Áp dụng kĩ thuật dạy học theo hợp đồng không phải là vấn đề bây giờ mới được bàn đến,song hi vọng với cái nhìn và phạm vi ứng dụng cụ thể cho bài học về văn bản “Ôn tập phần Tiếng Việt”
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
[1] là định hướng đổi mới phương pháp dạy học, được khẳng định trong NghịQuyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần 4 khóa VII, Nghị Quyết củaBan chấp hành Trung ương Đảng lần 2 khóa VIII và được pháp chế hóa trongđiều 24.2 của Luật giáo dục
Theo định hướng này, đối với môn văn, để tạo điều kiện cho việc vậndụng kiến thức và kĩ năng vào thực tiễn cuộc sống, phát huy năng lực cần thiếtcho học sinh, cần phối hợp nhiều hình thức tổ chức học tập ngoài giờ học, kếthợp với việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại như dạy học giải quyếtvấn đề, dạy học kiến tạo, dạy học theo nhóm, dạy học theo dự án, dạy theo hợpđồng
Là một giáo viên Ngữ Văn THPT, qua những năm tham gia giảng dạymôn Ngữ văn ở vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, tôi nhận thấy về mặt tâm líhọc sinh THPT đã bộc lộ rõ thiên hướng, sở trường và hứng thú với từng lĩnhvực Hơn nữa với học sinh ở vùng khó khăn thì việc tự học và năng lực tự họcchưa cao
Vì những lí do trên nên chúng tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng kĩ thuật dạy
học hợp đồng trong bài “Ôn tập phần Tiếng Việt” - Ngữ văn 11 Áp dụng kĩ
thuật dạy học theo hợp đồng không phải là vấn đề bây giờ mới được bàn đến,song hi vọng với cái nhìn và phạm vi ứng dụng cụ thể cho bài học về văn bản
“Ôn tập phần Tiếng Việt” - Ngữ văn 11, chúng tôi sẽ giúp giáo viên và học sinh
đáp ứng những đòi hỏi thiết thực của giáo dục hiện nay
- Kĩ thuật thường áp dụng vào tiết ôn tập tiếng Việt
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Để nâng cao năng lực cho học sinh qua dạy học văn, chúng tôi chỉ tập
trung vào các tiết dạy học văn bản “Ôn tập phần Tiếng Việt” - Ngữ văn 11.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thể nghiệm
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trang 22 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Thế nào là dạy học theo hợp đồng?
Là cách tổ chức học tập, trong đó học sinh làm việc theo một gói cácnhiệm vụ trong một khoảng thời gian nhất định [2]
2.1.2 Ưu điểm của học theo hợp đồng
Khi giáo viên sử dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng, tuy mất nhiềuthời gian chuẩn bị và nghiên cứu kĩ bài giảng nhưng khi tiến hành thì đơn giản
và đạt được hiệu quả cao, có thể tích lũy được chuyên môn
Phương pháp dạy học theo hợp đồng là một cách thay thế việc giảng bàicủa giáo viên cho toàn thể lớp nhưng giáo viên vẫn theo dõi và quản lí đượchoạt động học tập học sinh và có thời gian đáp ứng được năng lực của từng họcsinh, từng nhóm học sinh
Phương pháp dạy học theo hợp đồng nếu mới nhìn qua thì có thể chúng
ta cho rằng chẳng khác gì dạy theo nhóm, có thể sử dụng dạy phiếu học tập Về
cơ bản là như vậy, tuy nhiên trong hợp đồng sẽ làm cho học sinh thích thú hơn,
có trách nhiệm, đồng thời hợp đồng đã chỉ rõ nguyên tắc làm việc và kết quả đạtđược trong thời gian nhất định, đồng thời khối lượng công việc phong phú hơn,lựa chọn đa dạng hơn và phân hóa mịn hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Thuận lợi
2.2.1.1 Về phía học sinh
Học sinh THPT ngày nay đã có sự phát triển khá toàn diện về trí tuệ Với
kĩ thuật dạy học hợp đồng sẽ làm cho học sinh thích thú hơn, có tinh thần tráchnhiệm, đồng thời hợp đồng đã chỉ rõ nguyên tắc làm việc và kết quả đạtđược trong thời gian nhất định, khối lượng công việc phong phú hơn, lựa chọn
đa dạng hơn và phân hóa học sinh tốt hơn
2.2.1.2 Về phía giáo viên
Khi giáo viên sử dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng, tuy mất nhiềuthời gian chuẩn bị và nghiên cứu kĩ bài giảng nhưng khi tiến hành thì đơn giản
và đạt hiệu quả cao, có thể tích lũy được chuyên môn
Phương pháp dạy học theo hợp đồng là một cách thay thế việc giảng bàicủa giáo viên cho toàn thể lớp, nhưng giáo viên vẫn theo dõi và quản lí đượchoạt động học tập học sinh và có thời gian đáp ứng được năng lực của từngnhóm học sinh
2.2.1.3 Về chương trình
Chương trình môn Ngữ văn THPT được xây dựng trên tinh thần mở: phongphú về nội dung, thể loại và kiểu bài học Tinh thần mở của chương trình cònthể hiện ở việc đổi mới kiểm tra, đánh giá của môn Ngữ văn Theo quan điểm
của giáo dục hiện đại “Lớp học lấy người học làm trung tâm” Đây chính là cơ
hội để học sinh tự khám phá trải nghiệm và làm việc độc lập
Đặt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, mục tiêu đào tạo con ngườitoàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc thì việc phát huy khả năng chịu
Trang 3trách nhiệm và làm việc độc lập thông qua kĩ thuật dạy học hợp đồng cho họcsinh là cần thiết hơn bao giờ hết Trang bị cho thế hệ trẻ khả năng làm việc độclập và chịu trách nhiệm với công việc của mình cũng có nghĩa là trang bị chocác em khát vọng đổi mới và khát vọng thành công trong cuộc sống.
2.2.2 Khó khăn
2.2.2.1 Về phía học sinh
Tuy nhiên, thực tế, việc học sinh làm việc độc lập và chịu trách nhiệm vềcông việc được giao trong những giờ ôn tập tiếng Việt là rất hạn chế và khôngphổ biến
Qua quan sát trong các tiết dạy của bản thân và trao đổi với các đồngnghiệp, chúng tôi nhận thấy chỉ có những em học sinh khá giỏi có phương pháp
tự học tương đối tốt nhưng khả năng hoạt động giúp đỡ học sinh yếu kém chưatốt, chưa phát huy được hoạt động nhóm còn những học sinh yếu kém chỉ biết
chép
2.2.2.2 Về phía giáo viên
Qua nhiều năm giảng dạy Ngữ văn, tôi thấy:
- Thông thường tiết ôn tập nói chung và ôn tập tiếng Việt nói riêng Giáo viênthường nêu bài tập và giao nhiệm vụ chung hoặc gọi một số bạn lên bảng giảibài
- Trong giờ học phần nhiều giáo viên còn chưa thực hiện đúng tinh thần đổi mớitrong giáo dục - coi học sinh là trung tâm của tiết học
- Giáo viên chưa kích thích học sinh yếu kém thể hiện trước lớp, do nhiềunguyên nhân: bài tập nhiều, học sinh nhút nhát, chưa chú tâm
2.3 Các giải pháp thực hiện
2.3.1 Về công tác chuẩn bị
- Về lí thuyết: Giáo viên hệ thống hóa những đơn vị kiến thức tiếng Việt đãđược học suốt cả năm học Ngữ văn lớp 11 Chú ý kết hợp giữa ngôn ngữ nói vàviết để học sinh tự ghi nhớ
- Về bài tập: Giáo viên xây dựng hệ thống hóa bài tập theo dạng nối khái niệm,dạng lập bảng so sánh, vận dụng khái niệm làm bài tập
- Về phương tiện: Hỗ trợ đồ dùng trực quan, chuẩn bị hợp đồng và phiếu họctập: phiếu hỗ trợ học tập, Sách giáo khoa, thước, giấy A4, bút lông, cờ đỏ dùngbáo hiệu cứu trợ
2.3.2 Tổ chức cho học sinh học theo hợp đồng
2.3.2.1 Kí kết hợp đồng
- Giới thiệu ngắn gọn tên bài
- Nguyên tắc học theo hợp đồng: Ở mỗi phiếu học tập đều chia thành hai phần:
Phần bắt buộc (Hoàn thành nhiệm vụ tại lớp) và phần tự chọn Đặc biệt phần tựchọn bài tập phong phú hơn và tiếp tục phân hóa sâu hơn Ở phiếu học tập số 1,2: cấu trúc câu hỏi bắt buộc vừa có tính ôn tập lại các đơn vị kiến thức tiếng Việt
đã học, bài tập ở phần tự chọn cũng là những nội dung phù hợp với học sinh ởmức độ trung bình, yếu, kém Phiếu học tập số 3, 4, 5 phù hợp với mức độ họcsinh khá, giỏi, cấu trúc cũng tương tự như ở phiếu số 1, 2 nhưng mức độ nâng
Trang 4cao hơn và ít định hướng hơn, để học sinh tự phát hiện ra dấu hiệu và cách giải.Học sinh buộc phải làm đầy đủ các đơn vị kiến thức bắt buộc trong phần bắtbuộc của phiếu học tập, phần tự chọn đối với học sinh yếu, kém chỉ cần lựa chọn
tự chọn A hoặc tự chọn B Với học sinh giỏi, khá, trung bình khuyến khích các
Ở bước 1, tôi muốn học sinh hệ thống hóa lại các đơn vị kiến thức về
tiếng Việt đã được học trong chương trình Ngữ Văn 11 thông qua trò chơi “Ai
nhanh hơn ai” bằng hình thức giáo viên chiếu câu hỏi lên màn hình, cá nhân học
sinh nhanh tay nối các khái niệm và nội dung khái niệm
KẾT NỐI KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG KHÁI NIỆM
1.Nghĩa sự việc
là nghĩa thể hiện sự nhìn nhận, thái độ, sựđánh giá của người nói đối với sự việc hoặcđối với người nghe
đó mà lĩnh hội được nội dung văn bản hoặclời nói
4 Phong cách ngôn ngữ báo
chí
là ngôn ngữ dùng trong các văn bản chínhluận hoặc lời nói miệng trong các buổi hộinghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,… nhằmtrình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện,những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tưtưởng,…theo một quan điểm chính trị nhấtđịnh
5 Phong cách ngôn ngữ chính
luận
là kiểu diễn đạt dùng trong các văn bản thuộclĩnh vực truyền thông đại chúng báo in, đàiphát thanh, đài truyền hình, internet…như tintức, phóng sự, bình luận, tiểu phẩm, diễn đàn,thông tin quảng cáo…
Bước 2: Củng cố kiến thức và kĩ năng
Trang 5Để hướng dẫn học sinh củng cố kiến thức và kĩ năng làm bài “Ôn tập
phần Tiếng Việt” trong chương trình Ngữ Văn 11, tôi sẽ cho học sinh tiến hành
thực hiện hợp đồng, thông qua các phiếu học tập
Căn cứ vào mục tiêu bài dạy , chuẩn kiến thức kĩ năng và hướng áp dụng
quan điểm dạy học phân hóa theo hợp đồng bài “Ôn tập phần Tiếng Việt” Ngữ Văn 11, tôi thiết kế các hoạt động chính như sau:
-Nhiệm vụ 1: PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Phần bắt buộc: Nêu khái niệm ngữ cảnh.
Phần tự chọn:
Căn cứ vào ngữ cảnh(hoàn cảnh
sáng tác), hãy phân tích những chi
tiết được miêu tả trong hai câu sau:
“Tiếng phong hạc phập phồng
hơn mươi tháng, trông tin quan như
trời hạn trông mưa; mùi tinh chiến
vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như
nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng
lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống
khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.”
(Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Xác định hiện thực được nói tới tronghai câu thơ sau:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.”
(Hồ Xuân Hương, Tự tình - bài II)
Điều kiện của hợp đồng:
- Cá nhân thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn phần
Nhận xét về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ
báo chí nói chung và đặc điểm thể loại bản tin nói
riêng ở bài báo(tin văn) sau:
“Trung Quốc xác nhận đã thử nghiệm vũ khí tiêu
diệt vệ tinh, nhưng nhấn mạnh rằng chương trình
không gian của mình không đe dọa ai Trung Quốc
cho biết đã thông báo với nhiều nước khác, trong đó
có Mĩ, về vụ thử nghiệm này.”
(Báo Tuổi trẻ, số 24/2007 )
Phân tích đặc trưng của phong cáchngôn ngữ chính luận thể hiện trongđoạn trích sau:
“Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị Nếu người An
Trang 6Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi.” (Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ - nguồn gốc giải phóng các dân tộc bị áp bức )
Điều kiện của hợp đồng:
- Cá nhân thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn phần
Phần bắt buộc: Phân biệt nghĩa sự việc và nghĩa tình thái
Phần tự chọn:
Tự chọn A Tự chọn B
Phân tích hai thành phần nghĩa của câu
thứ hai trong lời nói của nhân vật bác Siêu
ở đoạn trích sau:
“Bác Siêu đáp vẩn vơ:
- Hôm nay trong ông giáo cũng có tổ tôm.
Dễ họ không phải đi gọi đâu.”
(Thạch Lam, Hai đứa trẻ)
Tách nghĩa tình thái và sự việc
trong câu sau:
“Có một ông rể quý như Xuân kể cũng danh giá thực, nhưng cũng đáng sợ lắm.”
(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)
Điều kiện của hợp đồng:
- Cá nhân thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn phần
Phần bắt buộc: Phân biệt ngôn ngữ chung và lời nói riêng.
Trang 7Phần tự chọn:
Phân tích mối quan hệ hai chiều giữa ngôn ngữ
chung và lời nói cá nhân thể hiện qua việc sử dụng
ngôn ngữ để sáng tạo nên hình tượng bà Tú trong bài
thơ Thương vợ của Tú Xương.
Trong hai câu thơ sau đây, từ thôi in đậm được
tác giả sử dụng với nghĩa như thế nào?
“Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.” (Nguyễn
Khuyến, Khóc Dương Khuê)
Điều kiện của hợp đồng:
- Mỗi nhóm thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn
câu tiếng Anh và tiếng Việt có ý nghĩa
tương đương sau về vai trò ngữ pháp
trong câu và về hình thái:
- Tôi tặng anh ấy một quyển sách (1)
Anh ấy cho tôi một quyển sổ (2)
- I offer him a book (1) He gives me a
notebook (2)
Lựa chọn hư từ thích hợp (trong sốnhững hư từ cho sẵn) điền vào chỗtrống trong đoạn thơ sau:
“ Cuộc đời…… dài thế Năm tháng…… đi qua
…….biển kia…….rộng Mây…… bay về xa”
( Sóng, Xuân Quỳnh) (vẫn, dẫu, tuy, như, nhưng, và, đã)
Điều kiện của hợp đồng:
- Mỗi nhóm thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn
phần tự chọn chỉ cần làm tự chọn A hoặc tự chọn B.
- Học sinh thay mặt nhóm xin cam kết hoànthành các nhiệm vụ trong hợp đồng
Chữ kí học sinh Chữ kí giáo viên
Trong quá trình học sinh thực hiện hợp đồng, nếu học sinh khó khăn các
em có thể đặt cờ đỏ lên bàn - tín hiệu cần “hỗ trợ”, nhận được tín hiệu này cácbạn học sinh khá giỏi hoặc các bạn trong các nhóm khác có thể tới “hỗ trợ” vàgiáo viên hỗ trợ cho các em bằng việc các phiếu hỗ trợ học tập, học sinh có thể
sử dụng phần hỗ trợ Bài tập nào mà nhiều học sinh đều gặp khó khăn thì giáoviên sẽ có giải đáp chung, để các em có thể hoàn thành nhiệm vụ trong hợpđồng (Phiếu hỗ trợ học tập in màu để làm giờ học thêm sinh động, khích thíchhứng thú học tập của các em.)
Trang 8PHIẾU HỖ TRỢ HỌC TẬP SỐ 1 Phần bắt buộc: Nêu khái niệm ngữ cảnh
Phần tự chọn:
Căn cứ vào ngữ cảnh(hoàn cảnh
sáng tác), hãy phân tích những chi
tiết được miêu tả trong hai câu sau:
“Tiếng phong hạc phập phồng
hơn mươi tháng, trông tin quan như
trời hạn trông mưa; mùi tinh chiến
vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như
nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng
lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống
khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.”
(Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế
- Thái độ của vua quan nhà Nguyễn lúc bấy giờ
như thế nào khi quân Pháp đã đặt chân xâm lược
Nam Kì đã mười tháng?
- Bối cảnh có chi phối đến nội dung và hình thức
phát ngôn của đồ Chiểu trong câu thơ trên hay
không?
- Hồ Xuân Hương tự tình trong tình huống giao tiếp như
thế nào (thời gian, không gian)?
- Ngữ cảnh có chi phối như thế nào đến tâm trạng của nữ
sĩ Hồ Xuân Hương?
PHIẾU HỖ TRỢ HỌC TẬP SỐ 2
Phần bắt buộc: Đặc trưng cơ bản của phong cách báo chí và phong cách chính luận.
Trang 9Phần tự chọn:
Tự chọn A Tự chọn B
Nhận xét về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo
chí nói chung và đặc điểm thể loại bản tin nói riêng ở
bài báo(tin vắn) sau:
“Trung Quốc xác nhận đã thử nghiệm vũ khí tiêu
diệt vệ tinh, nhưng nhấn mạnh rằng chương trình
không gian của mình không đe dọa ai Trung Quốc
cho biết đã thông báo với nhiều nước khác, trong đó
có Mĩ, về vụ thử nghiệm này.”
(Báo Tuổi trẻ, số 24/2007 )
Phân tích đặc trưng của phong cáchngôn ngữ chính luận thể hiện trongđoạn trích sau:
“Tiếng nói là người bảo vệ quý báu
nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm
hi vọng giải phóng giống nòi.”
(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ
-nguồn gốc giải phóng các dân tộc bị
áp bức )
Gợi ý:
- Tính thời sự: Báo tuổi trẻ đã đưa tin
có kịp thời với sự kiện xảy ra không?
- Tính ngắn gọn: Học sinh lưu ý số
lượng câu chữ trong tin văn trên
- Tính hấp dẫn: Bài báo trên thu hút
người đọc bằng cách nào?
- Trong bản tin trên em thấy bố cục có
giống bản tin thường không?
Đặc trưng của ngôn ngữ chính luậnthể hiện qua đoạn trích:
- Tính công khai: Thái độ của nhà báoNguyễn An Ninh về vai trò của tiếng
mẹ đẻ trong sự nghiệp giải phóng dântộc? (Tính công khai)
- Tính lập luận chặt chẽ: Mối quan hệcủa các trong đoạn trích trên?
- Tính hấp dẫn, thuyết phục: Trongđoạn văn học sinh lưu ý cách đặt câu,
Phong cách báo chí
Tínhsinhđộng,hấp dẫn
Tínhtruyềncảm
Tínhngắngọn
Tínhchặt chẽtrong
Phong cách chính luận
Trang 10sử dụng từ ngữ, đặt câu tại sao lại thuhút người đọc?
PHIẾU HỖ TRỢ HỌC TẬP SỐ 3 Phần bắt buộc: Phân biệt nghĩa sự việc và nghĩa tình thái
- Ứng với sự việc được đề cập đến trong
- Thể hiện thái độ, tình cảm củangười nói đối với người nghe
- Có thể biểu hiện riêng nhờ các
từ tình thái
Phần tự chọn:
Phân tích hai thành phần nghĩa của cau
thứ hai trong lời nói của nhân vật bác Siêu
ở đoạn trích sau:
Bác Siêu đáp vẩn vơ:
- Hôm nay trong ông giáo cũng có tổ tôm.
Dễ họ không phải đi gọi đâu.
(Thạch Lam, Hai đứa trẻ)
Tách nghĩa tình thái và sự việc
trong câu sau:
“Có một ông rể quý như Xuân kể cũng danh giá thực, nhưng cũng đáng sợ lắm.”
(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)
Gợi ý
- Nghĩa sự việc: Phần thông tin có trong
câu nói của bác Siêu là thông tin gì?
- Nghĩa tình thái: Bác Siêu nhìn nhận đánh
giá như thế nào về việc mấy chú lính, mấy
người nhà cụ thừa, cụ lục những khách
quen của chị Tí đã muộn mà chưa ra?
- Học sinh nhớ lại khái niệm ngĩa
sự việc và nghĩa tình thái
- Từ nào mang nghĩa thông tin?
Từ nào thể hiện cách nhìn nhận,đánh giá, thái độ của người nóiđối với người nghe?
PHIẾU HỖ TRỢ HỌC TẬP SỐ 4 Phần bắt buộc: Phân biệt ngôn ngữ chung và lời nói riêng.