1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

96 733 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Cơ Bản Về Thị Trường Chứng Khoán
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Thị Trường Chứng Khoán
Thể loại Giáo Trình
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuật ngữ "thị trường" là một khái niệm cơ bản của kinh tế học và đã được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa. Nếu hiểu "thị trường" một cách đơn giản là nơi mua bán hàng hoá thì không sai, nhưng không đầy đủ và không thấy được những loại thị trường không có "chợ" mua bán tập trung. Hơn nữa, nếu hiểu như vậy thì thật khó giải thích được những loại thị trường "vô hình" với những loại hàng hoá "vô hình" đã và đang ngày càng phát triển như thị trường vốn, thị trường dịch vụ,...

Trang 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC CHỦ THỂ THAM GIA TTCK

1.1.2 Khái niệm và các đặc điểm của TTCK

Thuật ngữ "thị trường" là một khái niệm cơ bản của kinh tế học và đã được nhiều nhà kinh tếhọc định nghĩa Nếu hiểu "thị trường" một cách đơn giản là nơi mua bán hàng hoá thì không sai,nhưng không đầy đủ và không thấy được những loại thị trường không có "chợ" mua bán tập trung.Hơn nữa, nếu hiểu như vậy thì thật khó giải thích được những loại thị trường "vô hình" với nhữngloại hàng hoá "vô hình" đã và đang ngày càng phát triển như thị trường vốn, thị trường dịch vụ, Xét về bản chất, thị trường là mối quan hệ kinh tế tổng hợp của 5 thành tố: hàng hoá, cungcầu, giá cả, phương thức giao dịch và thanh toán Như vậy, nơi nào, lúc nào có đủ 5 thành tố thìnơi đó, khi đó diễn ra hoạt động của thị trường Với nhận thức này chúng ta sẽ thấy được các loạithị trường "vô hình", những loại thị trường không có chợ mua bán tập trung tại một địa điểm cốđịnh Những khác biệt còn lại là quy mô của thị trường đó rộng hay hẹp, phổ biến hay chưa phổbiến, hiện đại hay còn thô sơ

Có nhiều loại thị trường khác nhau tùy theo tiêu thức phân chia Căn cứ vào đối tượng giaodịch thì có thể kể tới các loại thị trường như: thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường sức laođộng, thị trường vàng, thị trường ngoại tệ, thị trường chứng khoán

Chứng khoán được phát hành và mua bán trên TTCK bao gồm nhiều loại khác nhau tùy theotiêu thức phân loại Nếu căn cứ vào thời gian sử dụng vốn sẽ có chứng khoán ngắn hạn và chứngkhoán dài hạn Các chứng khoán ngắn hạn thường được mua bán trên thị trường tiền tệ Các chứngkhoán dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu thường được phát hành, mua bán trên TTCK Vì vậy trênthực tế, đôi khi người ta đồng nhất giữa TTCK với thị trường vốn

Đặc điểm của TTCK

Thứ nhất, hàng hoá của TTCK là các loại chứng khoán Đó là những công cụ chuyển tải giá

trị như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh Chứng khoán có nhữngđặc điểm khác biệt so với các loại hàng hóa thông thường Nếu như mỗi loại hàng hóa thôngthường đều có tính năng tác dụng và mục đích sử dụng riêng (mua để sử dụng làm nguyên liệuphục vụ sản xuất, mua để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân như ăn, mặc…) thì chứng khoánkhông có những tính năng tác dụng riêng đó Vì thế ở các thị trường hàng hóa dịch vụ, người sảnxuất - người bán và người mua đều rất quan tâm tới hình dáng, mẫu mã, kích thước, chất liệu, tácdụng, giá thành và giá cả của sản phẩm; thì ở TTCK, do chứng khoán là những công cụ chuyển tảigiá trị nên người ta chỉ quan tâm đến chứng khoán đó thật hay giả, khả năng sinh lợi và rủi ro tiềm

ẩn thế nào, khả năng thanh khoản ra sao Nói cách khác, việc phát hành, giao dịch các chứngkhoán với tư cách là hàng hoá trên TTCK của tổ chức phát hành, của nhà đầu tư nhằm mục đích

Trang 2

huy động các nguồn vốn nhàn rỗi cho đầu tư, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch các dòng tiếtkiệm và đầu tư nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.

Thứ hai, TTCK được đặc trưng bởi định chế tài chính trực tiếp, những người có khả năng

cung ứng vốn có thể điều chuyển vốn trực tiếp cho người cần vốn mà không cần thông qua cáctrung gian tài chính (ngân hàng, công ty tài chính, ) với tư cách là một chủ thể riêng biệt, độc lậpthực hiện huy động vốn để phân phối vốn nhằm đạt được những lợi ích riêng

Chúng ta đều đã biết, các nguồn tài chính có thể được chuyển dịch từ người cung sang ngườicầu bằng một trong hai hình thức: tài chính gián tiếp hoặc trực tiếp

Tài chính gián tiếp: vốn được luân chuyển từ người cung vốn qua các trung gian tài chính(như ngân hàng thương mại, công ty tài chính…) rồi mới được chuyển tới người cầu vốn Trunggian tài chính đứng giữa người cung và người cầu vốn, tiến hành tập trung các nguồn tài chính từnhững người cung vốn và trả cho họ một khoản tiền lãi nhất định; sau đó sử dụng các nguồn lực tàichính huy động được để cho những người cầu vốn vay và thu từ họ một khoản tiền lãi nhất định.Trung gian tài chính được hưởng một khoản thu nhập từ phần chênh lệch giữa thu từ cung ứngnguồn lực tài chính và chi cho huy động các nguồn lực tài chính

Tài chính trực tiếp: vốn hay các nguồn tài chính được luân chuyển trực tiếp từ người cungvốn sang người cầu vốn Trong quá trình vận động này, nguồn tài chính không dừng lại ở bất kỳmột tổ chức tài chính trung gian nào Người có nhu cầu sử dụng vốn phải trả chi phí sử dụng vốncho người cung vốn Tuy nhiên, trong hình thức tài trợ trực tiếp, nguồn vốn có thể luân chuyển tớingười có nhu cầu theo 2 hình thức: tài trợ trực tiếp qua trung gian và tài trợ trực tiếp không quatrung gian

Tài trợ trực tiếp qua trung gian là một hình thức luân chuyển các nguồn tài chính trong đóngoài người cung vốn và người cầu vốn còn xuất hiện một trung gian đứng ra tổ chức, thu xếp việcthực hiện giao dịch tài chính giữa người cung và người cầu Ở hình thức này, nguồn tài chínhkhông dừng lại ở trung gian (như trong tài trợ gián tiếp) song người cung và người cầu vốn phảitrả một khoản phí nhất định đối cho người trung gian ngoài chi phí sử dụng vốn, ví dụ: hoa hồngđại lí, phí bảo lãnh phát hành chứng khoán… Đây là loại hình luân chuyển các nguồn tài chínhphát sinh khá phổ biến trên thị trường

Tài trợ trực tiếp không qua trung: là hình thức luân chuyển trực tiếp các nguồn tài chính giữangười cung vốn và người cầu vốn mà không cần qua bất kỳ một trung gian nào Người cung vốn

và người cầu vốn trực tiếp thỏa thuận các điều kiện giao dịch Trong hình thức này, người có nhucầu vốn chỉ phải trả chi phí sử dụng vốn cho người cung vốn để có quyền sử dụng vốn trongnhững khoảng thời gian nhất định Loại hình luân chuyển các nguồn tài chính này phát sinh phổbiến trong phát hành chứng khoán nội bộ, mua chứng khoán trực tiếp từ tổ chức phát hành, hoặctrên thị trường tự do (thị trường ngầm),

Thực tế phát triển TTCK cho thấy, hầu hết các hoạt động phát hành chứng khoán để huyđộng vốn của các tổ chức phát hành được thực hiện thông qua các hình thức tài trợ trực tiếp quatrung gian hoặc không qua trung gian

Thứ ba, hoạt động mua bán trên TTCK chủ yếu được thực hiện qua người môi giới.

TTCK được cấu thành bởi nhiều bộ phận thị trường, trong đó TTCK tập trung và thị trườngOTC là những bộ phận quan trọng Do hàng hóa của thị trường này là các công cụ chuyển tải giátrị, nên bằng những giác quan thông thường nhà đầu tư khó có khả năng phân biệt được chứngkhoán đó có đảm bảo yêu cầu về mặt pháp lí cũng như chất lượng của chúng Vì vậy, để bảo vệquyền lợi chính đáng cho nhà đầu tư, đảm bảo TTCK hoạt động đúng pháp luật, công bằng, côngkhai và hiệu quả, luật pháp các nước thường quy định hoạt động mua bán chứng khoán trên các thịtrường có tổ chức phải thông qua các trung gian, đó là những nhà môi giới chứng khoán đã đượccấp phép là thành viên giao dịch của thị trường đó Các nhà đầu tư muốn mua hoặc bán chứngkhoán không thể đến thị trường đàm phán để mua bán trực tiếp, mà bắt buộc phải đặt lệnh mua bán

Trang 3

qua các nhà môi giới chứng khoán.

Thứ tư, TTCK gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo

TTCK bao gồm nhiều bộ phận thị trường khác nhau, trong đó TTCK tập trung là bộ phậntrung tâm Ở thị trường này tất cả mọi người đều được tự do tham gia mua và bán theo nguyên tắchoạt động của thị trường Không có sự áp đặt giá cả trên TTCK, giá cả ở đây được xác định dựatrên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán

Thứ năm, TTCK về cơ bản là thị trường liên tục Sau khi các chứng khoán được phát hành

trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp TTCK đảmbảo cho những người đầu tư có thể chuyển các chứng khoán của họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúcnào họ muốn

Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của TTCK Chính những đặc điểm này là cơ sở để phânbiệt sự khác nhau giữa TTCK với các thị trường khác; đồng thời đó cũng là những điểm nhấn tạo

ra sự hấp dẫn của TTCK đối với các tổ chức phát hành, nhà đầu tư và kinh doanh chứng khoán.Đặc biệt đối với các tổ chức phát hành, TTCK là kênh huy động vốn trung và dài hạn rất thuận lợi

vì với đặc điểm "thị trường chứng khoán là thị trường liên tục" đã tạo điều kiện cho các nguồn vốnngắn hạn của nhà đầu tư, trở thành nguồn vốn dài hạn của nhà phát hành

- Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương: phát hành trái phiếu chính phủ và chínhquyền địa phương

- Doanh nghiệp (bao gồm cả các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng và phi tàichính): phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp

- Công ty quản lí quỹ đầu tư: phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư

● Nhà đầu tư chứng khoán

Nhà đầu tư chứng khoán là những người bỏ tiền đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích thulợi nhuận Nhà đầu tư có thể được chia thành nhiều loại như nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư cánhân, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài

+ Nhà đầu tư cá nhân

Nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK Cũng giốngnhư những hoạt động đầu tư khác, mục đích của đầu tư chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận Tuynhiên, mỗi nhà đầu tư có khả năng tài chính, tâm lí đầu tư và điều kiện nhân thân… khác nhau Dovậy, họ sẽ có thái độ khác nhau đối với rủi ro

Các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái thận trọng thường không thích rủi ro và rất bảo thủtrong các phương thức đầu tư Họ tìm mọi cách để giảm rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận từ nhữngchứng khoán có rủi ro thấp, đầu tư dài hạn vào một số chứng khoán nhất định

Các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái mạo hiểm thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro nhằmmục đích tối đa hóa lợi nhuận thu được Họ thường đầu tư vào các chứng khoán có tỉ lệ rủi ro caonhưng có lợi nhuận kì vọng lớn, thường đầu tư ngắn hạn mà không đầu tư lâu dài vào bất cứ mộtloại chứng khoán nào

+ Nhà đầu tư tổ chức (còn gọi nhà đầu tư chuyên nghiệp)

Nhà đầu tư tổ chức là các tổ chức thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn Các

Trang 4

tổ chức này thường có các bộ phận chức năng bao gồm các chuyên gia có kinh nghiệm để nghiêncứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư Nhìn chung có thể kể đến một số nhà đầu tưchuyên nghiệp sau:

- Các quỹ tín thác đầu tư: được thành lập nhằm thu hút vốn của nhiều nhà đầu tư cá nhân đềđầu tư trên TTCK Ưu điểm nổi bật của hình thức đầu tư qua các quỹ tín thác là có thể đa dạng hóadanh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm

- Các công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm quản lí phí bảo hiểm của những người tham giabảo hiểm và sử dụng số tiền đó để đầu tư dưới các hình thức như: gửi ngân hàng, đầu tư vào chứngkhoán Để đảm bảo khả năng thanh toán bảo hiểm của các công ty bảo hiểm, pháp luật các nướcthường có các quy định khá chặt chẽ về tỉ trọng các khoản đầu tư

- Các quỹ hưu trí và quỹ bảo hiểm xã hội khác Các quỹ này thu phí đóng góp định kì của các

cá nhân để sau này trả cho họ lương hưu hay các khoản trợ cấp khác Phần phí thu được chưa phảichi trả có thể được các nhà quản lí quỹ đầu tư vào các chứng khoán có độ an toàn cao như tráiphiếu chính phủ

- Các công ty tài chính, các NHTM… cũng có thể trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họmua bán chứng khoán cho chính mình

● Người kinh doanh chứng khoán

Tham gia KDCK có thể bao gồm nhiều tổ chức như: CTCK, công ty quản lí quỹ đầu tư… và

cá nhân hành nghề độc lập

+ Công ty chứng khoán

CTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán, thực hiệnmột hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứngkhoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận

Tùy theo điều kiện về năng lực tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật và nguồn nhân lực mà mộtCTCK có thể đảm nhận tất cả các nghiệp vụ kinh doanh hoặc chỉ đảm nhận một số nghiệp vụ nhấtđịnh theo giấy phép kinh doanh

+ Công ty quản lý quỹ đầu tư

Công ty QLQ là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu

tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán

Công ty QLQ là người thành lập và quản lí quỹ tín thác bằng cách: (1) đứng ra xin phépthành lập quỹ, phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng để tạo vốn cho quỹ; (2) lựa chọn vàthực hiện đầu tư vốn của quỹ vào chứng khoán hoặc tài sản khác phù hợp với điều lệ của quỹ; (3)xác định lợi nhuận của quỹ và tư vấn cho người lưu giữ tài sản của quỹ để phân phối lợi nhuận.Việc thành lập và hoạt động của quỹ và công ty QLQ được thực hiện theo luật tín thác đầu tư.Theo luật này một hợp đồng tín thác được kí kết bởi tất cả các bên tham gia vào quỹ: công ty quản

lí quỹ, tổ chức giám sát bảo quản (thường là ngân hàng giám sát hoặc ngân hàng tín thác), vànhững người đầu tư

● Người cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chứng khoán (tổ chức phụ trợ)

Để đảm bảo cho TTCK có thể vận hành một cách bình thường, bên cạnh các chủ thể nêu trêncần có các tổ chức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chứng khoán như: tổ chức lưu kí chứngkhoán và thanh toán bù trừ, tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm, tổ chức tài trợ chứng khoán, tổ chứckiểm toán, công nghệ thông tin TTCK…

- Tổ chức lưu kí chứng khoán và thanh toán bù trừ

Tổ chức lưu kí chứng khoán và thanh toán bù trừ là tổ chức nhận lưu giữ bảo quản các chứngkhoán của khách hàng và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ các giao dịch mua bán chứngkhoán

- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm

Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là tổ chức chuyên thực hiện việc đánh giá về tình hình hiện

Trang 5

tại và triển vọng hoạt động của các doanh nghiệp dưới dạng các hệ số tín nhiệm Nhà đầu tư có thểdựa vào các hệ số tín nhiệm do các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm cung cấp để cân nhắc trướckhi ra quyết định đầu tư.

- Tổ chức tài trợ chứng khoán

Tổ chức tài trợ chứng khoán là các tổ chức được thành lập với mục đích khuyến khích mởrộng và tăng trưởng TTCK thông qua các hoạt động cho vay bảo lãnh, cho vay để mua cổ phiếu,cho vay chứng khoán cho các giao dịch chênh lệch… Các tổ chức tài trợ chứng khoán ở các nướckhác nhau có đặc điểm khác nhau, có nước không có loại hình tổ chức này

● Người quản lí và giám sát thị trường

Tùy theo chính sách phát triển thị trường và thực tế phát triển TTCK của mỗi quốc gia màviệc quản lí và giám sát TTCK được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau Thông thường tham giaquản lí giám sát TTCK bao gồm: Nhà nước (thông qua các cơ quan chức năng như UBCKNN,NHNN…), các tổ chức tự quản (Sở giao dịch, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán…)

- Cơ quan quản lí nhà nước đối với TTCK

Sự quản lí của nhà nước đối với TTCK là nhân tố rất quan trọng để đảm bảo cho thị trườnghoạt động trật tự, công bằng, đúng pháp luật Tuy nhiên mô hình quản lí nhà nước đối với TTCK ởcác nước đều có những điểm khác nhau Nhìn nhận khái quát có thể thấy có hai loại mô hình về cơquan quản lí nhà nước đối với TTCK: Một số nước giao nhiệm vụ quản lí nhà nước đối với TTCKcho một bộ của Chính phủ, thường là bộ Tài chính (Nhật Bản, Hàn Quốc…), một số nước thànhlập cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ: Ủy ban chứng khoán (Mĩ…) Bên cạnh bộ Tài chínhhoặc Ủy ban chứng khoán, một số bộ ngành khác cũng có chức năng tham gia quản lí TTCK ở mộtlĩnh vực thuộc thẩm quyền Ví dụ: Ngân hàng Trung ương quản lí các NHTM thực hiện các hoạtđộng kinh doanh có liên quan đến chứng khoán như hoạt động thanh toán bù trừ, Bộ Tư pháp cótrách nhiệm xử lí các hành vi gian lận trên TTCK…

- Sở giao dịch chứng khoán

SGDCK là nơi giao dịch các chứng khoán đã được niêm yết Nhiệm vụ của Sở giao dịch là tổchức vận hành thị trường thông qua các bộ phận chức năng như: quản lí niêm yết, quản lí giaodịch, quản lí công bố thông tin, thanh tra giám sát… trên cơ sở các văn bản pháp luật của nhà nước

và các quy định của Sở

Sở giao dịch ở nhiều nước là tổ chức tự định chế bao gồm các công ty chứng khoán thànhviên, trực tiếp điều hành và giám sát các hoạt động giao dịch chứng khoán Khi phát hiện ra cáchành vi vi phạm quy chế thị trường, SGD tiến hành xử lí, áp dụng các biện pháp cưỡng chế thíchhợp Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của ngành chứng khoán,

Sở có trách nhiệm báo cáo lên Ủy ban chứng khoán để giải quyết Hoạt động điều hành và giámsát của SGD phải được thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan

- Hiệp hội các nhà KDCK

Hiệp hội các nhà KDCK là tổ chức của các CTCK và một số thành viên khác hoạt động trongngành công nghiệp chứng khoán được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thànhviên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung Hiệp hội các nhà KDCK thường là tổchức tự điều hành, tham gia quản lí giám sát thị trường theo một số nội dung chủ yếu sau:

+ Ban hành các quy định đối với thành viên và có trách nhiệm giám sát việc thực hiện cácquy định của các thành viên Hiệp hội

+ Thu nhận các khiếu nại của khách hàng đối với các CTCK thành viên Xử lí các vi phạmcủa thành viên theo quy chế của Hiệp hội

+ Đề xuất các kiến nghị đối với các cơ quan quản lí Nhà nước về các biện pháp phát triển thịtrường

Trang 6

1.2 PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.2.1 Theo đối tượng giao dịch

Thị trường cổ phiếu có một số đặc điểm sau:

+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại cổ phiếu (còn gọi là các công cụ vốn) như: cổphiếu thường (còn gọi là cổ phiếu phổ thông), cổ phiếu ưu đãi

+ Nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu giữ vai trò là cổ đông, là đồng sở hữu một phần công ty cổphần - tổ chức phát hành ra cổ phiếu đó

+ Do cổ phiếu không có thờì hạn nên để thu hồi vốn đầu tư, thông thường nhà đầu tư khôngthể yêu cầu tổ chức phát hành mua lại mà phải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) chonhững nhà đầu tư khác trên thị trường cổ phiếu

● Thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu, còn gọi là thị trường nợ là nơi giao dịch các loại trái phiếu Trái phiếuđược giao dịch trên thị trường bao gồm trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương, trái phiếucông ty, trái phiếu ngân hàng…

Thị trường trái phiếu có một số đặc điểm sau:

+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại trái phiếu (còn gọi là các công cụ nợ) như:công trái quốc gia, trái phiếu đầu tư, trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, kì phiếu ngân hàng + Nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu giữ vai trò là chủ nợ của tổ chức phát hành

+ Do trái phiếu có kì hạn nên việc thu hồi vốn đầu tư có thể thực hiện trực tiếp từ tổ chứcphát hành (nếu trái phiếu đã đến ngày đáo hạn) Trường hợp ngược lại, nhà đầu tư phải đem bánchúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thị trường trái phiếu

● Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư

Thị trường chứng chỉ quỹ là nơi giao dịch các loại chứng chỉ quỹ

Thị trường chứng chỉ quỹ có một số đặc điểm sau:

+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại chứng chỉ quỹ do các công ty quản lí quỹ đầu

tư phát hành

+ Nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ là người ủy thác cho công ty quản lý quỹ thực hiện hoạtđộng đầu tư tập thể theo điều lệ của quỹ Nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối vớihoạt động đầu tư của quỹ

+ Tùy theo đặc điểm của từng loại quỹ đầu tư mà nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ có thểthu hồi vốn đầu tư trực tiếp từ quỹ hoặc phải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) chonhững nhà đầu tư khác trên thị trường chứng chỉ quỹ

● Thị trường chứng khoán phái sinh

Là nơi giao dịch các loại chứng khoán phái sinh như quyền mua cổ phần, chứng quyền,quyền chọn, hợp đồng kì hạn, hợp đồng tương lai TTCK phái sinh là thị trường mà sự ra đời vàphát triển của nó bắt nguồn từ chính việc phát hành, giao dịch các loại chứng khoán gốc Sự tồn tại

và phát triển của thị trường này có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy thị trường cổ phiếu vàthị trường trái phiếu hoạt động sôi động và hiệu quả hơn

Tiêu thức phân chia này giúp chúng ta có thể đánh trình độ phát triển của nền kinh tế nóichung cũng như chính bản thân phát triển của TTCK nói riêng Với những nước phát triển, sự pháttriển của thị trường cổ phiếu là biểu trưng cho sự phát triển của nền kinh tế Song hành cùng với sựphát triển và hoàn thiện của thị trường, các loại chứng khoán phái sinh cũng ngày càng gia tăng đểđáp ứng nhu cầu đa dạng, đồng thời cung cấp các công cụ phòng chống rủi ro cho các nhà đầu tư,

Trang 7

kinh doanh chứng khoán

1.2.2 Theo các giai đoạn vận động (quá trình lưu thông) của chứng khoán

● Thị trường sơ cấp (Primary market)

Là thị trường diễn ra các giao dịch phát hành các chứng khoán mới

TTCK sơ cấp có vai trò tạo vốn cho các tổ chức phát hành và chuyển hoá các nguồn vốn nhànrỗi trong công chúng vào đầu tư

Đặc điểm của thị trường sơ cấp:

+ Trên thị trường sơ cấp, chứng khoán là phương tiện huy động vốn đối với nhà phát hành

đồng thời là công cụ đầu tư các nguồn tiền nhàn rỗi đối với các nhà đầu tư

+ Chủ thể giao dịch: trên thị trường sơ cấp, người bán chứng khoán là các tổ chức phát hành,người mua là các nhà đầu tư

+ Kết quả giao dịch trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế

+ Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường sơ cấp là thị trường không liên tục

● Thị trường thứ cấp (Secondary market)

Là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán các chứng khoán đã được phát hành trên thịtrường sơ cấp

Vai trò của TTCK thứ cấp là thực hiện việc di chuyển vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư chứngkhoán Nếu xét trên góc độ kinh tế vĩ mô, TTCK thứ cấp là một định chế tài chính quan trọngtrong quá trình điều tiết vốn đầu tư giữa các ngành, các lĩnh vực, tạo ra một sự cân đối mới chonền kinh tế

Đặc điểm của TTCK thứ cấp:

+ Trên thị trường thứ cấp, chứng khoán chỉ thuần túy là công cụ đầu tư mà không tồn tại với

tư cách là phương tiện huy động vốn cho các tổ chức phát hành

+ Chủ thể giao dịch của thị trường thứ cấp chủ yếu là các nhà đầu tư, kinh doanh chứngkhoán, bao gồm: các nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức đầu tư

+ Kết quả hoạt động của thị trường thứ cấp không làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế mà chỉ

có vai trò làm thay đổi quyền sở hữu vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư của thị trường

+ Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường thứ cấp là thị trường liên tục

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp một mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau, làm tiền

đề cho sự phát triển của TTCK Thị trường sơ cấp có vai trò tạo hàng hóa cho hoạt động của thịtrường sơ cấp, thị trường thứ cấp làm gia tăng tính thanh khoản của chứng khoán, đảm bảo cho sựphát triển của thị trường sơ cấp

Phân chia và nghiên cứu TTCK theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tíchquan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá hiện trạng nền kinh tếcũng như vị trí và uy tín của các tổ chức phát hành thông qua sự biến động giá chứng khoán trênthị trường thứ cấp

1.2.3 Theo cơ chế hoạt động

● Thị trường chứng khoán chính thức

TTCK chính thức (còn gọi là thị trường có tổ chức) là thị trường mà sự ra đời và hoạt độngđược thừa nhận, bảo hộ về mặt pháp lý Các hoạt động giao dịch của thị trường này nằm dưới sựkiểm soát và chịu sự ảnh hưởng bởi cơ chế điều tiết gián tiếp của Nhà nước Nếu xét trên hình thức

và cơ chế giao dịch, thị trường có tổ chức bao gồm:

Trang 8

- TTCK tập trung có địa điểm giao dịch cố định

- Các chứng khoán được giao dịch tại TTCK tập trung phải thoả mãn những điều kiện nhấtđịnh và hoàn tất thủ tục niêm yết, thường là chứng khoán của những công ty lớn, có danh tiếng, đãqua thử thách của thị trường

- Phương thức giao dịch chủ yếu là đấu giá hoặc ghép lệnh để hình thành giá cả cạnh tranh tốtnhất trong các phiên giao dịch

- Thành viên tham gia giao dịch có giới hạn, thường chỉ bao gồm những tổ chức hoặc cá nhân

có đủ điều kiện và đã được cơ quan quản lí của nhà nước về lĩnh vực chứng khoán và TTCK cấpphép thành viên

- Nhà nước quản lí đối với thị trường thông qua các pháp luật chuyên ngành về CK &TTCK

+ Thị trường phi tập trung (còn gọi là thị trường OTC - Over the Counter)

Thị trường OTC là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng khoán không diễn ra tại mộtđịa điểm tập trung mà thông qua hệ thống máy vi tính và điện thoại kết nối giữa các thành viên củathị trường

Đặc điểm của TTCK OTC:

- TTCK OTC không có địa điểm giao dịch cố định Các giao dịch được tiến hành qua mạnglưới các CTCK phân tán trên khắp quốc gia

- Các chứng khoán được giao dịch tại đây là các chứng khoán chưa được niêm yết trên bất kỳthị trường tập trung nào và thường bao gồm các chứng khoán có tiêu chuẩn thấp hơn chứng khoánđược niêm yết trên thị trường tập trung - chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ

- Giá cả trên thị trường được xác định chủ yếu theo phương thức thương lượng, thoả thuận

- Nhà nước quản lí đối với thị trường thông qua các pháp luật chuyên ngành về CK &TTCK

● Thị trường chứng khoán không chính thức (TTCK tự do )

TTCK tự do (The free markets): còn gọi là thị trường ngầm, hay thị trường chợ đen, là thịtrường ở đó các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán không được thực hiện qua hệ thốnggiao dịch của thị trường tập trung và thị trường OTC, nó ra đời và hoạt động một cách tự phát theonhu cầu của thị trường

TTCK tự do là thị trường mà hoạt động giao dịch mua bán, chuyển nhượng chứng khoán cóthể diễn ra ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào, có thể thông qua các nhà môi giới hoặc do chínhnhững người có nhu cầu đầu tư, mua bán chứng khoán thực hiện

Dưới góc độ pháp lý, TTCK tự do là thị trường mà sự ra đời, tồn tại và hoạt động không đượcthừa nhận và bảo hộ bởi các pháp luật chuyên ngành về chứng khoán và TTCK Nó ra đời và hoạtđộng bởi các nhu cầu tự phát của thị trường Do không được bảo hộ về mặt pháp lý nên việc muabán chứng khoán trên thị trường tự do chứa đựng nhiều rủi ro như lừa đảo, hàng giả, hàng không

có thật…

Thị trường có tổ chức và thị trường tự do là hai bộ phận cùng song song tồn tại và phát triển.Xét về lịch sử, thị trường tự do ra đời sớm hơn rất nhiều so với thị trường có tổ chức Tuy nhiên,cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như sự gia tăng vai trò kiểm soát của Nhà nướcthì quy mô và phạm vi hoạt động của thị trường tự do ngày càng giảm đi rõ rệt ngược lại với sựphát triển nhanh chóng của thị trường có tổ chức

Xem xét hoạt động TTCK theo tiêu thức này giúp chúng ta có thể đánh giá được vai trò cũngnhư mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của TTCK nói riêng cũng như toàn bộ nềnkinh tế nói chung

1.2.4 Theo thời hạn thanh toán

● Thị trường giao ngay

Trang 9

Thị trường giao ngay là thị trường mà việc giao nhận chứng khoán và thanh toán được diễn rangay trong ngày giao dịch hoặc trong thời gian thanh toán bù trừ theo quy định

Đặc điểm của TTCK giao ngay:

- Việc kí ký hợp đồng giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện ở hiện tại

- Việc chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được thực hiện ngay trong ngàygiao dịch, hoặc trong thời gian thanh toán bù trừ theo quy định (T+1 hoặc T+2 hoặc T+3)

● Thị trường kỳ hạn

Thị trường kì hạn là thị trường mà việc giao nhận chứng khoán và thanh toán được diễn rasau ngày giao dịch một khoảng thời gian nhất định

Đặc điểm của TTCK kì hạn:

- Việc kí ký hợp đồng giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện ở hiện tại

- Việc chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được thực hiện trong mộtkhoảng thời gian nhất định theo hợp đồng đã kí kết Tùy theo cơ chế hoạt động của thị trường theokiểu Âu hay kiểu Mĩ mà ngày thực hiện hợp đồng (chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán vàthanh toán) được thực hiện sau ngày giao ngay một khoảng thời gian đã kí hay bất cứ ngày nàotrong thời hạn của hợp đồng

1.3 CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TTCK

Với tư cách là một định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế thị trường, TTCK đượcnhìn nhận với hai chức năng cơ bản là tập trung vốn đầu tư và điều tiết các nguồn vốn trong nềnkinh tế

● Tập trung huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Thông qua các giao dịch trên được thực hiện trên TTCK sơ cấp, các nguồn vốn tạm thời nhànrỗi trong dân cư, trong các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội… được tập trung cho các hoạtđộng đầu tư của các tổ chức phát hành

- Thông qua phát hành trái phiếu, Nhà nước huy động vốn để thực hiện các chương trình đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các công trình công cộng, thực hiện công nghiệp hóa và hiệnđại hóa đất nước

- Các doanh nghiệp sử dụng vốn huy động được qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu để đầu tưđổi mới công nghệ, phát triển thị trường, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao thị phầndoanh nghiệp, củng cố vị trí trên thương trường

● Điều tiết các nguồn vốn trong nền kinh tế

TTCK nói chung, TTCK thứ cấp nói riêng là nơi tạo tính thanh khoản cho các loại chứngkhoán Thông qua thị trường này nhà đầu tư có thể thu hồi vốn hoặc chuyển vốn đầu tư một cách

dễ dàng thông qua các hoạt động bán và mua các loại chứng khoán

Mặt khác, trong nền KTTT, bên cạnh những doanh nghiệp thành đạt, không ít doanh nghiệp

có hiệu quả kinh doanh thấp kém, thậm chí có nguy cơ phá sản Những doanh nghiệp này có thểphải chấp nhận giải pháp thu hẹp phạm vi kinh doanh ở một lĩnh vực nào đó bằng cách rút bớt vốnđầu tư khỏi các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đầu tư vào một lĩnh vực khácthông qua việc mua các chứng khoán đang được giao dịch trên TTCK Điều đó cũng đồng nghĩavới việc vốn đầu tư tự phát điều tiết từ các ngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng thấp sang cácngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng cao hơn

Trang 10

1.3.2 Vai trò của TTCK

Việc tạo lập và phát triển TTCK có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tếcủa các nước có nền kinh tế thị trường Nó là kênh bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho nềnkinh tế Tuy nhiên, nếu không có đầy đủ các điều kiện cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và pháttriển thì TTCK cũng có thể gây nên những tác hại không lường đối với nền kinh tế - xã hội Chính

vì thế nhận thức được đầy đủ vai trò tích cực cũng như những bất lợi của TTCK có một ý nghĩaquan trọng trong việc sử dụng thị trường và xây dựng chính sách quản lý thị trường một cách hữuhiệu

Ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều tồn tại TTCK với các vai trò chủyếu sau:

- TTCK là kênh huy động, tập trung và luân chuyển vốn linh hoạt của nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, TTCK được xem như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốntiết kiệm lớn nhỏ của từng hộ dân cư, các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong các doanh nghiệp, các

tổ chức tài chính và từ nước ngoài, tạo thành một nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế, màcác phương thức khác không làm được Qua đó tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn để mởrộng sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận nhiều hơn Nó giúp cho Nhà nước giải quyết thiếuhụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu, tạo và tăng thêm nguồn vốn để xây dựng các côngtrình cơ sở hạ tầng, các ngành kinh tế mũi nhọn

- TTCK góp phần kích thích cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Thông qua TTCK, các doanh nghiệp có thể sử dụng vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi để đầu tưchứng khoán như là một tài sản kinh doanh và ngược lại, các chứng khoán đó sẽ được chuyểnthành tiền khi cần thiết

Hơn nữa TTCK còn giúp các doanh nghiệp xâm nhập lẫn nhau thông qua việc mua bán cổphiếu Việc sáp nhập, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đều có thểthực hiện thông qua TTCK Thậm chí khi một doanh nghiệp bị phá sản, nó cũng không mất đi, mà

nó sẽ được bán vào tay một số cổ đông khác và các cổ đông mới này sẽ tiếp tục duy trì sự hoạtđộng của doanh nghiệp

Luật lệ của TTCK bắt buộc các doanh nghiệp tham gia thị trường phải công bố công khai,minh bạch tình hình tài chính, kết quả kinh doanh hàng quý, hàng năm trước dân chúng, để dânchúng cũng như các nhà đầu tư khác có thể nhận định, đánh giá được công ty Bên cạnh đó, việcmua bán cổ phiếu của công ty một cách tự do, khiến người có cổ phiếu trở thành sở hữu chủ củacông ty, họ có thể kiểm soát công ty một cách dễ dàng qua các cơ quan quản lý công ty và nhậnbiết được khả năng hoạt động của công ty qua sự chấp nhận của TTCK Chính những điều nàybuộc các doanh nghiệp phải tính toán kỹ lưỡng trong việc huy động và sử dụng vốn, qua đó gópphần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- TTCK góp phần đa dạng hóa các hình thức đầu tư và huy động vốn trong nền kinh tế

TTCK đưa đến cho công chúng những công cụ đầu tư mới, đa dạng, phong phú, phù hợp vớitừng đối tượng có suy nghĩ và tâm lý riêng Với một hệ thống các loại chứng khoán khác nhau củanhiều ngành kinh tế và các chủ thể khác nhau, người tiết kiệm có thể tự mình lựa chọn, hoặc thôngqua những nhà tài chính chuyên môn lựa chọn những hình thức đầu tư thích hợp nhất Nhờ vậy,vốn nhàn rỗi trong xã hội sẽ được thu hút vào công cuộc đầu tư Vốn đầu tư sinh lời, càng kíchthích ý thức tiết kiệm và đầu tư trong dân chúng Nếu không có TTCK thì nguồn tiết kiệm trongdân chúng có thể vẫn tiếp tục nằm yên dưới dạng cất trữ, không sinh lời cho bản thân người tiếtkiệm và cũng chẳng đóng góp gì cho quá trình phát triển kinh tế

Như vậy, TTCK là nơi cung cấp các cơ hội đầu tư có lựa chọn cho công chúng, từ đó nângcao tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện về vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế

Trang 11

- TTCK là tấm gương phản ánh thực trạng và tương lai phát triển của doanh nghiệp

Thị giá chứng khoán của một doanh nghiệp đang giao dịch trên TTCK được coi là cơ sở quantrọng đánh giá thực trạng hoạt động của doanh nghiệp đó trong hiện tại cũng như trong tương lai.Thị giá cổ phiếu cao hay thấp biểu hiện trạng thái kinh tế của doanh nghiệp Đặc biệt, mức độ cổtức và giá thặng dư của cổ phiếu (chênh lệch giữa giá thị trường và mệnh giá) thể hiện khả năngmang lại lợi tức và thu nhập cho các cổ đông Triển vọng tương lai của mỗi doanh nghiệp cũngđược thể hiện một cách trực tiếp trên thị giá cổ phiếu và sự diễn biến quá trình biến động thị giá cổphiếu của công ty

Như vậy thông qua sự biến động về giá cả chứng khoán và các chỉ số trên TTCK, người ta cóthể đánh giá được tình trạng "sức khoẻ" của một doanh nghiệp nói riêng cũng như của nền kinh tếnói chung cả trong hiện tại và tương lai

- TTCK là công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác.Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế đang tăng trưởng; vàngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu suy thoái của nền kinh tế Vì thế, TTCKđược coi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp chính phủ thực hiệncác chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ

để tạo ra nguồn thu bù đắp thiếu hụt ngân sách và quản lí lạm phát Ngoài ra, chính phủ cũng cóthể sử dụng một số biện pháp, chính sách tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo

sự phát triển cân đối của nền kinh tế…

- TTCK là công cụ góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

TTCK là công cụ cho phép vừa thu hút, vừa kiểm soát vốn đấu tư nước ngoài một cách hữuhiệu, vì nó hoạt động theo nguyên tắc công khai Nghĩa là mội đối tượng tham gia mua bán chứngkhoán phải công khai và cập nhật toàn bộ những thông tin liên quan đến giá trị chứng khoán, côngkhai khả năng tài chính trong các giao dịch mua bán chứng khoán Tính chuyên nghiệp của cácnhà đầu tư nước ngoài sẽ góp phần từng bước làm thay đổi tư duy trong đầu tư kinh doanh, đổimới cơ chế quản lí theo xu thế quản lí hiện đại, từng bước góp phần khắc phục tình trạng đầu tưthiếu thông tin hoặc thông tin không trung thực, thiếu chính xác, đầu tư theo tâm lí, theo trào lưuđám đông của các nhà đầu tư trong nước Hoạt động mua bán chứng khoán của các nhà đầu tưnước ngoài góp phần quan trọng vào sự phát triển của TTCK của các quốc gia, đặc biệt là ở cácTTCK mới hình nổi; là tấm gương để các nhà đầu tư trong nước theo dõi, quan sát và học tập.Như vậy TTCK không chỉ là công cụ cho phép thu hút và kiểm soát vốn đấu tư nước ngoài;

mà còn góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia

Ngoài ra, TTCK còn có các vai trò tích cực khác như: đảm bảo tính thanh khoản cho chứngkhoán, làm giảm áp lực lạm phát, thúc đẩy quá trình cổ phần hoá DNNN…

1.3.3 Các khía cạnh tiêu cực trên TTCK

TTCK không phải là một công cụ vạn năng, nó không thể giải quyết được tất cả các nhu cầucủa nền kinh tế đặt ra Bên cạnh những tác động tích cực đó, do đặc điểm của các giao dịch chứngkhoán mà rất dễ nảy sinh các hành vi vi phạm các nguyên tắc, các quy chế trong hoạt động muabán, đó là "thao túng thị trường", "giao dịch nội gián", mua bán CK ngoài TTCK không chính thứclàm ảnh hưởng đến mục tiêu “công bằng, hiệu quả và phát triển ổn định” của thị trường

● Thao túng thị trường

"Thao túng thị trường" có thể được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, nhưng tựu chung lại

đều là những hành vi cố ý gây tác động đến thị trường bằng cách vận dụng quy luật cung - cầuhoặc các hành vi nhân tạo khác, để tác động đến giá cả chứng khoán, nhằm đạt được mục tiêu cólợi cho riêng mình Thao túng thị trường thường được thể hiện dưới các hình thức cụ thể sau:

Trang 12

- Một là, đầu cơ chứng khoán Trên TTCK, hoạt động đầu tư chứng khoán được xem là hoạt

động cơ bản nhất của thị trường Tuy vậy, cũng như bất kỳ hoạt động kinh tế nào, bên cạnh hoạtđộng đầu tư chứng khoán tích cực thông thường thì hoạt động đầu cơ chứng khoán, hay các nhàkinh tế còn gọi là hoạt động đầu tư mang tính chất đầu cơ, cũng song song tồn tại và là nhân tố hếtsức quan trọng và phức tạp trên TTCK Đầu tư và đầu cơ đều là những hoạt động kinh doanhnhằm tìm kiếm lợi nhuận Hoạt động đầu tư có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn, còn hoạtđộng đầu cơ thường mang tính ngắn hạn Các nhà đầu tư chứng khoán thường mua chứng khoán

để nhận thu nhập từ chứng khoán đó mang lại, còn các nhà đầu cơ thường là những người mua bánchứng khoán để tìm kiếm lơi nhuận từ chênh lệch giá chứng khoán qua những lần mua đi bán lạitrên TTCK Bằng sự táo bạo của mình, họ chớp lấy thời cơ để mua hoặc bán chớp nhoáng cácchứng khoán Như vậy, mục tiêu của người đầu cơ không phải là nhận lợi tức của chứng khoán vàthâm nhập vào các công ty danh tiếng mà là kiếm lời thông qua việc mua bán để hưởng chênh lệchgiá chứng khoán Họ sẵn sàng chấp nhận sự rủi ro, mạo hiểm để hy vọng thu được nhiều lợi nhuậncho mình Vì vậy, những người đầu cơ thường hay tập trung vào những chứng khoán mà nhiềungười cho rằng chúng có mức độ rủi ro cao Họ thường quan tâm khai thác những thông tin có tínhchất nhất thời, thẩm định, dự đoán những khả năng có tính chất bất thường Đầu tư và đầu cơ đều

là những hoạt động kinh doanh, giữa chúng có mức độ độc lập nhất định và có thể chuyển hoá lẫnnhau Trên thực tế, một người mua chứng khoán với mục đích ban đầu là đầu tư, nhưng do giáchứng khoán họ đang nắm giữ lên giá hoặc sụt giá một cách nhanh chóng khiến họ phải quyết địnhbán đi các chứng khoán mà mình đang nắm giữ nhằm kiếm lời từ sự chênh lệch giá mua bán, hoặcbán đi để hạn chế rủi ro khi giá xuống, và vô tình họ đã trở thành một nhà đầu cơ chứng khoán tạmthời Có thể nói rằng, trong hoạt động đầu tư đã nhen nhóm những yếu tố mang tính chất đầu cơ vàngay trong đầu cơ cũng có nhân tố của đầu tư Thực tiễn hoạt động của TTCK có rất nhiều ví dụsinh động về mối liên hệ rất chặt chẽ cũng như ranh giới mỏng manh giữa đầu tư và đầu cơ

Trên TTCK, các nhà đầu cơ là những người giám bỏ tiền ra mua những loại chứng khoán khi

có nhiều người bán, nhưng có rất ít người mua Và ngược lại, họ cũng sẵn sàng bán khi có nhiềungười mua nhưng có ít người bán Chính các nhà đầu cơ, bằng kinh nghiệm, óc kinh doanh và tiềnbạc của mình, họ đã giúp cho hoạt động của thị trường không bị gián đoạn Trên góc độ đó, nhữngnhà đầu cơ cũng có vai trò tích cực làm cho TTCK có tính thanh khoản cao, hoạt động giao dịchtrên trên thị trường thêm phần sôi động Vì vậy, những hoạt động đầu cơ này đều được các thịtrường cho phép thực hiện

Tuy nhiên, cũng có những hành động đầu cơ bị cấm Đó là những hành động nhằm tạo ra sức

ép về cung cầu một loại chứng khoán nào đó trên thị trường dẫn đến hình thành giá chứng khoánkhông đúng với giá trị đích thực của nó, để có lợi cho người đầu cơ và gây thiệt hại cho những nhàđầu tư khác Ví dụ: các nhà đầu cơ kết hợp với nhau cùng liên tục mua, hoặc bán một loại chứngkhoán, gây nên sự khan hiếm hay thừa thãi một cách giả tạo, dẫn đến giá cả chứng khoán sẽ giatăng hoặc giảm sút một cách đột ngột Khi giá đã tăng hoặc hạ đến một điểm tối ưu, một ngườitrong số đó sẽ bán ra hoặc mua vào hết,

- Hai là, hiện tượng chèn ép, cá lớn nuốt cá bé Đó là hành vi những thương gia lớn thường

đẩy giá lên hoặc gìm giá xuống để thu lợi, gây nên những thiệt hại cho những người có số lượngchứng khoán ít ỏi, vì trên TTCK giá cả hoàn toàn do cung cầu quyết định

- Ba là, loan truyền tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc về hiện trạng và triển vọng

của một đơn vị kinh tế Điều này sẽ tạo nên những hậu quả xấu cho đơn vị kinh tế này, có thể đemđến tình trạng cổ phiếu được đưa ra bán ồ ạt làm giá trị cổ phiếu giảm đột ngột Những người có ý

đồ xấu có thể đứng ra mua cổ phiếu đó để khống chế công ty và hưởng một số lãi đáng kể sau khitin đồn đã được kiểm chứng

- Bốn là, cố ý gây sai lệch hay sự hiểu lầm về hoạt động giao dịch của một loại chứng khoán.

- Năm là, tìm mọi biện pháp để duy trì, ổn định mức giá chứng khoán nhằm tạo ra những lợi

Trang 13

thế cho việc chào bán hoặc phát hành chứng khoán mới.

- Sáu là, thực hiện các giao dịch được sắp đặt trước, giao dịch giả tạo

● Giao dịch nội gián

"Giao dịch nội gián" là những trường hợp người trong nội bộ tổ chức phát hành, hoặc những

người do trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ nào đó mà có được những thông tin chưa công

bố ra công chúng, đã sử dụng hoặc trao cho người khác sử dụng những thông tin này để đầu tư,tham gia giao dịch có lợi cho mình Đối tượng để thực hiện hành vi giao dịch nội gián là nhữngngười trong nội bộ bộ máy quản lý của tổ chức phát hành Họ nắm được các thông tin nội bộ nhờvào tư cách thành viên của tổ chức quản lý, lãnh đạo, giám sát hoặc nhờ vào chức năng của họtrong tổ chức phát hành

Thông tin nội bộ là những thông tin quan trọng, chưa được công bố, liên quan đến một hoặcnhiều người phát hành, một hoặc nhiều người mua, bán chứng khoán có kỳ hạn, một hoặc nhiềusản phẩm tài chính đã được niêm yết, mà nếu thông tin đó được công bố sẽ có khả năng ảnh hướngđến giá chứng khoán, giá hợp đồng hoặc giá sản phẩm tài chính có liên quan Thông tin nội bộ baogồm: những thay đổi lớn trong chính sách đầu tư, quản lý của công ty niêm yết, giao dịch của công

ty với ngân hàng bị đình chỉ, công ty gặp tổn thất do hiểm hoạ thiên nhiên, các vụ kiện tụng lớn,tình trạng phá sản hay thâu tóm của công ty, những khó khăn trong việc trả nợ của công ty, nhữngthay đổi trong ban quản trị, các kế hoạch sáp nhập, giải thể công ty, v,v

Mua bán nội gián được xem như là một hành vi phi đạo đức về mặt thương mại và đi ngượclại nguyên tắc: mọi nhà đầu tư phải có cơ hội như nhau

Những mặt tiêu cực nêu trên và những biến tướng tinh vi của nó có thể hạn chế và khắc phụcđược bằng việc ban hành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và có sự quản lý, giám sát thườngxuyên của các cơ quan chức năng Nhà nước

1.4 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TTCK

TTCK là sản phẩm tất yếu khách quan của một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.TTCK ra đời đã mở ra một kênh huy động vốn mới trong nền kinh tế Tuy nhiên, để đảm bảo choTTCK ra đời và hơn thế nữa đó là sự phát triển ổn định, bền vững thì đòi hỏi phải có những điềukiện nhất định Kinh nghiệm phát triển TTCK ở các nước cho thấy, TTCK chỉ có thể phát triển khi

có đủ các điều kiện sau:

1.4.1 Điều kiện về kinh tế

- Sự phát triển của nền kinh tế

TTCK là một thị trường bậc cao Vì vậy, nó chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế hànghoá - tiền tệ và các quan hệ thị trường ngày càng phát triển một cách ổn định, bền vững Cũnggiống như các thị trường khác, TTCK chỉ phát triển khi và chỉ khi nền kinh tế tăng trưởng ổn địnhbiểu hiện ở sự gia tăng đều đặn của tổng sản phẩm quốc dân và quốc nội, tỉ lệ thất nghiệp thấp…

- Tình hình lưu thông tiền tệ

Chỉ khi kinh tế phát triển, chế độ lưu thông tiền tệ ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mứcvừa phải, lãi suất được hình thành theo quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường, giá trị đồng nội tệđược ổn định thì công chúng mới yên tâm, tin tưởng tham gia đầu tư chứng khoán

- Hàng hóa

Trang 14

Trên TTCK, hàng hoá là yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên tính sôi động của thịtrường Vì vậy, để TTCK không ngừng phát triển và hoàn thiện phải tạo ra cho thị trường mộtlượng chứng khoán đa dạng, phong phú, đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, phù hợp với nhucầu và tâm lý đa dạng của công chúng đầu tư

- Các chủ thể kinh doanh và các tổ chức phụ trợ khác

Một TTCK hoàn chỉnh không thể thiếu các CTCK, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, các quỹđầu tư, các tổ chức lưu kí và thanh toán bù trừ… Do đó, để TTCK phát triển cần có một hệ thốngcác tổ chức KDCK và các tổ chức phụ trợ hoạt động có hiệu quả và không ngừng nâng cao nănglực kinh doanh cho các tổ chức này

- Thu nhập dân cư

Khối lượng và tỷ trọng tiết kiệm trong tổng số thu nhập sẽ quyết định mức độ hoạt động củaTTCK Khi thu nhập bình quân đầu người thấp thì tỷ trọng chi tiêu cho tiêu dùng cao và tỷ trọngnày càng giảm khi thu nhập bình quân đầu người tăng Vì thế, TTCK chỉ có thể phát triển khi vàchỉ khi thu nhập quốc dân cũng như thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên

1.4.2 Điều kiện về pháp lý

Cũng giống như các thị trường khác, để TTCK ra đời, tồn tại và không ngừng phát triểnkhông thể thiếu các điều kiện về pháp lí Môi trường pháp lí trong lĩnh vực CK và TTCK thườngbao gồm:

- Các quy chế về quản lý nhà nước đối với quá trình hình thành và vận hành thị trường

- Các quy chế quản lý đối với các chủ thể tham gia thị trường: chủ thể quản lý, chủ thể pháthành, chủ thể kinh doanh dịch vụ, nhà đầu tư…

- Các quy chế quản lý đối với các hoạt động trên TTCK như: phát hành, niêm yết, giao dịch,công bố thông tin, lưu kí và thanh toán bù trừ…

Thực tế phát triển TTCK ở các nước cho thấy, TTCK chỉ có thể phát triển nếu quốc gia đóban hành được một hệ thống các văn bản pháp lý đầy đủ, đồng bộ, có hiệu lực pháp lí cao (baogồm các văn bản luật và dưới luật có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến CK & TTCK), ổn địnhtrong thời gian dài Một hệ thống pháp lý chắp vá, không đồng bộ, tính pháp lý thấp và thay đổithường xuyên sẽ làm TTCK hoạt động không ổn định, hiệu quả thấp kém và chậm phát triển

1.4.3 Điều kiện về nhân lực

Con người là yếu tố có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường Vì vậy, đểđảm bảo cho TTCK không ngừng phát triển và hoàn thiện phải có đội ngũ chuyên gia chứng khoángiỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và phẩm chất, tư cách đạo đức tốttrên các lĩnh vực:

- Các chủ thể hoạch định chính sách, tổ chức, quản lý thị trường,

- Các chủ thể tác nghiệp trên thị trường: môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh phát hành,lưu kí chứng khoán, tư vấn và quản lí danh mục đầu tư…

- Các nhà đầu tư và các nhà quản trị doanh nghiệp

1.4.4 Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật

Để phục vụ cho các giao dịch chứng khoán cần có hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật tươngthích, đó là:

- Hệ thống giao dịch: chuyển lệnh, ghép lệnh, hệ thống yết giá,

- Hệ thống công bố thông tin,

- Hệ thống lưu ký, thanh toán,…

TTCK phát triển đồng nghĩa với việc quy mô thị trường ngày càng mở rộng, khối lượng cáchoạt động trên thị trường ngày càng tăng lên Điều đó đòi hỏi hệ thống trang thiết bị cho thị trường

Trang 15

cũng phải không ngừng nâng cấp, hiện đại hóa mới có thể đảm bảo cho thị trường hoạt động mộtcách nhanh chóng, an toàn và hiệu quả.

Trên đây là bốn điều kiện cơ bản để đảm bảo cho thị trường phát triển ổn định và bền vững.Các điều kiện này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ ràng buộc lẫn nhau Nếu như yếu tốkinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật là nền tảng, yếu tố pháp lý là công cụ, yếu tố tâm lý là động lựcthì yếu tố con người là bao trùm lên tất cả các yếu tố đó Có đủ các yếu tố nêu trên là điều kiệnđảm bảo TTCK hoạt động đều đặn, lành mạnh, có hiệu quả và ngày càng phát triển

Chương 2 : CHỨNG KHOÁN

1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Khái niệm và phân loại chứng khoán

● Chứng khoán là gì ?

Có nhiều quan điểm khác nhau về chứng khoán Tùy theo quan điểm, mục đích tiếp cận vànghiên cứu, sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng như sự đa dạng phong phú về chủngloại chứng khoán mà người ta có thể khái quát, nhận dạng chứng khoán qua một số khái niệm sau :

- “Chứng khoán là mọi sản phẩm tài chính có thể chuyển nhượng được"

- "Chứng khoán là một văn bản pháp lý, chứng nhận cho người cầm giữ nó có những nhữngquyền nhất định đối với một loại tài sản nào đó."

- “Chứng khoán là thuật ngữ dùng để chỉ các chứng từ có giá xác nhận khoản tiền mà ngườichủ sở hữu đã bỏ ra để được quyền hưởng các khoản lợi tức nhất định theo những kỳ hạn nhấtđịnh”

- “Chứng khoán là các công cụ xác nhận quyền chủ sở hữu (cổ phiếu) hoặc quyền chủ nợ (tráiphiếu) đối với tổ chức phát hành”

- Theo luật chứng khoán năm 2006 của Việt Nam thì ‘‘chứng khoán là bằng chứng xác nhậnquyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử ’’

Dù ghi nhận chứng khoán ở góc độ nào, theo cách nào, thì chứng khoán cũng đại biểu cho một số tiền nhất định mà người đầu tư đã ứng ra với mục đích là nó sẽ đem lại cho người sở hữu các quyền và lợi ích nhất định Tùy theo loại chứng khoán đầu tư mà người sở hữu chứng khoán

có được các quyền và lợi ích khác nhau Nếu đầu tư mua cổ phiếu, nhà đầu tư có quyền là ngườichủ sở hữu một phần vốn của công ty cổ phần, được hưởng thu nhập do cổ phiếu mang lại đó là cổtức Nếu đầu tư mua trái phiếu, nhà đầu tư có quyền là chủ nợ đối với tổ chức phát hành, đượchưởng thu nhập do trái phiếu mang lại đó là trái tức Ngoài ra, nhà đầu tư còn có quyền chuyển

nhượng chứng khoán do mình nắm giữ theo các quy định của pháp luật Vì thế, chứng khoán có

thể được mua bán và được lưu thông với tư cách là hàng hoá trên TTCK

Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà chứng khoán có thể phát hành theomột, hai hoặc cả ba hình thức kể trên Ở những nước phát triển, chứng khoán thường được pháthành dưới hình thức bút toán ghi số và dữ liệu điện tử Ở những nước kém phát triển, chứng khoánthường được phát hành dưới hình thức chứng chỉ

● Phân loại chứng khoán

Chứng khoán có nhiều loại Tùy theo các tiêu thức phân loại mà có thể chia chứng khoánthành các loại khác nhau

+ Theo khả năng chuyển nhượng, chứng khoán được phân thành chứng khoán ghi danh (ghi

tên) và chứng khoán vô danh (không ghi tên)

- Chứng khoán ghi danh là loại chứng khoán có ghi tên người chủ sở hữu Loại chứng khoánnày có được phép chuyển nhượng nhưng phải tuân theo những quy định pháp lý cụ thể về chuyểnnhượng quyền sở hữu, như: thủ tục xác nhận của tổ chức phát hành, hoặc của cơ quan công chứng

Trang 16

- Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi tên người chủ sở hữu Loại chứngkhoán này được chuyển nhượng dễ dàng, không phải tuân theo những quy định pháp lý cụ thể vềchuyển nhượng quyền sở hữu Người mua có trách nhiệm chi trả cho người bán theo giá cả đãđược xác định

+ Theo đặc điểm huy động vốn và nguồn gốc của chứng khoán, các chứng khoán được

phân thành chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, chứng khoán phái sinh

- Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữuđối với một phần vốn của tổ chức phát hành Người mua chứng khoán này (điển hình là cổ phiếu)

có vai trò là người chủ sở hữu một phần vốn của tổ chức phát hành chứng khoán

- Chứng khoán nợ là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữuđối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành Người mua chứng khoán này (điển hình là tínphiếu, trái phiếu) có vai trò là người chủ nợ, người cho vay đối với tổ chức phát hành chứngkhoán Tổ chức phát hành có nghĩa vụ trả cho người sở hữu chứng khoán nợ một khoản tiền nhấtđịnh bao gồm cả gốc và lãi trong những khoảng thời gian đã xác định

- Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng khoán và có quan hệchặt chẽ với chứng khoán gốc

+ Theo đặc điểm thu nhập do chứng khoán mang lại, chứng khoán được chia thành : chứng

khoán có thu nhập cố định, chứng khoán có thu nhập biến đổi, chứng khoán hỗn hợp

2.1.2 Các đặc trưng cơ bản của chứng khoán

Chứng khoán có nhiều loại, mỗi loại có những điểm khác nhau nhất định, nhưng chúng đều

có các đặc trưng cơ bản sau :

● Tính sinh lợi (Yield)

Tính sinh lợi của chứng khoán là khả năng đem lại thu nhập cho người sở hữu chúng

Các chứng khoán luôn chứa đựng một khả năng sinh lợi nhất định bởi lẽ khi phát hành rachúng, nhà phát hành luôn hứa hẹn, cam kết một khoản thu nhập sẽ thanh toán cho nhà đầu tư,chính vì điều này mà nhà đầu tư mới bỏ vốn mua chứng khoán với tư cách là một hoạt động đầutư

Với các loại chứng khoán khác nhau thì mức độ và tính chất các khoản thu nhập mà chứngkhoán đem lại cho người nắm giữ cũng khác nhau Có những loại chứng khoán mà thu nhập của

nó cho nhà đầu tư tương đối ổn định trong suốt thời gian đầu tư, ngược lại có những loại chứngkhoán mà thu nhập của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng, hiệu quả các hoạt động kinh tếcủa tổ chức phát hành, cũng như tình hình quan hệ cung cầu loại chứng khoán đó trong nền kinh

tế Đối với cổ phiếu, người nắm giữ cổ phiếu sẽ được hưởng cổ tức hàng năm khi công ty cổ phầnhoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và quyết định chi trả cổ tức cho cổ đông, ngoài ra họcòn có thể có thêm một khoản thu nhập tiềm năng trong tương lai dưới dạng chênh lệch giá chứngkhoán nếu giá thị trường của cổ phiếu tăng Đối với trái phiếu, theo các kỳ hạn cam kết của tổchức phát hành, các trái chủ được quyền nhận trái tức, ngoài ra họ cũng có thể nhận thêm mộtkhoản thu nhập thứ hai là chênh lệch giá nếu giá thị trường cuả trái phiếu đó tăng lên

Trang 17

+ Rủi ro vỡ nợ: là rủi ro xảy ra khi người phát hành chứng khoán không thể thực hiện thanh

toán đúng hạn các khoản lãi và gốc cho người mua chứng khoán Rủi ro vỡ nợ có thể do rủi rokinh doanh và rủi ro tài chính của tổ chức phát hành

+ Rủi ro lạm phát: Trong lĩnh vực đầu tư vào các công cụ tài chính, lạm phát làm cho mức

sinh lời danh nghiã có sự khác biệt so với mức sinh lời thật Khi mức sinh lời danh nghĩa nhỏ hơn

sự mất giá của đồng tiền thì đó chính là rủi ro lạm phát

+ Rủi ro hối đoái: khi nhà đầu tư trong nước mở rộng đầu tư chứng khoán trên thị trường vốn

quốc tế, nếu sức mua của đồng ngoại tệ tại thời điểm thu hồi vốn đầu tư giảm so với lúc bỏ vốnđầu tư, sẽ làm cho nhà đầu tư bị thiệt thòi khi chuyển sang đồng bản tệ

+ Rủi ro thị trường: là những rủi ro do biến động trên TTCK gây ra dẫn đến giảm giá chứng

khoán, giảm tính thanh khoản của chứng khoán

+ Rủi ro kĩ thuật: là những rủi ro do các sự cố kĩ thuật, hoặc kĩ năng tác nghiệp của những

người hành nghề chứng khoán gây nên

+ v.v…

Các loại rủi ro liên quan đến đầu tư chứng khoán rất đa dạng Hiểu rõ, tiên liệu và sẵn sàng cócác giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, phòng chống rủi ro là điều kiện có ý nghĩa quan trọng khiquyết định đầu tư vào chứng khoán Hơn thế nữa, trên TTCK, hàng hóa được giao dịch rất phongphú làm gia tăng cơ hội lựa chọn cho các nhà đầu tư Song vấn đề đặt ra là sự lựa chọn đó xuấtphát từ những căn cứ nào? Rủi ro của chứng khoán là một trong những căn cứ quan trọng mà cácnhà đầu tư phải tính toán, so sánh để có một quyết định tối ưu cho đầu tư của mình

● Tính thanh khoản (Liquidity)

Tính thanh khoản của chứng khoán (còn được gọi là tính hoán tệ, tính lỏng, tính lưu thông)

là khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền của người nắm giữ chứng khoán

Các chứng khoán khác nhau thì có tính thanh khoản khác nhau Một chứng khoán được coi là

có tính thanh khoản cao nếu nó có thể chuyển đổi thành tiền một cách dễ dàng trong thời gian ngắn

và không có rủi ro sụt giảm giá trị tiền tệ của chứng khoán đó

Tính thanh khoản của mỗi chứng khoán cao hay thấp phụ thuộc vào:

+ Thời gian và chi phí cho việc chuyển đổi chứng khoán thành tiền,

+ Việc đảm bảo, duy trì giá trị ban đầu của chứng khoán

Ba đặc trưng: tính sinh lợi, tính rủi ro, tính thanh khoản nói trên của chứng khoán có mối liên

hệ chặt chẽ với nhau Thông thường, các chứng khoán có rủi ro tiềm ẩn cao thì khả năng sinh lợicao Đó chính là yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư nắm giữ các chứng khoán có mức rủi ro dự kiến cao.Giữa khả năng sinh lợi và tính hoán tệ cũng có mối liên hệ mật thiết Các chứng khoán có tínhhoán tệ cao thì mức sinh lời thấp đồng thời ít rủi ro Vì vậy các nhà đầu tư thường chọn các chứngkhoán có tính hoán tệ cao, bởi những chứng khoán này thường có lợi thế trong giao dịch Bất cứlúc nào người nắm giữ chứng khoán cũng có thể bán nó với thời gian ngắn nhất, ở mức giá hợp lýnhất

Tính sinh lợi của chứng khoán đã thu hút một số lượng nhất định nhà đầu tư nắm giữ chúng.Tuy nhiên, tính rủi ro lại là yếu tố tác động buộc họ phải cân nhắc xem lúc nào thì nên đầu tư nắmgiữ chứng khoán và lúc nào nên rút vốn đầu tư Còn tính thanh khoản của chứng khoán sẽ chuyểnhoá hình thức đầu tư trung và dài hạn thành ngắn hạn, làm linh hoạt hoá các công cụ đầu tư, tạođiều kiện cho các nhà đầu tư chứng khoán có thể thu hồi vốn đầu tư hoặc di chuyển vốn đầu tưmột cách dễ dàng

* Ý nghĩa của việc nghiên cứu các đặc trưng của chứng khoán

- Không loại chứng khoán nào có lợi thế tuyệt đối Vì vậy, nghiên cứu các đặc trưng củachứng khoán giúp người đầu tư lựa chọn loại chứng khoán phù hợp với tâm lý, khả năng tài chính

và kết quả phân tích, đánh giá, dự báo về mỗi loại chứng khoán trong từng thời kì

- Mỗi nhà đầu tư có tâm lý khác nhau Để phát triển TTCK, nhà nước cần có cơ chế tổ chức,

Trang 18

quản lí phát hành thích hợp nhằm đa dạng hóa các loại chứng khoán phát hành Đây cũng là điềukiện quan trọng để khai thác triệt để tiềm năng cung ứng vốn của nền kinh tế, nâng cao khả nănghuy động vốn cho các tổ chức phát hành.

2.2 CÁC LOẠI CHỨNG KHOÁN

2.2.1 Trái phiếu (Bonds)

2.2.1.1 Khái niệm

Có thể nhìn nhận trái phiếu theo nhiều cách khác nhau

- Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận khoản nợ vay của nhà phát hành đối với người nắmgiữ trái phiếu, nhà phát hành phải hoàn trả vốn vay gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn như đã cam kếttrong trái phiếu

- Trái phiếu là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (bên vay) phải trảcho người nắm giữ trái phiếu (bên cho vay) một khoản tiền xác định bao gồm khoản cho vay banđầu và lãi trong những khoảng thời gian cụ thể

- Trái phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, chứng nhận người sở hữu trái phiếu (trái chủ)

đã cho người phát hành trái phiếu vay một số tiền nhất định, theo các điều kiện nào đó

- Theo Luật Chứng khoán năm 2006 của Việt Nam thì ‘‘trái phiếu là loại chứng khoán xácnhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức pháthành’’

Trái phiếu là hàng hoá được mua bán trên thị trường Vì vậy, khi phát hành cũng như khi đầu

tư, người phát hành và người đầu tư cần hiểu rõ các thuật ngữ sau:

- Trái chủ: Chủ sở hữu trái phiếu, là người bỏ vốn mua trái phiếu

- Mệnh giá trái phiếu: Mệnh giá trái phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là

giá trị được ghi trên trái phiếu Giá trị này coi là số vốn gốc mà trái chủ đã đầu tư vào trái phiếu.Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định trái tức (lợi tức trái phiếu) mà người phát hành phải trảcho trái chủ Mệnh giá cũng thể hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạnthanh toán

- Thị giá trái phiếu: Là giá trái phiếu được giao dịch, mua bán trên thị trường tại một thời

điểm nhất định

- Lợi tức trái phiếu (còn gọi là trái tức hay tiền lãi của trái phiếu): là số tiền lãi mà trái chủ

thu được từ trái phiếu theo những kỳ hạn nhất định theo cam kết của tổ chức phát hành

- Lãi suất: khi phát hành trái phiếu tổ chức phát hành thường công bố trước mức lãi suất mà

họ sẽ trả cho nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu Đó chính là lãi suất danh nghĩa

+ Lãi suất danh nghĩa là chỉ tiêu phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa trái tức và mệnh giá trái phiếutheo một kỳ hạn nào đó thường là một năm Lãi suất danh nghĩa là căn cứ để xác định lợi tức củatrái phiếu

Lợi tức

Lãi suất (danh nghĩa) = Mệnh giáKhi đầu tư trái phiếu, ngoài lãi suất danh nghĩa, nhà đầu tư cần quan tâm đến lãi suất hiệnhành, lãi suất đáo hạn, lãi suất kì hạn

-+ Lãi suất hiện hành (Current Yield - CY): l t l % gi a t ng s ti n lãi trong n m v i giá thà tỷ lệ % giữa tổng số tiền lãi trong năm với giá thị ỷ lệ % giữa tổng số tiền lãi trong năm với giá thị ệ % giữa tổng số tiền lãi trong năm với giá thị ữa tổng số tiền lãi trong năm với giá thị ổng số tiền lãi trong năm với giá thị ố tiền lãi trong năm với giá thị ền lãi trong năm với giá thị ăm với giá thị ới giá thị ị

trư ng hi n h nh Lãi su t n y có th l n h n, nh h n ho c b ng lãi su t danh ngh a.ệ % giữa tổng số tiền lãi trong năm với giá thị à tỷ lệ % giữa tổng số tiền lãi trong năm với giá thị ất này có thể lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất danh nghĩa à tỷ lệ % giữa tổng số tiền lãi trong năm với giá thị ể lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất danh nghĩa ới giá thị ơn, nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất danh nghĩa ỏ hơn hoặc bằng lãi suất danh nghĩa ơn, nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất danh nghĩa ặc bằng lãi suất danh nghĩa ằng lãi suất danh nghĩa ất này có thể lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất danh nghĩa ĩa

Lợi tức

Lãi suất hiện hành =

Thị giá

Trang 19

+ Lãi suất đáo hạn (Yield to Maturity - YTM): là lãi suất hoàn vốn trung bình của một tráiphiếu, nếu mua trái phiếu đó vào thời điểm hiện tại và giữ trái phiếu cho tới ngày đến hạn thanhtoán Lãi suất đáo hạn được tính dựa vào công thức:

C C C C F n 1 F

PV = - + - + … + + - + - = C  +

(1+y)1 (1+y)2 (1+y)n-1 (1+y)n (1+y)n t=1 (1+y)t (1+y)n

Trong đó: PV là giá trái phiếu, n là số kì trả lãi, C là tiền lãi của một kì trả lãi, F là mệnh giátrái phiếu, y là lãi suất đáo hạn

Lãi suất đáo hạn có thể xác định theo công thức gần đúng sau:

Trong đó: i1, i2 : mức lãi suất lựa chọn (i2> i1 và i2- i1≤ 1%)

NPV1: giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất i1 ; NPV1>0

NPV2: giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất i2 ; NPV2<0

Lãi suất đáo hạn là đại lượng được sử dụng thường xuyên để đo lường mức sinh lời thực tếcủa trái phiếu Trên thị trường trái phiếu ở các nước, lãi suất đáo hạn của những trái phiếu chủ yếuthường được niêm yết hàng ngày và được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng Vìvậy, lãi suất đáo hạn chính là một công cụ phân tích đầu tư rất hữu ích trong hoạt động kinh doanhmua bán chứng khoán

+ Lãi suất kì hạn: một nhà đầu tư có thể không nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn Họ muatrái phiếu và nắm giữ đến một ngày nhất định sau đó bán trái phiếu đi Khoản tiền lãi mà nhà đầu

tư có thể nhận được trong thời gian nắm giữ có thể bao gồm: tiền lợi tức trái phiếu tính theo mệnhgiá và lãi suất, các khoản lãi hay lỗ từ chênh lệch giá bán và giá mua trái phiếu (còn gọi là lãi vốn).Lãi suất kì hạn đo lường mức sinh lời khi nắm giữ một trái phiếu trong một kì hạn nhất định

và được xác định theo công thức sau:

- Thời hạn của trái phiếu: là khoảng thời gian kể từ ngày phát hành chứng khoán đến ngày

người phát hành hoàn trả tiền vốn lần cuối Ngày mà khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán lầncuối cùng được gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu

- Kỳ trả lãi: Là khoảng cách (thời gian) giữa các thời điểm người phát hành trả lãi cho người

nắm giữ trái phiếu Tại nhiều nước, lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanhtoán lãi trái phiếu thường được thực hiện 6 tháng một lần

- Giá phát hành: Là giá bán của trái phiếu khi phát hành Thông thường, giá phát hành được

xác định theo tỷ lệ % của mệnh giá Tuỳ theo tình hình của thị trường và điều kiện của người pháthành, tuỳ theo khoảng thời gian cách quãng giữa ngày bán trái phiếu và ngày phát hành mà giáphát hành trái phiếu có thể là 1 trong 3 trường hợp: hoặc giá phát hành bằng mệnh giá (ngang giátrái phiếu), hoặc giá phát hành cao hơn mệnh giá (giá gia tăng), hoặc giá phát hành nhỏ hơn mệnh

Trang 20

giá (giá chiết khấu).

- Phí suất: là một khái niệm được sử dụng để xác định chi phí (giá cả) thực tế mà người phát

hành phải chi trả cho việc sử dụng một đơn vị tiền vay Nó được xác định bằng tỷ lệ % giữa tổngchi phí vay thực tế mà người phát hành phải trả trong một năm với giá bán trái phiếu Chi phí vaythực tế phải trả bao gồm: lãi trái phiếu, chi phí phát hành, hoa hồng trả các tổ chức bảo lãnh, v.v, Việc nghiên cứu các thuật ngữ liên quan tới trái phiếu có thể coi là những căn cứ ban đầugiúp cho các tổ chức phát hành cũng như các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định tối ưu chomình Đối với tổ chức phát hành, nó là cơ sở để lựa chọn các hình thức và phương thức phát hành

có lợi nhất, giảm thiểu chi phí phát hành và huy động vốn nhanh nhất phù hợp với thực tế cung cầuvốn trên thị trường Đối với các nhà đầu tư, việc lựa chọn loại trái phiếu, thời hạn đầu tư… sẽ lànhững tiêu chí quan trọng để xác định hiệu quả vốn đầu tư cũng như rủi ro mà họ phải chấp nhậntrong tương lai

2.2.1.2 Đặc điểm của trái phiếu

Thực chất phát hành trái phiếu là một hình thức vay nợ, người vay phát hành một chứng chỉ(hoặc sử dụng các bút toán ghi sổ, hoặc các dữ liệu điện tử) trong đó xác định số tiền vay, thời hạnvay, lãi suất vay và phương thức trả nợ Chính vì vậy, trái phiếu có những đặc điểm sau:

- Trái phiếu là chứng khoán nợ và có thời hạn Đến ngày đáo hạn, người sở hữu trái phiếuđược hoàn trái

- Thông thường trái phiếu có lợi tức được xác định trước Tùy theo từng loại trái phiếu mà lợitức có thể là cố định hoặc thả nổi theo lãi suất thị trường

- Mệnh giá trái phiếu luôn được thể hiện trên bề mặt của trái phiếu

- Trái phiếu có thể chuyển nhượng cho người khác sở hữu

- Quan hệ kinh tế - tài chính phát sinh giữa người nắm giữ trái phiếu và tổ chức phát hành làquan hệ giữa chủ nợ và khách nợ

2.2.1.3 Phân loại trái phiếu

● Căn cứ vào chủ thể phát hành

- Trái phiếu công ty: là một loại giấy nhận nợ có kỳ hạn do các công ty phát hành Trái phiếu

công ty có đặc điểm:

+ Tiền lãi trả cho trái chủ không phụ thuộc vào mức lợi nhuận của công ty

+ Trái chủ không có quyền bỏ phiếu và tham gia vào các hoạt động quản lý công ty

+ Trái phiếu đem lại cho trái chủ quyền ưu tiên phân chia tài sản khi công ty bị giải thể, hoặcphá sản (được ưu tiên hoàn trả trước khi hoàn vốn cho các chủ sở hữu của công ty)

Trái phiếu công ty bao gồm nhiều loại như: trái phiếu không có đảm bảo, trái phiếu có đảmbảo, trái phiếu thu nhập, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có thể thu hồi, kì phiếu và trái phiếu ngânhàng v.v Mỗi loại thường chỉ khác nhau một số chi tiết nhỏ

- Trái phiếu Chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương Đây là công cụ vay nợ của

Chính phủ hay chính quyền địa phương nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách và xây dựng các côngtrình công cộng

Thông thường, Chính phủ giao cho Bộ Tài chính phát hành TPCP và Bộ Tài chính cũng chịutrách nhiệm trả nợ các loại trái phiếu này TPCP là loại an toàn nhất vì có nguồn ngân sách củaChính phủ đảm bảo, vì vậy giá TPCP trên thị trường thường ít biến động Các loại trái phiếu ngắnhạn có thể do Ngân hàng Trung ương phát hành theo sự uỷ nhiệm của Bộ Tài chính Loại tráiphiếu này không chỉ nhằm mục đích vay vốn cho ngân sách quốc gia mà còn nhằm thực hiện chínhsách tiền tệ, khắc phục tình trạng lạm phát, đảm bảo hợp lý khối lượng tiền trong lưu thông

TPCP và chính quyền địa phương có nhiều loại như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc(hoặc công trái quốc gia), trái phiếu công trình (còn gọi là trái phiếu đầu tư), v.v

Trang 21

● Căn cứ vào phương thức trả lãi

- Trái phiếu trả lãi trước (còn gọi là trái phiếu chiết khấu): là loại trái phiếu khi phát hành, tổ

chức phát hành thanh toán ngay tiền lãi trái phiếu cho người mua bằng cách khấu trừ tiền lãi vàomệnh giá

Trái phiếu này có đặc điểm là được phát hành theo giá chiết khấu, tiền lãi được thanh toánmột lần vào thời điểm phát hành, khi đến hạn thanh toán, tổ chức phát hành chỉ hoàn trả số tiềnbằng mệnh giá của trái phiếu

- Trái phiếu trả lãi theo định kỳ (trái phiếu coupon): là trái phiếu mà trái tức được thanh toán

cho trái chủ theo những định kỳ nhất định nào đó (thông thường là một năm )

Trái phiếu này được phát hành theo mệnh giá, đến những định kỳ đã cam kết của tổ chức pháthành, các trái chủ được thanh toán trái tức tương ứng với thời gian của định kỳ đó

- Trái phiếu trả lãi sau: là loại trái phiếu mà toàn bộ trái tức được thanh toán một lần vào thời

điểm trái phiếu đáo hạn Trái phiếu này được phát hành theo mệnh giá, trái tức được được xác địnhtương ứng với mệnh giá, lãi suất và thời hạn của trái phiếu Trái tức được thanh toán đồng thời vớimệnh giá của trái phiếu cho trái chủ

● Căn cứ vào tính chất lãi suất

- Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu có lãi suất được xác định trước và không

thay đổi trong suốt thời gian tồn tại của trái phiếu Với loại trái phiếu này, sau khi được phát hành,trái tức luôn phải được thanh toán đúng với lãi suất mà tổ chức phát hành đã cam kết

- Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái phiếu mà tổ chức phát hành

không ấn định một mức lãi suất cố định trong suốt thời hạn lưu hành của trái phiếu Loại trái phiếunày, lãi suất được xác định căn cứ vào lãi suất trên thị trường vào thời điểm trả lãi để tính và trả lãicho trái chủ Hay nói cách khác, lãi suất sẽ được xác định căn cứ vào mức độ lạm phát của nềnkinh tế và quan hệ cung cầu vốn trên thị trường vào các thời điểm trả lãi Trên thực tế khi pháthành trái phiếu lãi suất thả nổi người ta thường sử dụng một mức lãi suất nào đó (được coi là lãisuất chuẩn, ví dụ như: lãi suất trái phiếu chính phủ, lãi suất LIBOR - London Interbank OfferedRate, SIBOR - Singapore Interbank Offered Rate ) để tham chiếu và công thêm một mức bù rủi

ro nhất định Ví dụ: SIBOR + 0,5% đối với trái phiếu kì hạn 1 năm, SIBOR + 2% đối với tráiphiếu kì hạn 5 năm

Ngoài ra, có thể phân chia trái phiếu theo một số tiêu thức khác như: căn cứ vào thời gianhoàn vốn, trái phiếu bao gồm: trái phiếu ngắn hạn hạn, trái phiếu trung hạn, trái phiếu dài hạn; căn

cứ vào khả năng chuyển nhượng, trái phiếu bao gồm: trái phiếu ghi danh, trái phiếu vô danh; tráiphiếu có bảo đảm, trái phiếu tín chấp, trái phiếu chuyển đổi v.v

2.2.2 Cổ phiếu (stocks / shares)

2.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của cổ phiếu

● Khái niệm

Có nhiều cách khái niệm về cổ phiếu

- Cổ phiếu là chứng chỉ, hoặc bút toán ghi sổ, hoặc dữ liệu điện tử chứng nhận quyền sở hữucủa một cổ đông đối với một công ty cổ phần

- Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và các lợi ích hợp pháp của người chủ sở hữuđối với một phần vốn của tổ chức phát hành (công ty cổ phần)

- v.v

Dù diễn đạt bằng cách nào thì chúng đều thống nhất với nhau về bản chất, đó là: cổ phiếu làchứng cứ pháp lý xác định việc đầu tư vốn vào công ty cổ phần và khẳng định các quyền và lợi íchhợp pháp của người nắm giữ cổ phiếu là người chủ sở hữu một phần vốn của công ty cổ phần

Cổ phiếu là quyền lực, người nắm giữ cổ phiếu được hưởng các quyền với tư cách là ngườichủ sở hữu công ty theo mức độ tương ứng với số lượng cổ phiếu nắm giữ Do vậy cổ phiếu còn

Trang 22

được gọi là chứng khoán vốn.

● Đặc điểm của cổ phiếu

- Cổ phiếu là chứng khoán vốn, xác nhận sự hùn vốn vào công ty cổ phần trên nguyên tắc lời

ăn, lỗ chịu

- Cổ phiếu không có kỳ hạn, nó tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty phát hành Cổ phiếuchỉ được hoàn vốn một cách trực tiếp khi công ty cổ phần kết thúc thời hạn hoạt động hoặc bị phásản Thông thường cổ phiếu được hoàn vốn một cách gián tiếp bằng cách người nắm giữ bán cổphiếu ra thị trường

- Cổ phiếu được phát hành khi thành lập công ty cổ phần hoặc khi công ty cần tăng thêm vốnđiều lệ để mở rộng kinh doanh, hiện đại hoá sản xuất

- Người mua cổ phiếu được quyền nhận cổ tức hàng năm có thể cố định hay biến động tuỳtheo từng loại cổ phiếu

- Người mua cổ phiếu sẽ là người sở hữu một phần giá trị của công ty, do đó phải chịu tráchnhiệm hữu hạn về sự thua lỗ, phá sản của công ty

- Người mua cổ phiếu được quyền chuyển nhượng cổ phiếu cho người khác để rút vốn rakhỏi công ty

- Người mua cổ phiếu có quyền kiểm soát sổ sách của công ty khi có lý do chính đáng, phùhợp với điều lệ công ty và luật pháp hiện hành

- Người mua cổ phiếu có quyền chia phần tài sản còn lại của công ty khi công ty bị giải thểhoặc phá sản Số tài sản mà họ được quyền nhận lại tương ứng với số cổ phiếu mà họ đang nắmgiữ

2.2.2.2 Phân loại cổ phiếu

● Theo các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, cổ phiếu bao gồm: cổ phiếu

thường và cổ phiếu ưu đãi

► Cổ phiếu thường (Common/Ordinary shares/stocks)

* Khái niệm cổ phiếu thường:

Cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu phổ thông) là loại cổ phiếu mà người sở hữu nó có cácquyền thông thường của một cổ đông

* Đặc điểm của cổ phiếu thường:

+ Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường được hưởng các quyền và lợi ích cơ bản sau:

- Hưởng cổ tức theo tuyên bố trả cổ tức của hội đồng quản trị ( HĐQT)

Đặc điểm cơ bản nhất của loại cổ phiếu thường là có thu nhập (cổ tức) không được xác địnhtrước, mức cổ tức và phương thức chi trả (bằng tiền hay chứng khoán) phụ thuộc vào kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh và chính sách phân phối cổ tức của công ty phát hành Cổ tức (hay lợitức cổ phần ) là thu nhập hàng năm của cổ phiếu Cổ tức thường được xác định và chia theo nămtài chính, nhưng cũng không ít công ty cổ phần quyết toán cổ tức theo năm tài chính và chia cho cổđông theo hai, hoặc bốn kỳ trong một năm (6 hoặc 3 tháng chia cổ tức một lần)

- Quyền sở hữu tài sản của công ty theo tỷ lệ % cổ phiếu nắm giữ

- Tham gia đại hội cổ đông bỏ phiếu bầu HĐQT, được quyền ứng cử và đề cử các chức vụquản lý theo qui chế và được quyền biểu quyết các vấn đề trong đại hội cổ đông

- Kiểm tra sổ sách của công ty khi có lí do chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật vàđiều lệ của công ty

- Có quyền biểu quyết các vấn đề liên quan đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của công tytương ứng với số cổ phiếu đang nắm giữ

- Được quyền chuyển nhượng cổ phiếu cho người khác

- Được mua cổ phiếu mới do công ty phát hành theo chính sách ưu đãi của công ty

- Không được ưu tiên chia vốn khi công ty bị giải thể hay phá sản, có nghĩa là việc chia phần

Trang 23

tài sản cho cổ đông thường chỉ được thực hiện sau khi công ty trang trải xong các nghĩa vụ đối vớicác chủ nợ và cổ đông ưu đãi

+ Trên cổ phiếu chỉ ghi mệnh giá, không ghi cổ tức

* Giá trị của cổ phiếu thường:

- Mệnh giá cổ phiếu: Hầu hết các công ty cổ phần đều ấn định mệnh giá cho mỗi cổ phiếuthường Mệnh giá này được in trên tờ cổ phiếu hoặc ghi trong sổ sách kế toán, trong điều lệ củacông ty phát hành Mệnh giá cổ phiếu không liên quan trực tiếp đến giá trị thị trường của cổ phiếu

đó Mệnh giá thể hiện tầm quan trọng nhất của nó vào thời điểm phát hành, là căn cứ để xác định

số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành và tính tỉ suất cổ tức danh nghĩa Tuy nhiên, một công ty cổphần cũng có thể phát hành cổ phiếu không có mệnh giá, chẳng hạn như các cổ phiếu đặc biệtdành cho các sáng lập viên của công ty Cổ phiếu này có đặc điểm là nó chỉ được hưởng lời saukhi tiền lời thuần tuý đã chia cho các cổ đông (người chủ sở hữu cổ phiếu, là đồng sở hữu của công

là một số nhân tố cơ bản:

+ Những nhân tố bên trong tổ chức phát hành

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng có thể thấy về cơ bản và lâu dài các nhân tốthuộc về nội tại tổ chức phát hành là nhân tố có tác động lớn đến thị giá cổ phiếu Nhân tố cơ bảnnhất gây nên sự dao động thị giá cổ phiếu nằm trong sự thay đổi mức thu nhập hiện tại (tỉ lệ cổ tức

- divident rate, giá trị sổ sách của cổ phiếu hay giá trị doanh nghiệp) và triển vọng phát triển trongtương lai của doanh nghiệp Kết quả kinh doanh hiện tại và tương lai của doanh nghiệp phụ thuộcvào nhiều yếu tố như: trình độ trang thiết bị máy móc và công nghệ, khả năng cạnh tranh và mởrộng thị trường, tiềm lực tài chính, trình độ quản lí của ban lãnh đạo, trình độ chuyên môn và kĩnăng nghề nghiệp của người lao động…

+ Những nhân tố bên ngoài tổ chức phát hành : có thể chia thành 2 nhóm nhân tố cơ bản: (1)Những thay đổi trong điều kiện chính trị xã hội như chiến tranh, những thay đổi trong bộ máyquản lí, sự tác động của điều kiện tự nhiên, điều kiện văn hóa, khoa học kĩ thuật…, (2) Nhữngnhân tố về kinh tế, tiền tệ… Kinh tế trong nước và thế giới tăng trưởng, khả năng kinh doanh cótriển vọng là điều kiện tốt cho hoạt động đầu tư làm cho giá cổ phiếu có xu hướng gia tăng vàngược lại Giá cổ phiếu trên thị trường cũng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất và tốc độ lạmphát Lãi suất và lạm phát gia tăng thường kéo theo sự giảm giá của cổ phiếu…

- Thư giá (hay giá trị sổ sách - Book Value, hay giá trị tài sản ròng - Net Asset Value) của cổphiếu thường (CPT): là giá trị cổ phiếu tính theo số liệu trong sổ kế toán của công ty vào một thờiđiểm xác định Thư giá cổ phiếu không cố định mà thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào giá pháthành, kết quả kinh doanh, chính sách chi trả cổ tức, chính sách phân phối thu nhập giữ lại, sốlượng cổ phiếu đang lưu hành của công ty cổ phần

Giá trị sổ sách của 1CPT = Tổng vốn CPT / Số CPT đang lưu hành

Số cổ phiếu đang lưu hành (hay số cổ phiếu đã phát hành vào lưu thông): là số cổ phiếu công

ty đã bán ra cho nhà đầu tư và công ty đã thu về được số tiền bán số cổ phiếu đó Đó chính là tổng

số cổ phiếu do các nhà đầu tư vào công ty đang nắm giữ Tổng số cổ phiếu đang lưu hành tại mộtthời điểm nhất định phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Số cổ phiếu được phép phát hành lần đầu và

Trang 24

phát hành bổ sung trong quá trình kinh doanh, số cổ phiếu công ty mua lại, số cổ phiếu quỹ công

ty đã bán ra, số cổ phiếu trả cổ tức cho cổ đông, tình hình tách, gộp cổ phiếu của công ty

Khi một công ty đăng ký vốn điều lệ (lúc thành lập) hoặc đăng ký phát hành cổ phiếu bổsung, sẽ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép phát hành một lượng cổ phiếu nhất định

Đó là số cổ phiếu được phép phát hành Các công ty có thể không phát hành hết ngay số cổ phiếuđược phép phát hành, họ để lại một số để sử dụng về sau (để chi trả cổ tức, để phát hành tiếp khicần thiết…) Lượng cổ phiếu đã bán ra gọi là cổ phiếu đã phát hành Số cổ phiếu còn lại trong số

cổ phiếu được phép phát hành nhưng chưa phát hành và số cổ phiếu đã phát hành nhưng đượccông ty mua lại và hiện đang do công ty sở hữu gọi là cổ phiếu quỹ Số cổ phiếu này không cóquyền nhận cổ tức, và không được hưởng các quyền lợi khác (như tham gia ứng cử, bầu cử, biểuquyết…) như các cổ phiếu đang lưu hành

► Cổ phiếu ưu đãi (Preferred shares/stocks)

* Khái niệm cổ phiếu ưu đãi:

Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu cho phép người nắm giữ nó được hưởng một số quyền lợi ưuđãi hơn so với cổ đông thường

Có nhiều loại cổ phiếu ưu đãi như ưu đãi về cổ tức, ưu đãi về quyền biểu quyết… trong đó ưuđãi về cổ tức là loại phổ biến hơn cả

* Cổ phiếu ưu đãi cổ tức có một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Quyền ưu tiên về cổ tức và thanh toán khi thanh lý công ty Khác với cổ phiếu thường, cổphiếu ưu đãi cổ tức mang lại cho người nắm giữ nó được hưởng một khoản lợi tức cổ phần cốđịnh, được xác định trước mà không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty Mặt khác cổđông ưu đãi cũng được nhận cổ tức trước cổ đông thường Khi giải thể hay thanh lý công ty, cổđông ưu đãi được thanh toán giá trị cổ phiếu của họ trước các cổ đông thường

- Sự tích lũy cổ tức: Phần lớn cổ phiếu ưu đãi của các công ty phát hành đều là cổ phiếu ưuđãi tích lũy Điều đó có nghĩa là, nếu một năm nào đó công ty gặp khó khăn trong kinh doanh thì

có thể tuyên bố hoãn trả lợi tức cổ phần ưu đãi Số cổ tức đó được tích lũy lại, chuyển sang kỳ kếtiếp và được trả trước khi công ty công bố trả cổ tức cho cổ đông thường Các quy định này đượccoi là một biện pháp bảo vệ cổ đông ưu đãi

- Không được hưởng quyền bỏ phiếu: không giống với các cổ đông thường, các cổ đông ưuđãi không được hưởng quyền bỏ phiếu để bầu ra Hội đồng quản trị và biểu quyết quyết định cácvấn đề về quản lý công ty Ngoài ra, một số công ty cổ phần ở các nước, khi phát hành cổ phiếu ưuđãi có điều khoản quy định cổ đông ưu đãi có quyền biểu quyết nếu công ty không trả được lợi tức

cổ phiếu ưu đãi trong một thời kỳ nhất định, ví dụ: ở Pháp thường quy định nếu 3 tài khóa liền màcông ty không chi trả được lợi tức cổ phiếu ưu đãi thì cổ đông ưu đãi được quyền biểu quyết, vàquyền này sẽ hết hiệu lực khi lợi tức cổ phần nợ những năm trước đã được thanh toán đủ

- Trên cổ phiếu có ghi cổ tức và mệnh giá

* Các loại cổ phiếu ưu đãi cổ tức:

- Cổ phiếu ưu đãi tích luỹ (Cumulative Preferred P/S)

Là loại cổ phiếu mà nếu một năm nào đó công ty không có lãi để chi trả cổ tức và cổ tức đóđược nợ lại trong năm tới và sẽ được trả gộp luôn cùng với cổ tức năm tới hay sẽ được trả vảo mộtnăm nào đó mà công ty có đủ tiền để trả

- Cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ (Non-Cumulative Preferred P/S)

Là loại cổ phiếu mà trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ, công ty không có tiền để trả cổtức cho cổ phiếu ưu đãi loại này thì khoản cổ tức đó sẽ bị mất luôn Kỳ hoạt động tiếp theo, dùcông ty làm ăn rất hiệu quả, khoản cổ tức chưa chi trả của kì trước cũng không được truy lĩnh màchỉ chi trả khoản cổ tức của kì hiện hành

- Cổ phiếu ưu đãi tham dự (Participating Preferred P/S)

Là loại cổ phiếu ưu đãi mà ngoài việc nhận cổ tức theo mức đã công bố trước người chủ sở

Trang 25

hữu nó còn được nhận thêm khoản cổ tức đặc biệt nếu năm đó công ty hoạt động kinh doanh cóhiệu quả cao vượt ngưỡng theo quy định.

- Cổ phiếu ưu đãi không tham dự (Non-Participating Preferred P/S)

Là loại cổ phiếu ưu đãi mà người chủ sở hữu chỉ được nhận cổ tức theo mức đã công bốtrước, ngoài ra không được nhận thêm khoản cổ tức nào vào những năm công ty hoạt động kinhdoanh có hiệu quả cao

- Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi (Convertible Preferred P/S)

Là loại cổ phiếu mà khi phát hành có ghi kèm điều khoản cho phép người chủ sở hữu chuyểnđổi nó thành một số lượng nhất định cổ phiếu thường Giá cả loại cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổidao động nhiều hơn các loại cổ phiếu ưu đãi khác vì nó gắn liền với cổ phiếu thường Nếu công tythành đạt, giá trị cổ phiếu thường trên thị trường tăng lên thì giá cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổicũng gia tăng tương ứng

- Cổ phiếu ưu đãi có thể thu hồi (Redeemable Preferred P/S)

Là loại cổ phiếu ưu đãi mà khi phát hành có ghi kèm điều khoản là công ty có thể thu hồibằng cách bồi hoàn một số tiền, cộng thêm một khoản thưởng nhất định cho người chủ sở hữu.Thường thì các công ty sử dụng quyền thu hồi này để thu hồi các cổ phiếu có lãi suất cổ phần cao

và thay thế bằng những cổ phiếu có lãi suất thấp hơn nhằm cải thiện tình hình tài chính của côngty

* Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần có thể phát hành các loại cổ phiếu ưuđãi sau:

- Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết: loại cổ phiếu này chỉ phát hành cho tổ chức được Chính phủ ủyquyền và cổ đông sáng lập Thời gian hiệu lực của cổ phiếu là 3 năm kể từ khi được cấp giấychứng nhận đăng ký kinh doanh, sau đó chuyển thành cổ phiếu thường

- Cổ phiếu ưu đãi về cổ tức

- Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại

- Cổ phiếu ưu đãi khác (do điều lệ công ty quy định)

● Theo khả năng thu nhập và trạng thái công ty phát hành

- Cổ phiếu thượng hạng (blue chip stocks)

Cổ phiếu thượng hạng là cổ phiếu do các công ty lớn, ổn định trong sản xuất kinh doanh, có

uy tín tên tuổi trên thương trường phát hành Vì lý do cổ tức được chia hàng năm ổn định nên giáloại cổ phiếu này thường ổn định và sẽ có xu hướng gia tăng khi lãi suất vay vốn trên thị trườnggiảm

- Cổ phiếu tăng trưởng (Growth stocks)

Cổ phiếu tăng trưởng do các công ty cổ phần đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh pháthành Đây là những công ty cổ phần có tốc độ tăng thị phần và thu nhập công ty nhanh hơn so vớitốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Ngược lại với cổ phiếu thượng hạng, cổ phiếu tăng trưởng có

tỷ lệ cổ tức thấp, thậm chí có năm không có cổ tức Lý do của đặc trưng này bắt nguồn từ quanđiểm tái đầu tư của công ty phát hành muốn giành phần lớn lợi nhuận để tài trợ cho chiến lượcphát triển kinh doanh

- Cổ phiếu phòng vệ

Cổ phiếu phòng vệ là cổ phiếu của những công ty mà sự ổn định của chúng hầu như khôngphụ thuộc vào sự suy thoái của nền kinh tế Đó là những công ty sản xuất kinh doanh các hàng hóathiết yếu cho nhu cầu sinh hoạt như thực phẩm, bánh kẹo, nước giải khát… Trong khi các loại cổphiếu khác bị giảm giá mạnh khi nền kinh tế suy thoái, thì cổ phiếu phòng vệ thường vẫn giữ giá

vì có mức cổ tức ổn định Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển, cổ phiếu phòng vệ cũng khó có cơhội tăng giá như các loại cổ phiếu thông thường khác

- Cổ phiếu thu nhập (Income stocks)

Cổ phiếu thu nhập có mức cổ tức cao hơn mức trung bình Đây là các lọai cổ phiếu do các

Trang 26

công ty thuộc lĩnh vực công ích phát hành và thường phát hành cho những người già và nhữngngười về hưu.

- Cổ phiếu chu kì (Cylical stocks)

Cổ phiếu chu kỳ là cổ phiếu của những công ty có lợi nhuận không ổn định mà phụ thuộc vàochu kỳ sống sản phẩm của công ty trên thị trường Điển hình là cổ phiếu của các công ty thuộc lĩnhvực kinh doanh sắt thép, xi măng, ô tô, máy công cụ,

- Cổ phiếu thời vụ (Seasonal stocks)

Cổ phiếu thời vụ là cổ phiếu của các công ty cổ phần có tính mùa vụ trong họat động sản xuấtkinh doanh Tính thời vụ đã làm cho thu nhập của công ty không ổn định mà biến động theo thời

vụ kinh doanh

● Theo khả năng chuyển nhượng

- Cổ phiếu ghi danh: Là loại cổ phiếu có ghi tên người nắm giữ Tên và thông tin cá nhân của

chủ sở hữu được đăng ký và quản lý tại công ty phát hành

Cổ phiếu ghi danh không được chuyển nhượng tự do và thường được phát hành cho các sánglập viên và các thành viên chủ chốt của HĐQT

- Cổ phiếu vô danh: Là loại cổ phiếu không ghi tên người nắm giữ Tên và thông tin cá nhân

của chủ sở hữu được không được lưu giữ và quản lý tại công ty phát hành Cổ phiếu vô danh đượcchuyển nhượng tự do trên TTCK và phát hành rộng rãi ra công chúng

♦ Những đặc trưng của cổ phiếu ưu đãi giống cổ phiếu thường:

- Cùng thể hiện quyền sở hữu đối với công ty

- Không có thời hạn thanh toán vốn gốc

- Lợi tức cổ phần không được tính giảm trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp

- Khi công ty gặp khó khăn trong kinh doanh thu được ít lợi nhuận hoặc không thu được lợinhuận thì có thể hoãn trả lợi tức cổ phần ưu đãi mà không bị đe dọa bởi nguy cơ phá sản

♦Những đặc trưng của cổ phiếu ưu đãi giống trái phiếu:

- Lợi tức cổ phiếu ưu đãi được trả theo mức xác định trước

- Khi công ty thu được lợi nhuận cao thì cổ đông ưu đãi không được tham dự vào việc phânchia phần lợi nhuận cao đó (nếu là cổ phiếu ưu đãi không tham dự), ngược lại nếu công ty kinhdoanh sút kém công ty vẫn phải có trách nhiệm thanh toán lợi tức cho cổ đông ưu đãi, tuy nhiêncông ty có thể hoãn trả vào kỳ tiếp theo

- Về cơ bản cổ đông ưu đãi không có quyền biểu quyết (trừ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết)

- Khi công ty bị phá sản cổ đông ưu đãi có quyền ưu tiên được phân chia tài sản trước cổđông thường

♦ Giống và khác nhau giữa cổ phiếu thường và trái phiếu công ty:

Xét trên góc độ doanh nghiệp, cổ phiếu và trái phiếu đều là chứng khoán và là công cụ màdoanh nghiệp có thể sử dụng để huy động vốn Tuy nhiên cổ phiếu thường và trái phiếu có nhữngđiểm khác nhau cơ bản sau:

- Cổ phiếu là chứng khoán vốn, còn trái phiếu là chứng khoán nợ Việc phát hành cổ phiếulàm tăng vốn chủ sở hữu, còn phát hành trái phiếu làm tăng nợ

- Cổ phiếu không có kỳ hạn thanh toán, người mua cổ phiếu không thể trực tiếp rút vốn rakhỏi công ty mà chỉ có thể chuyển nhượng cho người khác Trái phiếu có kỳ hạn thanh toán và đãđược xác định trước Khi trái phiếu đến hạn thanh toán, công ty có trách nhiệm hoàn vốn cho tráichủ theo mệnh giá

- Nhìn chung lợi tức trái phiếu được xác định trước (cố định hoặc thả nổi lãi suất) khôngphụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty cổ phần Lợi tức cổ phiếu phụ thuộc vào kết quảhoạt động của công ty Khi công ty thanh lý, giải thể, người mua trái phiếu được thanh toán trướcngười có cổ phiếu

Trang 27

- Người mua cổ phiếu là cổ đông - chủ sở hữu công ty có quyền quản lý công ty đồng thờicũng là người gánh chịu rủi ro của công ty Còn người mua trái phiếu là người cho vay không cóquyền tham gia vào việc quản lý công ty và nói chung không phải chịu rủi ro khi công ty kinhdoanh kém hiệu quả

2.2.3 Chứng chỉ quĩ đầu tư

● Sự ra đời của quỹ đầu tư

Trong giai đoạn đầu phát triển của TTCK, các nhà đầu tư trên thị trường chủ yếu là các nhàđầu tư cá nhân, với đặc trưng là việc đầu tư của họ thường được thực hiện một cách độc lập theo ýmuốn chủ quan của cá nhân họ Là những nhà đầu tư không chuyên nghiệp, lại hạn chế về kiếnthức và kinh nghiệm đầu tư, mặt khác do quy mô vốn không lớn nên khó có khả năng đa dạng hóadanh mục đầu tư… Tất cả những điều nêu trên là nguyên nhân làm gia tăng rủi ro tiềm ẩn, giảmkhả năng sinh lợi kì vọng trong đầu tư chứng khoán

Quá trình phát triển của TTCK đã dẫn tới sự ra đời của các quỹ đầu tư chứng khoán Quỹ đầu

tư là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vàochứng khoán và các loại tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không cóquyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ Đây là một định chế tàichính, một tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, thực hiện huy động vốn của các cá nhân vàtập thể để đầu tư chứng khoán Khác với đầu tư cá nhân, do có lợi thế về quy mô vốn đầu tư, hơnnữa việc đầu tư được thực hiện bởi những nhà đầu tư chuyên nghiệp, có kiến thức và kinh nghiệmtrong đầu tư chứng khoán nên lợi nhuận kì vọng thu được từ hoạt động đầu tư này thường cao hơn.Việc hình thành và gia tăng vốn của quỹ đầu tư chứng khoán có thể thực hiện bằng một tronghai con đường:

- Thứ nhất, Quỹ đầu tư chứng khoán thành lập theo quy chế của một công ty cổ phần (đượcgọi là công ty đầu tư chứng khoán), có tư cách pháp nhân và có một hội đồng quản trị để điều hànhhoạt động của quỹ Công ty phát hành cổ phiếu trong một số thành viên giới hạn, hoặc phát hànhrộng rãi ra công chúng để huy động vốn (hình thành quỹ đầu tư) Người mua cổ phiếu giữ vị trí làcác cổ đông, là đồng sở hữu công ty đầu tư chứng khoán

- Thứ hai, Công ty quản lý quỹ phát hành các chứng chỉ quỹ và bán chứng chỉ này cho cácnhà đầu tư để huy động vốn (hình thành quỹ đầu tư) Trong mô hình quỹ này nhà đầu tư sở hữuchứng chỉ quỹ không giữ vị trí là cổ đông mà đơn thuần là người ủy thác cho công ty quản lí quỹ

sử dụng vốn huy động được qua phát hành chứng chỉ quỹ để thực hiện hoạt động đầu tơisao chophù hợp với điều lệ của quỹ và pháp luật hiện hành

● Các loại quỹ đầu tư

Có nhiều loại quỹ đầu tư chứng khoán như quỹ thành viên, quỹ đại chúng, quỹ mở, quỹđóng…

Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn không vượtquá 30 thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân

Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng.Theo cơ chế hoạt động, quỹ đại chúng thường bao gồm: quỹ mở và quỹ đóng

Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ (hoặc cổ phiếu) đã chào bán ra công chúngkhông được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư Chứng chỉ quỹ (hoặc cổ phiếu) được niêm yết vàgiao dịch trên thị trường thứ cấp giữa các nhà đầu tư mà không làm ảnh hưởng đến quy mô nguồnvốn của quỹ

Quỹ mở (còn gọi là quỹ hỗ tương) là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ (hoặc cổ phiếu) đãchào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư Người đầu tư có thể yêucầu người quản lí mua lại chứng chỉ quỹ đầu tư (hoặc cổ phiếu) của quỹ vào bất cứ lúc nào trongkhi quỹ vẫn liên tục phát hành chứng chỉ (hoặc cổ phiếu) mới ra thị trường Vì vậy số vốn của quỹ

Trang 28

không ngừng thay đổi Với đặc điểm này, cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ không giao dịch trên thịtrường thứ cấp mà giao dịch trực tiếp với quỹ hoặc với các đại lý được ủy quyền giao dịch củaquỹ.

● Thế nào là chứng chỉ quỹ đầu tư

Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với mộtphần vốn góp của quỹ đại chúng

Đặc điểm của chứng chỉ quỹ:

- Chứng chỉ quỹ do công ty quản lí quỹ đầu tư phát hành nhằm huy động vốn để đầu tư chứngkhoán hoặc các tài sản khác nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận

- Chứng chỉ quỹ là bằng chứng xác nhận việc góp vốn của nhà đầu tư vào quỹ, do đó lợi ích(thu nhập) mà mỗi nhà đầu tư được hưởng phụ thuộc vào kết quả đầu tư của quỹ và tỉ lệ chứng chỉquỹ mà nhà đầu tư nắm giữ so với tổng số chứng chỉ quỹ của quỹ đó đang lưu hành

- Tùy theo đặc điểm của mỗi loại quỹ mà nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ có thể thu hồivốn trực tiếp từ tổ chức phát hành chứng chỉ quỹ, hoặc đem bán chúng trên TTCK

Phân biệt sự giống và khác nhau giữa đầu tư cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán và đầu tư chứng chỉ quỹ do công ty quản lí quỹ phát hành:

Cả hai hình thức đầu tư mua cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán và mua chứng chỉ quỹ

có đặc điểm chung: đó là, người đầu tư không trực tiếp thực hiện hành vi đầu tư chứng khoán màgián tiếp thông qua quỹ, đồng thời được hưởng lợi từ kết quả đầu tư của quỹ theo tỉ lệ cổ phiếuhoặc chứng chỉ quỹ mà họ nắm giữ so với tổng số cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ đang lưu hành của

tổ chức phát hành

Tuy nhiên, giữa hai hình thức đầu tư cũng có những điểm khác nhau Nếu nắm giữ cổ phiếucủa công ty đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư giữ vai trò là cổ đông, có quyền ứng cử, bầu cử vàbiểu quyết các vấn đề quan trọng của công ty Ngược lại, nếu sở hữu chứng chỉ quỹ do các công tyquản lí quỹ phát hành, nhà đầu tư không được quyền tham gia vào quá trình ra các quyết định đầu

tư của quỹ với tư cách là đồng sở hữu mà chỉ thuần túy là người ủy thác việc đầu tư cho công tyquản lý quỹ

2.2.4 Các chứng khoán phái sinh (Derivatives)

Chứng khoán phái sinh là những chứng khoán được hình thành trên cơ sở các chứng khoán

gốc (cổ phiếu, trái phiếu) nhằm các mục tiêu khác nhau như: bảo vệ quyền lợi của người sở hữuchứng khoán gốc, phân tán rủi ro, bảo vệ hoặc tạo lợi nhuận

Chứng khoán phái sinh có nhiều loại như: quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn,

hợp đồng kì hạn, hợp đồng tương lai…

2.2.4.1 Quyền mua cổ phần (Rights Certificate)

Quyền mua cổ phần hay cổ phiếu (còn gọi là quyền mua trước / hay đặc quyền mua) là quyềnđược ưu tiên mua trước cổ phiếu phổ thông mới mà công ty cổ phần giành cho các cổ đông hiệnhữu của công ty

Theo luật chứng khoán của Việt Nam thì Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty

cổ phần phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm đảm bảo cho cổ đông hiện hữuquyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định (mua cổ phiếu mới theo một mức

giá ấn định trước trong một khoảng thời gian xác định)

Nội dung cơ bản của chứng nhận quyền mua cổ phần:

- Tên hàng hóa cơ sở: tên của loại chứng khoán được mua theo quyền

- Thời gian hiệu lực của quyền

- Số lượng quyền mua mà cổ đông được hưởng

- Giá mua cổ phiếu theo quyền

- Tỉ lệ quyền mua / 1 cổ phiếu mới

Trang 29

Số lượng cổ phiếu mới được quyền mua đối với từng cổ đông hiện hữu phụ thuộc vào cácyếu tố:

- Số lượng cổ phiếu phổ thông cũ công ty đã phát hành

- Số lượng cổ phiếu phổ thông mới công ty sẽ phát hành trong đợt phát hành

- Số lượng cổ phiếu của công ty mà cổ đông đang sở hữu

Số cổ phiếu mới Số quyền mua được phân phối

được quyền mua =

của cổ đông hiện hữu Tỉ lệ quyền mua /1 cổ phiếu mới

Đặc điểm của quyền mua trước:

- Được phát hành theo từng đợt với thời hạn hiệu lực thường rất ngắn khi các công ty cổphần muốn tăng vốn điều lệ để thực hiện các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh

- Mỗi cổ phần đang lưu hành được cấp 1 quyền mua trước Số lượng quyền cần thiết để đượcmua một cổ phiếu mới (tỉ lệ quyền mua / 1 cổ phiếu mới) phụ thuộc vào tổng số lượng quyền và sốlượng cổ phiếu mới dự kiến phát hành theo kế hoạch của công ty

Số lượng Số tiền cần huy động

cổ phiếu mới =

cần phát hành Giá bán 1 cổ phiếu theo quyền

Số quyền Số cổ phiếu cũ (số cổ phiếu đang lưu hành)

cần có để mua được =

một cổ phiếu mới Số cổ phiếu mới

- Mức giá ấn định (giá đăng ký/ giá bán cổ phiếu theo quyền) cổ phiếu mới đối với quyềnmua trước thường thấp hơn giá thị trường, bởi 2 lý do :

+ Thứ nhất, bản thân giá thị trường của cổ phiếu đã chứa đựng một đặc trưng vốn có của làkhông ổn định Ngay sau khi quyền được phát hành, lượng cung cổ phiếu trên thị trường gia tăngtrong khi nhu cầu có thể không thay đổi và đó là nguyên nhân dẫn đến giảm giá cổ phiếu Do đó,nếu giá cổ phiếu theo quyền cao hơn giá thị trường sẽ dẫn tới hệ quả tất yếu là công ty không thểthực hiện được kế hoạch phát hành cổ phiếu phổ thông mới của mình

+ Thứ hai, mức chênh lệch giá là cơ sở để gia tăng sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư màtrước hết là các cổ đông hiện hữu của công ty

- Đối với các cổ đông hiện hữu, nếu không có nhu cầu đầu tư thêm vốn vào công ty của mình(không thực hiện quyền) thì có thể chuyển nhượng quyền cho nhà đầu tư khác trong thời gianquyền chưa hết hạn hiệu lực Quyền mua trước có thể được giao dịch, chuyển nhượng nhiều lầntrên TTCK giữa các nhà đầu tư

- Giá quyền mua trước được giao dịch trên thị trường biến động phụ thuộc vào :

+ Mức chênh lệch giữa giá theo quyền và thị giá cổ phiếu đó

+ Số quyền cần có để mua được một cổ phiếu mới

+ Xu hướng biến động giá hiện hành của cổ phiếu trên thị trường

+ Thời hạn hiệu lực còn laị của quyền mua trước

Người ta thường xác định giá tham chiếu của quyền theo công thức sau:

Gọi P0 là giá cổ phiếu trên thị trường vào ngày giao dịch được hưởng quyền mua cổ phiếu(thường căn cứ theo giá thị trường của cổ phiếu trước ngày phát hành quyền - hay giá trước thờiđiểm chốt danh sách cổ đông), P1 là giá (dự kiến) cổ phiếu ngày không hưởng quyền mua cổphiếu, số cổ phiếu hiện đang lưu hành là m, số cổ phiếu dự kiến phát hành mới là n, F là giá cổ

Trang 30

phiếu theo quyền, ∑R là giá của tổng số quyền để mua được 1 cổ phiếu mới

Theo nguyên tắc ngang giá ta có các công thức sau:

Cần lưu ý rằng P1 là mức giá của cổ phiếu dự đoán sau ngày phát hành quyền, và theo nguyêntắc ngang giá thì P1 < P0 Trên thực tế, do nhiều yếu tố tác động khác nhau mà P1 có thể <P0, hoặc

= P0 , hoặc > P0

Ví dụ: ông NAM mua cổ phiếu VTC vào ngày 26/7/2006 (ngày giao dịch được hưởng quyềnmua cổ phiếu VTC trong đợt phát hành mới) với giá 52.600đ, ngày 31/7/2006 là ngày chốt danhsách cổ đông được quyền mua cổ phiếu VTC trong đợt phát hành mới với tỉ lệ 5:1 (5 cổ phiếu cũđược mua 1 cổ phiếu mới) Giá bán cổ phiếu VTC theo quyền mua là 43.800đ

2.2.4.2 Chứng quyền (Warrants)

Chứng quyền (còn gọi là bảo chứng phiếu) là loại chứng khoán được phát hành cùng với việcphát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền muamột số lượng cổ phiếu thường (hoặc chuyển đổi chứng khoán đó sang cổ phiếu thường) theo mộtmức giá xác định trước trong một thời hạn nhất định

Nội dung cơ bản của chứng quyền:

- Tên hàng hóa cơ sở

- Thời gian hiệu lực của chứng quyền

- Giá mua cổ phiếu theo chứng quyền hoặc giá chuyển đổi

- Tỉ lệ chứng quyền / 1 chứng khoán được chuyển đổi

Việc phát hành chứng quyền là hình thức quảng cáo về triển vọng trong tương lai của công

Trang 31

ty, nhằm làm tăng tính hấp dẫn của chứng khoán trong đợt phát hành đó

Chứng quyền có các đặc điểm sau:

- Chứng quyền do các công ty phát hành chứng khoán gốc phát hành

- Chứng quyền có thời hạn hiệu lực dài hơn quyền mua cổ phần, thông thường từ 5 đến 10năm, thậm chí có thể là vĩnh viễn

- Giá mua cổ phiếu ghi trên chứng quyền bao giờ cũng cao hơn giá thị trường của cổ phiếu tạithời điểm phát hành Giá này thường cố định hoặc cũng có thể được tăng lên theo một định kỳ nàođó

- Người nắm giữ chứng quyền được quyền mua hoặc chuyển đổi sang cổ phiếu thường, hoặc

có thể giao dịch, mua bán trên TTCK Giá cả của chứng quyền được quyết định bởi :

+ Thứ nhất, giá trị nội tại của chứng quyền Giá trị nội tại của chứng quyền là tổng mức

chênh lệch giá giữa giá theo chứng quyền và dự báo giá thị trường của cổ phiếu vào thời điểmđược phép mua hoặc chuyển đổi

Ví dụ :

Tổng chứng quyền ông A nắm giữ cho phép mua một số cổ phiếu với tổng giá thanh toán là2.000.000 VND (theo giá ghi trên chứng quyền) Giá thị trường của số cổ phiếu này ở thời điểmđược mua cổ phiếu theo quyền là 2.200.000 VND thì giá trị nội tại của chứng quyền đó sẽ là200.000VND

Giá cả của chứng quyền được giao dịch trên thị trường bao giờ cũng nhỏ hơn giá trị nội tạicủa nó

+ Thứ hai, độ dài thời hạn hiệu lực còn lại của chứng quyền Thời hạn hiệu lực còn laị của

chứng quyền càng ngắn thì giá chứng quyền càng thấp và ngược lại

- Người nắm giữ chứng quyền không có những quyền của một cổ đông trong công ty (không

có quyền biểu quyết, nhận cổ tức…)

2.2.4.3 Hợp đồng quyền chọn (Option contracts)

● Khái niệm: Hợp đồng quyền chọn là loại hợp đồng cho phép bên nắm giữ quyền (bên mua

quyền) được mua (nếu là hợp đồng quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là hợp đồng quyền chọn bán)nhưng không bắt buộc một khối lượng chứng khoán nhất định với một mức giá và trong một thờihạn xác định

● Các yếu tố cơ bản của hợp đồng quyền chọn:

- Tên và khối lượng chứng khoán được mua, hoặc bán theo quyền

- Loại quyền: quyền chọn mua - call option hay chọn bán - put option;

- Cách thực hiện quyền: quyền chọn kiểu Mỹ hay kiểu Âu,

- Thời hạn hiệu lực của quyền,

- Giá hàng hóa cơ sở (giá mua, hoặc bán chứng khoán theo quyền),

- Giá (phí) quyền chọn mà người mua quyền phải trả cho người bán quyền

Người nắm giữ quyền chọn có quyền mua, hoặc quyền bán chứng khoán trong thời gian hiệulực của hợp đồng Một hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểmnào trong thời gian hiệu lực của nó, kể cả ngày đáo hạn của hợp đồng Còn một hợp đồng quyềnchọn kiểu Âu chỉ được phép thực hiện vào ngày hợp đồng đáo hạn

● Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn:

- Hợp đồng quyền chọn được kí kết ở hiện tại và tại thời điểm này người mua quyền phải trảcho người bán quyền phí quyền chọn

- Hợp đồng quyền chọn không có tính bắt buộc, do đó trong thời gian hiệu lực của hợp đồng,người nắm giữ quyền có thể thực hiện, hoặc không thực hiện quyền chọn, hoặc có thể bán quyềncho người khác

- Người bán quyền có trách nhiệm chuyển giao chứng khoán (đối với quyền chọn mua) hoặc

Trang 32

thanh toán tiền (đối với quyền chọn bán) cho người mua quyền nếu người mua quyền thực hiệnhợp đồng.

- Hợp đồng quyền chọn được các nhà đầu tư sử dụng để bảo vệ lợi nhuận hoặc hạn chế thua

lỗ trong đầu tư kinh doanh chứng khoán

● Các loại quyền chọn

+ Quyền chọn mua (Call option)

Khái niệm: Quyền chọn mua là loại quyền chọn cho phép bên mua quyền có quyền nhưngkhông bắt buộc mua một khối lượng chứng khoán nhất định với một mức giá và trong một thờihạn xác định

+ Quyền chọn bán (Put option)

Khái niệm: Quyền chọn bán là loại quyền chọn cho phép bên mua quyền có quyền nhưngkhông bắt buộc bán một khối lượng chứng khoán nhất định với một mức giá và trong một thời hạnxác định

● Giá trị nội tại của quyền chọn

Là giá trị mà người nắm giữ quyền sẽ nhận được bằng cách thực hiện ngay lập tức

Gọi E là giá chứng khoán theo quyền, S là giá chứng khoán mua bán giao ngay ở hiện tại

E < S Quyền chọn mua có lãi (in the money)

E = S Quyền chọn mua hòa vốn (at the money)

E > S Quyền chọn mua lỗ (out of money)

Đối với quyền chọn bán thì ngược lại

● Giá trị thời gian của quyền

Là khoản trội ra giữa giá của một quyền so với giá trị nội tại của nó

VD: Giá quyền chọn mua 1cổ phiếu ABC là C = 4000đ, E = 40.000, S = 42.000

Giá trị thời gian của quyền 4000 - (42.000 - 40.000) = 2000 đ

● Các yếu tố ảnh hưởng đến giá quyền chọn

- Giá thực hiện (E): Đối với quyền chọn mua chứng khoán , nếu giá thực hiện theo quyền

càng cao so với giá hiện hành của chứng khoán trên thị trường (S) thì giá quyền chọn mua càngthấp và ngược lại Đối với quyền chọn bán chứng khoán, nếu giá thực hiện theo quyền càng cao thìgiá quyền chọn bán càng cao và ngược lại

- Xu hướng biến động giá giao ngay (S) của chứng khoán cơ sở Đối với quyền chọn mua, giá

quyền chọn có quan hệ cùng chiều với sự tăng giảm giá của chứng khoán cơ sở Ngược lại, đối vớiquyền chọn bán, giá quyền chọn có quan hệ ngược chiều với sự biến động của giá chứng khoán cơsở

- Thời hạn hiệu lực còn lại của quyền chọn Thông thường, nếu thời hạn hiệu lực của quyền

chọn càng dài thì giá quyền càng cao Ngược lại, thời hạn hiệu lực còn lại càng ngắn thì giá quyềncàng thấp

- Lãi suất ngắn hạn phi rủi ro hiện hành trên thị trường Yếu tố này chủ yếu liên quan tới sự

tăng, giảm giá của quyền chọn mua hoăc bán trái phiếu Giá quyền chọn mua trái phiếu sẽ tăng nếulãi suất ngắn hạn phi rủi ro hiện hành tăng Điều này ngược lại đối với giá quyền chọn bán tráiphiếu

- Lãi suất coupon Với lý do các coupon luôn có xu hướng làm giảm giá quyền mua trái

phiếu, nên việc nắm giữ trái phiếu sẽ trở nên hấp dẫn hơn so với việc nắm giữ quyền Điều đó sẽlàm cho giá quyền chọn mua trái phiếu có coupon thấp hơn giá quyền mua trái phiếu thông thườngkhông có coupon Điều này hoàn toàn ngược lại đối với giá quyền chọn bán trái phiếu

- Xu hướng dao động của lãi suất trong thời hạn còn lại của quyền Điều này được giải nghĩa

là khi mức lãi suất dự đoán có xu hướng tăng thì giá quyền mua chứng khoán sẽ tăng, ngược lại,giá quyền bán chứng khoán sẽ giảm nếu nếu lãi suất dự đoán có xu hướng giảm sút Bởi lẽ, khi lãisuất dự đoán càng cao thì người nắm giữ chứng khoán không muốn tiếp tục nắm giữ chứng khoán,

Trang 33

điều này có lợi cho người nắm giữ quyền chọn mua và sẽ bất lợi cho những người nắm giữ quyềnchọn bán.

- v.v

Việc nghiên cứu sự tác động của các yếu tố tới sự tăng giảm giá quyền có một ý nghĩa quantrọng đối với người nắm giữ và nó lại càng quan trọng hơn đối với những người kinh doanh quyềnchọn trên TTCK bởi đây chính là những căn cứ cần thiết để xác định giá quyền chọn

● Sử dụng các hợp đồng quyền chọn giúp nhà đầu tư có thể đạt được các mục tiêu sau:

- Thứ nhất, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư chứng khoán Khi giá chứng khoán trên thị trường

có xu hướng tăng giá, người đầu tư thường có ý định mua chứng khoán ở thời điểm hịên tại và sẽbán chúng khi giá chứng khoán tăng lên Khi đó nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận Song để đạtđược mục tiêu lợi nhuận như mong muốn khi giá chứng khoán có xu hướng gia tăng không nhấtthiết phải thực hiện theo con đường kinh điển đó Thay vì việc bỏ vốn mua chứng khoán, nhà đầu

tư có thể mua quyền chọn mua Khi giá chứng khoán trên thị trường về tới mức giá như nhà đầu tư

đã dự đoán, anh ta sẽ thực hiện quyền mua đồng thời bán ngay số chứng khoán mua được theo giáthị trường hiện hành Như vậy, với phương thức này giao dịch này đã giúp cho nhà đầu tư nângcao hiệu suất vốn đầu tư của mình

- Thứ hai, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro Giảm thiểu rủi ro là mong muốn của mọi nhà đầu

tư Trên TTCK, quyền chọn được coi là một trong các công cụ hạn chế rủi ro hiệu quả khi mà giáthị trường của chứng khoán biến động theo xu hướng bất lợi cho người nhà đầu tư chứng khoán.Bằng việc sử dụng quyền chọn nhà đầu tư luôn giới hạn được mức thua lỗ luôn nhỏ hơn hoặc caonhất bằng số tiền bỏ ra mua quyền chọn (phí quyền chọn)

2.2.4.4 Hợp đồng kỳ hạn (Forward contracts)

Hợp đồng kỳ hạn là cam kết mua hoặc bán một hoặc một nhóm chứng khoán hoặc chỉ sốchứng khoán nhất định với một số lượng và một mức giá nhất định vào ngày xác định trong tươnglai

Như vậy, hợp đồng kỳ hạn cũng là một hợp đồng kinh tế trong đó hai bên mua bán thỏa thuận

và thống nhất với nhau các điều khoản của hợp đồng liên quan tới việc giao dịch chứng khoán vàomột thời điểm trong tương lai Khi thực hiện hợp đồng kỳ hạn, người mua chứng khoán sẽ nhậnđược chứng khoán đồng thời thanh toán tiền hàng cho người bán Người bán chuyển giao chứngkhoán và nhận tiền theo mức giá đã thỏa thuận và được ghi trong hợp đồng

2.2.4.5 Hợp đồng tương lai (Future contracts)

Hợp đồng tương lai là hợp đồng mua, hoặc bán một khối lượng chứng khoán nào đó, tại mộtthời điểm xác định trong tương lai Đây là loại hợp đồng đặc biệt được giao dịch theo tiêu chuẩncủa sở giao dịch

Đặc điểm của hợp đồng tương lai:

- Hoạt động mua bán được thực hiện theo các tiêu chuẩn mà sở giao dịch quy định Ví dụ:

Trang 34

loại chứng khoán được mua bán trên thị trường, thời gian đáo hạn, quy mô hợp đồng, mức kýquỹ

- Giá chứng khoán được hình thành theo nguyên tắc đấu giá, hoặc khớp lệnh Giá này không

cố định như hợp đồng kỳ hạn mà thay đổi hàng ngày theo giá thị trường

- Việc thanh toán lỗ, lãi với nhà đầu tư được thực hiện hàng ngày căn cứ vào quy mô hợpđồng và mức chênh lệch giá giữa giá đóng cửa ngày thanh toán với giá khớp lệnh (nếu là ngàythanh toán lãi, lỗ đầu tiên), với giá đóng cửa ngày hôm trước (nếu là các ngày thanh toán lãi, lỗtiếp theo)

- Đến ngày đáo hạn, phần lớn các hợp đồng tương lai không giao hàng mà thực hiện bằngmột hợp đồng đảo

2.3 PHÁT HÀNH VÀ NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN

2.3.1 Phát hành chứng khoán

2.3.1.1 Mục đích và chủ thể phát hành

Theo luật định, chủ thể phát hành chứng khoán là các tổ chức được phép phát hành chứngkhoán để huy động vốn sau khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định hiện hành của Chính phủ.Mỗi chủ thể khác nhau có thể phát hành một hoặc một số loại chứng khoán nhất định theo quyđịnh của pháp luật và mục đích phát hành cũng có thể khác nhau

● Doanh nghiệp

Một trong những điều kiện quan trọng cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanhnghiệp đó là vốn Thực tế đã chứng minh rằng vốn quyết định quy mô, hiệu quả kinh doanh, quyếtđịnh vị thế của doanh nghiệp trên thương trường Đồng thời với quy mô vốn cần thiết, các doanhnghiệp mới có điều kiện củng cố được uy tín của mình trong các quan hệ thanh toán với các đối tácliên quan Vì vậy, khi thiếu vốn để duy trì và mở rộng quy mô kinh doanh, các doanh nghiệp phải

có một cơ chế năng động để huy động vốn trong nền kinh tế Một trong những con đường có thểlựa chọn là phát hành chứng khoán ra thị trường cho công chúng các nhà đầu tư Thông qua việcphát hành chứng khoán, các doanh nghiệp sẽ huy động được một số vốn tương ứng với tổng gíaphát hành chứng khoán trong một đợt phát hành

Thông thường các công ty cổ phần (bao gồm cả các ngân hàng thương mại cổ phần), cácdoanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được quyền phát hành cổ phiếu; các công ty cổ phần, công tytrách nhiệm hữu hạn… được phát hành trái phiếu doanh nghiệp

● Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương

Chính phủ, mà người đại diện là các cơ quan chức năng của chính phủ và các chính quyền địaphương, trong những thời kỳ bội chi ngân sách, hoặc cần huy động vốn để thực hiện các chươngtrình xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các công trình công cộng… ngoài việc huy động cácnguồn vốn từ trong nước và nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể phát hành chứngkhoán cho công chúng các nhà đầu tư

Các loại chứng khoán do chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành thường bao gồm:công trái quốc gia, trái phiếu đầu tư, tín phiếu kho bạc

● Các công ty quản lí quỹ đầu tư

Các công ty quản lí quỹ đầu tư phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư nhằm huy động vốn để đầu tưvào các danh mục đầu tư chứng khoán hoặc các tài sản khác do công ty quản lí quỹ lựa chọn phùhợp với các chiến lược đầu tư kinh doanh của quỹ

2.3.1.2.Các hình thức phát hành

Phát hành chứng khoán là tổng hợp những nghiệp vụ liên quan đến kỹ thuật phát hành vàphân phối chứng khoán của tổ chức phát hành Để đảm bảo việc phát hành chứng khoán được thựchiện theo đúng kế hoạch và phù hợp với các mục tiêu của tổ chức phát hành, với các loại chứng

Trang 35

khoán khác nhau có thể được thực hiện bằng các phương thức khác nhau.

● Phát hành cổ phiếu

Phát hành cổ phiếu gắn với những công ty cổ phần hoặc các doanh nghiệp Nhà nước cổ phầnhóa theo chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước Việc phát hành cổ phiếu có thểđược thực hiện theo các hình thức dưới đây:

* Phát hành nội bộ

Là việc phát hành cổ phiếu cho các thành viên trong nội bộ tổ chức phát hành Phát hành nội

bộ thường được phát hành theo các hướng:

- Thứ nhất, phát hành cho người lao động của doanh nghiệp theo chương trình cổ phần hoádoanh nghiệp Nhà nước (DNNN)

- Thứ hai, phát hành cho các cổ đông hiện có theo quyền mua trước cổ phiếu

Phát hành nội bộ (còn gọi là phát hành riêng lẻ) chỉ được thực hiện trong phạm vi một sốngười nhất định Việc phát hành chứng khoán nội bộ thường không chịu sự điều chỉnh của luật về

CK & TTCK mà chịu sự điều chỉnh của những văn bản pháp luật khác như: Luật Công ty, LuậtDoanh nghiệp Việc phát hành riêng lẻ thường được miễn trừ các thủ tục xin phép ủy ban chứngkhoán Nhà nước (UBCKNN), và chứng khoán phát hành theo hình thức này không phải là đốitượng được giao dịch ở sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)

* Phát hành ra công chúng (phát hành trên TTCK)

Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán rộngrãi ra công chúng và khối lượng phát hành phải đạt tới một quy mô nhất định Chứng khoán đượcphát hành ra công chúng thường là đối tượng giao dịch trên TTCK tập trung, được điều chỉnh bởiluật pháp về CK & TTCK và chịu sự quản lý, giám sát của một cơ quan chuyên trách Đối vớinhững nước và khu vực có TTCK phát triển như: Mỹ, Nhật, Hồng Kông, Luật Chứng khoánkhông quy định cụ thể các điều kiện phát hành ra công chúng mà chỉ quy định những thủ tục màdoanh nghiệp phải thực hiện khi phát hành Còn ở những nước có TTCK mới nổi thường đưa ranhững điều kiện nhất định đối với tổ chức phát hành để đảm bảo đây là những doanh nghiệp có uytín, có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt

Việc phát hành cổ phiếu trên TTCK cho công chúng các nhà đầu tư bao gồm:

Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO - Initial Public Offering): là việc phát hành

trong đó cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được bán rộng rãi ra công chúng đầu tư

Phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng (chào bán sơ cấp, phân phối sơ cấp): là đợt phát hành

cổ phiếu bổ sung của công ty đại chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư

Phát hành cổ phiếu trên TTCK có thể được thực hiện bằng một trong các cách thức sau:

- Phát hành thông qua hình thức đấu giá

- Phát hành thông qua các tổ chức bảo lãnh phát hành như các ngân hàng, công ty bảo hiểm,công ty chứng khoán

● Phát hành trái phiếu

* Phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Khác với phát hành cổ phiếu, khi phát hành cổ phiếu sẽ làm tăng vốn điều lệ của công ty, cònphát hành trái phiếu sẽ làm tăng khoản nợ của công ty phát hành Phát hành cổ phiếu chỉ được thựchiện ở các công ty cổ phần, còn phát hành trái phiếu được thực hiện tại bất kỳ một loại hình doanhnghiệp nào nếu họ thỏa mãn các điều kiện phát hành Vì vậy, trên thực tế việc phát hành trái phiếuthường được thực hiện dưới hình thức phát hành rộng rãi ra công chúng Phát hành trái phiếudoanh nghiệp có thể được thực hiện ngay tại doanh nghiệp, hoặc tại các tổ chức bảo lãnh như công

ty tài chính, ngân hàng thương mại , hoặc tại sở giao dịch chứng khoán Thông thường nó đượcphát hành trên TTCK thông qua hình thức bảo lãnh hoặc đấu thầu Đây là hình thức phổ biến hiệnnay ở những nước mà TTCK đã phát triển

* Phát hành trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương

Trang 36

TPCP và trái phiếu chính quyền địa phương được phát hành theo các phương thức sau:

- Phát hành theo phương thức bán lẻ thông qua hệ thống KBNN Đây là phương thức mà hệthống kho bạc Nhà nước trực tiếp bán trái phiếu cho các nhà đầu tư (chủ yếu là các cá nhân, hộ giađình) tại hệ thống các quầy giao dịch lẻ của mình Với mức mệnh giá phát hành đa dạng, các nhàđầu tư được lựa chọn để phù hợp với nhu cầu đầu tư và khả năng thanh toán của mình Trongphương thức này, Chính phủ công bố một mức giá (lãi suất cố định hay lãi suất thả nổi) nhất định,thị trường là người quyết định khối lượng chứng khoán được phát hành

- Phát hành TPCP qua các tổ chức đại lý Về mặt kỹ thuật, phương thức này giống nhưphương thức bán lẻ qua hệ thống KBNN Tuy nhiên trái phiếu được bán thông qua các tổ chức đại

lý hưởng hoa hồng như các CTCK, các công ty tài chính và NHTM… Trường hợp không bán hếttrái phiếu, tổ chức đại lý được trả số trái phiếu còn lại cho Bộ Tài chính

- Bảo lãnh phát hành: là phương thức phát hành trong đó một, hoặc một số tổ chức bảo lãnh(thường là các tổ chức tài chính) giúp Bộ Tài chính thực hiện các thủ tục cần thiết trước khi pháthành TPCP ra thị trường, nhận mua TPCP để bán lại, hoặc mua lại số TPCP còn lại chưa đượcphân phối hết Tổ chức bảo lãnh chỉ có trách nhiệm thực hiện việc bao tiêu TPCP theo các điềukiện thoả thuận mà không bao hàm nghĩa vụ đối với người đầu tư thay cho Bộ Tài chính

- Phát hành theo phương thức đấu thầu trên TTCK Ở Việt Nam hiện nay, các tổ chức đượcphép đăng ký tham gia đấu thầu TPCP gồm: các ngân hàng, công ty tài chính, các công ty chứngkhoán (CTCK) Trước ngày tổ chức đấu thầu, Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) gửithông báo phát hành TPCP cho các thành viên tham gia đấu thầu Các thành viên tham gia phải mởtài khoản ký quỹ và tài khoản lưu ký chứng khoán tại ngân hàng chỉ định và thành viên lưu ký củaTTGDCK Mức ký quỹ được quy định theo tỷ lệ phần trăm (thông thường tối thiểu 5%) trên tổngkhối lượng đăng ký đấu thầu Việc đấu thầu được thực hiện theo phương thức cạnh tranh lãi suấthoặc không cạnh tranh lãi suất (lãi suất trúng thầu xác định theo kết quả của đấu thầu cạnh tranhlãi suất)

Mỗi phương thức phát hành đều có những ưu, nhược điểm nhất định Phát hành thông qua tổchức bảo lãnh, đại lý, hay đấu thầu giúp cho tổ chức phát hành huy động được số vốn lớn trongthời gian ngắn, tận dụng được lợi thế về cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ chuyên môn của các tổchức bảo lãnh, đại lý

Các ưu thế của phương thức đấu thầu là hướng vào thị trường, lấy sự điều tiết của thị trườnglàm nguyên tắc điều hành Cách làm như thế sẽ tạo ra cho thị trường một giá chuẩn, không gây ra

sự bất trắc cho nhà đầu tư, tạo được uy tín và lòng tin cho những người tham gia thị trường Tuynhiên, trong phương thức này, người phát hành cũng có những rủi ro tiềm ẩn, đó là: có thể không

có đủ số người đấu thầu để mua hết số lượng chứng khoán chào bán, hay lãi suất hình thành trênthị trường có thể cao hơn mức lãi suất tối đa mà Chính phủ có thể chấp nhận

Bán lẻ TPCP đòi hỏi hệ thống kho bạc nhà nước phải tự tổ chức bán chứng khoán Nếu mạnglưới tiêu thụ hạn chế thì không thể huy động được số vốn lớn trong thời gian ngắn, mặt khác chiphí cho việc huy động vốn theo phương thức này thường khá cao Vì vậy, bán lẻ TPCP thường sửdụng trong những trường hợp: nhu cầu vốn huy động không lớn, không đòi hỏi gấp rút về thờigian

Phương thức phát hành là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy độngvốn Nếu không xác định được phương thức phát hành thích hợp với điều kiện thực tế của nềnkinh tế thì tổ chức phát hành có thể sẽ không thành công trong việc huy động vốn

2.3.1.3 Điều kiện phát hành

Trong nền kinh tế thị trường, để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư, ổn định và lành mạnhhóa nền kinh tế vĩ mô cũng như góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư trên toàn bộ nền kinh tế,hạn chế tình trạng lừa đảo, các tổ chức phát hành muốn thực hiện việc phát hành chứng khoán đểhuy động vốn phải hội đủ các điều kiện hiện hành

Trang 37

● Điều kiện cần

* Đối với phát hành cổ phiếu

+ Điều kiện định lượng

- Phải có vốn điều lệ ở mức nhất định không nhỏ hơn mức tối thiểu theo quy định

- Sản xuất kinh doanh phải có lãi trong một khoảng thời gian nhất định tính đến thời điểm xinphát hành chứng khoán

- Tổng giá trị của đợt phát hành phải đạt quy mô nhất định

- Một tỉ lệ nhất định của đợt phát hành phải được bán cho 1 số lượng quy định công chúngđầu tư

- Cổ đông sáng lập phải nắm giữ một tỉ lệ tối thiểu nhất định vốn cổ phần của tổ chức pháthành trong thời hạn tối thiểu nhất định kể từ ngày kết thúc việc phát hành

- Trường hợp tổng giá trị theo mệnh giá của đợt phát hành vượt quá một mức nhất định thìphải có tổ chức bảo lãnh phát hành

+ Điều kiện định tính

- Thành viên HĐQT và tổng giám đốc (giám đốc) phải có trình độ, kinh nghiệm quản lý kinhdoanh

- Có phương án sử dụng có hiệu quả số vốn huy động được từ đợt phát hành

- Các báo cáo tài chính, bản cáo bạch và các tài liệu cung cấp thông tin của công ty phải có độtin cậy nhất định,

Trường hợp phát hành bổ sung: Ngoài các điều kiện như phát hành lần đầu còn phải đáp ứngthêm các điều kiện sau:

- Lần phát hành sau phải cách lần trước một khoảng thời gian nhất định

- Đã hoàn tất các đợt phát hành trước đó

- Giá trị cổ phiếu phát hành thêm không lớn hơn tổng giá trị cổ phiếu hiện đang lưu hành

Ở Việt Nam hiện nay, theo Luật Chứng khoán có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007, mộtCTCP muốn phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng cần thỏa mãn các điều kiện sau:

(1) Có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán tối thiểu 10 tỷ đồng (tính theo giátrị ghi trên sổ kế toán)

(2) Hoạt động kinh doanh năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không

có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán

(3) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đạihội đồng cổ đông thông qua

* Đối với phát hành trái phiếu

+ Phải có tỉ lệ tối thiểu tổng giá trị trái phiếu xin phép phát hành bán cho một số lượng ngườiđầu tư nhất định ngoài tổ chức, tùy theo quy mô vốn điều lệ của tổ chức phát hành

+ Phải có tổ chức bảo lãnh phát hành, trừ trường hợp bản thân tổ chức phát hành trái phiếu là

- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán tối thiểu là 10 tỷđồng (tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán)

- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thờikhông có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 1năm

- Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ số vốn huy động được từ đợt chào

Trang 38

bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua.

- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện pháthành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác

● Điều kiện đủ

Ngoài các điều kiện cần nêu trên (điều kiện theo quy định của pháp luật để có thể triển khaimột đợt phát hành chứng khoán), để tăng khả năng thành công cho mỗi đợt phát hành, các tổ chứcphát hành, các doanh nghiệp cần quan tâm giải quyết các vấn đề sau:

- Nâng cao uy tín của tổ chức phát hành với nhà đầu tư,

- Tìm hiểu nhu cầu thị trường để lựa chọn loại chứng khoán, thời điểm phát hành và phươngthức phát hành thích hợp nhất nhằm thỏa mãn được các điều kiện của nhà đầu tư

2.3.1.4 Lợi ích và bất lợi đối với doanh nghiệp khi phát hành chứng khoán

● Phát hành cổ phiếu

+ Những lợi ích:

- Thứ nhất, doanh nghiệp tăng được vốn đầu tư dài hạn nhưng không bị bắt buộc có tínhpháp lý phải trả khoản chi phí cho việc sử dụng vốn Khi kinh doanh bị thua lỗ, công ty không phảichia lợi tức cổ phần cho cổ đông

- Thứ hai, doanh nghiệp không có nghĩa vụ hoàn trả vốn cho cổ đông theo kỳ hạn cố định,điều đó giúp công ty chủ động sử dụng vốn mà không phải lo gánh nặng nợ nần

- Thứ ba, huy động vốn qua phát hành cổ phiếu thường làm giảm hệ số nợ và tăng mức độvững chắc về tài chính của công ty, qua đó làm tăng thêm khả năng huy động vốn và mức độ tínnhiệm cho doanh nghiệp,…

+ Những bất lợi:

- Một là, việc phát hành cổ phiếu thường ra công chúng làm tăng thêm cổ đông mới từ đóphải phân chia quyền bỏ phiếu và quyền kiểm soát công ty cho số cổ đông mới, gây bất lợi cho cổđông hiện hữu Mặt khác, nếu công ty hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao, phát hành cổ phiếuthường để huy động vốn sẽ không có lợi cho công ty bằng cách phát hành trái phiếu hay vay vốn

từ các tổ chức tín dụng

- Hai là, chi phí phát hành cổ phiếu thường nói chung cao hơn chi phí phát hành cổ phiếu

ưu đãi và trái phiếu

- Ba là, theo chế độ quản lý tài chính của nhiều nước, lợi tức cổ phần không được tính vàochi phí kinh doanh hợp lệ để giảm trừ thu nhập chịu thuế, trong khi đó lợi tức trái phiếu hay lãi vayđược tính vào chi phí kinh doanh làm giảm mức thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp…

● Phát hành trái phiếu

+ Những lợi ích

- Lợi tức trái phiếu được giới hạn ở mức độ nhất định Nếu doanh nghiệp kinh doanh cótriển vọng thu lợi nhuận cao sẽ làm tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu

- Chi phí phát hành trái phiếu thường thấp hơn phát hành cổ phiếu

- Khi phát hành trái phiếu, những người chủ sở hữu doanh nghiệp không bị phân chia quyềnkiểm soát doanh nghiệp cho những trái chủ

- Ở hầu hết các nước, lợi tức trái phiếu được tính vào chi phí kinh doanh làm giảm thu nhập

và thuế thu nhập phải nộp

- Khi phát hành trái phiếu mua lại doanh nghiệp có thể chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn

+ Bất lợi

- Doanh nghiệp có nghĩa vụ trả gốc và lợi tức cho các trái chủ đúng kỳ hạn Nếu đến thờiđiểm trả nợ công ty gặp khó khăn về tài chính sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán, tăngnguy cơ bị phá sản

- Việc tăng vốn bằng phát hành trấi phiếu có thể dẫn đến hệ số nợ cao Nếu công ty kinhdoanh thua lỗ sẽ làm tăng mức thua lỗ trên vốn chủ sở hữu, làm giảm vốn chủ sở hữu, giảm giá cổ

Trang 39

phiếu của công ty…

2.3.2 Niêm yết chứng khoán

2.3.2.1 Khái niệm và phân loại niêm yết chứng khoán

● Thế nào là niêm yết chứng khoán

Trên TTCK, các chứng khoán được giao dịch rất đa dạng và phong phú Bên cạnh nhữngchứng khoán có chất lượng, có uy tín với các nhà đầu tư, cũng có không ít những chứng khoánchất lượng thấp hoặc không ổn định đã làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư đối với TTCK Đểxây dựng lòng tin đối với các nhà đầu tư, đảm bảo thị trường hoạt động ổn định, trôi chảy và cóhiệu quả thì việc lựa chọn những chứng khoán có đủ tiêu chuẩn để niêm yết và giao dịch trênTTCK tập trung là hoàn toàn cần thiết

Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao dịch tại TTCK tập trung

● Phân loại niêm yết

Căn cứ vào tính chất và điều kiện niêm yết, niêm yết chứng khoán bao gồm:

- Niêm yết lần đầu: Là việc cho phép chứng khoán của một tổ chức phát hành được đăng ký

niêm yết giao dịch lần đầu tiên sau khi phát hành ra công chúng và đáp ứng đủ các tiêu chuẩn vềniêm yết

- Niêm yết bổ sung: Là việc tổ chức niêm yết tiến hành niêm yết các chứng khoán mới phát

hành với mục đích tăng vốn hoặc các mục đích khác sau khi đã được SGDCK chấp thuận

- Thay đổi niêm yết: Là việc các tổ chức niêm yết thay đổi tên giao dịch, khối lượng, mệnh

giá hoặc tổng giá trị cổ phiếu của mình

- Niêm yết lại: Là việc SGDCK cho phép tổ chức niêm yết được tiếp tục niêm yết trở lại các

chứng khoán đã bị đình chỉ niêm yết trước đây theo quyết định của SGD

- Niêm yết cửa sau: Là việc các tổ chức, nhóm không niêm yết tiến hành việc sáp nhập, hoặc

liên kết với các tổ chức niêm yết để được quyền kiểm soát tổ chức niêm yết

- Niêm yết toàn phần và niêm yết từng phần: Là hình thức niêm yết mà việc niêm yết được

thực hiện toàn bộ hoặc chỉ một phần số chứng khoán đã được phát hành ra công chúng các nhà đầu

tư của thị trường

2.3.2.2 Tiêu chuẩn và thủ tục niêm yết chứng khoán

●Tiêu chuẩn niêm yết chứng khoán tại các TTCK tập trung

SGDCK là một TTCK có tổ chức, và điều quan trọng hơn là trên SGDCK chỉ giao dịch cácchứng khoán có chất lượng, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư Vì vậy, các chứng khoán muốnđược niêm yết giao dịch trên SGDCK phải thỏa mãn các tiêu chuẩn theo quy định của SGDCK vàcủa Chính phủ Hệ thống các tiêu chuẩn niêm yết bao gồm các tiêu chuẩn định tính và các tiêuchuẩn định lượng

Các tiêu chuẩn định tính bao gồm:

- Triển vọng phát triển của tổ chức phát hành

- Nhận xét của kiểm toán về các báo cáo tài chính của công ty

- Lợi ích kinh tế mang lại của công ty đối nền kinh tế quốc dân

- Việc thực hiện công tác công bố thông tin

- Quy mô và cơ cấu cổ phần của công ty Quy mô vốn chủ sở hữu của một công ty niêm yết

Trang 40

phải đạt tới một mức độ nhất định mới đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán của họ.Hơn thế nữa, cơ cấu vốn cổ phần trong công ty cũng đảm bảo tính xã hội hóa của công ty cũngnhư mức độ trách nhiệm của các cổ đông sáng lập đối với công ty của họ Quy mô và cơ cấu sởhữu trong công ty cổ phần do cơ quan quản lý thị trường quy định phù hợp với trình độ phát triểncủa TTCK trong mỗi thời kỳ.

- Lợi suất thu được từ vốn cổ phần (suất cổ tức) Ngoài đầu tư vào cổ phiếu của các công ty

cổ phần niêm yết, người đầu tư còn có thể đầu tư vào các thị trường khác Tất nhiên nhà đầu tư chỉchấp nhận đầu tư vốn vào các cổ phiếu có mức lợi suất cao, mức tối thiểu cũng phải cao hơn lãisuất tiền gửi cùng kỳ hạn

- Tỷ lệ nợ Tỷ lệ nợ phản ánh khả năng tự chủ tài chính của một doanh nghiệp Tỷ lệ nợ ở mộtmức độ cho phép đánh giá sự lành mạnh tài tình hình chính của công ty

Hơn 40%

1,25 triệu $Trên 1000

≥25%

Hệ thống các tiêu chuẩn định tính, định lượng được công bố công khai và áp dụng thống nhấtcho các công ty Tuy nhiên do tính đặc thù ở một số các ngành, lĩnh vực họat động của công ty màcác chỉ tiêu đó có thể mềm hóa, hoặc bị thắt chặt hơn để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư.Chứng khoán có thể được lưu thông trên các TTCK khác nhau Trên TTCK OTC, thườngbao gồm chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ Còn trên TTCK tập trung (SGDCK) thì điềukiện để chứng khoán được niêm yết, giao dịch thường chặt chẽ hơn Tất nhiên đối với mỗi thịtrường, do những đặc điểm, điều kiện cụ thể khác nhau mà có những quy định khác nhau Nhưngmột số tiêu chuẩn phổ biến được sử dụng để lựa chọn loại chứng khoán được đăng ký niêm yết là:

- Một là, chứng khoán vô danh

- Hai là, những chứng khoán có khối lượng lớn, mệnh giá nhỏ Thông thường SGDCK nàocũng yêu cầu cơ quan hay công ty phát hành chứng khoán muốn đăng ký vào TTCK thì loại chứngkhoán đó phải dành ít nhất 25% lượng chứng khoán được phát hành cho công chúng nắm giữ trongmọi thời điểm Với tỷ lệ này, cùng với yêu cầu mệnh giá nhỏ, công chúng mới dễ dàng tham giamua bán các loại chứng khoán đó Đây là điều kiện nhằm đảm bảo cho TTCK hoạt động liên tục,trôi chảy và sôi động

- Ba là, những chứng khoán có độ tin cậy khá cao Đây là tiêu chuẩn nhằm bảo vệ lợi ích cácnhà đầu tư và được thể hiện qua một số tiêu chuẩn cụ thể UBCKNN có trách nhiệm thẩm định độtin cậy của các loại chứng khoán do các cơ quan Nhà nước và các công ty phát hành trước khi đưachúng ra bán cho công chúng

Ở Việt Nam theo NĐ 14/2007 NĐ-CP, ngày 19/1/2007, điều kiện niêm yết chứng

khoán như sau:

Điều 8 Điều kiện niêm yết chứng khoán tại SGDCK

1 Điều kiện niêm yết cổ phiếu:

a) Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 80 tỷ

đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán Căn cứ vào tình hình phát triển

thị trường, mức vốn có thể được Bộ Tài chính điều chỉnh tăng hoặc giảm trong phạm vi tối

đa 30% sau khi xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ;

b) Hoạt động kinh doanh hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi và

Ngày đăng: 11/12/2013, 16:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

nhiều nhất. Trong ví dụ ở bảng dưới đây tại mức giá 40.3 là mức giá mà khối lượng mua bán đạt được ở mức cao nhất: 2400 cổ phiếu, nên giá khớp lệnh là giá 40.3. - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
nhi ều nhất. Trong ví dụ ở bảng dưới đây tại mức giá 40.3 là mức giá mà khối lượng mua bán đạt được ở mức cao nhất: 2400 cổ phiếu, nên giá khớp lệnh là giá 40.3 (Trang 57)
LỆNH MUA BẢNG ĐIỆN HỢP ĐỒNG LỆNH BÁN - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
LỆNH MUA BẢNG ĐIỆN HỢP ĐỒNG LỆNH BÁN (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w