1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng kĩ thuật dạy học hợp đồng trong bài ôn tập phần tiếng việt ngữ văn 11

21 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Áp dụng kĩ thuật dạy học theo hợp đồng không phải là vấn đề bây giờ mới được bàn đến,song hi vọng với cái nhìn và phạm vi ứng dụng cụ thể cho bài học về văn bản “Ôn tập phần Tiếng Việt”

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

[1] là định hướng đổi mới phương pháp dạy học, được khẳng định trong NghịQuyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần 4 khóa VII, Nghị Quyết củaBan chấp hành Trung ương Đảng lần 2 khóa VIII và được pháp chế hóa trongđiều 24.2 của Luật giáo dục

Theo định hướng này, đối với môn văn, để tạo điều kiện cho việc vậndụng kiến thức và kĩ năng vào thực tiễn cuộc sống, phát huy năng lực cần thiếtcho học sinh, cần phối hợp nhiều hình thức tổ chức học tập ngoài giờ học, kếthợp với việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại như dạy học giải quyếtvấn đề, dạy học kiến tạo, dạy học theo nhóm, dạy học theo dự án, dạy theo hợpđồng

Là một giáo viên Ngữ Văn THPT, qua những năm tham gia giảng dạymôn Ngữ văn ở vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, tôi nhận thấy về mặt tâm líhọc sinh THPT đã bộc lộ rõ thiên hướng, sở trường và hứng thú với từng lĩnhvực Hơn nữa với học sinh ở vùng khó khăn thì việc tự học và năng lực tự họcchưa cao

Vì những lí do trên nên chúng tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng kĩ thuật dạy

học hợp đồng trong bài “Ôn tập phần Tiếng Việt” - Ngữ văn 11 Áp dụng kĩ

thuật dạy học theo hợp đồng không phải là vấn đề bây giờ mới được bàn đến,song hi vọng với cái nhìn và phạm vi ứng dụng cụ thể cho bài học về văn bản

“Ôn tập phần Tiếng Việt” - Ngữ văn 11, chúng tôi sẽ giúp giáo viên và học sinh

đáp ứng những đòi hỏi thiết thực của giáo dục hiện nay

- Kĩ thuật thường áp dụng vào tiết ôn tập tiếng Việt

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Để nâng cao năng lực cho học sinh qua dạy học văn, chúng tôi chỉ tập

trung vào các tiết dạy học văn bản “Ôn tập phần Tiếng Việt” - Ngữ văn 11.

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thể nghiệm

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Trang 2

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Thế nào là dạy học theo hợp đồng?

Là cách tổ chức học tập, trong đó học sinh làm việc theo một gói cácnhiệm vụ trong một khoảng thời gian nhất định [2]

2.1.2 Ưu điểm của học theo hợp đồng

Khi giáo viên sử dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng, tuy mất nhiềuthời gian chuẩn bị và nghiên cứu kĩ bài giảng nhưng khi tiến hành thì đơn giản

và đạt được hiệu quả cao, có thể tích lũy được chuyên môn

Phương pháp dạy học theo hợp đồng là một cách thay thế việc giảng bàicủa giáo viên cho toàn thể lớp nhưng giáo viên vẫn theo dõi và quản lí đượchoạt động học tập học sinh và có thời gian đáp ứng được năng lực của từng họcsinh, từng nhóm học sinh

Phương pháp dạy học theo hợp đồng nếu mới nhìn qua thì có thể chúng

ta cho rằng chẳng khác gì dạy theo nhóm, có thể sử dụng dạy phiếu học tập Về

cơ bản là như vậy, tuy nhiên trong hợp đồng sẽ làm cho học sinh thích thú hơn,

có trách nhiệm, đồng thời hợp đồng đã chỉ rõ nguyên tắc làm việc và kết quả đạtđược trong thời gian nhất định, đồng thời khối lượng công việc phong phú hơn,lựa chọn đa dạng hơn và phân hóa mịn hơn

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thuận lợi

2.2.1.1 Về phía học sinh

Học sinh THPT ngày nay đã có sự phát triển khá toàn diện về trí tuệ Với

kĩ thuật dạy học hợp đồng sẽ làm cho học sinh thích thú hơn, có tinh thần tráchnhiệm, đồng thời hợp đồng đã chỉ rõ nguyên tắc làm việc và kết quả đạtđược trong thời gian nhất định, khối lượng công việc phong phú hơn, lựa chọn

đa dạng hơn và phân hóa học sinh tốt hơn

2.2.1.2 Về phía giáo viên

Khi giáo viên sử dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng, tuy mất nhiềuthời gian chuẩn bị và nghiên cứu kĩ bài giảng nhưng khi tiến hành thì đơn giản

và đạt hiệu quả cao, có thể tích lũy được chuyên môn

Phương pháp dạy học theo hợp đồng là một cách thay thế việc giảng bàicủa giáo viên cho toàn thể lớp, nhưng giáo viên vẫn theo dõi và quản lí đượchoạt động học tập học sinh và có thời gian đáp ứng được năng lực của từngnhóm học sinh

2.2.1.3 Về chương trình

Chương trình môn Ngữ văn THPT được xây dựng trên tinh thần mở: phongphú về nội dung, thể loại và kiểu bài học Tinh thần mở của chương trình cònthể hiện ở việc đổi mới kiểm tra, đánh giá của môn Ngữ văn Theo quan điểm

của giáo dục hiện đại “Lớp học lấy người học làm trung tâm” Đây chính là cơ

hội để học sinh tự khám phá trải nghiệm và làm việc độc lập

Đặt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, mục tiêu đào tạo con ngườitoàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc thì việc phát huy khả năng chịu

Trang 3

trách nhiệm và làm việc độc lập thông qua kĩ thuật dạy học hợp đồng cho họcsinh là cần thiết hơn bao giờ hết Trang bị cho thế hệ trẻ khả năng làm việc độclập và chịu trách nhiệm với công việc của mình cũng có nghĩa là trang bị chocác em khát vọng đổi mới và khát vọng thành công trong cuộc sống.

2.2.2 Khó khăn

2.2.2.1 Về phía học sinh

Tuy nhiên, thực tế, việc học sinh làm việc độc lập và chịu trách nhiệm vềcông việc được giao trong những giờ ôn tập tiếng Việt là rất hạn chế và khôngphổ biến

Qua quan sát trong các tiết dạy của bản thân và trao đổi với các đồngnghiệp, chúng tôi nhận thấy chỉ có những em học sinh khá giỏi có phương pháp

tự học tương đối tốt nhưng khả năng hoạt động giúp đỡ học sinh yếu kém chưatốt, chưa phát huy được hoạt động nhóm còn những học sinh yếu kém chỉ biết

chép

2.2.2.2 Về phía giáo viên

Qua nhiều năm giảng dạy Ngữ văn, tôi thấy:

- Thông thường tiết ôn tập nói chung và ôn tập tiếng Việt nói riêng Giáo viênthường nêu bài tập và giao nhiệm vụ chung hoặc gọi một số bạn lên bảng giảibài

- Trong giờ học phần nhiều giáo viên còn chưa thực hiện đúng tinh thần đổi mớitrong giáo dục - coi học sinh là trung tâm của tiết học

- Giáo viên chưa kích thích học sinh yếu kém thể hiện trước lớp, do nhiềunguyên nhân: bài tập nhiều, học sinh nhút nhát, chưa chú tâm

2.3 Các giải pháp thực hiện

2.3.1 Về công tác chuẩn bị

- Về lí thuyết: Giáo viên hệ thống hóa những đơn vị kiến thức tiếng Việt đãđược học suốt cả năm học Ngữ văn lớp 11 Chú ý kết hợp giữa ngôn ngữ nói vàviết để học sinh tự ghi nhớ

- Về bài tập: Giáo viên xây dựng hệ thống hóa bài tập theo dạng nối khái niệm,dạng lập bảng so sánh, vận dụng khái niệm làm bài tập

- Về phương tiện: Hỗ trợ đồ dùng trực quan, chuẩn bị hợp đồng và phiếu họctập: phiếu hỗ trợ học tập, Sách giáo khoa, thước, giấy A4, bút lông, cờ đỏ dùngbáo hiệu cứu trợ

2.3.2 Tổ chức cho học sinh học theo hợp đồng

2.3.2.1 Kí kết hợp đồng

- Giới thiệu ngắn gọn tên bài

- Nguyên tắc học theo hợp đồng: Ở mỗi phiếu học tập đều chia thành hai phần:

Phần bắt buộc (Hoàn thành nhiệm vụ tại lớp) và phần tự chọn Đặc biệt phần tựchọn bài tập phong phú hơn và tiếp tục phân hóa sâu hơn Ở phiếu học tập số 1,2: cấu trúc câu hỏi bắt buộc vừa có tính ôn tập lại các đơn vị kiến thức tiếng Việt

đã học, bài tập ở phần tự chọn cũng là những nội dung phù hợp với học sinh ởmức độ trung bình, yếu, kém Phiếu học tập số 3, 4, 5 phù hợp với mức độ họcsinh khá, giỏi, cấu trúc cũng tương tự như ở phiếu số 1, 2 nhưng mức độ nâng

Trang 4

cao hơn và ít định hướng hơn, để học sinh tự phát hiện ra dấu hiệu và cách giải.Học sinh buộc phải làm đầy đủ các đơn vị kiến thức bắt buộc trong phần bắtbuộc của phiếu học tập, phần tự chọn đối với học sinh yếu, kém chỉ cần lựa chọn

tự chọn A hoặc tự chọn B Với học sinh giỏi, khá, trung bình khuyến khích các

Ở bước 1, tôi muốn học sinh hệ thống hóa lại các đơn vị kiến thức về

tiếng Việt đã được học trong chương trình Ngữ Văn 11 thông qua trò chơi “Ai

nhanh hơn ai” bằng hình thức giáo viên chiếu câu hỏi lên màn hình, cá nhân học

sinh nhanh tay nối các khái niệm và nội dung khái niệm

KẾT NỐI KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG KHÁI NIỆM

1.Nghĩa sự việc

là nghĩa thể hiện sự nhìn nhận, thái độ, sựđánh giá của người nói đối với sự việc hoặcđối với người nghe

đó mà lĩnh hội được nội dung văn bản hoặclời nói

4 Phong cách ngôn ngữ báo

chí

là ngôn ngữ dùng trong các văn bản chínhluận hoặc lời nói miệng trong các buổi hộinghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,… nhằmtrình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện,những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tưtưởng,…theo một quan điểm chính trị nhấtđịnh

5 Phong cách ngôn ngữ chính

luận

là kiểu diễn đạt dùng trong các văn bản thuộclĩnh vực truyền thông đại chúng báo in, đàiphát thanh, đài truyền hình, internet…như tintức, phóng sự, bình luận, tiểu phẩm, diễn đàn,thông tin quảng cáo…

Bước 2: Củng cố kiến thức và kĩ năng

Trang 5

Để hướng dẫn học sinh củng cố kiến thức và kĩ năng làm bài “Ôn tập

phần Tiếng Việt” trong chương trình Ngữ Văn 11, tôi sẽ cho học sinh tiến hành

thực hiện hợp đồng, thông qua các phiếu học tập

Căn cứ vào mục tiêu bài dạy , chuẩn kiến thức kĩ năng và hướng áp dụng

quan điểm dạy học phân hóa theo hợp đồng bài “Ôn tập phần Tiếng Việt” Ngữ Văn 11, tôi thiết kế các hoạt động chính như sau:

-Nhiệm vụ 1: PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1

Phần bắt buộc: Nêu khái niệm ngữ cảnh.

Phần tự chọn:

Căn cứ vào ngữ cảnh(hoàn cảnh

sáng tác), hãy phân tích những chi

tiết được miêu tả trong hai câu sau:

“Tiếng phong hạc phập phồng

hơn mươi tháng, trông tin quan như

trời hạn trông mưa; mùi tinh chiến

vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như

nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong che trắng

lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống

khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.”

(Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế

nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Xác định hiện thực được nói tới tronghai câu thơ sau:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.”

(Hồ Xuân Hương, Tự tình - bài II)

Điều kiện của hợp đồng:

- Cá nhân thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn phần

Nhận xét về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ

báo chí nói chung và đặc điểm thể loại bản tin nói

riêng ở bài báo(tin văn) sau:

“Trung Quốc xác nhận đã thử nghiệm vũ khí tiêu

diệt vệ tinh, nhưng nhấn mạnh rằng chương trình

không gian của mình không đe dọa ai Trung Quốc

cho biết đã thông báo với nhiều nước khác, trong đó

có Mĩ, về vụ thử nghiệm này.”

(Báo Tuổi trẻ, số 24/2007 )

Phân tích đặc trưng của phong cáchngôn ngữ chính luận thể hiện trongđoạn trích sau:

“Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị Nếu người An

Trang 6

Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi.” (Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ - nguồn gốc giải phóng các dân tộc bị áp bức )

Điều kiện của hợp đồng:

- Cá nhân thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn phần

Phần bắt buộc: Phân biệt nghĩa sự việc và nghĩa tình thái

Phần tự chọn:

Tự chọn A Tự chọn B

Phân tích hai thành phần nghĩa của câu

thứ hai trong lời nói của nhân vật bác Siêu

ở đoạn trích sau:

“Bác Siêu đáp vẩn vơ:

- Hôm nay trong ông giáo cũng có tổ tôm.

Dễ họ không phải đi gọi đâu.”

(Thạch Lam, Hai đứa trẻ)

Tách nghĩa tình thái và sự việc

trong câu sau:

“Có một ông rể quý như Xuân kể cũng danh giá thực, nhưng cũng đáng sợ lắm.”

(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

Điều kiện của hợp đồng:

- Cá nhân thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn phần

Phần bắt buộc: Phân biệt ngôn ngữ chung và lời nói riêng.

Trang 7

Phần tự chọn:

Phân tích mối quan hệ hai chiều giữa ngôn ngữ

chung và lời nói cá nhân thể hiện qua việc sử dụng

ngôn ngữ để sáng tạo nên hình tượng bà Tú trong bài

thơ Thương vợ của Tú Xương.

Trong hai câu thơ sau đây, từ thôi in đậm được

tác giả sử dụng với nghĩa như thế nào?

“Bác Dương thôi đã thôi rồi,

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.” (Nguyễn

Khuyến, Khóc Dương Khuê)

Điều kiện của hợp đồng:

- Mỗi nhóm thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn

câu tiếng Anh và tiếng Việt có ý nghĩa

tương đương sau về vai trò ngữ pháp

trong câu và về hình thái:

- Tôi tặng anh ấy một quyển sách (1)

Anh ấy cho tôi một quyển sổ (2)

- I offer him a book (1) He gives me a

notebook (2)

Lựa chọn hư từ thích hợp (trong sốnhững hư từ cho sẵn) điền vào chỗtrống trong đoạn thơ sau:

“ Cuộc đời…… dài thế Năm tháng…… đi qua

…….biển kia…….rộng Mây…… bay về xa”

( Sóng, Xuân Quỳnh) (vẫn, dẫu, tuy, như, nhưng, và, đã)

Điều kiện của hợp đồng:

- Mỗi nhóm thực hiện đầy đủ các phần bắt buộc trong các phiếu học tập còn

phần tự chọn chỉ cần làm tự chọn A hoặc tự chọn B.

- Học sinh thay mặt nhóm xin cam kết hoànthành các nhiệm vụ trong hợp đồng

Chữ kí học sinh Chữ kí giáo viên

Trong quá trình học sinh thực hiện hợp đồng, nếu học sinh khó khăn các

em có thể đặt cờ đỏ lên bàn - tín hiệu cần “hỗ trợ”, nhận được tín hiệu này cácbạn học sinh khá giỏi hoặc các bạn trong các nhóm khác có thể tới “hỗ trợ” vàgiáo viên hỗ trợ cho các em bằng việc các phiếu hỗ trợ học tập, học sinh có thể

sử dụng phần hỗ trợ Bài tập nào mà nhiều học sinh đều gặp khó khăn thì giáoviên sẽ có giải đáp chung, để các em có thể hoàn thành nhiệm vụ trong hợpđồng (Phiếu hỗ trợ học tập in màu để làm giờ học thêm sinh động, khích thíchhứng thú học tập của các em.)

Trang 8

PHIẾU HỖ TRỢ HỌC TẬP SỐ 1 Phần bắt buộc: Nêu khái niệm ngữ cảnh

Phần tự chọn:

Căn cứ vào ngữ cảnh(hoàn cảnh

sáng tác), hãy phân tích những chi

tiết được miêu tả trong hai câu sau:

“Tiếng phong hạc phập phồng

hơn mươi tháng, trông tin quan như

trời hạn trông mưa; mùi tinh chiến

vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như

nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong che trắng

lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống

khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.”

(Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế

- Thái độ của vua quan nhà Nguyễn lúc bấy giờ

như thế nào khi quân Pháp đã đặt chân xâm lược

Nam Kì đã mười tháng?

- Bối cảnh có chi phối đến nội dung và hình thức

phát ngôn của đồ Chiểu trong câu thơ trên hay

không?

- Hồ Xuân Hương tự tình trong tình huống giao tiếp như

thế nào (thời gian, không gian)?

- Ngữ cảnh có chi phối như thế nào đến tâm trạng của nữ

sĩ Hồ Xuân Hương?

PHIẾU HỖ TRỢ HỌC TẬP SỐ 2

Phần bắt buộc: Đặc trưng cơ bản của phong cách báo chí và phong cách chính luận.

Trang 9

Phần tự chọn:

Tự chọn A Tự chọn B

Nhận xét về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo

chí nói chung và đặc điểm thể loại bản tin nói riêng ở

bài báo(tin vắn) sau:

“Trung Quốc xác nhận đã thử nghiệm vũ khí tiêu

diệt vệ tinh, nhưng nhấn mạnh rằng chương trình

không gian của mình không đe dọa ai Trung Quốc

cho biết đã thông báo với nhiều nước khác, trong đó

có Mĩ, về vụ thử nghiệm này.”

(Báo Tuổi trẻ, số 24/2007 )

Phân tích đặc trưng của phong cáchngôn ngữ chính luận thể hiện trongđoạn trích sau:

“Tiếng nói là người bảo vệ quý báu

nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm

hi vọng giải phóng giống nòi.”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ

-nguồn gốc giải phóng các dân tộc bị

áp bức )

Gợi ý:

- Tính thời sự: Báo tuổi trẻ đã đưa tin

có kịp thời với sự kiện xảy ra không?

- Tính ngắn gọn: Học sinh lưu ý số

lượng câu chữ trong tin văn trên

- Tính hấp dẫn: Bài báo trên thu hút

người đọc bằng cách nào?

- Trong bản tin trên em thấy bố cục có

giống bản tin thường không?

Đặc trưng của ngôn ngữ chính luậnthể hiện qua đoạn trích:

- Tính công khai: Thái độ của nhà báoNguyễn An Ninh về vai trò của tiếng

mẹ đẻ trong sự nghiệp giải phóng dântộc? (Tính công khai)

- Tính lập luận chặt chẽ: Mối quan hệcủa các trong đoạn trích trên?

- Tính hấp dẫn, thuyết phục: Trongđoạn văn học sinh lưu ý cách đặt câu,

Phong cách báo chí

Tínhsinhđộng,hấp dẫn

Tínhtruyềncảm

Tínhngắngọn

Tínhchặt chẽtrong

Phong cách chính luận

Trang 10

sử dụng từ ngữ, đặt câu tại sao lại thuhút người đọc?

PHIẾU HỖ TRỢ HỌC TẬP SỐ 3 Phần bắt buộc: Phân biệt nghĩa sự việc và nghĩa tình thái

- Ứng với sự việc được đề cập đến trong

- Thể hiện thái độ, tình cảm củangười nói đối với người nghe

- Có thể biểu hiện riêng nhờ các

từ tình thái

Phần tự chọn:

Phân tích hai thành phần nghĩa của cau

thứ hai trong lời nói của nhân vật bác Siêu

ở đoạn trích sau:

Bác Siêu đáp vẩn vơ:

- Hôm nay trong ông giáo cũng có tổ tôm.

Dễ họ không phải đi gọi đâu.

(Thạch Lam, Hai đứa trẻ)

Tách nghĩa tình thái và sự việc

trong câu sau:

“Có một ông rể quý như Xuân kể cũng danh giá thực, nhưng cũng đáng sợ lắm.”

(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

Gợi ý

- Nghĩa sự việc: Phần thông tin có trong

câu nói của bác Siêu là thông tin gì?

- Nghĩa tình thái: Bác Siêu nhìn nhận đánh

giá như thế nào về việc mấy chú lính, mấy

người nhà cụ thừa, cụ lục những khách

quen của chị Tí đã muộn mà chưa ra?

- Học sinh nhớ lại khái niệm ngĩa

sự việc và nghĩa tình thái

- Từ nào mang nghĩa thông tin?

Từ nào thể hiện cách nhìn nhận,đánh giá, thái độ của người nóiđối với người nghe?

PHIẾU HỖ TRỢ HỌC TẬP SỐ 4 Phần bắt buộc: Phân biệt ngôn ngữ chung và lời nói riêng.

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w