thêm một mức bù rủi ro nhất định Ví dụ: SIBOR +0,5% đối với trái phiếu kì hạn 1 năm, SIBOR + 2% đối với trái phiếu kì hạn 5 năm
Ngoài ra, có thể phân chia trái phiếu theo một số tiêu thức khác như: căn cứ vào thờigian hoàn vốn, trái phiếu bao gồm: trái phiếu ngắn hạn hạn, trái phiếu trung hạn, trái phiếudài hạn; căn cứ vào khả năng chuyển nhượng, trái phiếu bao gồm: trái phiếu ghi danh, tráiphiếu vô danh, v.v
2.2.2 Cổ phiếu (stocks / shares)
2.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của cổ phiếu
● Khái niệm
Có nhiều cách khái niệm về cổ phiếu
- Cổ phiếu là chứng chỉ, hoặc bút toán ghi sổ, hoặc dữ liệu điện tử chứng nhận quyền
sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần
- Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và các lợi ích hợp pháp của ngườichủ sở hữu đối với một phần vốn của tổ chức phát hành (công ty cổ phần)
- v.v
Dù diễn đạt bằng cách nào thì chúng đều thống nhất với nhau về bản chất, đó là: cổ
phiếu là chứng cứ pháp lý xác định việc đầu tư vốn vào công ty cổ phần và khẳng định các quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ cổ phiếu là người chủ sở hữu một phần vốn của công ty cổ phần.
Cổ phiếu là quyền lực, người nắm giữ cổ phiếu được hưởng các quyền với tư cách làngười chủ sở hữu công ty theo mức độ tương ứng với số lượng cổ phiếu nắm giữ Do vậy
cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn
● Đặc điểm của cổ phiếu
- Cổ phiếu là chứng khoán vốn, xác nhận sự hùn vốn vào công ty cổ phần trênnguyên tắc lời ăn, lỗ chịu
- Cổ phiếu không có kỳ hạn, nó tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty phát hành Cổphiếu chỉ được hoàn vốn một cách trực tiếp khi công ty cổ phần kết thúc thời hạn hoạtđộng hoặc bị phá sản Thông thường cổ phiếu được hoàn vốn một cách gián tiếp bằngcách người nắm giữ bán cổ phiếu ra thị trường
- Cổ phiếu được phát hành khi thành lập công ty cổ phần hoặc khi công ty cần tăngthêm vốn điều lệ để mở rộng kinh doanh, hiện đại hoá sản xuất
- Thông thường, người mua cổ phiếu được quyền nhận cổ tức hàng năm có thể cố
Trang 32định hay biến động tùy theo từng loại cổ phiếu (trừ Voting Share).
- Người mua cổ phiếu sẽ là người sở hữu một phần giá trị của công ty, do đó phảichịu trách nhiệm hữu hạn về sự thua lỗ, phá sản của công ty
- Người mua cổ phiếu được quyền chuyển nhượng cổ phiếu cho người khác
- Người mua cổ phiếu có quyền kiểm soát sổ sách của công ty khi có lý do chínhđáng, phù hợp với điều lệ công ty và luật pháp hiện hành
- Người mua cổ phiếu có quyền được chia phần tài sản còn lại của công ty khi công
ty bị giải thể hoặc phá sản Số tài sản mà họ được quyền nhận lại tương ứng với số cổphiếu mà họ đang nắm giữ
2.2.2.2 Phân loại cổ phiếu
● Theo các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, cổ phiếu bao gồm: cổ
phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
► Cổ phiếu thường (Common/Ordinary shares/stocks)
* Khái niệm cổ phiếu thường:
Cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu phổ thông) là loại cổ phiếu mà người sở hữu nó
có các quyền thông thường của một cổ đông
* Đặc điểm của cổ phiếu thường:
+ Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường được hưởng các quyền và lợi ích cơ bản sau:
- Hưởng cổ tức theo tuyên bố trả cổ tức của hội đồng quản trị ( HĐQT)
Đặc điểm cơ bản nhất của loại cổ phiếu thường là có thu nhập (cổ tức) không đượcxác định trước, mức cổ tức và phương thức chi trả (bằng tiền hay chứng khoán) phụ thuộcvào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và chính sách phân phối cổ tức của công typhát hành Cổ tức (hay lợi tức cổ phần ) là thu nhập hàng năm của cổ phiếu Cổ tức thườngđược xác định và chia theo năm tài chính, nhưng cũng không ít công ty cổ phần quyết toán
cổ tức theo năm tài chính và chia cho cổ đông theo hai, hoặc bốn kỳ trong một năm (6hoặc 3 tháng chia cổ tức một lần)
- Có quyền sở hữu tài sản của công ty theo tỷ lệ % cổ phiếu nắm giữ
- Có quyền tham gia đại hội cổ đông và bỏ phiếu bầu hội đồng quản trị Được quyềnứng cử và đề cử các chức vụ quản lý theo qui chế Có quyền bỏ phiếu biểu quyết (votingright) các vấn đề liên quan đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty trong đại hội cổđông theo chính sách bỏ phiếu của công ty và tỉ lệ cổ phiếu mà cổ đông đang nắm giữ.Nếu không tham gia được họ có thể ủy quyền cho người khác thay mặt biểu quyết
- Kiểm tra sổ sách của công ty khi có lí do chính đáng, phù hợp với quy định củapháp luật và điều lệ của công ty
- Được quyền chuyển nhượng cổ phiếu cho người khác
- Được mua cổ phiếu mới do công ty phát hành theo chính sách ưu đãi của công ty
- Không được ưu tiên chia vốn khi công ty bị giải thể hay phá sản, có nghĩa là việcchia phần tài sản cho cổ đông thường chỉ được thực hiện sau khi công ty trang trải xongcác nghĩa vụ đối với các chủ nợ và cổ đông ưu đãi
+ Trên cổ phiếu chỉ ghi mệnh giá, không ghi cổ tức
* Giá trị của cổ phiếu thường:
- Mệnh giá cổ phiếu: Hầu hết các công ty cổ phần đều ấn định mệnh giá cho mỗi cổphiếu thường Mệnh giá này được in trên tờ cổ phiếu hoặc ghi trong sổ sách kế toán, trongđiều lệ của công ty phát hành Mệnh giá cổ phiếu không liên quan trực tiếp đến giá trị thịtrường của cổ phiếu đó Mệnh giá thể hiện tầm quan trọng nhất của nó vào thời điểm pháthành, là căn cứ để xác định số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành và tính tỉ suất cổ tức danh
Trang 33nghĩa Tuy nhiên, một công ty cổ phần cũng có thể phát hành cổ phiếu không có mệnh giá,chẳng hạn như các cổ phiếu đặc biệt dành cho các sáng lập viên của công ty Cổ phiếu này
có đặc điểm là nó chỉ được hưởng lời sau khi tiền lời thuần tuý đã chia cho các cổ đông(người chủ sở hữu cổ phiếu, đồng sở hữu công ty cổ phần)
- Thị giá cổ phiếu (Market Price): Do cổ phiếu thường có lợi tức không cố định màphụ thuộc vào mức lợi nhuận thu được của công ty cổ phần và chính sách chi trả cổ tứccủa công ty, nên nó là loại chứng khoán có độ rủi ro cao Đây cũng chính là nguyên nhânlàm cho giá cổ phiếu trên thị trường thường biến động mạnh hơn so với các loại chứngkhoán khác Giá hay thị giá cổ phiếu là giá giao dịch, mua bán cổ phiếu trên thị trường vàomột thời điểm xác định Thị giá cổ phiếu có thể bằng, thấp hơn, hoặc cao hơn mệnh giá vàgiá trị sổ sách của cổ phiếu Thị giá cổ phiếu biến động theo thời gian và phụ thuộc vào tácđộng tổng hợp của nhiều yếu tố như: sự tăng trưởng hoặc suy thoái của công ty cổ phần,tình hình kinh tế vĩ mô, tình hình chính trị, lãi suất thị trường… Sau đây là một số nhân tố
cơ bản:
+ Những nhân tố bên trong tổ chức phát hành
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng có thể thấy về cơ bản và lâu dài cácnhân tố thuộc về nội tại tổ chức phát hành là nhân tố có tác động lớn đến thị giá cổ phiếu.Nhân tố cơ bản nhất gây nên sự dao động thị giá cổ phiếu nằm trong sự thay đổi mức thunhập hiện tại (tỉ lệ cổ tức - divident rate, giá trị sổ sách của cổ phiếu hay giá trị doanhnghiệp) và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp Kết quả kinh doanhhiện tại và tương lai của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ trang thiết
bị máy móc và công nghệ, khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường, tiềm lực tài chính,trình độ quản lí của ban lãnh đạo, trình độ chuyên môn và kĩ năng nghề nghiệp của ngườilao động…
+ Những nhân tố bên ngoài tổ chức phát hành: có thể chia thành 2 nhóm nhân tố cơbản: (1) Những thay đổi trong điều kiện chính trị xã hội như chiến tranh, những thay đổitrong bộ máy quản lí, sự tác động của điều kiện tự nhiên, điều kiện văn hóa, khoa học kĩthuật…, (2) Những nhân tố về kinh tế, tiền tệ… Kinh tế trong nước và thế giới tăngtrưởng, khả năng kinh doanh có triển vọng là điều kiện tốt cho hoạt động đầu tư làm chogiá cổ phiếu có xu hướng gia tăng và ngược lại Giá cổ phiếu trên thị trường cũng rất nhạycảm với sự thay đổi của lãi suất và tốc độ lạm phát Lãi suất và lạm phát gia tăng thườngkéo theo sự giảm giá của cổ phiếu…
- Giá trị sổ sách - Book Value (hay thư giá, giá trị tài sản ròng - Net Asset Value) của
cổ phiếu thường (CPT): là giá trị cổ phiếu tính theo số liệu trong sổ kế toán của công tyvào một thời điểm xác định Thư giá cổ phiếu không cố định mà thay đổi theo thời giantùy thuộc vào giá phát hành, kết quả kinh doanh, chính sách chi trả cổ tức, chính sáchphân phối thu nhập giữ lại, số lượng cổ phiếu đang lưu hành của công ty cổ phần
Giá trị sổ sách của 1CPT (NAV) = Tổng vốn CPT / Số CPT đang lưu hành
Số cổ phiếu đang lưu hành: là số cổ phiếu công ty đã bán ra cho nhà đầu tư và công
ty đã thu về được 1 phần hoặc toàn bộ số tiền bán số cổ phiếu đó Đây chính là tổng số cổphiếu do các nhà đầu tư vào công ty đang nắm giữ Tổng số cổ phiếu đang lưu hành tạimột thời điểm nhất định phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Số cổ phiếu được phép pháthành lần đầu và phát hành bổ sung trong quá trình kinh doanh, số cổ phiếu công ty mualại, số cổ phiếu quỹ công ty đã bán ra, số cổ phiếu trả cổ tức cho cổ đông, tình hình tách,gộp cổ phiếu của công ty, tình hình chi trả cổ tức bằng cổ phiếu
Khi một công ty đăng ký vốn điều lệ (lúc thành lập) hoặc đăng ký phát hành cổ phiếu
bổ sung, sẽ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép phát hành một lượng cổ
Trang 34phiếu nhất định Đó là số cổ phiếu được phép phát hành Các công ty có thể không pháthành hết ngay số cổ phiếu được phép phát hành, họ để lại một số để sử dụng về sau (để chitrả cổ tức, để phát hành tiếp khi cần thiết…) Lượng cổ phiếu đã bán ra gọi là cổ phiếu đãphát hành Số cổ phiếu đã phát hành nhưng được công ty mua lại và hiện đang do công tynắm giữ gọi là cổ phiếu quỹ Số cổ phiếu này không có quyền nhận cổ tức, và không đượchưởng các quyền lợi khác (như tham gia ứng cử, bầu cử, biểu quyết…) như các cổ phiếuđang lưu hành
Số cổ phiếu đã phát hành = Số cổ phiếu đang lưu hành + số cổ phiếu quỹ
► Cổ phiếu ưu đãi (Preferred shares/stocks)
* Khái niệm cổ phiếu ưu đãi:
Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu cho phép người nắm giữ nó được hưởng một số quyền lợi
ưu đãi so với cổ đông thường
Có nhiều loại cổ phiếu ưu đãi như ưu đãi về cổ tức, ưu đãi về quyền biểu quyết… trong đó
ưu đãi về cổ tức là loại phổ biến hơn cả
* Cổ phiếu ưu đãi cổ tức có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Quyền ưu tiên về cổ tức và thanh toán khi thanh lý công ty Khác với cổ phiếu thường,
cổ phiếu ưu đãi cổ tức mang lại cho người nắm giữ nó được hưởng một khoản lợi tức cổ phần cố định, được xác định trước mà không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty.Mặt khác cổ đông ưu đãi cũng được nhận cổ tức trước cổ đông thường Khi giải thể hay thanh lý công ty, cổ đông ưu đãi được thanh toán giá trị cổ phiếu của họ trước các cổ đôngthường
- Sự tích lũy cổ tức: Phần lớn cổ phiếu ưu đãi của các công ty phát hành đều là cổ phiếu
ưu đãi tích lũy Điều đó có nghĩa là, nếu một năm nào đó công ty gặp khó khăn trong kinh doanh thì có thể tuyên bố hoãn trả lợi tức cổ phần ưu đãi Số cổ tức đó được tích lũy lại, chuyển sang kỳ kế tiếp và được trả trước khi công ty công bố trả cổ tức cho cổ đông thường Các quy định này được coi là một biện pháp bảo vệ cổ đông ưu đãi
- Không được hưởng quyền bỏ phiếu: không giống với các cổ đông thường, các cổ đông
ưu đãi không được hưởng quyền bỏ phiếu để bầu ra Hội đồng quản trị và biểu quyết quyết định các vấn đề về quản lý công ty Ngoài ra, một số công ty cổ phần ở các nước, khi phát hành cổ phiếu ưu đãi có điều khoản quy định cổ đông ưu đãi có quyền biểu quyết nếu công ty không trả được lợi tức cổ phiếu ưu đãi trong một thời kỳ nhất định, ví dụ: ở Pháp thường quy định nếu 3 tài khóa liền mà công ty không chi trả được lợi tức cổ phiếu ưu đãi thì cổ đông ưu đãi được quyền biểu quyết, và quyền này sẽ hết hiệu lực khi lợi tức cổ phần
nợ những năm trước đã được thanh toán đủ
- Trên cổ phiếu có ghi cổ tức và mệnh giá
* Các loại cổ phiếu ưu đãi cổ tức:
- Cổ phiếu ưu đãi tích luỹ (Cumulative Preferred Stocks)
Là loại cổ phiếu mà nếu một năm nào đó công ty không có lãi để chi trả cổ tức và cổ tức
đó được nợ lại trong năm tới và sẽ được trả gộp luôn cùng với cổ tức năm tới hay sẽ được trả vảo một năm nào đó mà công ty có đủ tiền để trả
- Cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ (Non-Cumulative Preferred Stocks)
Là loại cổ phiếu mà trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ, công ty không có tiền để trả
cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi loại này thì khoản cổ tức đó sẽ bị mất luôn Kỳ hoạt động tiếp theo, dù công ty làm ăn rất hiệu quả, khoản cổ tức chưa chi trả của kì trước cũng không được truy lĩnh mà chỉ chi trả khoản cổ tức của kì hiện hành
- Cổ phiếu ưu đãi tham dự (Participating Preferred Stocks)
Trang 35Là loại cổ phiếu ưu đãi mà ngoài việc nhận cổ tức theo mức đã công bố trước người chủ
sở hữu nó còn được nhận thêm khoản cổ tức đặc biệt nếu năm đó công ty hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao vượt ngưỡng theo quy định
- Cổ phiếu ưu đãi không tham dự (Non-Participating Preferred Stocks)
Là loại cổ phiếu ưu đãi mà người chủ sở hữu chỉ được nhận cổ tức theo mức đã công bố trước, ngoài ra không được nhận thêm khoản cổ tức nào vào những năm công ty hoạt độngkinh doanh có hiệu quả cao
- Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi (Convertible Preferred Stocks)
Là loại cổ phiếu mà khi phát hành có ghi kèm điều khoản cho phép người chủ sở hữu chuyển đổi nó thành một số lượng nhất định cổ phiếu thường Giá cả loại cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổi dao động nhiều hơn các loại cổ phiếu ưu đãi khác vì nó gắn liền với cổ phiếu thường Nếu công ty thành đạt, giá trị cổ phiếu thường trên thị trường tăng lên thì giá cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổi cũng gia tăng tương ứng
- Cổ phiếu ưu đãi có thể thu hồi (Redeemable Preferred Stocks)
Là loại cổ phiếu ưu đãi mà khi phát hành có ghi kèm điều khoản là công ty có thể thu hồi bằng cách bồi hoàn một số tiền, cộng thêm một khoản thưởng nhất định cho người chủ sở hữu Thường thì các công ty sử dụng quyền thu hồi này để thu hồi các cổ phiếu có lãi suất
cổ phần cao và thay thế bằng những cổ phiếu có lãi suất thấp hơn nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty
* Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần có thể phát hành các loại cổ phiếu
ưu đãi sau:
- Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết: loại cổ phiếu này chỉ phát hành cho tổ chức được Chính phủ
ủy quyền và cổ đông sáng lập Thời gian hiệu lực của cổ phiếu là 3 năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sau đó chuyển thành cổ phiếu thường
- Cổ phiếu ưu đãi về cổ tức
- Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại
- Cổ phiếu ưu đãi khác (do điều lệ công ty quy định)
● Theo khả năng thu nhập và trạng thái công ty phát hành
- Cổ phiếu thượng hạng (blue chip stocks)
Cổ phiếu thượng hạng là cổ phiếu do các công ty lớn, có tình hình sản xuất kinh doanh ổn định, có uy tín tên tuổi trên thị trường phát hành và giao dịch Do vậy, đây là loại cổ phiếu
có tính thanh khoản cao Vì thế, giá loại cổ phiếu này thường ổn định và sẽ có xu hướng gia tăng khi lãi suất vay vốn trên thị trường giảm
- Cổ phiếu tăng trưởng (Growth stocks)
Cổ phiếu tăng trưởng do các công ty cổ phần đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh phát hành Đây là những công ty cổ phần có tốc độ tăng thị phần và thu nhập công ty nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Ngược lại với cổ phiếu thượng hạng, cổ phiếu tăng trưởng có tỷ lệ cổ tức thấp, thậm chí có năm không có cổ tức Lý do của đặc trưng này bắt nguồn từ quan điểm tái đầu tư của công ty phát hành muốn giành phần lớn lợi nhuận để tài trợ cho chiến lược phát triển kinh doanh
- Cổ phiếu phòng vệ
Cổ phiếu phòng vệ là cổ phiếu của những công ty mà sự ổn định của chúng hầu như khôngphụ thuộc vào sự suy thoái của nền kinh tế Đó là những công ty sản xuất kinh doanh các hàng hóa thiết yếu cho nhu cầu sinh hoạt như thực phẩm, bánh kẹo, nước giải khát… Trong khi các loại cổ phiếu khác bị giảm giá mạnh khi nền kinh tế suy thoái, thì cổ phiếu phòng vệ thường vẫn giữ giá vì có mức cổ tức ổn định Ngược lại, khi nền kinh tế phát
Trang 36triển, cổ phiếu phòng vệ cũng khó có cơ hội tăng giá như các loại cổ phiếu thông thường khác.
- Cổ phiếu thu nhập (Income stocks)
Cổ phiếu thu nhập có mức cổ tức cao hơn mức trung bình Đây là các lọai cổ phiếu
do các công ty thuộc lĩnh vực công ích phát hành và thường phát hành cho những ngườigià và những người về hưu
- Cổ phiếu chu kì (Cylical stocks)
Cổ phiếu chu kỳ là cổ phiếu của những công ty có lợi nhuận không ổn định mà phụthuộc vào chu kỳ sống sản phẩm của công ty trên thị trường Điển hình là cổ phiếu của cáccông ty thuộc lĩnh vực kinh doanh sắt thép, xi măng, ô tô, máy công cụ,
- Cổ phiếu thời vụ (Seasonal stocks)
Cổ phiếu thời vụ là cổ phiếu của các công ty cổ phần có tính mùa vụ trong họat độngsản xuất kinh doanh Tính thời vụ đã làm cho thu nhập của công ty không ổn định mà biếnđộng theo thời vụ kinh doanh
● Theo quyền tham gia bỏ phiếu biểu quyết trong đại hội đồng cổ đông
- Cổ phiếu đơn phiếu
Cổ phiếu đơn phiếu là loại cổ phiếu được phân bổ một phiếu bầu (voting) cho mỗi cổphiếu Loại cổ phiếu này thường dùng cho doanh nghiệp ít cổ đông (công ty cổ phần tưnhân), bởi vì tất cả các cổ đông đều có thể và có điều kiện tham dự đại hội đồng cổ đôngđầy đủ
- Cổ phiếu đa phiếu
Cổ phiếu đa phiếu là loại cổ phiếu mà số phiếu bầu được phân bổ ít hơn số cổ phiếu(nhiều cổ phiếu trên một phiếu bầu) đang lưu hành Loại cổ phiếu này thường dùng chodoanh nghiệp nhiều cổ đông (công ty cổ phần đại chúng) Tất cả các cổ đông không thểtham dự đại hội đồng để bỏ phiếu biểu quyết các vấn đề quan trọng của công ty Ví dụ:công ty ABC quy định 1000 cổ phiếu/ 1 phiếu bầu Điều đó có nghĩa là cổ đông nào đủ
1000 cổ phiếu sẽ được phân bổ 1 phiếu bầu, nếu không đủ thì phải gộp nhiều cổ đông lại
- Cổ phiếu lưỡng phiếu
Cổ phiếu lưỡng phiếu là loại cổ phiếu mà cổ đông của cổ phiếu này được phân bổ hailoại phiếu bầu Doanh nghiệp phát hành cổ phiếu này thường có ít cổ đông Quyền lưỡngphiếu này thường dành cho các cổ đông có uy tín, có danh phận trong xã hội hoặc trongngành chuyên môn mà doanh nghiệp đó đang kinh doanh
→ Các hình thức bỏ phiếu biểu quyết
Có hai hình thức bỏ phiếu biểu quyết: bỏ phiếu biểu quyết pháp định (StatutoryVoting Right) và bỏ phiếu biểu quyết tích lũy (Cumulative Voting Right)
Quyền bỏ phiếu biểu quyết pháp định là quyền dành cho cổ đông dùng lá phiếu củamình bầu cho các thành viên hội đồng quản trị mà không được dồn phiếu cho một người,hoặc biểu quyết một số vấn đề trong đại hội cổ đông mà không được dồn phiếu một vấn đềnào đó Ví dụ: cổ đông A được phân bổ 200 phiếu biểu quyết để bầu 5 thành viên hội đồngquản trị Cổ đông này dành cho mỗi ứng viên 200 phiếu hoặc không dành phiếu nào màkhông được dồn phiếu cho một người
Quyền bỏ phiếu biểu quyết tích lũy cho phép cổ đông có thể dồn phiếu cho mộtngười nào đó mà mình chọn vào hội đồng quản trị Trường hợp của ông A ở ví dụ trên,ông A có quyền dồn cả 1000 phiếu (200 x 5) để bầu cho 1 người, hoặc 200 phiếu cho ứngviên này, 800 phiếu cho ứng viên khác Cách bỏ phiếu này thích hợp với những công ty cổphần đại chúng và có lợi cho cổ đông nhỏ, vì tuy có ít phiếu bầu, nhưng họ có thể tậptrung phiếu để tăng thêm giá trị quyển bỏ phiếu của mình cho một người hoặc một vấn đề
Trang 37nào đó mà ông ta ưng thuận.
● Theo khả năng chuyển nhượng
- Cổ phiếu ghi danh: Là loại cổ phiếu có ghi tên người nắm giữ Tên và thông tin cá
nhân của chủ sở hữu được đăng ký và quản lý tại công ty phát hành
Cổ phiếu ghi danh không được chuyển nhượng tự do và thường được phát hành chocác sáng lập viên và các thành viên chủ chốt của HĐQT
- Cổ phiếu vô danh: Là loại cổ phiếu không ghi tên người nắm giữ Tên và thông tin
cá nhân của chủ sở hữu được không được lưu giữ và quản lý tại công ty phát hành Cổphiếu vô danh được chuyển nhượng tự do trên TTCK và phát hành rộng rãi ra công chúng
♦ Những đặc trưng của cổ phiếu ưu đãi giống cổ phiếu thường:
- Cùng thể hiện quyền sở hữu đối với công ty
- Không có thời hạn thanh toán vốn gốc
- Lợi tức cổ phần không được tính giảm trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp
- Khi công ty gặp khó khăn trong kinh doanh thu được ít lợi nhuận hoặc không thu được lợi nhuận thì có thể hoãn trả lợi tức cổ phần ưu đãi mà không bị đe dọa bởi nguy cơ phá sản
♦ Những đặc trưng của cổ phiếu ưu đãi giống trái phiếu:
- Cổ phiếu ưu đãi về cổ tức có lợi tức được trả theo mức xác định trước
- Khi công ty thu được lợi nhuận cao thì cổ đông ưu đãi không được tham dự vào việc phân chia phần lợi nhuận cao đó (nếu là cổ phiếu ưu đãi không tham dự), ngược lại nếu công ty kinh doanh sút kém công ty vẫn phải có trách nhiệm thanh toán lợi tức cho cổ đông ưu đãi, tuy nhiên công ty có thể hoãn trả vào kỳ tiếp theo
- Về cơ bản cổ đông ưu đãi không có quyền biểu quyết (trừ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết)
- Khi công ty bị phá sản cổ đông ưu đãi có quyền ưu tiên được phân chia tài sản trước cổ đông thường
♦ Giống và khác nhau giữa cổ phiếu thường và trái phiếu công ty:
Xét trên góc độ doanh nghiệp, cổ phiếu và trái phiếu đều là chứng khoán và là công cụ màdoanh nghiệp có thể sử dụng để huy động vốn Tuy nhiên cổ phiếu thường và trái phiếu cónhững điểm khác nhau cơ bản sau:
- Cổ phiếu là chứng khoán vốn, còn trái phiếu là chứng khoán nợ Việc phát hành
cổ phiếu làm tăng vốn chủ sở hữu, còn phát hành trái phiếu làm tăng nợ
- Cổ phiếu không có kỳ hạn thanh toán, người mua cổ phiếu không thể trực tiếp rút vốn ra khỏi công ty mà chỉ có thể chuyển nhượng cho người khác Trái phiếu có kỳ hạn thanh toán và đã được xác định trước Khi trái phiếu đến hạn thanh toán, công ty có trách nhiệm hoàn vốn cho trái chủ theo mệnh giá
- Nhìn chung lợi tức trái phiếu được xác định trước (cố định hoặc thả nổi lãi suất) không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty cổ phần Lợi tức cổ phiếu phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty Khi công ty thanh lý, giải thể, người mua trái phiếu được thanh toán trước người có cổ phiếu
- Người mua cổ phiếu là cổ đông - chủ sở hữu công ty có quyền quản lý công ty đồng thời cũng là người gánh chịu rủi ro của công ty Còn người mua trái phiếu là người cho vay không có quyền tham gia vào việc quản lý công ty và nói chung không phải chịu rủi ro khi công ty kinh doanh kém hiệu quả Nhưng nếu công ty phát hành bị phá sản thì cũng phải chịu rủi ro mất khả năng thanh toán
Trang 382.2.3 Chứng chỉ quỹ đầu tư
● Sự ra đời của quỹ đầu tư
Trong giai đoạn đầu phát triển của TTCK, các nhà đầu tư trên thị trường chủ yếu làcác nhà đầu tư cá nhân, với đặc trưng là việc đầu tư của họ thường được thực hiện mộtcách độc lập theo ý muốn chủ quan của cá nhân họ Là những nhà đầu tư không chuyênnghiệp, lại hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm đầu tư, mặt khác do quy mô vốn khônglớn nên khó có khả năng đa dạng hóa danh mục đầu tư… Tất cả những điều nêu trên lànguyên nhân làm gia tăng rủi ro tiềm ẩn, giảm khả năng sinh lợi kì vọng trong đầu tưchứng khoán
Quá trình phát triển của TTCK đã dẫn tới sự ra đời của các quỹ đầu tư chứng khoán.Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từviệc đầu tư vào chứng khoán và các loại tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đónhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ.Đây là một định chế tài chính, một tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, thực hiệnhuy động vốn của các cá nhân và tập thể để đầu tư chứng khoán Khác với đầu tư cá nhân,
do có lợi thế về quy mô vốn đầu tư, hơn nữa việc đầu tư được thực hiện bởi những nhàđầu tư chuyên nghiệp, có kiến thức và kinh nghiệm trong đầu tư chứng khoán nên lợinhuận kì vọng thu được từ hoạt động đầu tư này thường cao hơn
Việc hình thành và gia tăng vốn của quỹ đầu tư chứng khoán có thể thực hiện bằngmột trong hai con đường:
- Thứ nhất, Quỹ đầu tư chứng khoán thành lập theo quy chế của một công ty cổ phần(được gọi là công ty đầu tư chứng khoán), có tư cách pháp nhân và có một hội đồng quảntrị để điều hành hoạt động của quỹ Công ty phát hành cổ phiếu cho một số thành viên giớihạn, hoặc phát hành rộng rãi ra công chúng để huy động vốn (hình thành quỹ đầu tư).Người mua cổ phiếu giữ vị trí là các cổ đông, là đồng sở hữu công ty đầu tư chứng khoán
- Thứ hai, Công ty quản lý quỹ phát hành các chứng chỉ quỹ và bán chứng chỉ nàycho các nhà đầu tư để huy động vốn (hình thành quỹ đầu tư) Trong mô hình quỹ này nhàđầu tư sở hữu chứng chỉ quỹ không giữ vị trí là cổ đông mà đơn thuần là người ủy tháccho công ty quản lí quỹ sử dụng vốn huy động được qua phát hành chứng chỉ quỹ để thựchiện hoạt động đầu tư sao cho phù hợp với điều lệ của quỹ và pháp luật hiện hành
● Các loại quỹ đầu tư
Có nhiều loại quỹ đầu tư chứng khoán như quỹ thành viên, quỹ đại chúng, quỹ mở,quỹ đóng…
Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn khôngvượt quá 30 thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân
Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra côngchúng Theo cơ chế hoạt động, quỹ đại chúng thường bao gồm: quỹ mở và quỹ đóng.Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ (hoặc cổ phiếu) đã chào bán ra côngchúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư Chứng chỉ quỹ (hoặc cổ phiếu)được niêm yết và giao dịch trên thị trường thứ cấp giữa các nhà đầu tư mà không làm ảnhhưởng đến quy mô nguồn vốn của quỹ
Quỹ mở (còn gọi là quỹ hỗ tương) là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ (hoặc cổphiếu) đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư Ngườiđầu tư có thể yêu cầu người quản lí mua lại chứng chỉ quỹ đầu tư (hoặc cổ phiếu) của quỹvào bất cứ lúc nào trong khi quỹ vẫn liên tục phát hành chứng chỉ (hoặc cổ phiếu) mới rathị trường Vì vậy số vốn của quỹ không ngừng thay đổi Với đặc điểm này, cổ phiếu haychứng chỉ quỹ không giao dịch trên thị trường thứ cấp mà giao dịch trực tiếp với quỹ hoặc
Trang 39với các đại lý được ủy quyền giao dịch của quỹ.
● Thế nào là chứng chỉ quỹ đầu tư
Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đốivới một phần vốn góp của quỹ đại chúng
Đặc điểm của chứng chỉ quỹ:
- Chứng chỉ quỹ do công ty quản lí quỹ đầu tư phát hành nhằm huy động vốn để đầu
tư chứng khoán hoặc các tài sản khác nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận
- Chứng chỉ quỹ là bằng chứng xác nhận việc góp vốn của nhà đầu tư vào quỹ, do đólợi ích (thu nhập) mà mỗi nhà đầu tư được hưởng phụ thuộc vào kết quả đầu tư của quỹ và
tỉ lệ chứng chỉ quỹ mà nhà đầu tư nắm giữ so với tổng số chứng chỉ quỹ của quỹ đó đanglưu hành
- Tùy theo đặc điểm của mỗi loại quỹ mà nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ có thểthu hồi vốn trực tiếp từ tổ chức phát hành chứng chỉ quỹ, hoặc đem bán chúng trên TTCK
Phân biệt sự giống và khác nhau giữa đầu tư cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán và đầu tư chứng chỉ quỹ do công ty quản lí quỹ phát hành:
Cả hai hình thức đầu tư mua cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán và mua chứngchỉ quỹ có đặc điểm chung: đó là, người đầu tư không trực tiếp thực hiện hành vi đầu tưchứng khoán mà gián tiếp thông qua quỹ, đồng thời được hưởng lợi từ kết quả đầu tư củaquỹ theo tỉ lệ cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ mà họ nắm giữ so với tổng số cổ phiếu hoặcchứng chỉ quỹ đang lưu hành của tổ chức phát hành
Tuy nhiên, giữa hai hình thức đầu tư cũng có những điểm khác nhau Nếu nắm giữ cổphiếu của công ty đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư giữ vai trò là cổ đông, có quyền ứng cử,bầu cử và biểu quyết các vấn đề quan trọng của công ty Ngược lại, nếu sở hữu chứng chỉquỹ do các công ty quản lí quỹ phát hành, nhà đầu tư không được quyền tham gia vào quátrình ra các quyết định đầu tư của quỹ với tư cách là đồng sở hữu mà chỉ thuần túy làngười ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ
2.2.4 Các chứng khoán phái sinh (Derivatives)
Chứng khoán phái sinh là những chứng khoán được hình thành trên cơ sở các chứng
khoán gốc (cổ phiếu, trái phiếu) nhằm các mục tiêu khác nhau như: bảo vệ quyền lợi củangười sở hữu chứng khoán gốc, phân tán rủi ro, bảo vệ hoặc tạo lợi nhuận
Chứng khoán phái sinh có nhiều loại như: quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền
chọn, hợp đồng kì hạn, hợp đồng tương lai…
2.2.4.1 Quyền mua cổ phần (Rights Certificate)
Quyền mua cổ phần hay cổ phiếu (còn gọi là quyền mua trước / hay đặc quyền mua)
là quyền được ưu tiên mua trước cổ phiếu phổ thông mới mà công ty cổ phần giành chocác cổ đông hiện hữu của công ty
Theo Luật Chứng khoán của Việt Nam, Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán docông ty cổ phần phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm đảm bảo cho cổđông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định (mua cổ
phiếu mới theo một mức giá ấn định trước trong một khoảng thời gian xác định)
Nội dung cơ bản của chứng nhận quyền mua cổ phần:
- Tên hàng hóa cơ sở: tên của loại chứng khoán được mua theo quyền
- Thời gian hiệu lực của quyền
- Số lượng quyền mua mà cổ đông được hưởng
- Giá mua cổ phiếu theo quyền
- Tỉ lệ quyền mua / 1 cổ phiếu mới
Trang 40Số lượng cổ phiếu mới được quyền mua đối với từng cổ đông hiện hữu phụ thuộcvào các yếu tố:
- Số lượng cổ phiếu phổ thông cũ công ty đã phát hành
- Số lượng cổ phiếu phổ thông mới công ty sẽ phát hành trong đợt phát hành
- Số lượng cổ phiếu của công ty mà cổ đông đang sở hữu
Số cổ phiếu mới Số cổ phiếu hiện đang nắm giữ
được quyền mua =
của cổ đông hiện hữu Tỉ lệ quyền mua /1 cổ phiếu mới
Đặc điểm của quyền mua trước:
- Được phát hành theo từng đợt với thời hạn hiệu lực thường rất ngắn khi các công ty cổ phần muốn tăng vốn điều lệ để thực hiện các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh
- Thông thường mỗi cổ phần đang lưu hành được cấp 1 quyền mua trước Số lượng quyền cần thiết để được mua một cổ phiếu mới (tỉ lệ quyền mua / 1 cổ phiếu mới) phụ thuộc vào tổng số lượng quyền và số lượng cổ phiếu mới dự kiến phát hành theo kế hoạch của công
ty
Số lượng Số tiền cần huy động
cổ phiếu mới =
cần phát hành Giá bán 1 cổ phiếu theo quyền
Số quyền Số cổ phiếu cũ (số cổ phiếu đang lưu hành)
cần có để mua được =
một cổ phiếu mới Số cổ phiếu mới
- Mức giá ấn định (giá đăng ký/ giá bán cổ phiếu theo quyền) cổ phiếu mới đối với quyền mua thường thấp hơn giá thị trường, bởi 2 lý do:
+ Thứ nhất, bản thân giá thị trường của cổ phiếu đã chứa đựng một đặc trưng vốn có là không ổn định Ngay sau khi quyền được phát hành, lượng cung cổ phiếu trên thị trường gia tăng trong khi nhu cầu có thể không thay đổi và đó là nguyên nhân dẫn đến giảm giá
cổ phiếu Do đó, nếu giá cổ phiếu theo quyền cao hơn giá thị trường sẽ dẫn tới hệ quả tất yếu là công ty không thể thực hiện được kế hoạch phát hành cổ phiếu phổ thông mới của mình
+ Thứ hai, mức chênh lệch giá là cơ sở để gia tăng sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư mà trước hết là các cổ đông hiện hữu của công ty
- Đối với các cổ đông hiện hữu, nếu không có nhu cầu đầu tư thêm vốn vào công ty của mình (không thực hiện quyền) thì có thể chuyển nhượng quyền cho nhà đầu tư khác trong thời gian quyền chưa hết hạn hiệu lực Quyền mua trước có thể được giao dịch, chuyển nhượng nhiều lần trên TTCK giữa các nhà đầu tư
- Giá quyền mua được giao dịch trên thị trường luôn biến động, phụ thuộc vào :
+ Mức chênh lệch giữa giá theo quyền và thị giá cổ phiếu đó
+ Số quyền cần có để mua được một cổ phiếu mới
+ Xu hướng biến động giá hiện hành của cổ phiếu trên thị trường
+ Thời hạn hiệu lực còn laị của quyền mua
Người ta thường xác định giá tham chiếu của quyền theo công thức sau:
Gọi P0 là giá cổ phiếu trên thị trường vào ngày giao dịch được hưởng quyền mua cổ phiếu (thường căn cứ theo giá thị trường của cổ phiếu trước ngày phát hành quyền - hay giá