b. Trong giao tiếp, đôi khi vì một lí do nào đó, nói phải một điều mà người đó nghĩ là sẽ làm tổn thương thể diện của người đối thoại. Để làm giảm ảnh hưởng, tức là xuất phát từ việc chú[r]
Trang 1- Nắm được các phương châm hội thoại: quan hệ, cách thức, lịch sự
để vận dụng trong giao tiếp.
- Hiểu và có kỹ năng sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh.
- Hệ thống luận điểm, luận cứ, cách lập luận trong văn bản
b) Về kỹ năng: - Rèn luyện kỹ năng đọc- hiểu văn bản nhật dụng bàn luận về
một vấn đề liên quan đến nhiệm vụ đấu tranh vì hòa bình của nhân loại
c) Về thái độ: - Giáo dục học sinh căm ghét chiến tranh, yêu quí hoà bình.
2.Chuẩn bị của GV và HS.
a) GV : SGK, SGV, soạn giáo án
b) HS: Học bài cũ, đọc văn bản, chuẩn bị bài theo câu hỏi SGK
3 Tiến trình bài dạy.
* Ổn định tổ chức: - Lớp 9A:……….
- Lớp 9B:………
a) Kiểm tra bài cũ (Miệng - 5 ’ )
* Câu hỏi: Hãy phân tích phong cách Hồ Chí Minh trong việc tiếp thu vốn văn
hoá nhân loại qua văn bản “ Phong cách Hồ Chí Minh” ?
Trang 2* Đáp án:
2 điểm - Trên con đường cách mạng Bác đã tiếp xúc vốn văn hoá các nước Châu
Á, Châu Phi, Châu Mĩ bằng nhiều cách:
1 điểm + Ghé lại nhiều hải cảng, thăm nhiều nước, sống dài ngày ở Pháp, Anh
1 điểm + Người thông thạo nhiều thứ tiếng nên có khả năng giao tiếp với nhiều
người, Người còn viết đúng, viết hay các tiếng đó
1điểm + Người đã làm nhiều nghề đến đâu cũng học hỏi, tìm hiểu văn hoá đến
mức uyên thâm
2 điểm - Cách tiếp thu ấy rất hay, rất tiến bộ, thể hiện:
1 điểm + Tiếp thu cái hay, phê phán cái tiêu cực
2 điểm + Nhào nặn với cái gốc dân tộc để trở thành một nhân cách rất Việt Nam,
rất mới, rất hiện đại, rất phương Đông
* Đặt vấn đề vào bài mới (1’)): Các em thân mến, chúng ta đang sống trong hoà
bình hạnh phúc Nhưng ở nơi này, nơi khác trên trái Đất vẫn tiềm ẩn nguy cơ chiếntranh, đặc biệt là vũ khí hạt nhân, một hiểm hoạ khủng khiếp cho trái đất Điều này
đã được ghi trong văn bản “ Đấu tranh cho một thế giới hoà bình” chúng ta cùng
tìm hiểu trong tiết học hôm nay
b) Dạy nội dung bài mới: (35’)
HS- Đọc chú thích dấu sao trong SGK(T.19)
?- TB: Hãy nêu những hiểu biết của em về tác giả và
tác phẩm “ Đấu tranh cho một thế giới hoà bình”?
HS- Ga-bi-en Gác-xi-a Mác-két sinh ngày 6- 3-1928 tại
Cô-lôm-bi-a Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết và
nhiều tập truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực
huyền ảo Ông đặc biệt nổi tiếng với tiểu thuyết “Trăm
năm cô đơn” 1967, cuốn sách này được trao giải
thưởng An-chi-a-nô của I-ta-li-a Được Pháp coi là cuốn
sách nước ngoài hay nhất của văn học thế giới (những
năm 60 của thế kỉ XX) và được giới phê bình văn học
Mĩ xếp là một trong 12 cuốn sách hay nhất của văn học
thế giới vào những năm 60 của thế kỉ XX Năm1982,
Mác-két được trao tặng giải thưởng Nô-ben về văn học
GV- Tháng 8 – 1986, các nguyên thủ 6 quốc gia: Ấn
Độ, Mê-hi-cô, Thụy Điển, Ác-hen-ti-na, Hi Lạp,
Tan-da-ni-a, họp lần thứ hai tại Mê- hi-cô, hội nghị đã ra một
bản tuyên bố kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang, thủ
tiêu vũ khí hạt nhân để đảm bảo an ninh và hoà bình thế
giới Nhà văn Mác-két được mời tham dự cuội gặp gỡ
này, văn bản trên được trích từ tham luận của ông trong
hội nghị
I Đọc và tìm hiểu chung
a, tác giả của nhiều tiểu thuyết và tập truyện ngắn Năm 1982, ông được tặng giải thưởng Nô-ben về văn học.
- Văn bản là đoạn trích bản tham luận của Mác- két đọc tại cuộc họp mặt của các nguyên thủ quốc gia bàn về chống chiến tranh hạt nhân, bảo vệ hoà bình thế giới.
Trang 3- Vũ khí hạt nhân là tên gọi chung của bom nguyên tử,
bom khinh khí và những đầu đạn có chất nổ hạt nhân
cung những phương tiện để đưa chúng đến mục tiêu và
phương tiện điều khiển (từ điển)
- Bom nguyên tử: Bom dùng nguyên lí phản ứng tan vỡ
của hạt nhân nguyên tử năng, phóng ra năng lượng lớn,
có sức sát thương và phá hoại mạnh gấp nhiều lần bom
thông thường
- Bom khinh khí: phóng ra năng lượng rất lớn, có sức
sát thương và phá hoại mạnh hơn bom nguyên tử
?- TB: Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hoà
bình” thuộc thể loại gì? Từ đó cần đọc như thế nào?
HS- Văn bản thuộc thể loại nghị luận, có luận điểm
chính, hệ thống luận cứ và các phép lập luận
Vì vậy khi đọc cần chú ý: Văn bản đề cập đến nhiều
lĩnh vực từ quân sự, chính trị đến khoa học địa chất, với
nhiều thuật ngữ tên gọi các loại vũ khí, cần đọc chính
xác làm rõ từng luận cứ của tác giả
GV- Đọc 1 đoạn, gọi 2 học sinh đọc kế tiếp đến hết.
- Gọi HS đọc chú thích trong SGK –T.20
?- KH: Căn cứ vào nội dung hãy nêu luận điểm và hệ
thống luận cứ của văn bản? Hệ thống luận cứ ấy
tương ứng với đoạn văn nào?
HS- Văn bản có phần lớn nội dung tập trung vào nguy
cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ loài người, nhưng chủ
định của tác giả không phải chỉ là chỉ ra mối đe doạ hạt
nhân mà còn nhấn mạnh vào nhiệm vụ đấu tranh để loại
bỏ nguy cơ ấy Vì vậy có thể nêu luận điểm như sau:
Chiến tranh hạt nhân là một hiểm hoạ khủng khiếp
đang đe doạ toàn thể loài người và sự sống trên trái
Đất, vì vậy đấu tranh để loại bỏ nguy cơ ấy cho một thế
giới hoà bình là nhiệm vụ cấp bách của toàn nhân loại.
- Luận điểm cơ bản này đã được triển khai trong một hệ
thống toàn diện:
+ Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả
năng huỷ diệt cả trái đất và các hành tinh khác trong hệ
mặt trời (từ đầu đến vận mệnh thế giới)
+ Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí
của loại người mà còn ngược lại với lí trí của tự nhiên,
phản lại sự tiến hoá (tiếp theo đến điểm xuất phát của
nó)
2 Đọc văn bản
Trang 4+ Vì vậy, tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn
cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới
hoà bình.(phần còn lại của văn bản)
GV- Chuyển: chúng ta cùng phân tích văn bản.
?- TB: Những câu văn nào cho ta thấy nguy cơ chiến
tranh hạt nhân?
HS- Hôm nay ngày 8-8-1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt
nhân đã được bố trí trên khắp hành tinh, nói nôm na,
điều đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang
ngồi trên một thùng bốn tấn thuốc nổ: Tất cả chỗ đó nổ
tung lên làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là
mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên trái đất.
- [ ] Có thể tiêu diệt tất cả hành tinh đang xoay
quanh mặt trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa và phá
huỷ thế cân bằng của hệ mặt trời.
?- KH: Em có nhận xét như thế nào về dụng ý của
tác giả khi đưa ra chứng cứ trên?
HS- Để cho thấy tính chất hiện thực và sự khủng khiếp
của nguy cơ này, tác giả đã bắt đầu bài viết bằng việc
xác định thời gian cụ thể: Hôm nay ngày 8-8-1986 và
đưa ra số liệu cụ thể đầu đạn hạt nhân: 50 000 với một
phép tính đơn giản: nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là
mỗi người, không trừ trẻ con đang ngồi trên một thùng
bốn tấn thuốc nổ: Tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến
hết thảy không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi
dấu vết của sự sống trên trái đất
- Để thấy rõ hơn sự tàn phá khủng khiếp của kho vũ
khí hạt nhân, tác giả còn đưa ra tính toán lí thuyết: kho
vũ khí ấy có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay
quanh mặt trời cộng thêm bốn hành tinh nữa và phá
huỷ thế cân bằng của hệ mặt trời.
?- KH: Trong đoạn văn, tác giả còn sử dụng biện
pháp tu từ nào? Cho biết tác dụng của biện pháp tu
từ ấy?
HS- Đó là hình ảnh so sánh: Nguy cơ ghê gớm ấy đang
đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa- mô- clét,
điển tích lấy từ thần thoại Hy Lạp này tương đương với
thành ngữ Việt Nam: “Ngàn cân treo sợi tóc”, tạo một
nỗi hồi hộp, lo âu về cái chết ghê gớm có thể xảy ra bất
cứ lúc nào, tạo một tâm thế bất an trong tư tưởng
- Câu cuối trong đoạn văn này dùng biện pháp lặp từ:
không có, và lặp cấu trúc câu, có tác dụng nhấn mạnh và
II Phân tích văn bản
1 Nguy cơ chiến tranh hạt nhân (20’)
Trang 5phối hợp với các hành văn châm biếm đả kích sâu cay
về mặt trái của ngành khoa học nguyên tử Khi khoa học
không gắn liền với lương tri sẽ là tội ác với con người
GV- Tóm lại: Với cách vào đề trực tiếp và bằng những
chứng cứ rất sát thực những con số lạnh lùng nhưng có
sự nâng cấp mỗi lúc một rộng ra đã thu hút người đọc
và gây ấn tượng mạnh mẽ, như một tiếng còi báo động
cho con người khi tử thần đến gần, một thứ thần chết
của thời hiện đại
- Chúng ta đã biết cách đây 60 năm, hai quả bom
nguyên tử mà Mĩ ném xuống hai thành phố: Hi- rô-
si-ma và Na- ga- sa- kê của Nhật Bản đã để lại hậu quả
khủng khiếp: Hai thành phố gần như bị phá huỷ hoàn
toàn Và ngay sau đó chiến tranh kết thúc, những tưởng
từ đây thế giới sẽ bước sang một trang sử mới, không
còn chiến tranh Thế nhưng cho đến bây giờ, đâu đó trên
thế giới vẫn còn chiến tranh máu đổ hết sứ thương tâm,
nguy cơ chiến tranh lớn hơn bao giờ hết Để phục vụ
cho lợi ích của mình mà một số nước trên thế giới bất
chấp sự an nguy của nhân loại để sản xuất vũ khí hạt
nhân Tất nhiên họ có những lí lẽ riêng nhưng dù là thế
nào thì trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta đang phải
gồng mình lên chịu đựng những vết thương: thủng tầng
ô-zôn, ô nhiễm môi trường và giờ đây lại phải đối mặt
với nguy cơ chiến tranh hạt nhân Những nước sản xuất
và sử dụng vũ khí hạt nhân: Anh, Mĩ, Nga, và mới đây
thôi ngày 9-8-2005 I-ran đã tuyên bố khôi phục lại lò
phản ứng hạt nhân Đây là hiểm hoạ cho sự hoà bình và
ổn định của thế giới
Chúng ta đã thấy rõ sự khủng khiếp của chiến tranh
hạt nhân nhưng không phải ai cũng có ý thức loại bỏ nó,
một số nước vì quyền lợi, và tham vọng của mình đã lao
vào cuộc chạy đua vũ trang Hậu quả của cuộc chạy đua
vũ trang như thế nào chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp ở tiết sau
* Nguy cơ chiến tranh hạt nhân là hiện thực và rất khủng khiếp, đang
đe doạ cuộc sống trên trái đất.
c) Củng cố, luyện tập (2’)
* Củng cố: GV khái quát lại nội dung bài.
* Luyện tập: Em cảm nhận được điều gì sau khi tìm hiểu xong phần 1 của
văn bản?
- HS: Nguy cơ chiến tranh hạt nhân là hiện thực và rất khủng khiếp, đang
đe doạ cuộc sống trên trái đất
d) Hướng dẫn học sinh tự học bài ở nhà (2’)
- Đọc kĩ lại văn bản, học thuộc nội dung phần 1
Trang 6- Chuẩn bị phần tiếp theo của văn bản (trả lời câu hỏi 3,4,5 trong T.20).
SGK-Ngày soạn: 19/8/2011 SGK-Ngày dạy: 9A: …/8/2011
- Hệ thống luận điểm, luận cứ, cách lập luận trong văn bản
b) Về kỹ năng: - Rèn luyện kỹ năng đọc- hiểu văn bản nhật dụng bàn luận về
một vấn đề liên quan đến nhiệm vụ đấu tranh vì hòa bình của nhân loại
c) Về thái độ: - Giáo dục học sinh căm ghét chiến tranh, yêu quí hoà bình.
2.Chuẩn bị của GV và HS.
a) GV : SGK, SGV, soạn giáo án
b) HS: Học bài cũ, đọc văn bản, chuẩn bị bài theo câu hỏi SGK
3 Tiến trình bài dạy.
* Ổn định tổ chức: 9A: ……….; 9B:……….
a) Kiểm tra bài cũ (miệng - 5’)
* Câu hỏi: Hãy đọc đoạn đầu văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”
và cho biết nội dung chính của đoạn văn?
* Yêu cầu:
5 điểm - HS đọc to, rõ ràng, diễn cảm.
5 điểm - Nguy cơ chiến tranh hạt nhân là hiện thực và rất khủng khiếp, đang đe
doạ cuộc sống trên trái đất
* Đặt vấn đề vào bài mới (1’)): Các em thân mến, chúng ta đang sống trong hoà
bình hạnh phúc Nhưng ở nơi này, nơi khác trên trái Đất vẫn tiềm ẩn nguy cơ chiếntranh Đặc biệt là vũ khí hạt nhân, một hiểm hoạ khủng khiếp cho trái đất Điều
này đã được ghi trong văn bản “ Đấu tranh cho một thế giới hoà bình” chúng ta
cùng tìm hiểu tiếp trong tiết học hôm nay
b) Dạy nội dung bài mới: (35’)
Trang 7HOẠT ĐỘNG CỦA GV & HS ND GHI BẢNG
HS- Đọc từ: Niềm an ủi toàn thế giới.
?- Yếu : Nêu luận cứ của đoạn văn?
HS nêu – GV ghi bảng ->
?- TB: Những biểu hiện của chiến tranh được
tác giả đề cập trong những lĩnh vực nào?
HS- Những biểu hiện của chiến tranh được đề cập
ở nhiều lĩnh vực như y tế, thực phẩm, giáo dục
?- TB: Sự tốn kém và tính chất vô lí của cuộc
chạy đua vũ trang hạt nhân được đưa ra qua
những luận cứ nào?
- Để giải quyết những vấn đề cấp bách cho 500
triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế giới chỉ gần
bằng những chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném
bom chiến lược B 1B và cho dưới 7000 tên
lửa vượt đại châu.
- [ ] Giá của 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí
hạt nhân đủ thực hiện một chương trình phòng
bệnh, hơn một tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu
hơn mười bốn triệu trẻ em.
- [ ] năm 1985 [ ] thế giới có gần 575 triệu
người thiếu dinh dưỡng chi tốn không bằng
149 tên lửa MX
- Chỉ cần 27 tên lửa MX đã đủ trả tiền nông cụ
cần thiết cho các nước nghèo
- Chỉ hai tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ
tiền xoá nạn mù chữ cho toàn thế giới.
?- KH: Tác giả dùng biện pháp nghệ thuật nào
để lập luận?
HS- Để làm rõ luận cứ, tác giả đưa ra hàng loạt
dẫn chứng và những so sánh thật thuyết phục
trong lĩnh vực xã hội, y tế, thực phẩm, giáo dục để
làm nổi bật sự tốn kém ghê gớm và tính chất phi lí
của cuộc chạy đua vũ trang Dùng những số liệu
chính xác, nghệ thuật lập luận đơn giản mà có sức
Trang 8trữ tình thể hiện ở các cụm từ “chỉ gần bằng”,
“cũng đủ”, “đủ tiền”, vừa thể hiện mong muốn
thế giới có thể có thể cứu trợ, giúp đỡ trẻ em các
nước nghèo vừa là lời lên án sự phi lí của chiến
tranh
?- G: Em hãy phân tích các lí lẽ, chứng cứ để
thấy rõ hơn sự tốn kém và phi lí của cuộc chạy
đua vũ trang?
HS- Để giúp mọi người thấy được sự tốn kém và
phi lí của cuộc chiến trang với các lĩnh vực xã
hội, y tế, thực phẩm giáo dục đây đều là những
lĩnh vực hết sức thiết yếu trong cuộc sống con
người, đặc biệt là các nước nghèo, chưa phát
triển: Tỉ lệ phục vụ cho việc nâng cao đời sống
nhân loại quá thấp, trong khi tỉ lệ phục vụ cho
chiến tranh quá cao Tác giả đưa ra những con số
thống kê đầy sức nặng: Việc bảo tồn sự sống trên
trái đất ít tốn kém hơn là “dịch hạch hạt nhân”
100 tỉ đô la để giải quyết những vấn đề cấp bách
cho 500 triệu trẻ em nghèo trên thế giới trong giấc
mơ chỉ gần bằng những chi phí bỏ ra cho 100
máy bay ném bom chiến lược B 1B của Mĩ và
cho dưới 7000 tên lửa vượt đại châu, từ đó ta có
thể thấy rằng cuộc chạy đua vũ trang chuẩn bị cho
chiến tranh hạt nhân đã và đang cướp đi của thế
giới nhiều điều kiện để cải thiện , đất nước, con
người, nhất là các nước nghèo
- Những con số mà tác giả đưa ra là những con
số vượt lên trên những giá trị thống kê, nó còn có
giá trị tố cáo bởi một điều nghịch lí là trong khi
các chương trình phục vụ chiến tranh đều đã hoặc
chắc chắn được thực hiện thì các chương trình
cứu trợ trẻ em hay xoá nạn mù chữ chỉ là sự tính
toán giả thiết và không biết bao giờ mới trở thành
hiện thực Trong khía cạnh này thì rõ ràng khoa
học đang phát triển ngược lại những giá trị nhân
văn mà từ bao đời nay con người vẫn hằng xây
dựng
?- TB: Qua cách lập luận của tác giả, em hiểu
gì về việc chạy đua vũ trang với đời sống con
người?
- HS trả lời – Gv ghi bảng =>
GV- Lí trí ở đây là ý thức của con người, xu thế
của con người, lí trí của con người luôn mong
* Cuộc chạy đua vũ trang chuẩn bị cho cuộc chiến tranh hạt nhân là cực kì vô lí và tốn kém, vô nhân đạo, đã và đang cướp đi của thế giới nhiều điều kiện để cải thiện đời sống
Trang 9muốn và đang làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp
hơn, phát triển hơn Nhưng cuộc chiến tranh hạt
nhân thì sao? Chúng ta tìm hiểu tiếp
?- TB: Em hãy tìm những từ ngữ, chi tiết nói
về chiến tranh hạt nhân và lí trí, sự tiến hoá
của tự nhiên?
- Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí
- Phải trải qua 380 triệu năm con bướm mới bay
được [ ] 180 triệu năm bông hồng mới nở.
-[ ] bốn kì địa chất con người mới hát hay.
-[ ] chỉ cần bấm nút một cái là được cả quá
trình hàng bao nhiêu triệu năm trở lại điểm xuất
phát của nó
?- KH: Trong đoạn văn này về nghệ thuật nghị
luận có gì độc đáo so với phần trước? Giúp
người đọc hình dung được điều gì về sự sống?
HS- Cũng như hai phần trên tác giả đưa ra những
số liệu khoa học: 380 triệu năm, 180 triệu năm
bốn kì địa chất (dài từ hàng triệu đến chục triệu
năm)
- Nhưng ở phần này tác giả còn làm sinh động
bằng các hình ảnh con bướm bay, bông hoa nở,
con người hát hay hơn chim và mới chết vì yêu
- Những từ ngữ con số và hình ảnh đó, ta hiểu
rằng phải lâu lắm mới có được sự sống trên trái
đất Mọi vẻ đẹp trên thế giới này không phải một
sớm một chiều có được
?- KH: Từ trái đất được lặp lại liên tục trong
phần văn bản này giúp em hiểu cảm xúc gì của
tác giả?
HS- Đó là: Trái đất là một thứ thiêng liêng, cao
cả, đáng được yêu quí và trân trọng Trong vũ trụ
trái đất chỉ là một hành tinh nhỏ, nhưng là hành
tinh duy nhất có sự sống, khoa học chưa khám
phá được sự sống nào ở nơi khác ngoài trái đất
Đó là sự thiêng liêng kì diệu của trái đất nhỏ bé
?- TB: Qua phân tích phần ba của văn bản, em
có nhận xét gì thêm về chiến tranh hạt nhân?
HS- Trả lời – Gv ghi bảng=>
con người.
3 Chiến tranh hạt nhân đối với lí trí con người và sự tiến hoá của tự nhiên (12’)
* Chiến tranh hạt nhân đi ngược lại lí trí của con người
và sự tiến hoá của tự nhiên vì
nó không chỉ tiêu diệt nhân loại mà còn tiêu huỷ mọi sự sống trên trái đất.
Trang 10?- TB: Quan sát, đọc lướt phần cuối của văn
bản, phần này có hai đoạn, mỗi đoạn nói về
điều gì?
- Một đoạn nói về việc chúng ta chống chiến
tranh hạt nhân, đoạn kết là thái độ của tác giả về
việc này
?- TB: Em hiểu ý của đoạn văn “bản đồng ca
của những người đòi hỏi một thế giới không có
vũ khí vì một cuộc sống hoà bình, công bằng”
như thế nào?
- Đó là tiếng nói của công luận thế giới chống
chiến tranh, là tiếng nói yêu chuộng hoà bình trên
trái đất của nhân dân thế giới Điều đó có nghĩa là
tiếng nói của Mác- Két, của chúng ta không hề lẻ
loi, đơn độc, là tiếng nói chung của nhân loại
?- KH: Ý tưởng về việc mở ra một nhà bảng
lưu trữ trí nhớ gồm những thông điệp nào?
- Đó là thông điệp về một cuộc sống đã từng tồn
tại nơi trái đất để cho nhân loại tương lai biết rằng
sự sống đã từng tồn tại ở đây, bởi chi phối bởi đau
khổ và bất công cũng đã từng biết đến tình yêu và
biết hình dung ra hạnh phúc
- Thông điệp về những kẻ đã xoá bỏ cuộc sống
trên trái đất này bằng vũ khí hạt nhân cho ở mọi
thời đại người ta đều biết đến, biết đến những tên
thủ phạm đã gây ra những nỗi lo sợ đau khổ, nhân
danh lợi ích đê tiện nào đó, cuộc sống đó đã bị
xoá khỏi vũ trụ này
GV - Đây là luận cứ kết bài và cũng là chủ đích
của bản thông điệp mà tác giả muốn hỏi đến mọi
người, sau khi đã chỉ ra một cách rõ ràng về hiểm
hoạ hạt nhân đang đe doạ mọi người và sự sống
trên trái đất, tác giả không dẫn người đọc đến sự
lo âu mang tính bi quan về vận mệnh của nhân
loại mà hướng tới một thái độ tích cực là đấu
tranh, ngăn chặn chiến tranh cho một thế giới hoà
bình Nhưng liệu tiếng nói ấy có thể ngăn được
hiểm hoạ hạt nhân hay chưa và nếu như nó vẫn
xẩy ra thì sao? Dường như tác giả cũng tính đến
những ý nghĩ như thế của ai đó để rồi tiếp tục
khẳng định ý nghĩa của sự có mặt trong hàng ngũ
của những người đấu tranh ngăn chặn chiến tranh
hạt nhân Đề nghị của Mác-két có ý nghĩa nhấn
4 Nhiệm vụ của chúng ta
(8’)
* Chúng ta phải đứng trong hàng ngũ những người đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân cho một thế giới hoà bình.
Trang 11mạnh: Nhân loại cần giữ gìn kí ức của mình, lịch
sử sẽ lên án những thế lực hiếu chiến đẩy nhân
loại vào thảm hoạ hạt nhân
Mác-két là người lo lắng và công phẫn cao độ,
đồng thời ông là người vô cùng yêu chuộng cuộc
sống trên trái đất hoà bình
?- TB: Hãy khái quát những nét chính về nội
dung và nghệ thuật của văn bản?
- Nội dung: Nguy cơ chiến
tranh hạt nhân đang đe doạ toàn bộ sự sống trên trái đất Nhiệm vụ của toàn thể nhân loại là ngăn chặn nguy cơ đó,
là đấu tranh cho một thế giới hoà bình.
* Ghi nhớ: SGK (T 21 )
c) Củng cố, luyện tập (2’)
* Củng cố: GV khái quát lại nội dung bài.
* Luyện tập: Phát biểu ý kiến về sự quan tâm, chăm sóc của chính quyền địa
phương, của các tổ chức xã hội nơi em ở hiện nay đối với trẻ em?
- Học sinh tự bộc lộ: Chẳng hạn, sẽ tham gia cuộc chiến tranh chống vũ khíhạt nhân này, tuyên truyền cho mọi người về sự khủng khiếp của vũ khí hạt nhân
để có nhận thức đúng về nguy cơ này Từ đó thấy được yêu cầu tham gia cuộc đấutranh cho hoà bình
d) Hướng dẫn học sinh tự học bài ở nhà (2’)
- Đọc, phân tích văn bản ; Phân tích sự phi lí của chiến tranh hạt nhân
- Học thuộc ghi nhớ; Chuẩn bị bài: Các phương châm hội thoại (tiếp) Yêu cầu
lấy ví dụ, trả lời các câu hỏi trong SGK
Trang 12Ngày soạn: 20/8/2011 Ngày dạy: 9A: …/8/2011 9B: …/8/2011
Tiết 8- Tiếng Việt:
CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI (Tiếp theo)
1 Mục tiêu: Giúp học sinh
a) Về kiến thức: Nắm dược nội dung phương châm quan hệ, phương châm cách
a) GV: SGK, SGV, tham khảo tài liệu, soạn giáo án
b) HS: Học bài cũ, đọc và chuẩn bị bài theo câu hỏi sách giáo khoa
3 Tiến trình bài dạy.
* Ổn định tổ chức:
Trang 13- Lớp 9A:
- Lớp 9B:
a) Kiểm tra bài cũ (5 phút – Miệng)
* Câu hỏi: Các câu sau không tuân thủ các phương châm hội thoại nào? Nêu
yêu cầu của các phương châm đó? a Nó đá bằng chân.
b Nó nhìn tôi bằng mắt.
* Đáp án:
2 điểm - Cả hai câu trên đều dùng thừa từ
2 điểm - Câu a: bằng chân
2 điểm - Câu b: bằng mắt
2 điểm - Là những câu không tuân thủ phương châm về lượng
2 điểm - Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung, nội dung lời nói phải đáp
ứng đúng yêu cầu của cuộc giao tiếp không thiếu, không thừa
* Đặt vấn đề vào bài mới (1 phút): Trong tiết học trước, các em đã nắm được
hai phương châm hội thoại là phương châm về chất và phương châm về lượng.Còn một số phương châm nữa chúng ta cùng tìm hiểu tiếp
b) Dạy nội dung bài mới: (35 phút)
GV- Ghi ví dụ lên bảng – gọi học sinh đọc.
VD: Ông nói gà, bà nói vịt.
?- TB: Em hiểu thế nào về câu thành ngữ này?
HS- Thành ngữ này có nghĩa là mỗi người một phách,
không thống nhất, không ăn nhập với nhau
?- TB: Câu thành ngữ này dùng để chỉ tình huống
hội thoại như thế nào?
HS- Câu thành ngữ này dùng để chỉ tình huống hội
thoại mà trong đó mỗi người nói một đằng, không
khớp nhau, không hiểu nhau
?- KH: Em hãy tưởng tượng xem điều gì sẽ xảy ra?
Qua đó em rút ra bài học gì trong giao tiếp?
HS- Tình huống hội thoại như thế thì con người sẽ
không giao tiếp được với nhau và những hoạt động xã
hội sẽ trở nên rối loạn
- Khi giao tiếp, cần nói đúng vào vấn đề giao tiếp,
tránh nói lạc đề đó là phương châm quan hệ
I Phương châm quan
hệ
(7’)
1 Ví dụ:
Trang 14GV - Phương châm quan hệ là phương châm yêu cầu
những người tham gia hội thoại phải nói những điều
liên quan đến đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề Nhờ
phương châm quan hệ mà cuộc hội thoại có sự liên kết
về nội dung, tránh tình trạng ông nói gà, bà nói vịt
Muốn nói một câu có tuân theo phương châm quan hệ
không cần biết thực sự người nói muốn nói gì qua câu
đó
Ví dụ: Tình huống sau:
- Cô gái: Anh ơi! quả khế chín rồi!
- Chàng trai: Cành cây cao lắm!
- Xét về nghĩa tường minh thì dường như câu đáp của
chàng trai không tuân thủ phương châm quan hệ Tuy
nhiên trong thực tế đó là những tình huống bình
thường, tự nhiên Sở dĩ như vậy là vì người nghe hiểu
và đáp lại câu đó theo hàm ý (là nghĩa phải thông qua
suy nghĩ mới biết được)
→ Chàng trai hiểu ý cô gái câu đáp vẫn tuân thủ
phương châm quan hệ
- Đối với những câu nói bắt đầu cuộc hội thoại, khi
đề tài giao tiếp chưa được xác định rõ thì phương
châm quan hệ có thể được đặt ra
- Trong quá trình hội thoại, những người tham gia có
thể thay đổi đề tài, ngôn ngữ có những cách thức để
báo hiệu sự thay đổi đó
Ví dụ: à này, còn chuyện hôm qua thì sao?
Hoặc: Thôi, nói chuyện khác đi cho vui
?- TB: Qua phân tích ví dụ, em hãy rút ra bài học
về phương châm quan hệ?
?- TB: Em hiểu hai thành ngữ này như thế nào?
- Dây cà ra dây muống: Cách nói, cách viết dài dòng,
2 Bài học:
Khi giao tiếp cần nói đúng vào đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề (phương châm quan hệ).
* Ghi nhớ: SGK ( T.22)
II Phương châm cách thức (7’)
1 Ví dụ: