a) Nội dung: Tái hiện một thời kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng, nghĩa tình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước. Qua đó, tình cả[r]
Trang 1KHÁI QUÁT VHVN TỪ 1945 ĐẾN HẾT TK XX Câu 1 Nêu hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội có ảnh hưỏng tới nền văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1975.
- VH vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
- VH tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ kéo dài 30 năm, xây dựng CNXH ở miền Bắc
- Đ/k giao lưu văn hoá chỉ giới hạn trong một số nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc)
Câu 2 Nêu tóm tắt các chặng phát triển và thành tựu mỗi chặng của văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1975.
Chia ba giai đoạn Mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng và thành tựu nhất định
a G/đoạn 1945 –1954 (kháng chiến chống Pháp)
- Tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ca ngợi Tổ quốc và quần chúng ND,kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân, biểu dương những tấm gương quên mình vì nước
- Thơ, truyện, kịch, kí, lí luận văn học đạt nhiều thành tựu
- Tác giả - tác phẩm tiêu biểu: Việt Bắc - Tố Hữu, Tây Tiến – Quang Dũng, Đôi mắt - Nam Cao, Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc, Truyện Tây Bắc - Tô Hoài,…
b G/đoạn 1955–1964 (xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước)
- Ca ngợi cuộc sống mới, con người mới và sự đổi đời Nỗi đau chia cắt hai miền đ/ nước và khátvọng thống nhất đất nước
- Truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ có những thành tựu mới, kịch nói phát triển
Tác giả tác phẩm tiêu biểu: Mùa lạc Nguyễn Khải, Gió lộng Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa
-Chế Lan Viên, Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân,…
c G/đoạn 1965–1975 (kháng chiến chống đế quốc Mĩ):
- Tập trung viết về cuộc chống Mĩ, ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng CM
- Văn xuôi, thơ, kịch nói và nhiều công trình phê bình, lí luận có giá trị xuất hiện
- Tác giả - tác phẩm tiêu biểu: Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi, Rừng xà nu – Nguyễn
Trung Thành, Dấu chân người lính - Nguyễn Minh Châu, Mặt đường khát vọng – NKĐ, Ra trận, Máu
và hoa - Tố Hữu,…
Câu 3 Nêu và phân tích ngắn gọn những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ sau cách mạng
tháng Tám đến năm 1975, trong đó đặc điểm nào được xem là quan trọng nhất?
a) Nền VH v/động theo hướng CM hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước
b) Nền văn học hướng về đại chúng
c) Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Đặc điểm thứ nhất là đặc điểm quan trọng nhất chi phối những đặc điểm còn lại
Câu 4 Tr/bày ngắn gọn về khuynh hướng sử thi và c/hứng lãng mạn của nền VHVN 1945 – 1975.
- Khuynh hướng sử thi: được thể hiện trong vh ở các mặt sau:
+ Đề tài: Tập trung phản ánh những vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ quốc còn hay mất,
tự do hay nô lệ
+ Nhân vật chính: là những con người đại diện cho phẩm chất và ý chí của dân tộc; gắn bó số phận
cá nhân với số phận đất nước; luôn đặt lẽ sống của dân tộc lên hàng đầu
+ Lời văn mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp tráng lệ, hào hùng.
+ Người cầm bút có tầm nhìn bao quát về lịch sử, dân tộc và thời đại
- Cảm hứng lãng mạn: Tuy còn nhiều khó khăn gian khổ, nhiều mất mác, hy sinh nhưng lòng vẫn
tràn đầy mơ ước, vẫn tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước Cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡcon người VN vượt lên mọi thử thách hướng tới chiến thắng
Câu 5 Nêu thành tựu cơ bản của VHVN 1975-2000.
- Từ 1975 nhất là từ năm 1986, VHVN vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản, nhânvăn Văn học phát triển đa dạng hơn về thủ pháp nghệ thuật, đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, mangtính chất hướng nội, quan tâm nhiều đến số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp đời thường
- Tác giả - tác phẩm tiêu biểu: Đàn ghita của Lor-ca – Thanh Thảo, Ai đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu, Hồn Trương Ba, da hàng thịt –
LQV,…
BÀI: TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH
Trang 2Câu 6 Trình bày ngắn gọn quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh.
- HCM coi văn học là vũ khí chiến đấu lợi hại, phụng sự đắc lực cho sự nghiệp CM Nhà văn cũngphải có tinh thần xung phong như người chiến sĩ ngoài mặt trận
- HCM luôn chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của vh Nhà văn cần tránh lối viết cầu kì xa lạ,chú phát huy cốt cách dân tộc, ngôn từ phải chọn lọc
- Người đặc biệt coi trọng mục đích, đối tượng thưởng thức rồi mới lựa chọn nội dung và hình thức
Người luôn đặt ra những câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào?
Câu 7 Trình bày ngắn gọn sự nghiệp văn chương của Hồ Chí Minh.
HCM đã để lại một sự nghiệp vh lớn lao về tầm vóc, đa dạng về thể loại
- Văn chính luận: nhằm mục đích đấu tranh chính trị Điển hình như: Bản án chế độ thực dân Pháp,
Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
- Truyện và kí: Tố cáo tội ác của TDP và phong kiến tay sai, đề cao những tấm gương yêu nước.
Chủ yếu viết bằng tiếng Điển hình như: Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu
- Thơ ca: Là lĩnh vực nổi bật, phản ánh khá phong phú tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người
chiến sĩ CM trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Điển hình như: Nhật kí trong tù, Thơ HCM, Thơ chữ Hán HCM
Câu 8 Trình bày ngắn gọn phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh.
HCM có phong cách nghệ thuật độc đáo, đa dạng Ở mỗi loại Người lại có phong cách riêng:
- Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy thuyết phục,
giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp
- Truyện kí rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén chủ động
và sáng tạo Tiếng cười tuy nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thuý, sâu cay
- Thơ ca thể hiện sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của Bác Chia làm 2 loại:
+ Thơ tuyên truyền CM: giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc, mang màu sắc d/g hiện đại.
+ Thơ nghệ thuật bằng chữ Hán: mang đặc điểm thơ cổ phương Đông, có sự kết hợp hài hoà
giữa màu sắc cổ điển với bút pháp hiện đại, giữa chất trữ tình và tính chiến đấu
Câu 9 Hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác của bản Tuyên ngôn Độc lập.
- HCST: Ngày 19/ 8/ 1945 chính quyền thủ đô về tay nhân dân Ngày 26 8, chủ tịch HCM từ chiến
khu Việt Bắc về tới HN Tại căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản TNĐL Ngày2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình - HN trong hoàn cảnh: thù trong giặc ngoài, vận mệnh Tổ quốc ngàncân treo sợi tóc Người đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước VNDCCH đọc bản TNĐL, trước 50 vạnđồng bào
- MĐST: Tuyên bố nền độc lập, tự do của dân tộc, khai sinh ra nước VN dân chủ cộng hòa Bác bỏ
dứt khoát luận điệu xảo trá và ngăn chặn âm mưu xâm lược nước ta của TDP, đ/quốc Mỹ Tranh thủ sựđồng tình ủng hộ của ND thế giới đối với sự nghiệp chính nghĩa của dt
Câu 10 Cho biết đối tượng và giá trị (ý nghĩa văn bản) của bản Tuyên ngôn Độc lập?
- Giá trị lịch sử: TNĐL là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân
phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên độc lập tự do của dân tộc và khẳng định quyết tâm bảo vệ nềnđộc lập, tự do ấy
- Giá trị văn học: Bản tuyên ngôn là một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ,
đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục - áng văn bất hủ
- Giá trị tư tưởng: kết tinh l/tưởng đấu tranh g/phóng d/tộc và t/thần yêu chuộng độc lập, tự do.
(Nếu câu hỏi là ý nghĩa vb thì bỏ những chữ “giá trị ls, giá trị vh, giá trị tư tuởng Còn lại viết hết)
- Đối tượng hướng đến: TNĐL không chỉ hướng tới đồng bào cả nước mà còn hướng tới nhân dân
toàn thế giới và đặc biệt là: thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cùng các nước Đồng minh
Câu 11 Giải thích vì sao bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam lại mở đầu bằng việc trích dẫn
hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng
Pháp ?
- Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh trích dẫn hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và của Pháp đểlàm căn cứ pháp lý cho bản Tuyên ngôn của Việt Nam
- Đó là những Tuyên ngôn tiến bộ, có tính chân lý được cả thế giới thừa nhận
- Mặt khác Người tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ và phe Đồng minh Người trích Tuyên ngôn của Phápđể
Trang 3sau đó buộc tội Pháp lợi dụng lá cờ, tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp nước ta, làm trái với tinh thần tiến
bộ của chính bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp
“NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRÊN BẦU TRỜI ”-PHẠM VĂN ĐỒNG Câu 12 Trình bày những nét cơ bản về tác giả Phạm Văn Đồng.
- PVĐ (1906 – 2000) quê ở Quãng Ngãi Ông tham gia CM từ rất sớm, có nhiều cống hiến cho đất
nước trong hai cuộc kh/ch chống Pháp và chống Mĩ, từng giữ những chức vụ quan trọng trong Trungương Đảng
- Phạm Văn Đồng không chỉ là nhà hoạt động chính trị, ông còn là nhà giáo dục tâm huyết và mộtnhà lý luận văn hóa văn nghệ lớn, có những đóng góp to lớn về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, góp phầnvào sự phát triển của nền văn học nước nhà
- T/phẩm tiêu biểu: HCM một con người, một dân tộc; NĐC, ngôi sao sáng trên bầu trời VNDT,
Câu 13 Cho biết HCST và mục đích sáng tác, giá trị của bài viết “Nguyễn Đình Chiểu ….”
- Hoàn cảnh sáng tác: Viết nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888) Tác phẩm được đăng trên Tạp chí Văn học tháng 7/1963 Hoàn cảnh đất nước: từ 1960 Mĩ leo thang
bắn phá miền Bắc, lê máy chém khắp miền Nam Đây là giai đoạn lsử đầy đau thương của CMVN
- Mục đích sáng tác: Bằng cách nghị luận xác đáng chặt chẽ, xúc động, thiết tha, hình ảnh ngôn từ
đặc sắc, bài viết trước hết là để tưởng nhớ NĐC, người con trung nghĩa của đất nước để nhớ lại lời thề
thiêng liêng của Người “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”; kế đến là để định hướng, điều chỉnh cách
nhìn nhận, đánh giá về thơ văn NĐC, nhất là những giá trị tinh thần lớn lao của thơ văn NĐC đối vớithời đại bấy giờ và ngày nay Đồng thời cổ vũ đấu tranh chính trị, khơi dậy tinh thần yêu nước thươngnòi, đấu tranh chống đế quốc Mỹ
- Ý nghĩa văn bản: Khẳng định ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu:
cuộc đời của một chiến sĩ phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, sự nghiệp vănhọc của ông được coi là một minh chứng hùng hồncho địa vị và tác dụng to lớn của văn học nghệ thuậtcũng như trách nhiệm của người cầm bút đối với dân tộc, đất nước
TÂY TIẾN – QUANG DŨNG Câu 14 Trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Quang Dũng.
- Quang Dũng (1921-1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở Hà Tây
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc Nhưng Quang Dũng đượcbiết đến nhiều là một nhà thơ Thơ Quang Dũng hồn hậu, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn và tài hoa
Các tác phẩm chính: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…
Câu 15 Trình bày hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
- Tây Tiến vừa chỉ hướng hành quân, vừa là tên một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947
- Tây Tiến có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt –Lào, đồng thời đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miền tây Bắc Bộ Việt Nam Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân TT khá rộng nhưng chủ yếu là ở biên giới Việt – Lào Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, chiến đấu trong những hoàn cảnh gian khổ thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm
- Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947, rồi chuyển sang đơn vị khác
Rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ Nhớ Tây Tiến Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là Tây Tiến Tây Tiến là một bài thơ xuất sắc, có thể xem là một kiệt tác của Quang
Dũng, xuất hiện ngay trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Câu 16 Đặc điểm nổi bật của bài thơ Tây Tiến ?
- Cảm hứng lãng mạn: Tác phẩm đã bày tỏ mạch cảm xúc tràn trề của cái tôi trữ tình - nỗi nhớ nồng
nàn bao bọc cả bài thơ Sử dụng nhiều hình ảnh gây ấn tượng mạnh, phát huy cao độ trí tưởng tượngkhiến cho bài thơ có nhiều so sánh liên tưởng độc đáo Đối tượng miêu tả có nhiều nét phi thường, thiênnhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa thơ mộng trữ tình, hoang sơ mà ấm áp, người lính Tây Tiến hàohoa, mộng mơ, lãng mạn Sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập: đối lập về hình ảnh, thanh điệu, tính cáchcủa người lính TT
- Âm hưởng bi tráng: “bi” là đau buồn, “tráng” là khỏe khoắn, mạnh mẽ Tác phẩm có âm hưởng bi
tráng thường không né tránh những chuyện xót xa, đau lòng nhưng bao giờ cũng đưa đến những xúccảm mạnh mẽ, rắn rỏi Tác giả đã nhắc đến những khó khăn gian khổ trong những cuộc hành quân, nói
Trang 4đến những mất mác, hi sinh, nhưng trong cái đau thương ấy đã hàm chứa những nét đẹp hùng Bi màkhông luỵ Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng
- Chất lãng mạn hoà hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ
Câu 17 Nội dung (ý nghĩa văn bản) và nghệ thuật của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
- Nội dung: Bài thơ đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên nền cảnh núi rừngmiền Tây hùng vĩ, dữ dội Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽluôn đồng hành trong trái tim và trí óc của mỗi chúng ta
- Nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập cùng những sáng tạo về hình ảnh,
ngôn ngữ và giọng điệu
VIỆT BẮC – TỐ HỮU Câu 18 Nêu khái quát những hiểu biết về cuộc đời và con người Tố Hữu?
- Tố Hữu (1920 – 2002 ) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành quê ở Thừa Thiên – Huế Xuất thân
trong một gia đình có truyền thống thơ ca, ca dao - dân ca xứ Huế Chính gia đình, quê hương và thời đại
đã góp phần quan trọng trong việc hình thành và nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Hữu
- Tố Hữu tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng Cộng
sản Năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt Năm 1942, ông vượt ngục tiếp tục hoạt động cách mạng Năm
1945, Tố Hữu tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Huế Trong hai cuộc kh/chiến chống Pháp và chống Mĩ,cho đến 1986, ông từng giữ nhiều chức vụ cao trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
- Tố Hữu nhận giải nhất Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1954 – 1955 (tập thơ Việt Bắc), Giải
thưởng ASEAN (1996), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)
Câu 19 Tóm tắt các chặng đường thơ Tố Hữu?
1) Từ ấy (1937-1946): là tập thơ đầu tay Tác phẩm là tiếng reo vui của một thanh niên giác ngộ lí
tưởng, quyết hy sinh phấn đấu cho lí tưởng cách mạng Tập thơ được chia làm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng Một số bài thơ tiêu biểu: Từ ấy, Tâm tư trong tù, Nhớ đồng
2) Việt Bắc (1946-1954): là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp gian lao mà anh dũng
của dân tộc Tập thơ tập trung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quần chúng công nông binh kháng chiến Một số
bài thơ tiêu biểu: Lượm, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc, Tập thơ VB là một trong những thành
tựu xuất sắc của thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Pháp
3) Gió lộng (1955-1961): Ca ngợi công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, hướng tình cảm đến
miền Nam ruột thịt với ý chí thống nhất đất nước Đây là thời kỳ tràn đầy sức sống và niềm vui, tập thơ
phơi phới tinh thần lãng mạn cách mạng Một số bài thơ tiêu biểu: Bài ca xuân 61, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Em ơi Ba Lan,
4) Hai tập Ra trận (1962-1971), Máu và hoa (1972-1977): Ca ngợi, cổ vũ cuộc chiến đấu chống đế
quốc Mỹ, tập thơ mang đậm tính chính luận, thời sự và chất sử thi Một số bài thơ tiêu biểu: Bác ơi!, Kính gửi cụ Nguyễn Du, Mẹ Suốt, Tuổi 25, (Xẻ dọc Trường Sơn dậy tương lai).
5) Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999): viết khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nhà thơ thể
hiện những suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc sống, về lẽ đời Giọng thơ thấm đượm chất suy tư
Câu 20 Nêu đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu?
1 Về nội dung:
- Thơ Tố Hữu mang tính trữ tình - chính trị rất sâu sắc Mọi sự kiện ch/trị qua trái tim nhạy cảm và
cảm hứng ng/thuật của nhà thơ đều kết tinh thành những bài thơ đặc sắc, gợi cảm
- Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi: đề tài là những sự kiện chính trị lớn, những vấn đề có ý nghĩa
toàn dân Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng: lịch sử - dân tộc Con người có phẩm chất phi thường, anhhùng
- Những điều đó được thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình ngọt ngào.
2 Về nghệ thuật: thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà (“tính dân tộc” là bản sắc riêng
biệt, độc đáo của dân tộc) được biểu hiện qua hai yếu tố:
- Sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, thơ bảy chữ dễ đi vào lòngng)
- Ng/ngữ thơ (dùng từ ngữ, cách nói dân gian, phát huy tính nhạc phong phú của T/Việt, các BPTT,
sử
dụng chất liệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ)
Câu 21 Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc Nêu ý nghĩa của văn bản (bài thơ)?
Trang 5- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ kí kết, hòa bình được lập lại, đất nước bướcsang thời kì mới Tháng 10/1954, những người kháng chiến dời căn cứ từ miền núi trở về miền xuôi,Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội, nhân sự kiện có tính chấtlịch sử này, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Bài thơ này nằm trong tập thơ Việt Bắc (1946-1954)
- Ý nghĩa văn bản: Bài thơ Việt Bắc là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, bản tình ca về nghĩa
tình cách mạng và kháng chiến
Câu 22 Cho biết kết cấu đặc biệt của đoạn trích Việt Bắc
Bài thơ Việt Bắc sử dụng hình thức đối đáp giao duyên quen thuộc trong ca dao – dân ca giữa người ra đi và người ở lại, giữa người cán bộ và người dân Việt Bắc qua cặp đại từ ta và mình Lối hát
đối đáp và cách cấu tứ này rất thường thấy trong ca dao, dân ca:
- Mình về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
Trong bài thơ, nhà thơ Tố Hữu đã vận dụng hình thức trên một cách linh hoạt, đạt hiệu quả cao
Mình có khi chỉ người cán bộ miền xuôi, ta chỉ nhân dân Việt Bắc:
Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nông
Nhưng có khi mình lại chỉ người người ở lại, ta lại là người đi:
Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi
Trong trường hợp khác sự vận dụng mình – ta còn linh hoạt hơn
Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu
Có thể thấy việc thay đổi liên tục ý nghĩa biểu đạt của hai từ ta và mình là một sự sáng tạo độc đáo
của nhà thơ Hai từ này đã hình thành một cuộc đối đáp thật sự giữa người đi và kẻ ở, cũng có khi đó là
sự phân thân tự vấn của người đi để đáp lại nghĩa tình sâu nặng của kẻ ở Chính sự đa dạng này giúp tácgiả nói được cái riêng của mình và cái chung của bao người vừa thân mật, vừa kín đáo và trang trọng,sau nữa đã tạo cảnh tiễn biệt dùng dằng thương nhớ và làm cả bài thơ dài không bị nhàm chán
Câu 23 Nêu nội dung và nghệ thuật chủ yếu của bài thơ Việt Bắc
a) Nội dung: Tái hiện một thời kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng, nghĩa tình gắn bóthắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước Qua đó, tình cảm thuỷchung truyền thống của dân tộc được nâng lên thành tình cảm thời đại, đó là ân tình cách mạng - một cộinguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi của cách mạng và kháng chiến
b) Nghệ thuật: Đậm đà tính dân tộc: t hể thơ lục bát truyền thống được sử dụng nhuần nhuyễn, kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao được sử dụng sáng tạo, cặp đại từ nhân xưng mình – ta với sự biến hoá linh hoạt, những biện pháp tu từ quen thuộc được sử dụng: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ… Đoạn trích cũng mang chất sử thi đậm nét khi tác giả tạo dựng được hình tượng kẻ ở, người đi đại
diện cho tình cảm của cả cộng đồng
ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM Câu 24 Trình bày ngắn gọn về tác giả Nguyễn Khoa Điềm.
- Nguyễn Khoa Điềm sinh 1943 Quê ở tỉnh Thừa Thiên - Huế Xuất thân trong một gia đình trí thức
có truyền thống yêu nước và cách mạng
- Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, mang màu sắc chính luận Năm 2000
được Giải thưởng nhà nước về VHNT Tác phẩm: Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng,…
Câu 25 Cho biết hoàn cảnh sáng tác của đoạn trích “Đất Nước” (trích Trường ca Mặt đường khát vọng-Nguyễn Khoa Điềm)? Trình bày ý nghĩa của đoạn trích.
- HCST: Đoạn trích “Đất Nước” thuộc phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng.
Trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971,
in lần đầu năm 1974 Viết về sự thức tỉnh của thế hệ trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sôngđất nước, về sứ
mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến chống Mỹ
- Ý nghĩa vb: Đoạn trích thể hiện cách cảm nhận mới về Đất Nước, qua đó khơi dậy lòng yêu nước,
tự hào dân tộc, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam
Câu 26 Nét đặc sắc của đoạn trích “Đất Nước” (trích trường ca Mặt đường khát vọng-Nguyễn
Khoa Điềm) được biểu hiện như thế nào? Ý nghĩa văn bản?
Trang 6- Bài thơ là sự cảm nhận, phát hiện Đất Nước trong một cái nhìn tổng hợp và toàn vẹn ở những
phương diện: không gian (địa lý), thời gian (lịch sử) và bản sắc văn hóa Đoạn trích sử dụng sáng tạo các chất liệu văn hoá, văn học dân gian và rất thích hợp với việc thể hiện tư tưởng “Đất Nước nhân dân”
(ĐN của dân, do nhân dân làm ra)
Câu 27 Trình bày nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm?
- Nội dung: Đoạn trích thể hiện cái nhìn mới mẻ về Đất Nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm quanhiều phương diện: lịch sử, địa lý, văn hóa,… Đất Nước là sự hội tụ và kết tinh bao công sức và khátvọng của nhân dân Nhân dân là người làm ra Đất Nước
- Nghệ thuật: Sự độc đáo đầy phóng túng của thể thơ tự do, giọng thơ trữ tình chính luận, sự vận dụng những chất liệu của văn hoá và văn học dân gian (ngôn từ,hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi) làm sáng tỏ thêm tư tưởng Đất Nước của Nhân dân
-SÓNG – XUÂN QUỲNH Câu 28 Trình bày những nét chính về tác giả Xuân Quỳnh.
- Xuân Quỳnh (1942- 1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh Quê ở tỉnh Hà Tây Xuất thântrong một gia đình công chức Xuân Quỳnh từng là diễn viên múa sau chuyển sang sáng tác vh
- Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ.Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chânthành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường
- Tác phẩm chính: Tơ tằm - Chồi biếc (in chung 1963), Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Hoa cỏ may (1989),… Năm 2001, XQ được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ
thuật
Câu 29 Nêu ý nghĩa nhan đề bài thơ “Sóng”.
“Sóng” là hình tượng đẹp của thiên nhiên Các thi nhân thường mượn hình tượng sóng để biểu
đạt những sắc thái tình cảm của mình: buồn mênh mang, vui bất tận, hay tình yêu ào ạt của con người…Sóng là hình tượng trung tâm của bài thơ gắn liền với sức sống và vẻ đẹp của tâm hồn nhà thơ, vừa làbiểu tượng cho tình yêu nồng ấm, dào dạt, tha thiết, bền bĩ và vĩnh hằng
Câu 30 Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Sóng” – XQ và cho biết ý nghĩa văn bản
Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái
Bình), lúc đó XQ mới 25 tuổi trẻ trung, yêu đời Đây là một bài thơ đặc sắc viết rất hay về tình yêu, rấttiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh
Ý nghĩa văn bản: Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng:
tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thuỷ, vượt lên mọi giới hạn của đời người
Câu 31 Nêu nội dung và nghệ thuật cơ bản của bài thơ “Sóng”.
- Nội dung: Bài thơ là sự cảm nhận về tình yêu từ hình tượng sóng với tất cả những sắc thái, cungbậc (nỗi nhớ, sự thủy chung, trắc trở) và cả khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu của một tâm hồn phụ nữluôn chân thành, khát khao hạnh phúc
- Nghệ thuật: Thể thơ năm chữ, nhịp điệu thơ đa dạng, linh hoạt tạo nên âm hưởng của những consóng: lúc dạt dào sôi nổi, lúc sâu lắng dịu êm rất phù hợp với việc gởi gắm tâm tư sâu kín và nhữngtrạng thái tình cảm phức tạp của tâm hồn Cấu trúc bài thơ được xác lập theo kiểu đan xen giữa hìnhtượng sóng-bờ, anh-em cũng góp phần làm nên nét đặc sắc cho bài thơ
Câu 32: Nêu ý nghĩa biểu tượng của h/tượng sóng và mối quan hệ giữa hai hình tượng “sóng” và
“em” trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.
- Tựa đề bài thơ là “Sóng” Đây cũng chính là hình tượng trung tâm của bài thơ Xuân Quỳnh đã nối
tiếp
truyền thống trong thơ ca là lấy sóng để hình dung tình yêu, đem sóng nước so sánh với sóng tình:
“Sóng tình dường đã xiêu xiêu/ Xem trong âu yếm có chiều lả lơi” (Nguyễn Du) Dù tiếp nối truyền thống văn học nhưng “sóng” của Xuân Quỳnh vẫn có những nét độc đáo riêng Có thể nói, cả bài thơ là
những con sóng tâm tình của một người phụ nữ được khơi dậy khi đứng trước biển cả, đối diện vớinhững con sóng muôn trùng Tác giả nói với mình, nói với người về tình yêu trẻ trung nồng nhiệt gắnvới khát vọng hạnh phúc muôn thuở của con người
- Trong bài thơ còn có một hình tượng trữ tình nữa, đó là “em” (“em” cũng là “sóng” mà “sóng” cũng là “em”) “Sóng” là một hình tượng ẩn dụ, là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của nhà thơ “Sóng” và
“em” vừa hòa nhập làm một, lại vừa phân đôi ra để soi chiếu vào nhau Tâm hồn của người phụ nữ đang
Trang 7yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng biểu hiện những trạng thái của lòng mình Với hình
tượng “sóng”, Xuân Quỳnh đã tìm đuợc một cách thể hiện xác đáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
trong tình yêu Cấu trúc song hành này tạo thành chiều sâu nhận thức và nét độc đáo riêng cho bài thơ
ĐÀN GHI-TA CỦA LOR-CA – THANH THẢO Câu 33 Trình bày những nét chính về tác giả Thanh Thảo.
- Thanh Thảo sinh năm 1946 Tên khai sinh là Hồ Thành Công Quê ở Quảng Ngãi
- Thanh Thảo là một trong những nhà thơ trưởng thành trong những năm cuối của cuộc kháng chiếnchống Mĩ Ông đã đem đến cho thơ ca thời đó tiếng nói riêng ấn tượng và được coi là một trong sốkhông nhiều cây bút luôn nỗ lực cách tân thơ Việt với xu hướng đào sâu vào cái tôi nội cảm, tìm cáchbiểu đạt mới qua hình thức thơ tự do, đem đến một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằng thi ảnh và ngôn từ mới
mẽ Thơ ông là tiếng nói của người trí thức nhiều suy tư, trăn trở về vấn đề xã hội và thời đại và cũngđặc biệt quan tâm đến những con người tài hoa nhưng có số phận ngang trái, bất hạnh như: NĐC, CBQ,A-ra-gông, Lor-ca,…
- Tác phẩm tiêu biểu: Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng cỏ (1978), Khối vuông ru-bích (1985), Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Câu 34 Cho biết HCST, thể thơ, nhạc tính và ý nghĩa văn bản của bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca”
của Thanh Thảo.
- HCST: Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca rút trong tập Khối vuông ru-bích Đây là một trong những
sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ Thanh Thảo: giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng, nhuốm màu sắctượng trưng- siêu thực Bài thơ lấy cảm hứng từ những giây phút bi phẫn trong cuộc đời của Lor-ca và
câu nói “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” (Ghi nhớ - Lor-ca) để sáng tác bài thơ này.
- Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do với phong cách tượng trưng có pha màu sắc siêu thực
rất gần gũi với phong cách thơ Lor-ca: đề nghị lối viết tự động, cho rằng thơ là mạch cảm xúc tuôn trànnên dường như không mạch lạc, hình ảnh mới lạ, không viết hoa đầu dòng, không ngắt câu
- Nhạc tính: Bài thơ như giai điệu một bản nhạc, có phần nhạc đệm của Ghi ta cùng với chuỗi âm li
la li la li la… Mở đầu và kết thúc bài thơ gợi lên tiếng vang giàu nhạc điệu, ngân nga trong lòng người
đọc
- Ý nghĩa vb: Ca ngợi vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn và tài năng của Lor-ca – nhà thơ, nhà cách tân vĩ
đại của văn học Tây Ban Nha và thế giới thế kỉ XX
Câu 35 Trình bày ý nghĩa câu thơ đề từ: “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”
- Đây là câu thơ được rút từ bài thơ “Ghi nhớ” của Lor-ca, được nhà thơ Thanh Thảo lấy làm lời đề
từ cho bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” Câu thơ giống như lời di chúc của Lor-ca khi tiên cảm về
cái chết của mình
- Sau khi chết, Lor-ca muốn được chôn cùng với cây đàn, điều đó cho thấy: Tình yêu nghệ thuật củaLor-ca; Tình yêu thiết tha của người nghệ sĩ Lor-ca với xứ sở quê hương TBN
- Lor-ca biết thi ca của mình một ngày nào đó sẽ trở thành vật cản cho những người đến sau, nên đã
di chúc đối với những người làm nghệ thuật: hãy biết chôn nghệ thuật của ông để sáng tạo, để đem đếnnhững cái mới cho nghệ thuật
Câu 36 Trình bày ý nghĩa nhan đề bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo?
- Đàn ghi ta (hay còn gọi là Tây Ban cầm) là nhạc cụ truyền thống của đất nước Tây Ban Nha Nhan
đề bài thơ gợi liên tưởng đến nền nghệ thuật của đất nước TBN
- Đàn ghi ta gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Lor-ca Vì vậy, hình ảnh đàn ghi ta ở
nhan đề bài thơ tượng trưng cho khát vọng sáng tạo nghệ thuật của Lor-ca
- Nhan đề như một lời khẳng định của nhà thơ Thanh Thảo: Đàn ghi ta của Lor-ca Điều đó phần
nào cho thấy niềm ngưỡng mộ và tấm lòng đồng cảm của TT đối với người nghệ sĩ thiên tài
Câu 37 Cho biết n/dung, ngh/thuật của bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của nhà thơ Thanh Thảo.
1 Nội dung: Bài thơ đã xây dựng được hình tượng Lor-ca với những khía cạnh khác nhau: một nghệ
sĩ tự do và cô đơn, một cái chết oan khốc, bi phẫn bởi những thế lực tàn ác, một tâm hồn nghệ sĩ bất diệt.Lor-ca là một hình tượng bi tráng về người nghệ sĩ chân chính trong một môi trường bạo lực thống trị đãsống và chết rất cao đẹp Qua việc thể hiện cái chết đau xót của Lor-ca, bài thơ còn là tiếng nói tri âmcủa Thanh Thảo với nghệ thuật chân chính và nghệ sĩ Lor-ca
2 Nghệ thuật: Hình thức nghệ thuật độc đáo: kết hợp hai yếu tố thơ và nhạc về kết cấu; mang
phong cách tượng trưng pha màu sắc siêu thực rất gần gũi với phong cách thơ Lor-ca; Hình ảnh thơphong phú, ngôn từ mới mẻ góp phần làm nên diện mạo phong phú của thơ ca VN sau 1975
Trang 8NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN Câu 38 Trình bày hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa văn bản và phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Tuân qua tùy bút Người lái đò Sông Đà?
- HCST: Người lái đò sông Đà được in trong tập tùy bút “Sông Đà” (1960) Viết trong thời kì xây
dựng CNXH ở miền Bắc Đây là kết quả của những chuyến đi thực tế đến Tây Bắc năm 1958 vừa để
thỏa mãn thú phiêu lãng, vừa tìm kiếm vẻ đẹp thiên nhiên và chất vàng mười “thứ vàng mười được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động và chiến đấu vùng Tây Bắc trong thực tiễn cuộc sống mới.
“Người lái đò Sông Đà” đã khẳng định: ông lái đò Lai Châu là hình tượng trung tâm của bài viết
- Ý nghĩa vb: Tác giả đã giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao
động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối vớiđất nước và con người Việt Nam
Câu 39 Nêu ngắn gọn hiểu biết về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tùy bút Người lái
đò Sông Đà?
PCNT của Nguyễn Tuân qua tùy bút Người lái đò Sông Đà là rất độc đáo: tài hoa, uyên bác, khai
thác được kho cảm giác và liên tưởng phong phú nhằm tìm ra những chữ nghĩa xác đáng nhất, có khả
năng lay động người đọc nhiều nhất Người lái đò Sông Đà thể hiện rõ nét sở trường ở thể loại tùy bút
của ngòi bút Nguyễn Tuân
Câu 40 Nguyễn Tuân đã phát hiện ra những đặc điểm nào của sông Đà? Những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc nào đựơc Nguyễn Tuân vận dụng để làm nổi bật những phát hiện của mình?
- Viết về sông Đà, Ng/ Tuân phát hiện hai nét nổi bật nhất của sông Đà: hung bạo và trữ tình.
- Để làm nổi bật tính chất hung bạo và trữ tình của con sông, t/g đã v.dụng kết hợp nhiều BPNT:
+ Trước hết, phải kể đến nghệ thuật nhân hóa Đá trên thác sông Đà mai phục, bày “thạch trận”
để tiêu diệt bất cứ con thuyền nào dám vượt thác Nước thì kêu rống lên, vào hùa với đá để đánh những
miếng đòn “hiểm độc nhất”.
+ Nghệ thuật trùng điệp và bút pháp trữ tình đã giúp Nguyễn Tuân thể hiện rõ nét trữ tình của con
sông “tuôn dài tuôn dài như áng tóc trữ tình”
+ sử dụng nhiều cách so sánh những hình ảnh của đá, của nước, của thác, con thuyền, người lái đò,
… Qua ngòi bút của nhà văn, cuộc vượt thác như một trận thủy chiến,…
BÚT KÍ AI ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Câu 41 Ý nghĩa nhan đề bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của n/v Hoàng Phủ Ngọc Tường?
- Bài kí lí giải tên dòng sông bằng một huyền thoại mĩ lệ: “Người làng Thành Chung có nghề trồng rau thơm Ở đây kể lại rằng vì yêu quí con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi” Huyền thoại ấy đã trả lời câu hỏi: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Rất có thể tác giả muốn khẳng đinh: chính những người dân bình thường – những người sáng tạo ra văn hóa, văn học, lịch sử “đã đặt tên cho dòng sông”
- Đặt tiêu đề và kết thúc bằng câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” để nhằm mục đích:
+ Lưu ý người đọc về cái tên đẹp của dòng sông: sông hương, sông thơm
+ Nói lên khát vọng của con người muốn đem cái đẹp và tiếng thơm để xây đắp v/hóa và l/sử choqhđn
+ Gợi lên niềm biết ơn đối với những người đã khai phá miền đất này, niềm tự hào về qh Mặt kháckhông thể trả lời vắn tắt trong một vài câu mà phải trả lời bằng cả bài kí dài ca ngợi vẻ đẹp, chất thơ củadòng sông
Câu 42 Vài nét chung về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, gắn bó mật thiết với xứ Huế, có vốn hiểu biết sâusắc trên nhiều lĩnh vực Có sở trường về tuỳ bút, bút kí
- Lối viết văn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình với những liên tưởngmạnh mẽ và một lối hành văn mê đắm, tài hoa
- Tác phẩm chính: Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu (1971), Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên
cho dòng sông? (1986), Hoa trái quanh tôi (1995),
Câu 43 Trình bày HCST, nội dung và nghệ thuật của bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”?
- Hoàn cảnh ra đời, vị trí đoạn trích: Bút kí “Ai đặt tên cho dòng sông?” là một trong những bài
tùy bút đặc sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, được viết ở Huế vào dịp tiết Cốc Vũ ngày 4.1.1981 Sau
được in trong tập bút kí cùng tên (1986) Đoạn trích này nằm ở phần một cộng với lời kết của toàn tác
Trang 9phẩm Tuy nhiên đoạn trích không chỉ đề cập tới cảnh quan thiên nhiên sông Hương xứ Huế mà còn thấy
được sự gắn bó với lịch sử và văn hóa của cố đô Huế Tác phẩm tiêu biểu cho văn phong của Hoàng PhủNgọc Tường
- Nội dung (Ý nghĩa văn bản): Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông
Hương; bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quêhương, với xứ Huế thân thương
- Nghệ thuật: Sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về kiến thức địa lý, lịch sử, văn hoá
nghệ thuật và những trải nghiệm của bản thân Ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển, giàu hìnhảnh, giàu chất thơ, sử dụng nhiều phép tu từ như: so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, Có sự kết hợp hài hoà cảmxúc và trí tuệ, chủ quan và khách quan
Câu 44 Thông qua bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn
- Tên thật là Nguyễn Sen, sinh năm 1920, ở ngoại thành Hà Nội Ông chỉ học hết bậc tiểu học rồi vàođời kiếm sống bằng nhiều nghề Năm 1943 tham gia Hội Văn hoá cứu quốc Trong kháng chiến chốngPháp, ông làm báo và hoạt động văn nghệ ở Việt Bắc
- Tô Hoài là nhà văn lớn có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại Việt Nam Tác phẩm
của ông đa dạng về đề tài và thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, tự truyện… Sáng tác của Tô Hoài
thiên về diễn tả những sự thật của đời thường Bằng vốn hiểu biết phong phú về đời sống, phong tục, tậpquán, nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động, lời văn giàu chất tạo hìnhvới những trang miêu tả thiên nhiên đặc sắc, có chất thơ…Năm 1996 ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học nghệ thuật Tác phẩm chính: Dế Mèn phiêu lưu kí (1941), Nhà nghèo (1944), Truyện Tây Bắc (1953),…
Câu 46 Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa của tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài.
- “Vợ chồng A Phủ” (1952) được in chung trong tập “Truyện Tây Bắc” (1953) của Tô Hoài, được
giải nhất của Hội Văn nghệ VN 1954-1955 Tập truyện là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả cùng bộđội vào giải phóng Tây Bắc Tác phẩm đánh dấu sự chín muồi về tư tưởng và tình cảm của nhà văn Sauhơn nửa thế kỉ đến nay, t/phẩm vẫn giữ nguyên giá trị và có sức thu hút đối với nhiều thế hệ người đọc
Đoạn trích thuộc phần thứ nhất của truyện “Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài.
- Ý nghĩa văn bản: Tố cáo tội ác của bọn phong kiến, thực dân; thể hiện số phận đau khổ của người
dân lao động miền núi; phản ánh con đường giải phóng và ca ngợi vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng, mãnh liệtcủa họ
Câu 47 Trình bày ngắn gọn nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài.
- Nội dung: Cuộc sống cơ cực, tối tăm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới ách áp
bức kìm kẹp của thực dân và chúa đất thống trị; quá trình người dân các dân tộc thiểu số thức tỉnh cáchmạng và vùng lên tự giải phóng đời mình, đi theo tiếng gọi của Đảng
- Nghệ thuật: Tác giả thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, điển hình là nhân vật Mị
có tâm trạng, có diễn biến biến tâm lí phù hợp với hoàn cảnh Tác giả có biệt tài miêu tả cảnh thiênnhiên, cảnh sinh hoạt, tính cách con người, phong tục tập quán đậm đà màu sắc dân tộc miền núi Lốitrần thuật uyển chuyển linh hoạt
VỢ NHẶT – KIM LÂN Câu 48 Nêu những nét cơ bản về tác giả Kim Lân.
- Kim Lân (1920- 2007) tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở Bắc Ninh
- Tác phẩm: Nên vợ nên chồng (tập truyện, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962),
- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn Ông thường viết về nông thôn và người nông dân với
những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê Nói như Nguyên Hồng, ông là nhà văn một lòng đi về với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn Năm 2001,
Kim Lân được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
Câu 49 Nêu hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt?
Trang 10- HCST: “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí” (1962) Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư - được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám
nhưng còn dang dở và mất bản thảo Sau khi hoà bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện
cũ để viết truyện ngắn này
- Ý nghĩa tựa đề: Nhan đề “Vợ nhặt” đã tạo được ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc.
Đây không phải là cảnh lấy vợ đàng hoàng, có hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền thống của người
Việt, mà là “ nhặt được vợ” chỉ với một câu hò và bốn bát bánh đúc Hai chữ “vợ nhặt” cũng nói lên khá
nhiều về cảnh ngộ, số phận của Tràng và cả người đàn bà xa lạ kia Vợ lại được nhặt như người ta nhặtcái rơm, cái rác bên đường Cái giá của con người chưa bao giờ lại rẻ rúng đến như vậy Chuyện Tràngnhặt được vợ đã nói lên tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người dân nghèo trong nạn đóikhủng khiếp năm 1945
Câu 50 Nội dung (ý nghĩa văn bản) và nghệ thuật chủ yếu của truyện ngắn “Vợ nhặt”.
- Nội dung: tác phẩm không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạnđói khủng khiếp 1945 mà còn thể hiện bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ ngay trên bờ vực củacái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khao khát tổ ấm gia đình và tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau
- Nghệ thuật: Tình huống truyện rất độc đáo, éo le và hấp dẫn, giọng văn mộc mạc giản dị Xây dựngnhân vật với tài miêu tả tâm lí sắc sảo của nhà văn Tác giả dùng những biện pháp phong phú để diễn tảtâm lí nhân vật (qua những biểu hiện bên ngoài, diễn tả trực tiếp những ý nghĩ bên trong nội tâm nhânvật) Khắc hoạ nhân vật một cách chân thật, sinh động
Câu 51 Nhận xét ngắn gọn về tình huống truyện độc đáo của tác phẩm “Vợ nhặt” – Kim Lân.
- Tác phẩm “Vợ nhặt” đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo có những nét khác thường, bộc
lộ được nhiều vấn đề khiến độc giả phải chú ý tìm hiểu và suy nghĩ Tình huống truyện được thể hiệnngay ở nhan đề tác phẩm: vợ được nhặt như người ta nhặt một cái rơm cái rác bên đường Kế đó là ngaytrong tác phẩm: Tràng nghèo, xấu xí, thô kệch lại là dân xóm ngụ cư có vợ trong nạn đói khiến cho xómngụ cư và cả bà cụ Tứ, mẹ Tràng ngạc nhiên và ngay cả Tràng cũng không tin đó là sự thật
- Tình huống này đã làm cho tác phẩm có nhiều mặt giá trị: Giá trị hiện thực của tác phẩm là tố cáotội ác của bọn thực dân, phát xít và tay sai gây nên nạn đói khủng khiếp năm 1945 với trên hai triệuđồng bào ta bị chết đói Trong hoàn cảnh ấy giá trị của con người thật rẻ rúng Giá trị nhân đạo sâu sắccủa tác phẩm: Tình người và lòng ham sống, bản chất lạc quan của người lao động trong hoàn cảnh khốncùng
Câu 52 Qua truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân muốn gởi đến người đọc ý tưởng gì?
Tố cáo tội ác bọn thống trị đã đẩy nhân dân ta vào nạn đói khủng khiếp 1945 Khẳng định rằng:
Người dân lao động VN dù ở trong tình huống bi thảm như thế nào đi chăng nữa họ vẫn tin tưởng vàongày mai tươi sáng
RỪNG XÀ NU – NGUYỄN TRUNG THÀNH Câu 53 Trình bày ngắn gọn về tác giả Nguyễn Trung Thành.
- Tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở Quảng Nam Bút danh khác là Nguyên Ngọc.Năm 1950, ông vào bộ đội, sau làm phóng viên báo Quân đội ND
- Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống
Mỹ cũng là nhà văn của vùng đất Tây Nguyên Trong cả hai cuộc kháng chiến, ông đều gắn bó với vùngđất này, hiểu biết về cuộc sống cũng như tinh thần của nhân dân các dân tộc thiểu số, nên có những trangviết rất hay về đất và người Tây Nguyên Viết về đề tài Tây Nguyên, ông trở nên bất tử với tiểu thuyết
Đất nước đứng lên (tác phẩm được tặng giải Nhất - Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955), truyện ngắn Rừng xà nu (1965), Rẻo cao…
- Văn Nguyên Ngọc mang đậm âm hưởng sử thi của núi rừng Tây Nguyên Ở đó, chất thơ hòa quyệnvới nét hoành tráng, hùng vĩ của núi rừng, của con người bất khuất, kiên trung với quê hương, đất nước.Sức sống bất diệt, khả năng trỗi dậy vô tận của con người, sự sống luôn được đề cao trong các sáng táccủa ông
Câu 54 Trình bày hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa văn bản của truyện ngắn “Rừng xà nu”.
- HCST: Truyện ngắn Rừng xà nu được viết 1965 In lần đầu trên tạp chí Văn nghệ quân giải
phóng, sau đó in trong tập truyện–kí Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc Đây là tác phẩm nổi
tiếng nhất trong các sáng tác của Nguyễn Trung Thành viết trong những năm đầu chống Mĩ, khi chúng ồ
ạt đổ quân vào miền Nam
Trang 11- Ý nghĩa văn bản: Ca ngợi tinh thần bất khuất, sức mạnh quật khởi của đồng bào các dân tộc Tây
Nguyên nói riêng, đất nước, con người Việt Nam nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vàkhẳng định chân lí của thời đại: để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không có cách nào khác làphải cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù
Câu 55 Cho biết ý nghĩa nhan đề truyện ngắn “Rừng xà nu”.
- “Rừng xà nu” là linh hồn của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo và dụng ý nghệ thuật được khơi nguồn
từ hình tượng này
- Tựa đề “Rừng xà nu” ẩn chứa khí vị rất riêng của vùng đất Tây Nguyên Nó gợi vẻ đẹp hùng tráng,
sức sống bất diệt của thiên nhiên và tinh thần bất khuất, phẩm chất anh hùng cao đẹp của người TâyNguyên
- Rừng xà nu gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người dân làng Xô Man, đồngthời còn là biểu tượng cho phẩm chất cao đẹp và sức sống bất diệt của người dân Tây Nguyên trongnhững năm chống Mĩ
Câu 56 M/đầu và kết thúc truyện ngắn “Rừng xà nu” là hình ảnh gì? Cho biết ý nghĩa của điều
đó.
- Mở đầu là hình ảnh rừng xà nu hàng vạn cây bị giặc Mỹ bắn phá dữ dội Kết thúc là hình ảnh rừng
xà nu nối tiếp chạy tới chân trời.
- Sự lặp lại trong cấu trúc và cách miêu tả chính là dụng ý nghệ thuật của nhà văn Rừng xà nu là
biểu tượng cho sự mất mát, đau thương của cả dân tộc trong chiến tranh, là biểu tượng về phẩm chất,truyền thống đấu tranh của dân làng Xô Man, có sức sống mãnh liệt không gì có thể tiêu diệt được
Câu 57 Cho biết nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn “Rừng xà nu”
- Nội dung: Truyện ngắn Rừng xà nu trước hết phản ánh hiện thực đau thương nhưng kiên cường,
bất khuất của người dân Tây Nguyên thông qua hình tượng cây xà nu Qua câu chuyện bi thương củacủa nhân vật Tnú và cuộc nổ dậy của dân làng Xô Man, nhà văn khẳng định : dùng bạo lực cách mạng
để chống lại bạo lực phản cách mạng đấu tranyh vũ trang là con đường tất yếu để tự giải phóng
- Nghệ thuật: Sắc màu Tây Nguyên được thể hiện ở: bức tranh thiên nhiên; ngôn ngữ, tâm lí, hành
động của các nhân vật Khắc hoạ thành công hình tượng cây xà nu – một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc tạonên màu sắc sử thi và cảm hứng lãng mạn bay bổng cho thiên truyện; lời văn giàu tính tạo hình, giàunhạc điệu Xây dựng thành công các nhân vật vừa có nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chấtkhái quát, tiêu biểu cho cộng đồng
Câu 58 Chất sử thi của truyện ngắn Rừng xà nu.
- Chủ đề mà tác phâm đặt ra có ý nghĩa sống còn với cách mạng Việt Nam, những sự kiện có tínhchất toàn dân
- Xây dựng thành công hình tượng một tập thể anh hùng Những anh hùng được kể tới trong đó đều
có tính đại diện cao, mang trong mình hình ảnh của cả một dân tộc
- Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng làm bối cảnh cho câu chuyện
- Giọng văn tha thiết, trang trọng mà tác giả đã sử dụng khi kể về sự tích của làng Xô Man Giọngvăn mang âm hưởng vang dội như tiếng cồng tiếng chiêng của đất rừng Tây Nguyên đại ngàn hùng vĩ
Những câu nói nào của cụ Mết đã ch/minh được chân lý thời đại đánh Mĩ? Ý nghĩa của câu nói ấy?
- Câu nói của cụ Mết chứng minh được chân lý thời đại đánh Mỹ là: Đảng còn núi nước này còn, Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo.
- Những câu nói ấy có ý nghĩa là: biểu lộ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với CM và chứng minh được chân lý của thời đại đánh Mỹ phải cầm vũ khí lên khi kẻ thù đã cầm vũ khí, phải dùng bạo lực CM để chống lại bạo lực phản CM.
NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH – NGUYỄN THI Câu 59 Nêu những nét chính về tác giả Nguyễn Thi.
- Nguyễn Thi (1928-1968), bút danh khác là Nguyễn Ngọc Tấn, tên khai sinh là Nguyễn Hoàng
Ca, quê ở Nam Định Năm 1968, ông hi sinh tại Sài Gòn
- Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại: bút kí, truyện ngắn, tiểu thuyết Nguyễn Thi gắn bó vớinhân dân miền Nam và thực sự xứng đáng với danh hiệu: nhà văn của người dân Nam Bộ Nhân vật củaNguyễn Thi có cá tính riêng nhưng tất cả đều có những đặc điểm chung rất Nguyễn Thi là: yêu nước,căm thù giặc, vô cùng gan góc, thẳng thắn, giàu tình nghĩa
Trang 12- Sau khi ông hi sinh, tác phẩm ông được sưu tập và in thành Truyện kí Nguyễn Thi Năm 2000
ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Câu 60 Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa tác phẩm Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi
- Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình được hoàn thành vào tháng 2
năm 1966, trong những ngày chiến đấu chống Mĩ ác liệt, khi NT công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.
- Ý nghĩa văn bản: Qua câu chuyện về những con người trong một gia đình nông dân Nam Bộ có
truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thuỷ chung với quê hương, với cách mạng, nhà văn khẳng định: sựhoà quyện giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc
đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiếnchống
Mĩ cứu nước
Câu 61 Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi
- Nội dung: Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình phản ánh hiện thực đau thương nhưng rất
đỗi anh dũng, kiên cường của nhân dân miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ : lòng yêu nước, căm thù giặc, tình cảm gia đình là sức mạnhtinh thần to lớn trong cuộc chiến chống Mĩ cứu nước
- Nghệ thuật: Tình huống truyện: Việt – một chiến sĩ Quân giải phóng – bị thương phải nằm lại
chiến trường Truyện kể theo dòng nội tâm của Việt khi liền mạch (lúc tỉnh), khi gián đoạn (lúc ngất)của "người trong cuộc" làm câu chuyện trở nên chân thật hơn; có thể thay đổi đối tượng, không gian,thời gian, đan xen tự sự và trữ tình Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượngmạnh Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình và đậm sắc thái Nam Bộ Giọng văn chân thật,
tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh,
Câu 62 Truyền thống nào đã gắn bó những con người trong gia đình với nhau trong tác phẩm
Những đứa con trong gia đình ( Nguyễn Thi)
- Lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc
- Tinh thần chiến đấu dũng cảm
- Giàu tình nghĩa
Câu 63 Vì sao nói “Nguyễn Thi là nhà văn của người nông dân Nam Bộ”? Những biểu hiện chứng
tỏ Nguyễn Thi là nhà văn của người nông dân Nam Bộ qua “Những đứa con trong gia đình”?
- Nói Nguyễn Thi là nhà văn của người nông dân Nam Bộ vì ông gắn bó với cuộc sống và conngười Nam Bộ, ông hiểu rõ phong tục tập quán, tính cách, tâm lí và ngôn ngữ của họ
- Những biểu hiện chứng tỏ Nguyễn Thi là nhà văn của người nông dân Nam Bộ qua Những đứa con trong gia đình: Nhân vật là những con người yêu nước mãnh liệt, thiết tha và thủy chung đến cùng
với Tổ quốc, với đồng bào Trong trái tim họ luôn sáng ngời ngọn lửa căm thù ngùn ngụt đối với kẻ thùxâm lược và tay sai của chúng Họ cũng vô cùng gan góc, tinh thần chiến đấu cao ngút Và họ là nhữngcon người dường như sinh ra để đánh giặc Họ sống thẳng thắn bộc trực, lạc quan, yêu đời, giàu tìnhnghĩa Khi xúc động họ đều bày tỏ tâm sự bằng những câu hò, tiếng hát, kể Truyện Lục Vân Tiên Ngôn ngữ giao tiếp và độc thoại nội tâm của nhân vật đậm chất địa phương Nam Bộ
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA - Nguyễn Minh Châu.
Câu 64 Những nét chính về tác giả Nguyễn Minh Châu
- NMC ( 1930– 1989), trước năm 1975 là ngòi bút sử thi có khuynh hướng trữ tình lãng mạn
- Từ thập kỉ 80 của thế kỉ XX NMC chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức
và triết lí nhân sinh Ông là một trong số những người mở đường tinh anh và tài năng nhất của VHVNthời kì đổi mới
Câu 65 Nêu hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa văn bản
-HCST: Chiếc thuyền ngoài xa được viết 8/1983 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi
qua được sáu năm, đất nước trở lại với cuộc sống đời thường Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa, nhânsinh mà trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra Tác phẩm nằm trong xuhướng nghệ thuật chung của văn học thời kỳ đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân vàthân phận con người đời thường
Trang 13- Ý nghĩa văn bản: Chiếc thuyền ngoài xa thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về
nghệ thuật và cuộc đời : nghệ thuật chân chính phải luôn luôn gắn với cuộc đời, vì cuộc đời ; người nghệ
sĩ cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách toàn diện, sâu sắc Tác phẩm cũng rung lên hồichuông báo động về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả khôn lường của nó
Câu 66 Trình bày nội dung và hình thức nghệ thuật
- Nội dung: Từ câu chuyện về bức ảnh nghệ thuật và sự thật về cuộc đời sau bức ảnh, truyện ngắn
Chiếc thuyền ngoài xa đã mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người:một cái nhìn đa diện nhiều chiều, phát hiện ra bản chất sự thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng
- Nghệ thuật: Tình huống truyện độc đáo, có ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống Tác giả lựa
chọn ngôi kể, điểm nhìn thích hợp, làm cho câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực và có sức thuyếtphục
Ngôn ngữ nhân vật sinh động, phù hợp với tính cách Lời văn giản dị mà sâu sắc, đa nghĩa
HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT – LƯU QUANG VŨ Câu 67 Cuộc đời và sự nghiệp của Lưu Quang Vũ
- Lưu Quang Vũ (1948-1988) quê ở Đà Nẵng Cha cũng là nhà soạn kịch nên năng khiếu nghệ
thuật bộc lộ ngay từ nhỏ
- Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ tài hoa đã để lại dấu ấn trong nhiều thể loại: thơ, văn xuôi, vẽ tranh
và đặc biệt là kịch Kịch là phần đóng góp đặc sắc nhất với những vở gây chấn động dư luận như: Lời nói dối cuối cùng, Nàng Xi-ta, Chết cho điều chưa có, Bệnh sĩ, Tôi và chúng ta, Hồn Trương Ba, da hàng thịt,… Lưu Quang Vũ không những là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch, được coi là nhà
soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật VN hiện đại vào những năm 80 của thế kỉ XX Ôngmất giữa lúc tài năng đang vào độ chín, hứa hẹn một sự nghiệp văn chương to lớn Năm 2000, ông đượctặng giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật
Câu 68 Ý nghĩa nhan đề Hồn Trương ba, da hàng thịt
Nhan đề Hồn Trương ba, da hàng thịt gợi cảm giác về độ vênh lệch của hai yếu tố quan trọng
trong một con người Hồn là phần trừu tượng, da thịt thân xác là cái cụ thể, là cái bình có thể chứa linhhồn, hồn nào xác ấy Nhưng ở đây hồn người người này lại ở trong xác người kia Hồn và xác lại khôngtương hợp Về tính cách, hành động, lối sống của Trương Ba và anh hàng thịt trái ngược nhau Tên gọicủa vở kịch đã thâu tóm được những mâu thuẫn, xung đột bên trong của một con người
Câu 69 Xuất xứ của vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt có gì đặc biệt? Hãy chỉ rõ những điểm
khác biệt giữa truyện cổ dân gian và vở kịch của Lưu Quang Vũ?
Vở kịch được xây dựng dựa vào một câu chuyện dân gian cùng tên, nhưng tác phẩm có nhữngsáng tạo riêng độc đáo:
+ Trong truyện dg, hồn Trương Ba sống yên ổn trong xác anh hàng thịt HTB, DHT dg thể hiệnmột
tư tưởng đơn giản, ngắn gọn là tuyệt đối hóa linh hồn, đề cao linh hồn, không chú ý đến mối quan hệgiữa thể xác và linh hồn
+ Trong vở kịch, LQV đã sáng tạo ở phần kết của vở kịch, đồng thời nhấn mạnh vào sự phảnkháng của linh hồn nhân hậu, thanh cao chống lại sự lấn át và chế ngự của thể xác thô lỗ phàm tục Vở
kịch tập trung diễn tả tình cảnh trớ trêu, nỗi đau khổ, giày vò của TB từ khi “ bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” Từ đó đưa đến tư tưởng mới: sự tồn tại độc lập của thân xác đối với linh hồn và khẳng định một quan niệm đúng đắn về cách sống Những hư cấu sáng tạo của LQV từ câu chuyện cổ tích dân
gian nhằm truyền đến người đọc thông điệp của thời đại những vấn đề xã hội mang tính triết lý sâu sắc
Câu 70 Câu nói của Hồn Trương Ba: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” có ý nghĩa như thế nào?
- Câu nói cho thấy nỗi đau khổ, giằng xé tột cùng của HTB trước hoàn cảnh hiện tại của bản thân
- Câu nói cũng cho thấy khát vọng mãnh liệt được sống với ý nghĩa đích thực Được sống làm ngườithật quý giá, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn với những giá trị mình vốn có và còn theođuổi quý giá hơn
- Câu nói còn thể hiện một tư tuởng triết học sâu sắc: nó phản ánh đòi hỏi sự thống nhất giữa nộidung và hình thức, giữa tư tưởng và biểu hiện hành động
Câu 71 Qua vở kịch “Hồn TB, da hàng thịt”, tác giả muốn gởi đến người đọc thông điệp gì? (Ý
nghĩa văn bản)
Trang 14Qua đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, LQV muốn gởi tới người đọc thông điệp: được sống
và làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có vàtheo đuổi còn quý giá hơn Sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hàihoà giữa thể xác và tâm hồn Con người phải luôn luôn đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bảnthân, chống lại sự dung tục để hoàn thành nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý
Câu 72 Anh chị có đồng ý với đoạn kết của vở kịch không? Giải thích?
Đọc "Hồn Trương Ba da hàng thịt" càng thêm hiểu cần phải là chính mình Đọc "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" ta để ý tơi cái chết cuối cùng của nhân vật Trương Ba Có người nghĩ rằng chết là hết là kết
thúc nhưng với Trương Ba đó lại là sự giải thoát, ông đã có thể là chính mình Trương Ba chọn cái chết
để không còn sự dằn vặt bản thân, để trong lòng được thảnh thơi Vậy cái chết của ông không hề là một
bi kịch mà là sự giải thoát cho bản thân Qua tác phẩm chúng ta có thể hiểu thêm hãy là chính mình, hãysống để không phải hối hận và hãy đứng lên bằng chính đôi chân của mình mà không phải dựa dẫm vàongười khác
PHẦN VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI THUỐC - Lỗ Tấn
Câu 73 Trình bày hiểu biết về tác giả Lỗ Tấn?
- Lỗ Tấn (1881 – 1936), tên thật là Chu Thụ Nhân, bút danh là Lỗ Tấn là ghép từ họ mẹ (bà LỗThụy) cùng với chữ “Tấn hành” (đi nhanh lên - một kỉ niệm thời thơ ấu) Quê ở tỉnh Triết Giang, miềnđông nam Trung Quốc
- Trước khi trở thành nhà văn, ông từng học: hàng hải (mong được đi đây đó để mở rộng tầm mắt),khai mỏ (mong muốn làm giàu cho đất nước), ngành y (với mong muốn chữa bệnh cho người nghèo, ốm
mà không có thuốc như bố ông) Khi đang học y khoa ở Nhật, một lần xem phim, ông nhìn thấy nhữngngười Trung Quốc khoẻ mạnh đi xem người Nhật chém đầu người Trung Quốc, từ đó ông mới giật mình
và nhận ra rằng chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần và ông chuyển sang làmvăn nghệ
- Chủ đề trong các sáng tác của Lỗ Tấn là “Phê phán quốc dân tính” Ông cho rằng các căn bệnh
tinh thần đã khiến cho quốc dân mê muội, tự thoã mãn, ngủ say trong một “cái nhà hộp bằng sắt không
có cửa sổ” Ông hát cho đồng bào mình nghe bài hát lạc điệu của họ, chỉ cho họ thấy bước đi sai nhịp
trên con đường hướng về phía tương lai với thái độ phê phán nghiêm khắc Chủ trương của ông trong tất
cả các sáng tác là dùng ngòi bút phanh phui các căn bệnh tinh thần của dân tộc và lưu ý mọi ngườiphương chạy chữa
- Tác phẩm tiêu biểu: Gào thét, Bàng hoàng, Nấm mồ, Cỏ dại, Chuyện cũ viết theo lối mới,
- Lỗ Tấn là nhà văn CM hiện thực xuất sắc nổi tiếng của văn học hiện đại Trung Quốc đầu TK XX.Năm 1981 cả Thế giới kỉ niệm 100 năm sinh và tôn vinh ông là danh nhân văn hoá thế giới
Câu 74 Trình bày hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ, ý nghĩa văn bản?
- HCST: Truyện được viết năm 1919, đúng vào lúc bùng nổ phong trào Ngũ tứ Đây là thời kì Trung
Quốc bị chèn ép bởi các thế lực đế quốc phương Tây Thuốc được đăng trên tạp chí Tân Thanh Niên tháng 5 – 1919, sau được in trong tập Gào Thét (1923).
- Ý nghĩa văn bản: Người Trung Quốc cần có một thứ thuốc để chữa trị tận gốc căn bệnh mê muội
về
tinh thần Nhân dân không nên "ngủ say trong cái nhà hộp bằng sắt" và người cách mạng thì không nên
"bôn ba trong chốn quạnh hiu', mà phải bám sát quần chúng để vận động, giác ngộ Người TQ cần suynghĩ nghiêm túc về phương thuốc để cứu dân tộc
Câu 75 Tóm tắt truyện “Thuốc” và cho biết ý nghĩa nhan đề?
-Vợ chồng lão Hoa Thuyên – chủ quán trà có con trai bị bệnh lao(căn bệnh nan y thời bấy giờ) Nhờngười giúp , lão Hoa Thuyên đi tìm mua chiếc bánh bao tẩm máu người tử tù về cho con ăn, vì cho rằngnhư thế sẽ khỏi bệnh Lão Thuyên dành dụm tiền mua bánh bao tẩm máu người tử tù về cho con ăn vớiniềm tin tuyệt đối đứa con sẽ khỏi bệnh, mặc dù vừa mới ăn xong thằng thuyên nổi lên một cơn ho dữdội và không bao lâu sau thì chết vì chiếc bánh bao ấy không trị được bệnh lao Trong khi đó, tại quántrà của lão Hoa Thuyên, bác Cả Khang và mọi người bàn tán về cái chết của người tử tù vừa bị chémsáng nay Đó là Hạ Du, một nhà cách mạng kiên cường, nhưng chẳng ai hiểu gì về anh, nhiều người choanh điên, anh chán sống, vuốt râu hùm,… Năm sau vào tiết Thanh minh, mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyênđến bãi tha ma viếng mộ con Gặp nhau, hai người mẹ đau khổ có sự đồng cảm với nhau Họ rất ngạc
Trang 15nhiên khi thấy trên mộ Hạ Du xuất hiện vòng hoa trắng hồng xen lẫn nhau Đây điểm sáng để kết thúccâu chuyện bi thảm, bày tỏ quyết tâm tiếp bước người đã khuất
- Ý nghĩa tựa đề “Thuốc”: Thuốc là một nhan đề đa nghĩa:
- Nghĩa gốc: chỉ phương thuốc chạy chữa căn bệnh lao: bánh bao tẩm máu người
- Nghĩa chuyển: chỉ phương thuốc chạy chữa căn bệnh tinh thần cho quốc dân Trung Quốc:
+ Sự ngu muội, lạc hậu, mê tín dị đoan của quần chúng nhân dân
+ Thái độ thờ ơ, lãnh đạm, xa rời cách mạng của quần chúng
+ Sự sai lầm trong đường lối hoạt động của cách mạng Tân Hợi – Trung Quốc: hoạt động đơn lẻ, xarời quần chúng, chưa tận dụng được sức mạnh của nhân dân
Câu 76 Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người
- “Chiếc bánh bao có tẩm máu người” nghe như chuyện thời Trung cổ nhưng vẫn xảy ra ở nước
Trung Hoa trì trệ Tầng nghĩa thứ nhất – thuốc chữa bệnh lao (Thứ mà lão Hoa Thuyên xem là tiên dược
để cứu thằng con trai mười đời độc đinh nhưng không cứu được nó mà ngược lại đã giết chết nó) Đâycòn là thứ thuốc mê tín dị đoan
- Trong truyện, bố mẹ thằng Thuyên đã áp đặt cho nó một phương thuốc quái gỡ và đám ngườitrong quán trà cũng cho rằng đó là thứ thuốc tiên Tầng nghĩa thứ 2 của nó mang tính khai sáng – đây làthứ thuốc độc – mọi người cần giác ngộ, cần tỉnh giấc không được ngủ say trong nhà hộp bằng sắt không
có cửa sổ
- Chiếc bánh bao – liều thuốc độc hại lại được pha chế bàng máu của người CM Hạ Du – mộtngười xả thân vì nghĩa, đổ máu vì sự nghiệp giải phóng nông dân, Nhưng những người dân ấy lại dữngdưng mua máu anh như mua máu súc vật Với hiện tượng này, Lỗ Tấn đã đặt ra vấn đề hệ trọng: ý nghãicủa sự hi sinh Từ đó dẫn đến tầng nghĩa thứ ba: tìm phương thuốc chữa bệnh cho quần chúng, làm cho
CM gắn bó với quần chúng
Câu 77 Hình tượng người chiến sĩ cách mạng Hạ Du
Nhân vật Hạ Du xuất hiện gián tiếp qua sự bàn luận của những người trong quán trà
- Hạ Du là một trong những người cách mạng tiên phong của cách mạng Trung Quốc đầu thế kỉ
XX, anh có lí tưởng rõ ràng: lật đổ ngai vàng và đánh đuổi ngoại tộc giành độc lập cho dân tộc Hạ Duhiên ngang đứng trước cái chết, dũng cảm tuyên truyền cách mạng với cả tên cai ngục trong những ngày
ở tù chờ án chém Thế nhưng tất cả ý chí, mục đích và hành động của anh lại bị nhận thức một cách méo
mó, đầy sai lạc trong con mắt của quần chúng nhân dân và cả người thân trong gia đình
- Đối với quần chúng thì Hạ Dụ chỉ là "thằng khốn nạn", "nhãi con không muốn sống", "quân làm giặc", "kẻ điên khùng", "đáng tội chết" Đối với họ hàng thì "may mà tố giác được không thì cả nhà mất đầu" Đối với người bị bệnh thì "may phúc quá" khi lấy được thứ thuốc đặc hiệu Với những kẻ khác thì "thích quá", "ái chà chà", "nghe như chuyện làm giặc cơ vậy" Thật xót xa và đau đớn cho hình ảnh
người
chiến sĩ cách mạng trong con mắt của quần chúng mê muội
- Qua nhân vật Hạ Du, tác giả tỏ thái độ trân trọng đối với người cách mạng, nhưng cũng cóngầm ý phê phán anh ta xa rời quần chúng, xa rời đến nỗi mẹ anh ta cũng không biết con mình làm cáchmạng Đây là sai lầm của những người làm cách mạng Cái chết của Hạ Du là bi kịch của người CM
Câu 78 Hình ảnh con đường mòn và ý nghĩa vòng hoa trên mộ Hạ Du
- Hình ảnh con đường mòn có 2 ý nghĩa.
+ Vô tình, những người chiến sĩ CM cũng bị xem là giặc Con đường mòn là biểu tượng của tậpquán xấu đã trở thành thói quen, trở thành suy nghĩ đương nhiên
+ Con đường mòn chia cắt nghĩa địa của người chết chém (người phản nghịch, người CM) vớinghĩa địa người chết bệnh (người lao động nghèo khổ) Đây là biểu tượng của ranh giới vô hình của lòngngười, của những định kiến xã hội
+ Cuối truyện phải qua thời gian giác ngộ, hai bà mẹ mới bước qua con đường mòn đến vớinhau, hiểu nhau và cảm thông cho nhau
- Sự xuất hiện của vòng hoa trên mộ
Ai đó thấu hiểu, tiếc thương, tưởng nhớ đã đặt một vòng hoa trên mộ “một vòng hoa trắng, hoa hồng nằm khoanh trên nấm mồ” Hình ảnh này biểu tượng cho lòng cảm phục, kính trọng người CM.
Đồng thời là niếm lạc quan tin tưởng vào tương lai, tiền đồ tươi sáng của CMTQ
Câu 79 Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện.
Thời gian có sự vận động: có một ngày mùa thu và một ngày mùa xuân Có ba buổi sáng sớm: một buổi sáng sớm nơi pháp trường, một buổi sáng sớm nơi tiệm trà và một buổi sáng sớm ở bãi tha ma.
Trang 16Thu qua, xuân tới là qui luật của đất trời Thu là buổi chiều của năm, mùa thu lá vàng bay để tích nhựaqua đông đón xuân đâm chồi nảy lộc Cái chết của hai con người do u mê, lạc hậu để tích nhựa cho mùaxuân hy vọng cũng như gieo mầm.
- Không gian; một quán trà lặng lẽ về đêm nhưng ồn ào vào ban ngày, một pháp trường nhốnnháo và hỗn tạp, một nghĩa địa mênh mông và lạnh lẽo Đây cũng là không gian của xã hội TQ đươngthời
Câu 80 Nêu chủ đề, nghệ thuật và ý nghĩa câu nói “Thế này là thế nào?” của mẹ Hạ Du?
- Nghệ thuật: Cốt truyện đơn giản, khả năng lực chọn tình tiết và cách sắp xếp không gian, thời
gian
nghệ thuật cùng cách tạo tính đa nghĩa của ngôn từ và hình tượng
- Chủ đề: Phê phán sự lạc hậu của quần chúng và bi kịch của người chiến sĩ CM tiên phong Từ
đó làm bật lên tư tưởng: làm thế nào để tìm phương thuốc chữa bệnh cho dân tộc Trung Quốc
- Câu hỏi “Thế này là thế nào?” được lặp lại như một điệp khúc gợi nhiều day dứt Câu hỏi
trước hết cho thấy sự bế tắc lạ lẫm vì ngay cả bà cũng không hiểu việc làm của con trai mình Câu hỏi còn là lời tự trách Đặt câu hỏi ở cuối truyện, tác giả muốn gợi cho người đọc suy ngẫm về cái chết của
Hạ Du và gửi gắm sự day dứt về mối quan hệ giữa quần chúng và CM
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ (Trích) Hê – minh - uê.
Câu 81 Vài nét chính về tác giả Hê-minh-uê
- Ơ-nit Hê-minh-uê (1899-1961) là nhà văn hiện thực Mĩ Từng nhận giải thưởng Pu-lit-dơ(1953), giải Nô-ben văn học (1954) Ông từng tham gia thế chiến thứ I, nội chiến Tây Ban Nha và thếchiến thứ II với tư cách là người lính, là nhà báo, là phóng viên mặt trận Sau đó bị thương trở về Hoa
Kì, nhưng ông hoàn toàn thất vọng về xã hội đương thời, tự nhận mình là thế hệ mất mác Cuối đời ôngsống ở Cu-Ba
- Ông đã góp phần trong việc đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết trong nền văn học thế giới Văn
phong của Hê-minh-uê giản dị, trong sáng Dù viết về đề tài nào, ông đều nhằm ý đồ “viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người” và thực nghiệm thành công về nguyên lý “Tảng băng trôi”
(Như một tảng băng trôi trên biển chỉ có một phần nhỏ nổi trên mặt nước, phần lớn chìm dưới mặt nước.Nhà văn không trực tiếp công khai phát biểu ý tưởng của mình mà để người đọc tự rút ra ẩn ý)
-Các tác phẩm: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), Chuông nguyện hồn ai (1940),…
Câu 82 Tóm tắt, nêu HCST và ý nghĩa văn bản “Ộng già và biển cả”
1 Tóm tắt: Lão Xan-chi-a-gô 74 tuổi đã lâu không câu được con cá nào Hôm nay lão quyết
định một mình đi ra biển và câu được một con cá kiếm lớn Ông phải chiến đấu với nó suốt ba ngày đếnkiệt sức nhưng nhờ kiên trì và dũng cảm, cuối cùng ông cũng giết được nó và buộc nó sau thuyền hướngvào bờ Bỗng đàn cá mập xuất hiện, tấn công con cá kiếm Lão lại phải chiến đấu với lũ cá mập hung dữ
và khi con cá mập cuối cùng bị đánh đuổi thì con cá kiếm chỉ còn trơ lại bộ xương Ông cũng mệt ngoài
và lên bờ ngũ mơ về những con sư tử ở Châu Phi
2 HCST: Sau gần 10 năm sống ở Cu-Ba, ông cho ra đời tác phẩm “Ông già và biển cả” (1952).
Bối cảnh là một làng chài yên ả bên cảng La-ha-ba-na Tác phẩm ra mắt người đọc trước khi
Hê-minh-uê được
giải thưởng Nôben văn học 1954 Tác phẩm có những nét mới mẻ trong lối kể chuyện của Hê-minh-uê
3 Ý nghĩa văn bản: Hành trình đơn độc và nhọc nhằn của con người vì một khát vọng lớn lao là
minh chứng cho chân lý: “con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”.
Câu 83 Trình bày giá trị của tác phẩm “Ông già và biển cả”
Thời gian và nhân vật được thu hẹp đến mức cực hạn, nhưng câu chuyện cực kì đơn giản ấy lại
mở ra nhiều tầng ý nghĩa:
- Một cuộc tìm kiếm con cá kiếm lớn nhất, đẹp nhất đời
- Hành trình đầy khó nhọc và dũng cảm của người lao động
- Thể nghiệm thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi ước mơ sáng tạo
- Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên
“Ông già và biển cả” còn rất tiêu biểu cho nguyên lý “Tảng băng trôi” mà Hê-minh-uê đề xướng
(mượn hình ảnh tảng băng trôi trên trên mặt nước chỉ có một phần nổi, bảy phần lớn chìm) Hê-minh-uêyêu cầu: nhà văn phải tạo ra được những văn bản giàu “khoảng trống”, tạo tính đa nghĩa cho câu chuyện.Tác giả chủ trương tự giấu mình, không trực tiếp nói ra ý tưởng của mình mà với văn phong giản dị, kếthợp độc thoại nội tâm, xây dựng những hình tượng có nhiều sức gợi để người đọc tự hiểu, tự rút ra ẩn ý
Trang 17Câu 84 Ý nghĩa hình ảnh những vòng lượn của con cá kiếm?
Câu 85 Hình ảnh con cá kiếm và ý nghĩa biểu tượng của nó?
Câu 86 Thế nào là nguyên lý Tảng băng trôi? Nguyên lý Tảng băng trôi được thể hiện trong đoạn
trích như thế nào?
Câu 87 Ý nghĩa tựa đề Ông già và biển cả?
Câu 88 Trong đoạn trích Ông già và biển cả của Hê-minh-uê, ông lão Xan-ti-a-gô gặp phải hoàn
cảnh khó khăn như thế nào? Nguyên nhân nào giúp ông lão vượt qua những khó khăn ấy ?
- Hoàn cảnh của ông lão: đơn độc giữa đại dương bao la, tuổi già, sức lực cạn dần khi phải đối đầuvới con cá kiếm to lớn
- Nguyên nhân giúp lão vượt qua hoàn cảnh khó khăn là nhờ: có kinh nghiệm, trí tuệ sáng suốt, ýchí, nghị lực, khát vọng lớn lao
Câu 89 Đoạn trích truyện Ông già và biển cả của Hê-minh-uê kể lại sự việc gì ? Nhân vật
Xan-ti-a-go là một người như thế nào qua sự việc ấy?
- Sự việc: Ông lão đánh cá Xan-ti-a-go vất vả săn bắt con cá kiếm lớn nhất, đẹp nhất đời, là vận may
- Xan-ti-a-go là một ngư phủ lành nghề, là người dũng cảm, mưu trí, kiên trì, giàu ý chí, nghị lực,giàu khát vọng …
Câu 90 Tóm tắt tác phẩm “Ông già và biển cả”, nêu nghệ thuật và chủ đề (Chủ đề cũng là ý tưởng
mà nhà văn muốn gởi gắm qua Ông già và biển cả)
SỐ PHẬN CON NGƯỜI HỌC TRONG TÀI LIỆU CŨ
MỘT SỐ ĐỀ VĂN THAM KHẢO
BÀI TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH
Đề bài Có người nói: “Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn là một bài
văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn đầy sức thuyết phục”
Mở bài Vào thời điểm chuyển mình của lịch sử dân tộc thường xuất hiện những ánh văn bất hủ,
đánh dấu cho một thời đại Không phải ngẫu nhiên người ta hay nhắc đến những tuyên ngôn nổi
tiếng thế giới như Tuyên ngôn Độc lập của người Mĩ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 Lịch sử dân tộc VN ta cũng có những bản tuyên ngôn như vậy Đó là Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi vào thế kỉ XV và Tuyên ngôn Độc lập
do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình lịch sử
HCST Ngày 19/ 8/ 1945 chính quyền thủ đô về tay nhân dân Ngày 26 8 Chủ Tịch HCM từ
chiến khu Việt Bắc về tới HN Tại căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản
TNĐL Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình - HN trong hoàn cảnh: thù trong giặc ngoài,
vận mệnh Tổ quốc ngàn cân treo sợi tóc (bọn đế quốc, thực dân đang rắp tâm cướp nước ta lần
nữa), Người đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước VNDCCH đọc bản TNĐL, trước 50 vạn
đồng bào
Giá trị Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh từ lâu vẫn được coi là “một văn kiện có giá trị
Trang 18lịch sử
v bản lịch sử to lớn, tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên độclập tự do của dân tộc Có thể nói bản Tuyên ngôn là kết tinh trí tuệ của thời đại, là kết quả cao
của “bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng” của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam
Sự kiện trọng đại ấy đã để lại dấu ấn sâu sắc vào lịch sử như một mốc son chói lọi.Nhưng ta sẽ không hiểu hết tầm vóc và ý nghĩa của tác phẩm nếu không trở lại với không khíchính trị căng thẳng, nghiêm trọng cách đây hơn nửa thế kỉ Cho đến đầu mùa thu năm 1945,tình hình quốc tế có nhiều biến chuyển thật mau lẹ Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đang
đi vào những ngày cuối Sự cáo chung của phe Phát xít và sự thắng trận của quân Đồng minh sẽ
là kết cục không thể đảo ngược Chớp lấy thời cơ đó, nhân dân ta, dưới sự tổ chức và chỉ đạo
của Việt Minh đã vùng lên cướp lấy chính quyền Chỉ trong vòng một tuần lễ “Sao vàng năm cánh” không còn là “mộng” nữa mà đã tung bay trên khắp ba miền Nhưng cũng chính lúc này,
nhiều đế quốc bắt đầu nhòm ngó Đông Dương và không dấu ý đồ thôn tính nước ta Không thểchần chừ, Việt Nam cần phải tuyên bố độc lập!
Bản Tuyên ngôn vì thế đã đóng vai trò hoàn tất một sứ mệnh lịch sử Không còn nghi ngờ gi nữa, sự ra đời đúng lúc của bản Tuyên ngôn Độc lập đã chặn đứng âm mưu tái chiếm
Việt Nam của thực dân Pháp, chống lại ý đồ can thiệp vào Việt Nam của đế quốc Mĩ, mở đầucho làn sóng giải phóng thuộc địa ở Châu Á, khẳng định chủ quyền và nâng cao giá trị của dântộc ta trên trường quốc tế Bản Tuyên ngôn cũng đã chính thức chấm dứt 80 năm đô hộ củaThực dân Pháp, 5 năm cướp bóc, giày xéo của Phát xít Nhật và nghìn năm chế độ phong kiến
Với ý nghĩa như vậy, bản Tuyên ngôn Độc lập đã thật sự khai sinh ra một nước Việt Nam mới,
mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc ta
Giá trị
v/học
Toàn văn bản không dài chỉ gói gọn trong khoảng một ngàn chữ nhưng vô cùng chặt chẽ vàsúc tích Bản tuyên ngôn chia 3 phần rõ rệt Lời tuyên bố độc lập dựa trên những cơ sở pháp lí
và thực tế lịch sử Bên cạnh những giá trị lịch sử to lớn đã nói trên, bản Tuyên ngôn còn là một
bài văn chính luận tiêu biểu xuất sắc Nó được viết trong cơn trở dạ của lịch sử để tạo ra bướcngoặc vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng thời nó cũng là kết quả của niềm khao khát tự do,độc lập cháy bỏng của dân tộc Việt nam đã tích tụ hàng ngàn năm Bởi vậy, người đọc luônluôn bị sự chinh phục lớn lao, mạnh mẽ của một áng hùng văn được kết tinh bởi trí tuệ và tâmhuyết Hồ Chí Minh – Người con ưu tú của dân tộc – và bởi tự thân tác phẩm – tiếng nói chân lícủa thời đại Mọi chân lí đều hết sức giản dị Đây cũng là phẩm chất tiêu biểu tạo nên vẻ đẹpđầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập Ít có tác phẩm chính luận nào trong văn học xưa nay lại
có bố cục ngắn gọn, súc tích như vậy Trước hết , là một thông điệp chính trị, bản Tuyên ngônhướng tới những mục đích nhất thời, quan trọng có tính cấp thiết, bức bách, nước sôi, lửa bỏng.Trong một tình thế như vậy, sự ngắn gọn, mạch lạc sẽ tạo nên hiệu quả thông tin nhanh chóng
và triệt để Tất nhiên, không phải sự ngắn gọn nào cũng tạo nên tính chất súc tích, cô đọng vàkhông phải sự cô đọng nào cũng hàm chứa sức mạnh Bản tuyên ngôn dường như chỉ xoáy sâuvào hai vấn đề lớn Thứ nhất: phủ nhận hoàn toàn quyền dính líu tới Việt Nam của thực dânPháp Thứ hai: khẳng định quyền độc lập và quyết tâm sắt đá bảo vệ quyền độc lập đó Vìnhững mục tiêu này, các ý tưởng, các kiểu câu đều tuân theo nguyên tắc mạch lạc, ngắn gọn,sáng sủa
Như đã nói ở trên, văn kiện lịch sử này không chỉ đọc trước quốc dân, đồng bào mà còntrước thế giới Đây còn là thái độ của chúng ta trước kẻ thù Cho nên, phần đầu của bản
tuyên ngôn là cơ sở pháp lý vững chắc để đi đến khẳng định nguyên lí chung rằng: tất cả mọi
người, mọi dân tộc đều có quyền được sống bình đẳng, quyền tự do và quyền mưu cầu h.phúc.
Cụ thể Bác đã trích dẫn lại hai bản tuyên ngôn: Tuyên ngôn độc lập của Mĩ (1776) “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyến ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp (1791) đã nêu: “Người ta sinh
ra tự do và bình đẳng về quyến lợi, và phải luôn tự do và bình đẳng về quyền lợi” Đó là hai bản
tuyên ngôn nổi tiếng được cả thế giới công nhận, là chân lý muôn đời của thời đại, được đúc kết
từ thực tiễn máu xương của hai cuộc CMTS Tuy nhiên, Người đã vận dụng chân lí đó một cách
linh hoạt, đầy sáng tạo, kết hợp ý kiến của người với ý kiến của mình: “suy rộng ra” thành
Trang 19quyền bình đẳng, tự do của các dân tộc Bác nhanh chóng tiến từ quyền con người sang quyềndân tộc Đó là đóng góp to lớn về mặt tư tưởng của Bác Từ đó nhằm nhấn mạnh giá trị hiểnnhiên của độc lập, tự do các dân tộc
Thực chất đây là sách lược mềm dẻo, tỏ ra khiêm tốn, tôn cao những giá trị bất hủ củaPháp và Mỹ Nhưng thật ra, Bác muốn rung hồi chuông cảnh báo, nếu thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lược VN nghĩa là chúng đã đi ngược lại lời của cha ông chúng, là những kẻ thấtước Như vậy cùng một lúc Bác đã bắn một mũi tên trúng nhiều đích Cái độc đáo và khéo léo
của Bác là đã dùng chiến thuật “gậy ông đập lưng ông”, “dùng lời của kẻ thù để khóa miệng kẻ thù” để ràng buộc các nước Đồng minh Kết thúc phần một là một lời chốt ngắn gọn đầy sức thuyết phục: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” nhằm khẳng định chắc chắn về quyền con người và quyền dân tộc Bác quả là có con mắt sáng nhìn xa trông rộng (Nhìn bốn hướng – Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau – Trông Bắc, trông Nam trông cả địa cầu).
Tóm lại, bằng phương pháp suy lý diễn dịch, lập luận chặt chẽ, súc tích, ngắn gọn, sáng tạo,đoạn mở đầu đã tạo nên sức thuyết phục mạnh mẽ
Để tố cáo thực dân Pháp, tác giả đã vạch năm tội ác về chính trị, bốn tội ác về kinh tếcùng hàng loạt sự phản bội đê hèn và trắng trợn vào những thời điểm cụ thể nên dù muốn chốicãi, chúng cũng không thể Để tránh những mơ hồ, những “mập mờ đánh lận con đen” mà thựcdân Pháp đã cố dựa vào như một nguỵ thuyết để rắp tâm quay trở lại thống trị nước ta, một lần
nữa, tác giả đã vạch rõ: “Mùa thu năm 1940, Phát xít nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật” (…) Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải của Pháp nữa (…) Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải
từ tay Pháp” Với bút lực mạnh mẽ của một trí tuệ siêu việt, vì sự thấu hiểu tình hình chính trị một cách sâu sắc, bằng những chứng cứ đầy đủ và xác thực, bản Tuyên ngôn thực sự là bản cáo
trạng đanh thép lên án mạnh mẽ tội ác của thực dân Pháp
Tuy nhiên, sức mạnh chinh phục của bản Tuyên ngôn còn là ở sự chính xác và giàu sức
biểu cảm của hệ thống ngôn từ Chẳng hạn, sau khi viện dẫn hai bản tuyên ngôn, nhưng khôngdừng lại ở nội dung hai bản Tuyên ngôn đó mà suy rộng ra về quyền độc lập dân tộc Tác giả
khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Khi nói về tội ác của thực dân Pháp, tác giả viết: “Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”, “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của chúng ta trong những bể máu…”, “Chúng ràng buộc (…) chúng bóc lột (…) chúng cướp (…) chúng giữ độc quyền (…) chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị …” Khi tuyên bố thoát li hẳn với thực dân Pháp, bản Tuyên ngôn có những từ vừa
chính xác vừa chọn lọc: “Xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về (chứ không phải với)nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” Ngoài ra, việc
sử dụng hàng loạt điệp từ, điệp ngữ vừa tạo hiệu quả cao trong việc khẳng định các ý tưởng,vừa bảo đảm độ chính xác và sức mạnh cho lí lẽ vừa gợi xúc cảm nhằm tác động đến nhân tâm,thôi thúc người nghe nhận ra và thừa nhận chân lí
Kết bài Tất cả những điều đó đã khẳng định trình độ nghệ thuật xuất sắc của tác giả, đưa Tuyên
ngôn Độc lập trở thành một mẫu mực của thể văn chính luận Đã hơn nửa thế kỉ trôi qua nhưngTuyên ngôn Độc lập vẫn là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn đồng thời là một tác phẩmchính luận xuất sắc, mẫu mực Tuyên ngôn Độc lập – mở đầu cho kỉ nguyên độc lập, tự do, tạođiều kiện cho mọi thay đổi căn bản của đời sống dân tộc, trong đó có văn học
Trang 20BÀI VIỆT BẮC – TỐ HỮU
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ”
Mở bài Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu nhất của nền thi ca VN hiện đại, là
ngọn cờ đầu của thơ ca CM, của lý tưởng cộng sản Mọi sự kiện chính trị qua trái tim nhạycảm và cảm hứng nghệ thuật của ông đều kết tinh thành những bài thơ đặc sắc Điển hình
nhất là tập thơ “VB” Tập thơ được xem là đỉnh cao của thơ kháng chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc” là kết tinh sở trường nghệ thuật ngòi bút Tố Hữu Bài thơ là khúc hát ân tình
của người kháng chiến đối với quê hương, đất nước, nhân dân CM được thể hiện bằng hình
thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc Điển hình nhất là tám dòng thơ đầu trong bài thơ “VB”: “ dẫn chứng thơ 8 dòng đầu”
HCST Việt Bắc là căn cứ CM vững chắc, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống
Pháp Đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã cưu mang và che chở cho Đảng, cho chính phủ, cho
bộ đội Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ kí kết, hòa bình được lập lại, đấtnước bước sang thời kì mới Tháng 10/1954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núitrở về miền xuôi, Trung ương Đảng vả Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô HàNội, nhân sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Bài thơ này nằmtrong tập thơ Việt Bắc (1946-1954)
GT
đại ý Đoạn mở đầu bài thơ là lời đối đáp giữa kẻ ở và người về, lời giã biệt giữa Việt Bắc
với người cán bộ kháng chiến về xuôi Đoạn thơ thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.
P/tích
bốn
dòng
đầu
Mở đầu bài thơ là những câu hỏi của người ở lại (Việt Bắc) với người ra đi (cán bộ
kháng chiến) trong buổi chia tay thật bồi hồi tha thiết:
Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?
Điệp từ “nhớ” lặp đi lặp lại trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng cùng với cách đối đáp “mình – ta” thân mật tình cảm tràn đầy thương nhớ Ta từng bắt gặp điều này trong ca dao: “Mình về ta chẳng cho về – Ta nắm dải áo, ta đề câu thơ” hay “Mình về có nhớ ta
chăng - Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”.
Đặc biệt những từ “mình có nhớ ta”, “thiết tha mặn nồng” đúng là giọng điệu của
những người đang yêu nhau giờ trong phút chia tay giã biệt Thật ra đây không phải là tìnhyêu nam nữ mà là tình quê hương đất nước, tình quân dân thắm thiết Trong đoạn thơ trên có
hai câu hỏi: một câu hướng đến thời gian“15 năm” (chỉ độ dài được tính từ cuộc khởi nghĩaBắc Sơn năm 1940 đến khi kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, thời gian nói lên chiềudài gắn bó thương nhớ: Việt Bắc với cách mạng) Câu thơ mang âm hưởng Truyện Kiều
“Những là rày ước mai ao – Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”; Câu hỏi còn lại hướng
đến không gian “núi sông” nhìn cây nhớ núi – nhớ Việt Bắc; nhìn sông nhớ nguồn – nhớ về
cội nguồn Câu thơ chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo, lời nhắc nhở
về những tình cảm thiêng liêng: đừng quên cội nguồn Việt Bắc – cội nguồn cách mạng
P/tích Câu hỏi của người ở lại vừa vang lên thì gặp sự hô ứng của người về:
Trang 21“Ai” là đại từ phiếm chỉ nhưng cũng rất rõ ràng làm cho lời thơ thêm tình tứ và đầy ý
vị Với cách dùng từ “ai” khiến cho câu thơ mang âm hưởng của ca dao và gợi một không
gian gần gũi, thân thương:
Tiếng ai tha thiết bên cầu…
Hai từ láy “bâng khuâng, bồn chồn” được sử dụng chính xác, diễn tả rất đúng khôngkhí và tâm trạng biệt li, tâm trạng bồi hồi xao xuyến, lưu luyến, nhớ thương,… hòa lẫn cùngmột lúc trong phút chia tay Bởi mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ,mười lăm năm gian khổ có nhau đầy những kỉ niệm, giờ phải chia tay rời xa để làm nhiệm vụmới về tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10/1954), biết mang theo điều gì, biết lưu lại hình ảnhnào, tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềm bâng khuâng khó tả Hai từnày được dùng cân xứng trong câu thơ tiểu đối tạo âm điệu dìu dặt, xao xuyến
Cảnh tiễn đưa đầy xúc động qua hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li” Tác giả hướng
nỗi nhớ Việt Bắc qua hình ảnh cụ thể “áo chàm”, chiếc áo, màu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc
của vùng quê nghèo thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏ
vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước “Áo chàm” là màu áo xanh đen đặc trưng của người
miền núi Việt Bắc Đây là hình ảnh hoán dụ gợi nhớ con người Việt Bắc chân chất, mộc mạc
mà nghĩa tình bền chặt
Tình cảm lưu luyến ấy còn được biểu đạt bằng cử chỉ rất cảm động: “Cầm tay nhau biết
nói gì hôm nay…” Nhịp của câu thơ lục bát này đã có sự xáo trộn (3/3/2) để diễn tả thần tình
cái ngập ngừng, bối rối lúc chia tay Nhịp điệu ấy gợi ta nhớ tới cảnh chia tay trong câu thơ:
"Bước đi một bước, giây giây lại dừng" “Cầm tay” gợi tình cảm thắm thiết, yêu thương, không muốn rời xa của người đi, kẻ ở Ta từng bắt gặp điều này trong bài thơ “Khóc Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến “Cầm tay hỏi hết xa gần”, hay “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay…” (Đồng chí - Chính Hữu) Còn “Biết nói gì” không phải là không có điều để giải bày mà
chính vì có quá nhiều điều muốn nói nhưng không biết phải nói điều gì, hoặc vì xúc động nênnói không nên lời, ngôn ngữ dường như đã trở nên bất lực trong hoàn cảnh này Cái không lờinày nhưng thể hiện được nhiều nhất tình cảm dạt dào, dâng trào trong nỗi xúc động Ba dấu
chấm lửng đặt cuối câu là một nốt lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng…
“đồng tâm, đồng tình, đồng chí” Lời thơ là tiếng lòng thiết tha: “ Thơ chỉ tràn ra trong trái tim ta cuộc sống đã thật đầy” (Tố Hữu) Đoạn thơ còn là tiếng lòng thiết tha của nhà thơ với
cuộc đời, với nghĩa tình sâu nặng của nhân dân
Kết bài Tóm lại, “VB” đã tái hiện một thời kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng,
nghĩa tình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đấtnước Qua đó, tình cảm thuỷ chung truyền thống của dân tộc được nâng lên thành tình cảmthời đại, đó là ân tình cách mạng - một cội nguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi củacách mạng và kháng chiến
Về hình thức, bài thơ đậm đà tính dân tộc với thể thơ lục bát truyền thống được sử dụngnhuần nhuyễn, kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao được sử dụng sáng tạo, cặp đại từ
nhân xưng mình – ta với sự biến hoá linh hoạt, tác giả tạo dựng được hình tượng kẻ ở, người
đi đại diện cho tình cảm của cả cộng đồng Tất cả có sức tác động sâu xa, làm dạt dào thêmtình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam Qua năm tháng với bao biếnđộng của cuộc sống, bài thơ nói chung và những dòng thơ trên nói riêng vẫn rung cảm lòngngười
Trang 22ĐỀ 2
Đề bài Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:
Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa
Mở bài Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu nhất của nền thi ca VN hiện đại, là
ngọn cờ đầu của thơ ca CM, nhà thơ của lý tưởng cộng sản Mọi sự kiện chính trị qua trái timnhạy cảm và cảm hứng nghệ thuật của ông đều kết tinh thành những bài thơ đặc sắc Điển
hình nhất là tập thơ “VB” Tập thơ được xem là đỉnh cao của thơ kháng chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc” là kết tinh sở trường nghệ thuật ngòi bút Tố Hữu Bài thơ là khúc hát ân
tình của người kháng chiến đối với quê hương, đất nước, nhân dân CM được thể hiện bằnghình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc Điển hình nhất là mười hai dòng thơ sau trong bài
thơ “VB” Từ dòng thứ chín đến dòng hai mươi.
“ dẫn chứng thơ 12 dòng tiếp”
HCST Việt Bắc là căn cứ CM vững chắc, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống
Pháp Đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã cưu mang và che chở cho Đảng, cho chính phủ, cho
bộ đội Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ kí kết, hòa bình được lập lại, đấtnước bước sang thời kì mới Tháng 10/1954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núitrở về miền xuôi, Trung ương Đảng vả Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô HàNội, nhân sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Bài thơ này nằmtrong tập thơ Việt Bắc (1946-1954)
GT
đại ý
Trong bài thơ, sau những lời ướm hỏi ngọt ngào trong khúc dạo đầu ở đoạn trên, mười hai dòng thơ tiếp theo làm thành sáu câu hỏi tiếp tục là lời của người ở lại gợi nhắc về những kỉ niệm, những ân tình – mỗi câu hỏi gợi một cái gì thật tiêu biểu, thật ấn tượng
về Việt Bắc Bao kỉ niệm của một thời gian khổ, chia ngọt sẻ bùi, đầy ân tình được thể hiện chân thực qua đoạn thơ gợi nhiều cảm xúc cho người đọc.
Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Hình ảnh thơ giàu sức gợi “Mưa nguồn suối lũ” là chi tiết tả thực về thiên nhiên khắc
nghiệt nơi núi rừng Việt Bắc; “miếng cơm chấm muối” là phản ánh cảnh sinh hoạt kham khổ, khó khăn trong buổi đầu của cuộc kháng chiến Điều này từng thấy trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi: “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần/ Khi Khôi Huyện quân không một đội ”.
Và cách nói “mối thù nặng vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè
nặng trên vai dân tộc ta
Lại có những câu hỏi gợi cảm giác cô đơn lòng người ở lại khi chia tay:
Trang 23Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già
“Rừng núi, trám bùi, măng mai” được nhân hóa cùng với hình ảnh “trám rụng – măng
già” không ai thu hái gợi nhiều bơ vơ, man mác buồn thương Tác giả mượn cái thừa để nói
cái thiếu vắng nhằm biểu đạt kín đáo, sâu sắc cái tình của Việt Bắc với cách mạng, với cán bộ
về xuôi làm cho nỗi nhớ như thắt vào lòng kẻ ở lại
Vẫn tiếp tục là những câu hỏi tu từ gợi nhớ:
Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Tố Hữu sử dụng hình ảnh tượng trưng, tương phản “lau xám/ lòng son” để ngợi ca đồng bào Việt Bắc tuy nghèo khó thiếu thốn nhưng vẫn son sắt thủy chung với CM, vẫn “một
dạ khăng khăng đợi thuyền” Đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm “lòng son” của người cán bộ
chiến sĩ: xin đừng quên thời kỳ “kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, đừng quên cội nguồn cách
mạng, đừng quên để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng
Những từ chỉ thời gian: khi… thuở … những địa danh, hình ảnh đã thành lịch sử gợi cảm xúc thiêng liêng: Tân Trào, Hồng Thái – mái đình, cây đa… giờ trở thành kỉ niệm sâusắc trong lòng người đi kẻ ở Đằng sau đó có lời nhắn nhủ về nghĩa tình thủy chung, đề caotình cảm thủy chung, hướng về cội nguồn:
“Mười lăm năm ấy ai quên/ Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa”.
Nhận
xét
chung
Có thể coi đoạn thơ trên là nỗi thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc Đoạn thơ
tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu: giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm, mang đậm phong
vị ca dao dân gian, đề cập đến con người và cuộc sống kháng chiến tác giả ca ngợi phẩm chấtcách mạng cao đẹp của quân dân ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán
bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc Đoạn thơ là bằng chứng khẳng định sức mạnh của thơ trữ tìnhchính trị qua tài thơ Tố Hữu Nó có tác dụng: khơi gợi tình cảm cội nguồn – nghĩa tình thủychung
Về nghệ thuật, nổi bật trong đoạn thơ là khúc hát ân tình thiết tha, xúc động của người
Việt Bắc dành cho người cán bộ kháng chiến sắp lúc về xuôi Điệp khúc: Mình đi, có nhớ… Mình về có nhớ… là những câu hỏi tu từ là tiếng lòng tha thiết cất lên không chỉ là nhắn nhủ
mà còn là hoài niệm, gợi nhớ Giọng điệu tha thiết, ngọt ngào/ tiêu biểu cho giọng điệu thơ TốHữu những tình cảm cách mạng được cất lên thật trữ tình, dễ đi vào lòng người
Kết bài Tóm lại, “VB” đã tái hiện một thời kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng,
nghĩa tình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đấtnước Qua đó, tình cảm thuỷ chung truyền thống của dân tộc được nâng lên thành tình cảmthời đại, đó là ân tình cách mạng - một cội nguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi củacách mạng và kháng chiến
Về hình thức, bài thơ đậm đà tính dân tộc với thể thơ lục bát truyền thống được sửdụng nhuần nhuyễn, kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao được sử dụng sáng tạo, cặp đại
từ nhân xưng mình – ta với sự biến hoá linh hoạt, tác giả tạo dựng được hình tượng kẻ ở,
người đi đại diện cho tình cảm của cả cộng đồng Tất cả có sức tác động sâu xa, làm dạt dàothêm tình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam Qua năm tháng vớibao biến động của cuộc sống, bài thơ nói chung và đoạn thơ nói riêng vẫn rung cảm lòngngười
Trang 24ĐỀ 3
Đề bài Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:
“Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi
Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”.
Mở
bài
Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu nhất của nền thi ca VN hiện đại, làngọn cờ đầu của thơ ca CM, của lý tưởng cộng sản Mọi sự kiện chính trị qua trái tim nhạycảm và cảm hứng nghệ thuật của ông đều kết tinh thành những bài thơ đặc sắc Trong số đó,
tập thơ “VB” được xem là đỉnh cao của thơ kháng chống Pháp, mà bài thơ “Việt Bắc” là kết
tinh sở trường nghệ thuật ngòi bút Tố Hữu Bài thơ là khúc hát ân tình của người kháng chiếnđối với quê hương, đất nước, nhân dân CM được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật đậm đàtính dân tộc Đặc sắc nhất là đoạn thơ thể hiện sâu sắc nỗi niềm của những người con rời “thủ
đô kháng chiến” với bao lưu luyến nhớ thương Nỗi nhớ ấy được cất lên thật cảm động:
“ dẫn chứng thơ 12 dòng thơ”
HCST Việt Bắc là căn cứ CM vững chắc, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống
Pháp Đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã cưu mang và che chở cho Đảng, cho chính phủ, cho
bộ đội Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ kí kết, hòa bình được lập lại, đấtnước bước sang thời kì mới Tháng 10/1954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núi trở
về miền xuôi, Trung ương Đảng vả Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội,nhân sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Bài thơ này nằm trongtập thơ Việt Bắc (1946-1954)
GT
chung
Sau khi khẳng định tấm lòng trước sau như một, người ra đi nhớ về một Việt Bắc đầy ắp
kỉ niệm Đoạn thơ trên là những vần thơ đẹp của bản tình ca “Việt Bắc” Tiếp nối mạch cảm
xúc toàn bài, nỗi nhớ trào dâng được thể hiện sâu sắc và cảm động về tình cảm của người cán bộ kháng chiến đối với đất và người Việt Bắc Hình ảnh chiến khu càng sống động bao
nhiêu càng cho thấy nỗi nhớ, tình cảm kẻ đi với người ở tươi mới bấy nhiêu Cảnh sắc thiênnhiên, c/sống sinh hoạt, kỉ niệm kháng chiến lần lượt hiện hình nổi sắc chân thực
PT sáu
dòng
đầu
Trước hết là nhớ cảnh Việt Bắc thanh bình:
Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy
Hình ảnh diễn đạt trữ tình, ý nhị, sâu sắc “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiếttrong tình cảm Với cách so sánh mới lạ sáng tạo này đã cho người đọc thấy hết được tình cảmcủa người ra đi, nhớ Việt Bắc như nỗi nhớ trong tình yêu: thường trực, sâu sắc, mãnh liệt
Nỗi nhớ được thể hiện ở nhiều tầng bậc, hiện hữu cùng bước đi thời gian: trăng lên – nắng chiều – sớm – khuya, trải ra với các không gian: bản khói cùng sương – bếp lửa – rừng nứa – bờ tre – ngòi Thia – sông Đáy – suối Lê… gợi những nét nhớ nhung tưởng như nhẹ nhàng mà lại hóa tha thiết, mãnh liệt Chữ “nhớ từng” là cách điểm lại một cách tỉ mỉ, không
bỏ sót chi tiết nào, hình ảnh nào… Bức tranh Việt Bắc hiện ra qua hoài niệm khi thì mơ màng,vời vợi khi lại rõ nét với đường nét, màu sắc, ánh sáng Mỗi cảnh là một nét nhớ, nét thương
Trang 25về con người Việt Bắc
Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Đại từ “mình-ta” đan xen kết hợp với từ chỉ vị trí “đây - đó” nhằm thể hiện sự gắn bó,
kề vai sát cánh bên nhau… cùng với thành ngữ “đắng cay ngọt bùi” đã khái quát những gian
khổ, vất vả để nhấn mạnh sự đồng cam cộng khổ Tuy thiếu thốn, gian khổ nhưng người Việt
Bắc hết sức tình nghĩa chan hòa Hình ảnh tượng trưng: "Chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa "chia, sẻ, cùng" diễn tả được mối tình cảm "chia ngọt sẻ bùi" giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong "củ sắn", "bát cơm", "chăn sui" mà người cán bộ cách mạng đã chịu ơn Việt Bắc.
Đây là một hình ảnh đậm đà tình giai cấp
Nhận
xét Bức tranh Việt Bắc hiện lên qua nỗi nhớ của chủ thể trữ tình; trong hoài niệm có ba mảngthống nhất và hòa nhập vào nhau: nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc – nỗi nhớ con người,
cuộc sống ở Việt Bắc – những kỉ niệm về cuộc kháng chiến gian khổ mà chan chứa nghĩa tình
Giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết, điệp từ “nhớ”, điệp ngữ: nhớ gì… nhớ từng… nhớ sao…nhớ người… trùng điệp, cùng cách ngắt nhịp của câu thơ lục bát tạo nên nét nhạc thơ
thật đằm thắm, những hình ảnh chân thực, bình dị mà giàu sức gợi cảm… Chuyện nghĩa tìnhcách mạng, chuyện kháng chiến đến với người đọc bằng tiếng nói của tình yêu Đọan thơ tiêubiểu cho phong cách thơ Tố Hữu: trữ tình-chính trị, giọng điệu tâm tình, ngọt ngào và đậm đàtính dân tộc
Kết
bài Tóm lại, “VB” nghĩa tình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đấtđã tái hiện một thời kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng,
nước Qua đó, tình cảm thuỷ chung truyền thống của dân tộc được nâng lên thành tình cảmthời đại, đó là ân tình cách mạng - một cội nguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi củacách mạng và kháng chiến
Về hình thức, bài thơ đậm đà tính dân tộc với thể thơ lục bát truyền thống được sử dụngnhuần nhuyễn, kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao được sử dụng sáng tạo, cặp đại từ
nhân xưng mình – ta với sự biến hoá linh hoạt, tác giả tạo dựng được hình tượng kẻ ở, người
đi đại diện cho tình cảm của cả cộng đồng Tất cả có sức tác động sâu xa, làm dạt dào thêmtình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam Qua năm tháng với bao biếnđộng của cuộc sống, bài thơ vẫn rung cảm lòng người
Trang 26ĐỀ 4
Đề bài Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Mở
bài
Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu nhất của nền thi ca VN hiện đại, làngọn cờ đầu của thơ ca CM, của lý tưởng cộng sản Mọi sự kiện chính trị qua trái tim nhạy cảm
và cảm hứng nghệ thuật của ông đều kết tinh thành những bài thơ đặc sắc Điển hình nhất là tập
thơ “VB” Tập thơ được xem là đỉnh cao của thơ kháng chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc”
là kết tinh sở trường nghệ thuật ngòi bút Tố Hữu Bài thơ là khúc hát ân tình của người khángchiến đối với quê hương, đất nước, nhân dân CM được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật đậm
đà tính dân tộc Đặc sắc nhất là đoạn thơ hồi ức về cảnh đẹp núi rừng Việt Bắc qua bốn mùatrong năm:
“ viết lại 10 dòng thơ”
HCST Việt Bắc là căn cứ CM vững chắc, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp
Đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã cưu mang và che chở cho Đảng, cho chính phủ, cho bộ đội.Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ kí kết, hòa bình được lập lại, đất nướcbước sang thời kì mới Tháng 10/1954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núi trở vềmiền xuôi, Trung ương Đảng vả Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội, nhân
sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Bài thơ này nằm trong tậpthơ Việt Bắc (1946-1954)
GT
chung
Trong nền thơ ca và văn học VN, bức tranh tứ bình xuất hiện không ít như khung cảnh
"Trông bốn bề" của "Chinh phụ ngâm" (Đoàn Thị Điểm), đoạn " Buồn trông" trong "Kiều ở Lầu
Ngưng Bích" (Nguyễn Du), hay trong Truyện Kiều cũng có câu: “Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu
dài ngày ngắn đông đà sang xuân”, hoặc ở dòng hồi tưởng về quá khứ huy hoàng của con hổ
trong "Nhớ rừng" (Thế Lữ) Thế nhưng, trong VB, bức tranh bốn mùa hiện lên với vẻ đẹp và
sắc thái thiên nhiên rất riêng theo trình tự : Đông - Xuân - Hạ - Thu Đoạn thơ gồm mười dòng lục bát đã ghi lại cảnh và người ở Việt Bắc Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng
nhận xét: “Những câu thơ viết về thiên nhiên trong Việt Bắc có thể so sánh với bất kì đoạn thơ
nào viết về thiên nhiên trong văn học cổ điển”
Ta là người ra đi và mình là người ở lại Và câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta” là cái cớ để bày
tỏ tấm lòng của người ra về Người ra về lòng vẫn nhớ, nhớ “hoa và người” “Hoa ” là thiên
nhiên đẹp tươi sáng và “người” là con người Việt Bắc Thiên nhiên hòa điệu với con người,
trở thành hai bộ phận không thể tách rời nhau Hoa và người đặt cạnh nhau càng tôn tạo vẻ
đẹp cho nhau, làm sáng lên cả không gian núi rừng Việt Bắc trùng điệp
Cảnh
mùa
đông
Tiếp theo, tám dòng lục bát còn lại là bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người
nơi đây Nhà thơ dùng dòng lục để miêu tả phong cảnh núi rừng qua bốn mùa, mỗi mùa là một
bức tranh thiên thiên với những nét đẹp riêng biệt; Còn dòng bát dùng cho thể hiện hình ảnh conngười Việt Bắc Chỉ riêng đoạn thơ này, ta thấy thấm đậm tính dân gian
Đầu tiên là bức tả cảnh, khơi gợi tình cảm yêu mến về mùa đông Việt Bắc :
Trang 27Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Tại sao lại là mùa đông? Vì đây là hồi ức của tác giả trong giờ phút chia tay Chúng ta cònnhớ, vào một đêm mùa đông 1946, Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân kháng chiến Đặc biệt ở
Hà Nội, những người lính lặng lẽ rời thành phố, bí mật theo chân cầu sông Hồng ngược xuôi lêncăn cứ cách mạng Việt Bắc cũng vào mùa đông Sự kiện này, đến tận bây giờ vẫn còn chứng
minh bởi một khúc hát quen thuộc của Lưu Trong Lưu trong bài “Một mùa đông”:
“Đôi mắt em lặng buồn Nhìn tôi mà không nói Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng vô cùng Trời hết một mùa đông
Không một lần đã nói…”
Bức tranh mùa đông Việt Bắc được miêu tả bằng màu xanh bạt ngàn của núi rừng Giữamàu xanh biếc đó là màu đỏ rực của hoa chuối như những bó đuốc thắp lên sáng rực và cả màuvàng của nắng Chính vì thế, mùa đông ở Việt Bắc không lạnh lẽo mà có phần ấm áp, tuôn trào
sức sống Điều này còn được biểu hiện qua hình ảnh con người lên núi lao động Đèo cao nắng
ánh dao gài thắt lưng Đồng bào VB lúc đi rừng, làm rẫy, làm nương đều gài dao ở thắt lưng.
Trên tầm cao của núi đèo, ánh nắng mặt trời chiếu vào những con dao ấy tạo nên sự phản quangrực rỡ, lấp lánh Chỉ một câu thơ thôi nhưng ta có thể cảm nhận được hình ảnh mạnh mẽ hàohùng của con người lao động làm chủ thiên nhiên
Tiếp theo dòng hồi nhớ là bức tranh mùa xuân ở Việt Bắc :
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Thời gian được xác định bởi yếu tố “ngày xuân” Chính ấn tượng thời gian này tạo sự
vận động, sinh sôi nảy nở Không gian ở đây như là cổ tích Mới vừa rồi là màu xanh bạt ngànđiểm hoa chuối đỏ, giờ nở bung ra những rừng mơ trắng muốt thoảng hương thơm Cái màutrắng dìu dịu tinh khiết ấy phủ lên cả cánh rừng, gợi lên trong lòng người đọc một cảm giác thơmộng, bâng khuâng Màu trắng của hoa mơ gợi cái thanh thoát, đem lại cho lòng người sự nhẹnhàng, êm dịu Hình ảnh mơ nở trắng xóa cả một rừng làm ta liên tưởng tới cảnh đẹp thiên nhiênkhi Bác về nước:
" Ôi sáng xuân nay, xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về Im lặng, con chim hót Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ"
(Theo chân Bác - Tố Hữu)Trong Truyện Kiều, ta cũng bắt gặp hình ảnh tương tự:
"Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Mùa xuân được miêu tả trong câu thơ rất đặc trưng cho mùa xuân của Việt Bắc Và gắnvới khung cảnh thơ mộng ấy là hình ảnh người lao động rất đẹp :
“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Chữ “chuốt” là trau chuốt, làm bóng lên, đẹp lên Chữ “từng” đã gợi tả được đức tính cần
mẫn, tỉ mĩ và chịu khó Có khéo tay mới chuốt từng sợi giang mỏng và bóng để đan thành nhữngchiếc nón xinh xắn, vật phẩm đặc trưng của người VB Con người cần cù, tài hoa ấy thật đángyêu, đáng nhớ
Thế rồi, khoảnh khắc nhàn hạ của mùa xuân cũng qua mau, nhường chỗ cho mùa hè đến :
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình”
Bức tranh gợi sự chú ý cho người đọc cả thị giác lẫn thính giác Mùa hè được cảm nhận
bằng âm thanh quen thuộc “ve kêu” và bằng hình ảnh rất riêng của núi rừng Việt Bắc "rừng
phách đổ vàng" Phách là một loại cây thân gỗ, nở hoa vàng vào đầu mùa hè Cảnh thiên nhiên
đẹp và rực rỡ thế lại càng lãng mạn hơn, vì có thêm bóng dáng của một cô sơn nữ “hái măng
một mình” Đọc tới đây, ta liên tưởng đên một hình ảnh tương tự trong bài thơ “Cô hái mơ” của
nhà thơ đồng quê Nguyễn Bính:
Trang 28“Thơ thẩn đường chiều một khách thơ
Say nhìn ra rặng núi xanh lơ Khí trời lặng lẽ và trong trẻo Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ”
Từ “hái” phù hợp với nét dịu dàng, uyển chuyển, mềm mại của cô gái VB Cảnh thiên
nhiên tuyệt mỹ giờ lại khắc thêm vào hình ảnh người thiếu nữ trẻ trung, xinh tươi lạc quan làmviệc lại càng có hồn, có sức sống Rõ ràng thiên nhiên và con người đã hòa quyện vào nhau, tôđiểm cho nhau
Cảnh
mùa
thu
Kết thúc đoạn thơ là cảnh rừng đêm trăng thu huyền diệu và thơ mộng:
“Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Câu thơ mở ra một không gian tràn ngập ánh trăng thanh bình soi chiếu khắp núi rừngchiến khu Nguyễn Khuyến khi miêu tả cảnh thu cũng không quên miêu tả ánh trăng mùa thu:
“Song thưa để mặc bóng trăng vào”… Hồ Chí Minh cũng thế: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa/ Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” Tuy nhiên, ánh trăng ở đây không chỉ mang vẻ đẹp tự
nhiên mà nó còn gắn với niềm xúc động của những con người từng trải qua bao năm tháng khốcliệt, gian khổ của chiến tranh Trong khu rừng thấm đẫm ánh trăng vàng, bỗng ngân nga lêntiếng hát ân tình làm rạo rực lòng người Tiếng hát bộc lộ lòng người, bộc lộ tâm hồn thuỷchung, tình nghĩa của con người Việt Bắc, cũng chính là tấm lòng của người về xuôi với chiếnkhu Thế nên ánh trăng dường như cũng ngời sáng hơn và tiếng hát cũng du dương và vang xahơn
Nhận
xét Có thể nói đây là đoạn thơ hay và có giá trị nhất trong bài “Việt Bắc” Trong nỗi nhớ củangười ra đi kỉ niệm về VB thật sâu đậm, đáng yêu và đáng nhớ Qua nỗi nhớ, niềm trân trọng tha
thiết của nhà thơ, cảnh và người VB hiện lên thật gần gũi, chân thực mà thơ mộng, trữ tình.Thông qua tình cảm riêng của mình, Tố Hữu đã nói lên tình cảm của cả một thế hệ với quêhương đất nước, đã ngợi ca tình nghĩa thuỷ chung ân tình của nhân dân ta Đoạn thơ ngắn 10dòng trên mang âm điệu ngọt ngào, từ ngữ trong sáng giản dị giàu sức gợi, in đậm phong cáchthơ trữ tình - chính trị của Tố Hữu đã bộc lộ sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với Việt Bắc
Kết
bài
Tóm lại, “VB” đã tái hiện một thời kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng, nghĩatình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước Qua
đó, tình cảm thuỷ chung truyền thống của dân tộc được nâng lên thành tình cảm thời đại, đó là
ân tình cách mạng - một cội nguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi của cách mạng vàkháng chiến
Về hình thức, bài thơ đậm đà tính dân tộc với thể thơ lục bát truyền thống được sử dụngnhuần nhuyễn, kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao được sử dụng sáng tạo, cặp đại từ nhân
xưng mình – ta với sự biến hoá linh hoạt, tác giả tạo dựng được hình tượng kẻ ở, người đi đại
diện cho tình cảm của cả cộng đồng Tất cả có sức tác động sâu xa, làm dạt dào thêm tình yêuquê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam Qua năm tháng với bao biến động củacuộc sống, bài thơ nói chung và đoạn thơ nói riêng vẫn rung cảm lòng người
Trang 29ĐỀ 5
Đề bài Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:
“Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa,chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mỏ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa”.
Mở
bài
Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu nhất của nền thi ca VN hiện đại, làngọn cờ đầu của thơ ca CM, của lý tưởng cộng sản Mọi sự kiện chính trị qua trái tim nhạy cảm
và cảm hứng nghệ thuật của ông đều kết tinh thành những bài thơ đặc sắc Trong số đó, tập thơ
“VB” được xem là đỉnh cao của thơ kháng chống Pháp, mà bài thơ “Việt Bắc” là kết tinh sở
trường nghệ thuật ngòi bút Tố Hữu Bài thơ là khúc hát ân tình của người kháng chiến đối vớiquê hương, đất nước, nhân dân CM được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật đậm đà tính dântộc Đặc sắc nhất là đoạn thơ ngợi ca những tình cảm giản dị, nghĩa tình thủy chung sâu sắc củacon người trong những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ thể hiện qua đoạn thơ sau:
“ dẫn chứng thơ 12 dòng thơ”
HCST Việt Bắc là căn cứ CM vững chắc, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp
Đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã cưu mang và che chở cho Đảng, cho chính phủ, cho bộ đội.Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ kí kết, hòa bình được lập lại, đất nướcbước sang thời kì mới Tháng 10/1954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núi trở vềmiền xuôi, Trung ương Đảng vả Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội, nhân
sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Bài thơ này nằm trong tậpthơ Việt Bắc (1946-1954)
GT
chung
Sau khi khẳng định tấm lòng trước sau như một, người ra đi nhớ về một Việt Bắc đầy ắp kỉ
niệm Đoạn thơ trên là những vần thơ đẹp của bản tình ca “Việt Bắc” Tiếp nối mạch cảm xúc
toàn bài, nỗi nhớ trào dâng trong lòng người ra đi được thể hiện sâu sắc và cảm động giữa cán bộ kháng chiến và đồng bào Việt Bắc Hình ảnh chiến khu càng sống động bao nhiêu càng cho thấy nỗi nhớ, tình cảm kẻ đi với người ở tươi mới bấy nhiêu Cảnh sắc thiên nhiên, c/sống sinh hoạt, kỉ niệm kháng chiến lần lượt hiện hình nổi sắc chân thực
Hai
hai
dòng
đầu
Hai câu đầu là hình ảnh chân thực về đời sống kháng chiến gian nan, cực khổ:
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Hình ảnh tượng trưng: "Chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa "chia, sẻ, cùng" diễn tả được mối tình cảm "chia ngọt sẻ bùi" giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong "củ sắn", "bát cơm",
"chăn sui" mà người cán bộ cách mạng đã chịu ơn Việt Bắc Đây là một hình ảnh đậm đà tình
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng.
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô Hình ảnh chọn lọc: “Người mẹ nắng cháy lưng ” gợi người đọc liên tưởng đến sự tần tảo
chắt chiu, cần cù lao động của người mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc, cưu mang cán
bộ cách mạng Đó còn là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, ân tình trong cuộc sống kháng chiến
Trang 30không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi Hình ảnh mẹ VB rất giống như hình ảnh bà
mẹ Tây Nguyên trong “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”:
“Mẹ thương akay, mẹ thương bộ đội” (Nguyễn Khoa Điềm).
Nhớ về VB là nhớ về cuộc sống, sinh hoạt kháng chiến một thời không thể nào quên:
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa
Điệp từ “nhớ” điệp trùng thể hiện nỗi nhớ dạt dào Cùng hàng loạt những hình ảnh, âm thanh thân quen: tiếng mõ rừng chiều, chày đêm nện cối, tiếng suối xa, tiếng học i-tờ, ca vang núi đèo, đồng khuya đuốc sáng… âm thanh thiên nhiên gợi hồn núi rừng Việt Bắc - âm thanh
cuộc sống bình dị, ấm áp mà vui tươi Đoạn thơ đối ý, nêu bật tinh thần lạc quan yêu đời của cán
bộ, chiến sĩ cách mạng dù cuộc sống còn rất gian khổ, khó khăn :
"Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo"
VB tràn đầy nỗi nhớ của người kh/chiến về xuôi với quê hương CM trong 15 năm “thiết tha mặn nồng” tình nghĩa Bao nhiêu chữ “nhớ” vang lên trong bài thơ là bao nhiêu nỗi nhớ của
người ra đi với người ở lại Nhớ chiến khu, nhớ núi rừng, nhớ mái đình Hồng Thái, cây đa TânTrào, nhớ người mẹ, nhớ lớp học, nhớ những ngày gian khổ có nhau,… Sau đoạn này là nhớcảnh và người VB, nhớ những đêm quân đi điệp điệp trùng trùng,… tất cả đều tha thiết và sâulắng
Nhận
xét
Bức tranh Việt Bắc hiện lên qua nỗi nhớ của chủ thể trữ tình; trong hoài niệm có ba mảng thống nhất và hòa nhập vào nhau: nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc – nỗi nhớ con người, cuộc sống ở Việt Bắc – những kỉ niệm về cuộc kháng chiến gian khổ mà chan chứa
nghĩa tình Giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết, điệp từ “nhớ”, điệp ngữ: nhớ gì… nhớ
từng… nhớ sao…nhớ người… trùng điệp, cùng cách ngắt nhịp của câu thơ lục bát tạo nên nét
nhạc thơ thật đằm thắm, những hình ảnh chân thực, bình dị mà giàu sức gợi cảm… Chuyệnnghĩa tình cách mạng, chuyện kháng chiến đến với người đọc bằng tiếng nói của tình yêu Đọanthơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu: trữ tình - chính trị, giọng điệu tâm tình, ngọt ngào vàđậm đà tính dân tộc
Kết
bài
Tóm lại, “VB” đã tái hiện một thời kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng, nghĩatình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước Qua
đó, tình cảm thuỷ chung truyền thống của dân tộc được nâng lên thành tình cảm thời đại, đó là
ân tình cách mạng - một cội nguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi của cách mạng vàkháng chiến
Về hình thức, bài thơ đậm đà tính dân tộc với thể thơ lục bát truyền thống được sử dụngnhuần nhuyễn, kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao được sử dụng sáng tạo, cặp đại từ nhân
xưng mình – ta với sự biến hoá linh hoạt, tác giả tạo dựng được hình tượng kẻ ở, người đi đại
diện cho tình cảm của cả cộng đồng Tất cả có sức tác động sâu xa, làm dạt dào thêm tình yêuquê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam Qua năm tháng với bao biến động củacuộc sống, bài thơ vẫn rung cảm lòng người
Trang 31ĐỀ 6
Đề bài Phân tích bức tranh Việt Bắc ra trận của Tố Hữu: “Những đường Việt Bắc của
ta Vui lên VB đèo De, núi Hồng”
Mở
bài
Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu nhất của nền thi ca VN hiện đại, làngọn cờ đầu của thơ ca CM, của lý tưởng cộng sản Mọi sự kiện chính trị qua trái tim nhạycảm và cảm hứng nghệ thuật của ông đều kết tinh thành những bài thơ đặc sắc Trong số đó,
tập thơ “VB” được xem là đỉnh cao của thơ kháng chống Pháp, mà bài thơ “Việt Bắc” là kết
tinh sở trường nghệ thuật ngòi bút Tố Hữu Bài thơ là khúc hát ân tình của người khángchiến đối với quê hương, đất nước, nhân dân CM được thể hiện bằng hình thức nghệ thuậtđậm đà tính dân tộc Nổi bật nhất là đoạn thơ hồi ức về bức tranh Việt Bắc ra trận:
“Những đường Việt Bắc của ta
………
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
HCST Việt Bắc là căn cứ CM vững chắc, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống
Pháp Đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã cưu mang và che chở cho Đảng, cho chính phủ, cho
bộ đội Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ kí kết, hòa bình được lập lại,đất nước bước sang thời kì mới Tháng 10/1954, những người kháng chiến rời căn cứ miềnnúi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng vả Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô
Hà Nội, nhân sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Bài thơ nàynằm trong tập thơ Việt Bắc (1946-1954)
GT
chung
VB của Tố Hữu không chỉ là khúc ca ân tình, mà còn là bản tổng kết bằng thơ mười
lăm năm CM Bên cạnh những đoạn thơ trữ tình ngọt ngào, ta còn bắt gặp những khúc ca
tràn đầy khí thế chiến đấu và chiến thắng của quân dân ta mà tiêu biểu là bức tranh
VB ra trận Theo dòng hồi tưởng của chủ thể trữ tình, bài thơ dẫn người đọc vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn, những hoạt động tấp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức Cách mạng
và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng, đồng thời khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc Bài thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca,
mang dáng vẻ một sử thi hiện đại, chỉ vài nét phác hoạ khung cảnh hùng tráng, Tố Hữu đãcho thấy hào khí ngất trời của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì Tổ quốc độc lập, tự do
Họ vừa mới xuất quân mà như đã cầm chắc chiến thắng trong tay
Hai
dòng
đầu
Hai câu đầu đoạn là nét tả khái quát Tác giả nói về những đường Việt Bắc ra trận,
những nẻo đường hành quân, những nẻo đường chiến dịch nhưng là để nói lên khí thế dũngmãnh của người ra trận :
Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Những nhịp điệu “đêm đêm”, những điệp thanh “rầm rập” cùng với biện pháp so sánh “như là đất rung” đã cho ta thấy mặt đất như đang chuyển động dưới bàn chân những
người chiến sĩ trong cuộc hành quân vĩ đại từ khắp các ngả đường của căn cứ địa CM Đây
là hình ảnh hào hùng, là âm vang của cuộc kháng chiến thần thánh và sức mạnh nhân nghĩabốn nghìn năm của dân tộc mà không thế lực nào có thể ngăn cản được
Hai
dòng
3-4
Chưa hết, hình ảnh người lính ra trận hiện lên vừa hiện thực, vừa hào hùng và lãng mạn:
Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Hiện thực ở chi tiết những đoàn quân nối tiếp nhau, ở những chiếc mũ nan giản dị Hào hùng
ở sự trùng điệp được nhân lên “điệp điệp trùng trùng”thật đông đảo, người người lớp lớp như sóng cuộn và lãng mạn ở hình ảnh “ánh sao đầu súng”, ánh sao đêm phản chiếu vào
nòng súng thép, ánh sao của bầu trời VB, ánh sao của lý tưởng chiến đấu Đây là tứ thơ vừahiện thực, vừa lãng mạn gợi nhiều liên tưởng về vẻ đẹp anh bộ đội cụ Hồ
Hai Trên những con đường VB trong đêm ra quân, ta không chỉ bắt gặp hình ảnh
Trang 325-6 những anh bộ đội cụ Hồ bước đi hùng tráng trong đêm mà còn có cả hình ảnh những đoàndân công ra trận đi tải lương, tải đạn phục vụ tiền tuyến:
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
Trong chiến tranh, nhân dân ta lấy ngày làm đêm, lấy đêm làm ngày Bởi thế nên giữa
đêm VB ra quân, cạnh những đoàn quân đi, ta còn thấy hình ảnh "dân công đỏ đuốc từng đoàn" Họ cũng như những người lính, hăng hái ra trận, hăng hái lên đường Giữa cái cảnh hào hùng ấy, hình ảnh "muôn tàn lửa bay "gợi cho ta một vẻ đẹp rất lãng mạn Những tàn
lửa bay ra từ những bó đuốc rơi xuống mặt đất thực sự đã làm cho con đường ra trận thêmlung linh, huyền ảo Ta có cảm giác con đường ra trận như một đêm đèn hoa đăng rực rỡ
Không chỉ sử dụng các hình ảnh, các từ láy, cách nói cường điệu trong câu thơ " bước chân nát đá” đã diễn tả sức mạnh của lòng quyết tâm từ hàng vạn con người Họ sẵn sàng
đạp bằng mọi chông gai để đi đến chiến thắng Đây là một sự sáng tạo của Tố Hữu khi ông
đã lấy ý tưởng từ câu ca dao:
“Trông cho chân cứng đá mềm
Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng ".
Điều đó đã tạo nên một hình ảnh vừa quen thuộc, vừa mới lạ nhằm ca ngợi sức mạnhcủa con người Việt Nam chiến đấu và chiến thắng Ý thơ mang tầm vóc sử thi
"Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên"
Đây là hình ảnh vừa thực nhưng cũng rất lãng mạn Bỏ đằng sau cái nghĩa thực củacuộc hành quân xuyên rừng vượt núi, xuyên qua đêm tối sương dày thăm thẳm thì nghĩa
bóng về hình ảnh ngày mai lại thật lạc quan phơi phới "đèn pha bật sáng như ngày mai lên".
Nghệ thuật so sánh lại được nhà thơ sử dụng thật thành công Hình ảnh đèn pha bật sáng
được ví như mặt trời mọc "như ngày mai lên " Như vậy, ngày mai đến từ trong đêm thăm
thẳm nhờ có đèn pha bật sáng, nhờ có sức mạnh của con người cộng với lý tương cao đẹp :chiến đấu vì nhân dân, vì đất nước Câu thơ vừa thể hiện được cái dư vị của cảnh hành quânhoành tráng, đầy hào khí chiến đấu, chiến thắng, vừa thể hiện một niềm tin, lạc quan phơiphới: tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
Hàng loạt các địa danh được liệt kê: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, trước đó là: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng,… mỗi địa danh ghi dấu một chiến
công của dân tộc Cách gọi tên các địa danh đã diễn tả được tình yêu núi sông và niềm tựhào trào dâng trong lòng tác giả khi nghĩ về những chiến công oanh liệt trên khắp mọi miền
đất nước Cùng với những địa danh ấy là điệp từ “vui” được lặp nhiều lần kèm với các giới
từ “tin vui chiến thắng…vui về…vui từ…vui lên…” gợi tả chiến thắng giòn giã, dồn dập, như
tiếng reo mừng cất lên trong lòng hàng triệu con người từ Bắc chí Nam
Nhận
xét Như vậy, với bút pháp vừa hiện thực, vừa lãng mạn, chỉ với 12 dòng lục bát, Tố Hữuđã dựng nên bức tranh VB ra trận thật đẹp Bức tranh không chỉ làm sống dậy những tháng
năm hào hùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên căn cứ địa thần thánh, mà cònmang đến cho ta niềm tin yêu quê hương CM anh hùng Có thể gọi đây là bức tranh thànhcông về Việt Bắc ra quân Đoạn thơ 12 câu diễn tả khí thế hào hùng sục sôi của Việt Bắckháng chiến Qua đó, đoạn thơ bộc lộ niềm tự hào sâu sắc của nhà thơ về về sức mạnh đoànkết vĩ đại của dan tộc Đoạn thơ có âm điệu sôi nổi, dồn dập, mạnh mẽ, sử dụng nhiều hìnhảnh phóng đại, là đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu
Kết
bài
Tóm lại, “VB” đã tái hiện một thời kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh hùng, nghĩatình gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước.Qua đó, tình cảm thuỷ chung truyền thống của dân tộc được nâng lên thành tình cảm thời
Trang 33đại, đó là ân tình cách mạng - một cội nguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi của cáchmạng và kháng chiến
Về hình thức, bài thơ đậm đà tính dân tộc với thể thơ lục bát truyền thống được sửdụng nhuần nhuyễn, kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao được sử dụng sáng tạo, cặp
đại từ nhân xưng mình – ta với sự biến hoá linh hoạt, tác giả tạo dựng được hình tượng kẻ ở,
người đi đại diện cho tình cảm của cả cộng đồng Tất cả có sức tác động sâu xa, làm dạt dàothêm tình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam Qua năm tháng vớibao biến động của cuộc sống, bài thơ vẫn rung cảm lòng người
Trang 34BÀI THƠ “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Khoa Điềm cũng có một đóng góp đặc sắc cho mảng đề tài này mà bài thơ Đất Nước là điển
hình xuất sắc Bài thơ là sự cảm nhận, phát hiện Đất Nước trong một cái nhìn tổng hợp và toàn vẹn cả bề rộng của không gian (địa lý), cả chiều dài của thời gian (lịch sử) và bề dày văn hóa.
Đoạn trích sử dụng sáng tạo các chất liệu văn hoá, văn học dân gian và rất thích hợp với việc thể
hiện tư tưởng “Đất Nước nhân dân” (ĐN của dân, do nhân dân làm ra) Trong đoạn trích nổi bật
nhất là hai mươi dòng thơ tiếp theo (từ câu 21 đến câu 29) của đoạn trích
HCST Đoạn trích “Đất Nước” thuộc phần đầu chương V trong trường ca “Mặt đường khát vọng”
(hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971 và in lần đầu năm 1974) viết về sự thức của thế hệtrẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuốngđường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến chống Mỹ
“ĐN” là bài thơ trữ tình - chính luận Bằng giọng điệu tâm tình, bằng những câu thơ co dũi rất tự nhiên, nhân vật “anh” đã tâm sự với nhân vật “em” những điều về ĐN Nó vô cùng sâu
sắc, thấm thía Trong đó, đoạn một là sự cảm nhận về Đất Nước trên phương diện văn hoá và tác
giả đã trả lời cho câu hỏi “ĐN bắt đầu từ đâu?”.
Phân
tích
Trái với logic mà chúng ta thường nghĩ, NKĐ nói về nguồn gốc của ĐN rất lạ Nó không
cụ thể như nhà thơ Chế Lan Viên: “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn ngàn năm” Nó cũng không đánh dấu bằng các mốc thời đại như Nguyễn Trãi: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền
độc lập”, mà nhà thơ nhìn vào thời điểm hôm nay, nhìn vào những phong tục tập quán, nhìn
những sự vật quen thuộc đang hiện diện hôm nay để bắc một cầu vòng huyền diệu lung linh vềquá khứ để truy tìm nguồn gốc của ĐN
Nguyễn Khoa Điềm, trong phần mở đầu đoạn trích, đã chọn cách nói và các hình ảnh rất
tự nhiên và bình dị:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Đại từ xưng hô “ta” gợi cho người đọc cảm nhận: “ta” vừa là nhân vật trữ tình, vừa là
mỗi chúng ta, vừa là những người dân đất Việt Khi mỗi người lớn lên, Đất Nước đã có, tuychưa đủ hiểu biết để hiểu những khái niệm trừu tượng như cương vực, lãnh thổ, nhưng ĐấtNước là cái gì rất thân thương và gần gũi
Tiếp đó, tác giả đã cụ thể hơn bằng cách nêu ra hàng loạt những hình ảnh có ý nghĩa biểu
trưng để trả lời cho câu hỏi: “Đất Nước có từ bao giờ?” Từ khi nào có những câu chuyện cổ tích “ngày xửa, ngày xưa” mà mẹ thường kể thì ĐN có từ ngày đó Nhưng có ai biết được “ngày
xửa, ngày xưa” là từ khi nào và đã có biết bao thế hệ các bà mẹ đã kể chuyện cho con nghe.
Điều đó nhằm khẳng định ĐN có từ lâu đời
Chưa hết, Đất Nước có từ “miếng trầu dung dị của bà ăn” Từ ngày tháng năm nào vua
Hùng ban tục lệ ăn trầu, ấy là ngày khai sinh ra Đất Nước Hình ảnh miếng trầu mở ra cả một
không gian văn hóa Việt, gợi nhớ “Sự tích trầu cau” Đồng thời miếng trầu còn là biểu hiện cho
vẻ đẹp của thuần phong mĩ tục, cho bản sắc riêng của một dân tộc trọng tình nghĩa hơn của cảivật chất:
“Miếng trầu là đầu câu chuyện”
“Trầu này trầu nghĩa trầu tình Cho loan lấy phượng, cho mình lấy nhau”.
Sau đó “Đất Nước lớn lên khi dân mình trồng tre đánh giặc” Đọc câu thơ ta lại nhớ đến
Trang 35cậu bé làng Gióng vươn vai lớn lên thành tráng sĩ "Nhổ bụi tre ngà đuổi giặc Ân" (Tố Hữu).
Truyền thuyết xa xưa ấy thể hiện trọn vẹn tinh thần bất khuất, khát vọng tự do của một dân tộc
và sự trưởng thành của một dân tộc biết cầm vũ khí để đấu tranh giành độc lập tự do
Rồi Đất Nước định hình với những gì rất quen thuộc:
Tóc mẹ thì búi sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã giần sàng Đất Nước có từ ngày đó…
Trước hết là ở phong tục tập quán “búi tóc sau đầu của mẹ” gắn với cuộc sống nhọc nhằn vất vả, với ứng xử nghĩa tình “gừng cay muối mặn” của cha và mẹ “Gừng cay muối mặn”
đâu chỉ là gia vị trong đời sống hàng ngày của người VN mà còn là biểu tượng cho tình nghĩa vợchồng yêu thương gắn bó, thủy chung, bền chặt:
“Tay nâng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”.
Tiếp đó, Đất Nước phát triển với ngôn ngữ ‘cái kèo cái cột thành tên”, với hạt gạo “một
nắng hai sương” của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước trong cả quá trình nhọc nhằn, gian khổ
“xay giã giần sàng” đau đớn Đó là nền tảng để ĐN bắt đầu và lớn lên
Như vậy, theo NKĐ, Đất Nước có từ khi chúng ta có nền văn hóa Đất Nước bắt đầu từvăn hóa, từ văn học, từ phong tục tập quán,… Lời thơ tuy chỉ gợi, chỉ vẽ một vài nét thoáng nhẹ,
mơ hồ xa xôi nhưng đậm đà ý vị Đó là sự cảm nhận về Đất Nước rất riêng của thế hệ trẻ chống
Mỹ Đất Nước hiện ra không xa lạ mà gần gũi và thân thiết biết bao Giọng thơ thủ thỉ như lờitâm sự đã chuyển tải suy ngẫm của nhà thơ về Đất Nước
Mở
rộng
Suốt chín câu thơ, chúng ta thấy ấn tượng nổi bật nhất là hình tượng người phụ nữ: người
mẹ kể chuyện, người bà ăn trầu, búi tóc của mẹ, ngay cả hành động “nâng đĩa muối chén gừng” và hành động “xay giã dần sàng” cũng thấp thoáng hình ảnh người phụ nữ Hơn đâu
hết, nước Việt Nam biểu tượng “Mẹ Việt Nam anh hùng” là chính xác
Nghệ
thuật
Về nghệ thuật, ở đoạn thơ này, mỗi câu đều bị chi phối bởi chủ đề Đất Nước và cả
khổ thơ đều bị chi phối cho chủ đề Đất Nước Do đó đoạn thơ mở đầu cũng có thể được coi là
những câu trả lời cho câu hỏi: “Đất Nước có từ bao giờ” Đặc biệt câu thơ cuối “ĐN có từ ngày
đó” đóng khép đoạn thơ là điệp khúc lặp lại ý mở đầu: “Khi ta lớn lên Đất Nước có rồi” khiến
ta liên tưởng đến dòng thời gian hun hút mà Đất Nước hiện diện Cùng với các trạng từ: “bắt
đầu, lớn lên” tuy không x/định thời gian cụ thể nhưng cũng đã khẳng định quá trình hình thành
và phát triển lâu đời của Đất Nước Câu thơ cuối cũng là câu chuyển tiếp từ đoạn đầu văn hóasang đoạn thơ tiếp theo cảm nhận Đất Nước về không gian và thời gian
Nhận
xét
Nhìn chung, đoạn thơ đầu chín câu với 85 chữ nhưng không hề có một từ ngữ Hán Việtnào, ngôn từ bình dị, cách nói biểu cảm, thân mật, đoạn thơ đã nói lên một cách dung dị màthấm thía về cội nguồn sâu xa của Đất Nước Cùng với mức độ đậm đặc của các chất liệu đượclấy từ ca dao, cổ tích, từ truyền thuyết,… đã tạo cho đoạn thơ một âm hưởng đầy quyến rũ và cất
lên “tấm lòng sứ điệp” để ta thêm yêu Đất Nước và tự hào về Đất Nước.
Kết
bài Tóm lại, đoạn tríchnhững vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lý, văn hóa,… Đóng “Đất Nước” đã thể hiện cảm nghĩ mới mẻ của tác giả về Đất Nước qua
góp riêng của đoạn trích là ở sự nhấn mạnh tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” bằng hình thức
biểu đạt giàu suy tư, qua giọng thơ trữ tình-chính trị sâu lắng, tha thiết Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” của ca dao thần thoại của Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp thêm một thành công
cho thơ về đề tài Đất Nước, làm sâu sắc thêm nhận thức về nhân dân, về Đất Nước trong thời kìchống Mỹ Các chất liệu của văn hóa dân gian được sử dụng nhuần nhị, sáng tạo, đem lại sứchấp dẫn cho đoạn trích
Trang 36ĐỀ 2
Đề bài Phân tích hai mươi dòng thơ tiếp theo trong bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm:
“Đất là nơi anh đến trường Nhớ ngày giỗ Tổ”
Mở
bài
Đề tài Đất Nước bao trùm trong thơ ca VN giai đoạn 1945 – 1975 Chưa bao giờ trongdòng chảy của văn học Việt Nam lại xuất hiện nhiều gương mặt thơ với những phát hiện độc đáo
và xúc động viết về quê hương và được thể hiện qua nhiều tác phẩm Trong đó, Nguyễn Khoa
Điềm cũng có một đóng góp đặc sắc cho mảng đề tài này mà bài thơ Đất Nước là điển hình xuất
sắc Bài thơ là sự cảm nhận, phát hiện Đất Nước trong một cái nhìn tổng hợp và toàn vẹn cả bề rộng của không gian (địa lý), cả chiều dài của thời gian (lịch sử) và bề dày văn hóa Đoạn trích sử
dụng sáng tạo các chất liệu văn hoá, văn học dân gian và rất thích hợp với việc thể hiện tư tưởng
“Đất Nước nhân dân” (ĐN của dân, do nhân dân làm ra) Nổi bật nhất là hai muơi dòng thơ sau:
“Đất là nơi anh đến trường Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”.
HCST Đoạn trích “Đất Nước” thuộc phần đầu chương V trong trường ca “Mặt đường khát vọng”
(hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971 và in lần đầu năm 1974) viết về sự thức của thế hệtrẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuốngđường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến chống Mỹ, của dân tộc đứng trước dòng thác lũ thờiđại
“ĐN” là bài thơ trữ tình - chính luận Bằng giọng điệu tâm tình, bằng những câu thơ co dũi rất tự nhiên, nhân vật “anh” đã tâm sự với nhân vật “em” những điều về ĐN Nó vô cùng sâu sắc,
thấm thía Đặc biệt ở khổ thơ thứ hai, Nguyễn Khoa Điềm đã cảm nhận và định nghĩa về ĐấtNước trong sự thống nhất, hài hoà giữa các phương diện địa lí và lịch sử, không gian và thời gian
đã trả lời một cách thuyết phục cho câu hỏi “Đất Nước là gì?”
Ở lần định nghĩa thứ nhất cả Đất và Nước đều là không gian tồn tại rất thân thuộc, rất
riêng tư gắn bó của “anh” và “em”:
Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Ý thơ quay về với hiện thực, với những hình ảnh cụ thể: nơi anh đến trường, nơi em tắm,
nơi ta hò hẹn, nơi em đánh rơi chiếc khăn thương nhớ Đây là không gian riêng tư chỉ hai người
biết, chỉ hai người hay Dường như Đất Nước này được sinh ra là vì anh, vì em, vì tình yêu đôilứa chúng ta, song cũng đậm đà hồn quê hương xứ sở Nét độc đáo trong lần cảm nhận về ĐấtNước là hình ảnh chiếc khăn tương tư, ướt lệ nhớ nhung những đêm dài thao thức của em lại đậuvào hình hài Đất Nước Một điều rất khó thấy khi bàn về ĐN Ở đây, tác giả đã sử dụng chất liệu
của ca dao rất nhuần nhuyễn: Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất/ Khăn thương nhớ ai/
Khăn vắt lên vai/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn chùi nước mắt Điều này khiến cho người đọc suy
nghĩ về Đất Nước cứ dâng tràn cảm xúc
Ở lần định nghĩa thứ hai, từ không gian gần gũi, Đất Nước trở nên xa xôi, mênh mông nhưhuyền ảo:
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”.
Lấy ý từ những câu dân ca ngọt ngào của xứ Huế, tác giả đưa người đọc về với không
gian Đất Nước thân thương Những từ “núi bạc”, “biển khơi” mang âm hưởng thành ngữ dân
gian gợi ra Đất Nước mênh mông giàu đẹp Về lịch sử, Đất Nước được cảm nhận bằng chiều sâucủa “thời gian đằng đẵng” liên tục, bền bĩ mà nhân dân đổ máu và mồ hôi dựng nước và giữ
nước tạo thành dãy đất hình chữ S; Về địa lý là chiều rộng “không gian mênh mông”, ta gặp
“Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ” trong yêu thương, tự hào Từ “đôi ta hò hẹn” để dệt nên cổ
tích, ca dao, Đất Nước đã phát triển thành khái niệm dân mình đoàn tụ trong không gian của cadao, cổ tích
Trang 37Ở lần định nghĩa thứ ba, NKĐ đưa ta trở về với cội nguồn của dân tộc, dòng giống conngười VN:
Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào mình trong bọc trứng
Ở đoạn thơ này những hình tượng quen thuộc trong truyền thuyết như: chim rồng, Lạc Long Quân và Âu Cơ, bọc trứng cũng hiện về trong trường liên tưởng của nhà thơ Sự hồi tưởng ấy
làm bật lên ý thơ có tầm khái quát cao: dân tộc ta là “con Lạc, cháu Hồng”, trai tài gái sắc, Đất
Nước ta là đất lành chim về, đất thiêng rồng ở, đồng bào ta là anh em một nhà Tất cả làm toát lênlòng tự hào về non sông gấm vóc, gắn với lòng biết ơn tổ tiên đã ăn sâu vào tiềm thức từng người
Việt Hai tiếng “đồng bào” thân thương luôn đánh thức tinh thần đoàn kết hàng ngàn năm của
dân tộc
Sau khi định nghĩa về Đất Nước như một lẽ tự nhiên, NKĐ hướng đến ý thức trách nhiệmcủa các thế hệ đối với Đất Nước:
Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
Nhà thơ luôn nhắc nhở mọi người phải nhớ về cội nguồn dân tộc, phải biết gánh trên vai
trọng trách nặng nề mà thiêng liêng về Đất Nước: duy trì giống nòi dân tộc (Yêu nhau và sinh con đẻ cái) và nhất là phải truyền lại cội nguồn văn hóa tâm linh dân tộc (Dặn dò con cháu chuyện mai sau). Dù sinh kế mọi người có thể làm ăn, sinh sống ở bất cứ đâu nhưng đừng quên
cúi đầu nhớ đến ngày giỗ Tổ vào ngày 10.3 âm lịch hằng năm “Tổ” ở đây là vua Hùng Vương,
con trai cả của mẹ Âu Cơ, người có công dựng nước, cũng là tổ tiên của mỗi gia tộc Đó chính làtruyền thống uống nước nhớ nguồn, một đạo lí bất di bất dịch của dân tộc
Nghệ
thuật
Về nghệ thuật, nét độc đáo của đoạn thơ là nhà thơ đã tháo rời hai chữ Đất – Nước, sau đó
lắp ghép lại để hoàn chỉnh một định nghĩa về Đất Nước Đây là một logic hình thức khó chấpnhận khi trình bày một vấn đề hệ trọng thiêng liêng Ấy vậy mà cứ mỗi lần tháo lắp, Đất Nước lạicàng trở nên lung linh, huyền ảo và tác động mạnh đến tình cảm con người
Nhận
xét
Nhìn chung, Đất Nước qua cảm nhận của NKĐ không khô khan trừu tượng mà tươi rói cảmxúc Vẫn là việc s/dụng những chất liệu của văn học dân gian với ngôn ngữ tự nhiên, bình dị làmcho đoạn thơ vừa có tính sáng tạo mới mẻ vừa mang những nét thân thương, gần gũi, vừa dịnhnghĩa cụ thể làm rõ về Đất Nước gắn liền với đời sống và số phận từng cá nhân trên mọi phươngdiện: chiều dài của lịch sử và chiều rộng của địa lí, chiều sâu của văn hoá và phong tục
Kết
bài
Tóm lại, đoạn trích “Đất Nước” đã thể hiện cảm nghĩ mới mẻ của tác giả về Đất Nước qua
những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lý, văn hóa,… Đóng
góp riêng của đoạn trích là ở sự nhấn mạnh tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” bằng hình thức
biểu đạt giàu suy tư, qua giọng thơ trữ tình-chính trị sâu lắng, tha thiết Tư tưởng “Đất Nước củaNhân dân” của ca dao thần thoại của Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp thêm một thành công chothơ về đề tài Đất Nước, làm sâu sắc thêm nhận thức về nhân dân, về Đất Nước trong thời kìchống Mỹ Các chất liệu của văn hóa dân gian được sử dụng nhuần nhị, sáng tạo, đem lại sức hấpdẫn cho đoạn trích
Trang 38ĐỀ 3
Đề bài Phân tích mười ba dòng thơ tiếp theo trong bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm:
“Trong anh và em hôm nay Làm nên Đất Nước muôn đời”
Mở
bài
Đề tài Đất Nước bao trùm trong thơ ca VN giai đoạn 1945 – 1975 Chưa bao giờ trongdòng chảy của văn học Việt Nam lại xuất hiện nhiều gương mặt thơ với những phát hiện độcđáo và xúc động viết về quê hương và được thể hiện qua nhiều tác phẩm Trong đó, Nguyễn
Khoa Điềm cũng có một đóng góp đặc sắc cho mảng đề tài này mà bài thơ Đất Nước là điển
hình xuất sắc Bài thơ là sự cảm nhận, phát hiện Đất Nước trong một cái nhìn tổng hợp và toàn vẹn cả bề rộng của không gian (địa lý), cả chiều dài của thời gian (lịch sử) và bề dày văn
hóa Đoạn trích sử dụng sáng tạo các chất liệu văn hoá, văn học dân gian và rất thích hợp với
việc thể hiện tư tưởng “Đất Nước nhân dân” (ĐN của dân, do nhân dân làm ra) Nổi bật nhất
là mười ba dòng thơ sau:: “Trong anh và em hôm nay Làm nên Đất Nước muôn đời”.
HCST Đoạn trích “Đất Nước” thuộc phần đầu chương V trong trường ca “Mặt đường khát
vọng” (hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971 và in lần đầu năm 1974) viết về sự thức
của thế hệ trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệmình, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến chống Mỹ, của dân tộc đứng trướcdòng thác lũ thời đại
“ĐN” là bài thơ trữ tình - chính luận Bằng giọng điệu tâm tình, bằng những câu thơ co dũi rất tự nhiên, nhân vật “anh” đã tâm sự với nhân vật “em” những điều về ĐN Nó vô cùng sâu sắc, thấm thía Ấn tượng nhất là ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ nói về ý thức trách nhiệm của
thế hệ trẻ đối với Đất Nước
Phân
tích
Không chỉ tiếp cận Đất Nước qua lịch sử, qua địa lý và các mối quan hệ cá nhân-cộngđồng, Nguyễn Khoa Điềm còn dẫn dắt độc giả trở về với hiện thực trực tiếp của cuộc khángchiến chống Mỹ, nói lên tiếng nói đầy trách nhiệm của cả một thế hệ chống Mỹ thật sự trưởngthành trong nhận thức và tình cảm Hai dòng đầu, nhà thơ phát hiện chân lý giản dị mà sâusắc:
Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước.
Giọng thơ tâm tình với lối xưng hô “anh, em” tha thiết Thì ra Đất Nước có trong mỗi
cá nhân, Đất Nước kết tinh trong mỗi con người “trong anh”, “trong em”, trong mỗi chúng ta.
Đất Nước không ở đâu xa lạ, không tồn tại khách thể mà kết tinh, hóa thân trong cuộc sốngcủa mỗi con người Sự sống mỗi cá nhân không chỉ là riêng của cá nhân mà còn là của Đấtnước, bởi mỗi cuộc đời đều được thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần và vật chất củadân tộc, của nhân dân Ý thơ này tương đồng với ý trong bài thơ Quê hương của Giang Nam:
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
Vẻ đẹp Đất Nước còn được phát hiện thêm:
Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn to lớn
“Cầm tay” là một biểu tượng của tình yêu thương thân thiết, của tình đoàn kết dân tộc.
“Khi hai đứa cầm tay” tình yêu trong anh và em làm cho Đất Nước bỗng “hài hòa nồng thắm”
và khi hai ta hòa vào mọi người, cái riêng hòa vào cái chung cộng đồng thì “Đất Nước vẹn tròn to lớn” Như vậy, cá nhân không thể tách rời cộng đồng Đó là tinh thần đoàn kết của
khối đại đoàn kết toàn dân được mở rộng, được nhân đôi thành một vòng Việt Nam rộng lớn
và vĩnh cửu không gì có thể phá vỡ nổi Rõ ràng sự gắn bó số phận cá nhân với vận mệnhcộng đồng là tư tưởng chung của thời đại Trong bài thơ Sao chiến thắng, Chế Lan Viên viết:
Trang 39“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng
Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà ngọn cỏ con sông”
Từ hiện tại, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc và suy nghĩ về Đất Nước ở tương lai:
Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng”.
“Tháng ngày mơ mộng” là tương lai đẹp và hạnh phúc, là những ngày thanh bình và
phát triển của Đất Nước Tác giả thả giấc mơ về phía tương lai, gởi gắm niềm tin vào thế hệmăng non của Đất Nước sẽ làm cho Đất Nước đi lên có thể sánh vai cường quốc năm châu.Tuy nhiên, hoàn cảnh hiện tại ĐN bị đe dọa, mất tự do, đắm chìm trong khói lửa ch/tranh,hạnh phúc không thể có
Từ suy nghĩ đó, nhà thơ lên tiếng kêu gọi ý thức bổn phận, trách nhiệm của mỗi cá nhân
đố với Đất Nước: Em ơi em
Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Lời thơ trữ tình “Em ơi em” nhỏ nhẹ, trìu mến đã bảo hành chất trữ tình chính luận sâu
sắc cho đoạn thơ Nhà thơ khẳng định "Đất Nước là máu xương ", là sinh mệnh, là sự sống
của con người Vận mệnh của Đất Nước chính là vận mệnh của chính bản thân mình, số phậncủa cá nhân nằm trong vận mệnh của ĐN Vì thế, ta cần “Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở” Điệp ngữ “phải biết” vừa là mệnh lệnh kêu gọi vừa là lời thúc giục từ trái tim Từ "hóa thân" chính là sự tự nguyện cống hiến trọn vẹn tinh thần và công sức,
tuổi trẻ của mình vì sự nghiệp giải phóng của dân tộc để “Làm nên Đất Nước muôn đời”, một
ý tưởng hào hùng mang tầm vóc sử thi gợi ta nhớ đến bài thơ của Tố Hữu :
Nếu được làm hạt giống để mùa sau
Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa Vui gì hơn làm người lính đi đầu.
Nhận
xét
Nhìn chung, Nguyễn Khoa Điềm viết nên những câu thơ này bằng tất cả sự trải nghiệmcủa một người lăn lộn trong phong trào tranh đấu của thanh niên đô thị miền Nam Nhà thơ đãthay mặt thế hệ mình để phát biểu tâm tư với tinh thần công dân, với nhiệt tình tuổi trẻ Đócũng là lời đáp cho câu hỏi mang tính chính luận về sự trường tồn của Đất Nước Đất Nướcbất tử chính nhờ ở tinh thần của những con người tràn đầy nhiệt huyết tuổi thanh xuân, biếtsống có trách nhiệm với thời đại và có khát vọng về tương lai trường tồn của Đất Nước
Kết
bài
Tóm lại, những vần thơ rất đẹp trong Đất Nước đã vượt qua thử thách của thời gian, tiếp
tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày thánghào hùng nhất của dân tộc Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần khơi
dậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng
Trang 40B PHẦN 2: (Phần còn lại) Trả lời cho câu hỏi “Đất Nước này là của ai?” và làm rõ tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”
Phần đầu khúc ca, tác giả nói về lịch sử Đất Nước cùng lối định nghĩa bằng thơ theo cách riêng
của mình Ở phần sau của đoạn trích, nhà thơ đi sâu vào tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” bẳng cái
nhìn toàn diện các phương diện với những phát hiện nhiều ý nghĩa, thi vị
1 Trước hết Đất Nước của ai được nhìn từ phương diện địa lý: Tư tưởng ĐN của ND dẫn
nhà thơ đến cái nhìn mới mẻ có chiều sâu về địa lý (không gian)
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
………
Những người dân nào đã góp tên cho Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”
Người đọc được tiếp nhận những phát hiện rất thú vị về những danh lam thắng cảnh trên Đất
Nước ta như: thắng cảnh như Vịnh Hạ Long, những di tích văn hóa như hòn Vọng Phu, núi Bút non
Nghiên, những di tích lịch sử như làng Gióng, Đất Tổ trãi dài trên khắp Đất Nước ta,… Đây không chỉ
là địa hình núi sông thuần túy mà tạo hóa ban tặng mà còn được là sự đóng góp của ND, sự hóa thân củanhững cảnh ngộ, số phận ND thấm đẫm vẻ đẹp tâm hồn ND thủy chung, yêu nước, hiếu học,…
Nếu không có những người vợ VN mòn mỏi, chung thủy đợi chồng qua bao cuộc chiến tranh lytán thì không thể có những núi Vọng Phu, những hòn Trống Mái, phải chăng Thánh Gióng nhổ tre làngđánh giặc Ân đã khiến những ao đầm làng xóm lấp lánh vẻ đẹp huyền thoại của lòng yêu nước Bởi có
truyền thuyết Hùng Vương nên địa hình núi sông hùng vĩ của Đất Nước mới được gọi là “99…Hùng
Vương” Niềm tự hào về mặt đất thiêng, xứ sở thanh bình dạt dào sông nước đã hóa thành tên gọi Cửu
Long cho dòng sông xanh thẳm đất Phương Nam Truyền thống hiếu học của những người VN qua bao
đời đã được tạc ghi trong tên gọi “núi Bút non Nghiên” Cuộc sống bình dị và sự đóng góp của ND đã đặt tên cho sông núi: ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm, cả đến con cóc, con gà cũng góp cho quê
hương thành thắng cảnh, thành ĐN dung dị mà tươi đẹp.
Cảnh núi sông hội tụ lấp lánh qua những dòng thơ đẹp soi bóng tâm hồn và những cuộc dời vôdanh càng thấm thía một điều bình dị Đất Nước này là Đất Nước của Nhân Dân gần gũi thiêng liêng caoquý :
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
……….
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.
Ý thơ được nâng lên tầm khái quát: sự hóa thân của nhân dân vào bóng hình Đất Nước Nhândân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, đã ghi dấu ấn cuộc đời mình lên những ngọn núi dòng sông,miền đất quê hương Điệp từ "góp cho" biến mỗi câu thơ thành một lời khẳng định về những vai trò to
lớn của con người nhỏ bé bình dị Chính họ bằng tình yêu và nỗi đau, nghị lực và sức sáng tạo của mình
đã làm nên linh hồn cho núi sông bờ cõi Từ điểm nhìn về thiên nhiên kì thú, Nguyễn Khoa Điềm đã dạy
cho ta cách "cảm" để yêu thêm vẻ đẹp của đất nước muôn đời
2 Đất Nước của ai được nhìn từ phương diện thời gian và lịch sử
Tiếp theo, nhà thơ cũng khẳng định tư tưởng Đất Nước nhân dân bằng cách nghĩ về bốn ngànnăm Đất Nước:
Em ơi em
………
Nhưng họ làm ra Đất Nước.
Khi nói về lịch sử Đất Nước, NKĐ không điểm tên các triều đại cùng bao nhân vật anh hùng
trong sử sách mà nhấn mạnh đến lớp lớp những người vô danh bình dị Đó là biết bao người con gái,
con trai, bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi đã lao động và chiến đấu suốt 4000 năm dựng nước và
giữ nước Tên tuổi họ chưa một lần được khắc ghi trong sử vàng dân tộc, nhưng cuộc đời thầm lặng của
họ đã hóa núi sông, những cảnh sắc cuộc đời của họ đã hóa tâm hồn, khí phách dân tộc Có thể nói rằng
chính những con người bình dị "vô danh như cát", "Sống trong cát, chết vùi trong cát - Những trái tim
như ngọc sáng ngời" (Tố Hữu) đã góp cho đất nước không phải những chiến công hiển hách mà bằng
chính cuộc sống tâm hồn phong phú, bằng sự hi sinh thầm lặng của mình Chính nhân dân qua bao thế