1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên đề ôn tập và luyện thi Ngữ Văn 12

271 996 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 271
Dung lượng 21,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng kì thi tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT và kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có thông báo một số chủ trương về các kì thi như sau: 1. Trong kì thi tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT vẫn tiếp tục thi trắc nghiệm 100% đối với các môn Ngoại ngữ, Vật lí, Hoá học, Sinh học; các môn Toán học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí thi tự luận (nếu có quy định môn thi). 2. Trong kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng vẫn tiếp tục thi trắc nghiệm 100% đối với các môn Ngoại ngữ, Vật lí, Hoá học, Sinh học; các môn Toán học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí thi tự luận. Nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cần thiết cho các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh ôn tập kiến thức, nâng cao chất lượng kì thi tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT và kỉ thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội giới thiệu bộ sách “Chuyên đề ôn tập và luyện thỉ” gồm các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Toán học, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Ngoại ngữ (Tiếng Anh). Sách “Chuyên để ôn tập và luyện thỉ Ngữ văn 12” được biên soạn dựa trên tinh thẩn đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của các bài giảng và đáp ứng được trình độ của mọi đối tượng học sinh. Chính vì vậy các em có thể lựa chọn những hướng tiếp cận phù hợp, cách trình bày theo khả năng của mình. Sách được viết theo từng chuyên đề ứng với từng bài của sách giáo khoa Ngữ văn 12. Mỗi chuyên để đều có: Những nét chính về tác giả, tác phẩm Phân tích nội dung chính của tác phẩm Tư liệu tham khảo Các dạng đề và bài làm văn tham khảo. Trong sách này, ngoài việc cung cấp những kiến thức cơ bản về các bài giảng, người biên soạn còn đưa ra các dạng đề khác nhau cùng với những dàn ý chi tiết, những bài viết hoàn chỉnh để học sinh có điều kiện mở rộng và khắc sâu hơn kiến thức cho mình.

Trang 1

KHUAT THE KHOA

CHUYEN DE ON TAP VÀ LUYEN THI

NGU VAN 12,

TAI LIEU ON THI TOT N GHIEP THPT

VÀ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC, CAO DAN G

Trang 2

'1ỒI GIỚI THIỆU

Với yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng kì thi tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT

và kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có thông báo

một số chủ trương về các kì thi như sau:

1 Trong kì thi tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT vẫn tiếp tục thi trắc nghiệm:

100% đối với các môn Ngoại ngữ, Vật lí, Hoá học, Sinh học; các môn Toán học,

Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí thi tự luận (nếu có quy định môn thị)

2 Trong kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng vẫn tiếp tục thi trắc nghiệm 100% đối với các môn Ngoại ngữ, Vật lí, Hoá học, Sinh học; các môn Toán học,

Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí thi tự luận |

Nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cần thiết cho các thầy giáo, cô giáo và

các em học sinh ôn tập kiến thức, nâng cao chất lượng kì thi tốt nghiệp THPT,

bổ túc THPT và kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội giới thiệu bộ sách “Chuyên đề ôn tập và luyện thi” gồm các

môn Ngữ văn, Lịch Sử, Địa lý, Toán học, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Ngoại ngữ

- Sách “Chuyên đề ôn tập và luyện thi Ngữ văn 12” được biên soạn dựa trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức

cơ bản của các bài giảng và đáp ứng được trình độ của mọi đối tượng học sinh

Chính vì vậy các em có thể lựa chọn những hướng tiếp cận phù hợp, cách trình:

bày theo khả năng của mình Sách được viết theo từng chuyên đề ứng với từng bài của sách giáo khoa Ngữ văn 12

Mỗi chuyên đề đều có:

- Những nét chính về tác giả, tác phẩm

- Phân tích nội dung chính của tác phẩm

- Tư liệu tham khảo

- Các dạng đề và bài làm văn tham khảo

Trong sách này, ngoài việc cung cấp những kiến thức cơ bản về các bài

giảng, người biên soạn còn đưa ra các dạng đề khác nhau cùng với những dàn ý chỉ tiết, những bài viết hoàn chỉnh để học sinh có điều kiện mở rộng và khắc sâu hơn kiến thức cho mình.

Trang 3

Sách “Chuyên đề ôn tập và luyện thi Ngữ văn 12” do các thầy, cô giáo có nhiều kinh nghiệm trong việc lên lớp và bồi dưỡng học sinh giỏi biên soạn với mong muốn sách sẽ gắn bó thân thiết với các em học sinh trong quá trình học tập môn Ngữ văn như một người bạn ân cần, sáng suốt và chu đáo

Chúng tôi rất mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các em học sinh, các thầy cô giáo và bạn đọc để sách được hoàn thiện hơn _

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 4

Phan thi nhất VAN HOC VIET NAM TU 1945 DEN 1954

TAC GIA HO Cui MINH

I VAI NÉT VỀ TIỂU SỬ

- Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890, mất ngày 2-9-1969

- Quê hương: xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

- Thuở thiếu thời còn có tên gọi Nguyễn Sinh Cung, đến khi tham gia hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc |

- Cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là bà Hoàng Thị Loan

- Lúc nhỏ, Người học chữ Hán ở nhà, sau đó học tại Trường Quốc học Huế

và đã có thời gian dạy học tại Trường Dục Thanh

- Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước

- Từ năm 1919 đến năm 1945, Người hoạt động cách mạng ở nhiều nước như: Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan

- Ngày 2-9- 1945, Người đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

- Từ tháng 1-1946 đến khi qua đời, Người giữ cương vị là Chủ tịch nước

- Năm 1990, Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp, quốc (UNESCO) đã ghi nhận và suy tôn Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá lớn”

Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại một di sản văn học

vô cùng quý báu

II SỰ NGHIỆP VĂN HỌC

1 Quan điểm sáng tác

- Người coi văn nghệ là một vũ khí chiến đấu lợi hại phục vụ có hiệu qủa cho sự nghiệp cách mạng Nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng góp phần đấu tranh và phát triển xã hội

- Người luôn chú trọng đến fính chân thật và tính dân tộc của văn học Người căn đặn nhà văn phải “miêu tả cho hay, cho chân thật va cho hùng hồn” hiện thực phong phú của đời sống cách mạng và “nên chú ý phát huy cốt cách của dân tộc” và “giữ gìn sự trong sáng củo tiếng Việt” |

Trang 5

- Người luôn chú ý đến đối tượng thưởng thức và tiếp nhận văn nghệ Vì vậy khi cầm bút, Người luôn đặt ra câu hỏi: Viết cho ai? (đối tượng), Viết để làm gi? (muc dich), Viét cdi gi? (ndi dung) và Viế? thế nào? (hình thức) Chính vì vậy những tác phẩm của Người thường có nội dung sâu sắc, nghệ thuật đa dạng

2 Di sản văn học

œ Văn chính luận

- Người viết với mục đích đấu tranh chính trị tấn công trực diện vào kẻ thù, thức tỉnh giác ngộ quần chúng hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng qua các chặng đường lịch sử _

- Những năm đầu của thế ki XX, với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người đã

có những áng văn chính luận sắc sảo in trên các báo: Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền

- Tác phẩm tiêu biểu: | |

+ Bản án chế độ thực dân Pháp (199ð): Nói lên nỗi thống khổ của người dân bản xứ, tố cáo chế độ thực dân Pháp, thức tỉnh người dân nô lệ chống áp bức bóc lột

+ Tuyên ngôn Độc lập: Phản ánh khát vọng độc lập, tự do và cuộc đấu tranh kiên cường của dân tộc Việt Nam cho đến ngày chiến thắng

Ngoài ra, Người còn để lại các tác phẩm như: Lời bêu gọi toàn quốc khúng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập, tự do (1966), Di chúc (1969)

_ 6 Truyén va ki

- Truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc cô đọng, sáng tạo, độc đáo và mang đậm chất hiện đại Tiêu biểu là các tác phẩm như: Pøa-r¡ (1922), Loi than van của bà Trưng Trắc (1922), Vi hanh(1923)

- Ngoài ra, Người còn viết một số tác phẩm như: Nhật bí chim tàu (1981), Giấc ngủ mười năm (1949), Vừa đi đường uừa bể chuyện (1963)

c Tho ca

- Là lĩnh vực nổi bật nhất trong di sản văn học của Người với các tác phẩm tiêu biểu như: Nhật kí trong tù (133 bài), Thơ Hồ Chí Minh (86 bài), Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (36 bài)

- Nhật kí trong tù được sáng tác khi Người bị giam cầm trong nhà lao Tưởng Giới Thạch từ 29 - 08 - 1942 đến 10 - 09 - 1943 |

_= Nhật kí trong tù trước hết là tập thơ có giá trị hiện thực sâu sắc Nhiều bài thơ đã ghi lại một cách chân thực bộ mặt đen tối của chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch cũng như của xã hội Trung Quốc những năm 1942 - - 1948 (Lai Tan, Danh bac, Chau bé trong nha lao Tan Duong )

Trang 6

- Nhật kí trong tù còn là bức chân dung tinh thần tự hoạ của người tù - thi sĩ - chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh:

+ Một tâm hồn luôn yêu thương tha thiết, trân trọng những kiếp người bị đày đoạ đau khổ (Một người tù cờ bạc uừa chết, Người bạn tù thổi sáo, Phu

đường đáp thuyên đi Ủng Ninh, Ngắm trăng, Mới ra tù tập leo núi ) |

+ Một tâm hồn luôn khao khát tự do, một tấm lòng yêu nước mãnh liệt luôn hướng về quê hương đất nước với nỗi nhớ da diết và lo lắng bồn chồn (Không ngủ được, Nhớ bạn, Tức cảnh, Đêm thu )

+ Một tầm nhìn xa trông rộng luôn nướng về tương lai tươi sáng (Trời hung, Nghe tiéng gia gao )

* Giá trị nghệ thuật: Nhật ki trong tù là tập thơ giàu giá trị nghệ thuật, phong cách đa dạng, độc đáo, với nhiều giọng điệu nhiều bút pháp khác nhau Nét phong cách nổi bật trong Nhật kí trong tù là sự kết hợp hài hoà giữa chất

cổ điển và tinh than hiện đại, là sự hoà quyện giữa tâm hồn thi sĩ và tư thế của người chiến sĩ

3 Phong cách nghệ thuật

- Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh độc đáo, đa dạng mà thống nhất có

sự kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống và hiện đại, giữa chính trị và văn chương, giữa tư tưởng và nghệ thuật

+ Văn chính luận: Ngắn gọn, tư duy sắc sảo, lập luận chặt chế, lí lẽ đanh thép, bằng chứng giàu sức thuyết phục, giàu tính chiến đấu, đa dạng về bút pháp

+ Truyện và kí: Mang đậm chất trí tuệ, sáng tạo, hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng vừa sắc bén vừa thâm thuý

+ Thơ ca: Thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh vừa cổ điển vừa hiện đại, có sự hoà hợp độc đáo giữa chất trữ tình và chất “thép”,

giữa sự trong sáng giản dị và sự hàm súc sâu sắc

- Bên cạnh đó còn phải kể đến một số tác phẩm Người viết trong thời kì hoạt động cách mạng bí mật ở chiến khu Việt Bắc (1941 - 1945) và trong thời

kì kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) Những tác phẩm này càng cho thấy một hồn thơ tỉnh tế nhạy cảm trước vẻ đẹp của con người và tạo vật, kết hợp

được chất trữ tình cách mạng với cảm hứng anh hùng của thdi dai (Tin thang

trận, Tặng Bùi Công, Cảnh khuya, Lên núi, )

Trang 7

- Điểm nổi bật trong thơ Bác là hình ảnh nhân vật trữ tình mang nặng

“nỗi nước nhà” nhưng phong thái vẫn ung dung tự tại, tâm hồn luôn hoà hợp với thiên nhiên, thể hiện bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng luôn làm chủ hoàn cảnh với một niềm tin vào tương lai tất thắng của cách mạng dù trên bước đường đó còn nhiều gian nan thử thách

II KẾT LUẬN

Thơ văn Hồ Chí Minh là một di sản tỉnh thần vô giá, là một bộ phận gắn

bó hữu cơ với sự nghiệp cách mạng của Người Văn thơ Hồ Chí Minh có tác dụng to lớn đối với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, hơn thế nó còn có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn học và đời sống tỉnh thần của dân tộc

TUYỂN NGÓN DOC LAD

Hồ Chí Minh

1 HOÀN CẢNH SÁNG TÁC

- Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh Trên khắp cả nước, nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền Ngày 19- 8-1945, chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân

- Ngày 26-8-1945, Hồ Chủ tịch từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Tại số nhà 48 phố Hàng Ngang, Người đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khan sinh ra nước Việt Nam mới

II MỤC DICH SANG TAC

- Ra đời trong một bối cảnh khá phức tạp, Tuyên ngôn Độc lập trước hết

là một lời tuyên bố độc lập của dân tộc Việt Nam

- Tuyên ngôn Độc lập còn là cuộc tranh luận nhằm bác bổ mọi luận điệu xảo trá của kẻ thù trước dư luận thế giới

II BO CỤC TÁC PHẨM: 3 phần

- - Đoạn 1: Từ đầu đến bhông ơi chối cãi được: Nêu nguyên lí chung của bản tuyên ngôn

Trang 8

_¬ Đoạn 2: Từ Thế ma dén phai duoc déc lap: Té cao tội ác của thực dân Pháp và khẳng định thực tế lịch sử, đó là nhân dân ta đã giành được chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

- Doan 3: (phan con lai) Loi Tuyén ngôn Độc lập và ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt Nam

IV PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1 Cơ sở tư tưởng pháp lí của bản Tuyên ngôn

- Bản Tuyên ngôn ra đời trong bối cảnh rất phức tạp Vì vậy Tuyên ngôn Độc lập không chỉ nói với nhân dân Việt Nam mà còn nói với thế giới và tranh đấu với bọn thực dân đế quốc Chính vì lẽ đó mà ngay mở đầu bản Tuyên ngôn tác giả đã trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lộp năm 1776 của nước Mĩ và Tuyên ngôn Nhân quyên uà Dân quyền năm 1791 của Cách mạng Pháp Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam mới

- Việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn của hai cuộc cách mạng lớn ấy có ý nghĩa rất quan trọng về tư tưởng và pháp lí

+ Về mặt tư tưởng:

- Tác giả đã khẳng định quyển độc lập của dân tộc ta một cách khéo léo bằng chính những lời lẽ của tổ tiên họ, cha ông họ Mặt khác, tác giả còn ngầm nhắc nhở họ đừng tự phản bội lại tổ tiên của mình

- Tác giả đã đặt ba cuộc cách mạng, ba bản tuyên ngôn, ba nền độc lập ngang hàng nhau, khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là cuộc đấu tranh chính nghĩa không ai được phủ nhận

Như vậy, bằng cách vận dụng khéo léo, sáng tạo và lập luận chặt chẽ, từ việc nêu ra nguyên lí mang tính phổ quát nguyên lí uê quyên bình đẳng, quyền tự do uà quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc, tác giả đã phát triển thành quyền lợi của dân tộc Việt Nam

+ Về mặt pháp lí:

Đây là cuộc tranh luận nhằm bác bỏ mọi luận điệu xảo trá của kẻ thù xâm lược trước dư luận thế giới, từ đó ngăn chặn dã tâm xâm lược của kẻ thù Tóm lại, với cách vào đề sáng tạo đặc sắc, lập luận chặt chẽ, tác giả đã bước đầu khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam

2 Cơ sở thực tế của bản Tuyên ngôn

Trước những luận điệu xảo trá của kẻ thù, bằng những lập luận chặt chẽ dẫn chứng tiêu biểu xác thực, tác giả đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt và những tội ác tày trời của thực dân Pháp trong hơn 80 năm chúng xâm lược nước ta

Trang 9

- Thực dđn Phâp đê lăm trâi với những gì mă tổ tiín họ đê thừa nhận, chúng lại lợi dụng lâ cờ tự do, bình đẳng, bâc âi để mị dđn vă che giấu những hănh động trới uới nhđn đạo uằ chính nghĩa: _ |

* Về chính trị - Văn hoâ - Giâo dục:

- Chúng không cho dđn ta chút tự do dđn chủ năo, chúng thi hănh những luật phâp dê man, lập ra ba chế độ khâc nhau ở ba miền Trung, Nam, Bắc

- Chúng lập ra nhă tù nhiều hơn trường học , thi hănh chính sâch ngu dđn , dùng rượu cồn vă thuốc phiện lăm cho nòi giống ta suy nhược , chúng tắm câc cuộc khởi nghĩa của ta trong câc bể mâu

- Chúng bóc lột nhđn dđn ta đến tận xương tuỷ khiến dđn ta nghỉo năn,

- Chúng đặt ra hăng trăm thứ thuế vô li , chúng bóc lột công nhđn ta một câch tăn nhẫn

+ Về phía nhđn dđn Việt Nam, tâc giả khẳng định:

- Nhđn dđn Việt Nam đê đứng về phía phe Đồng minh chống phât xít

- Rất khoan hồng với thực dđn Phâp

- Dđn tộc Việt Nam đê giănh chính quyền từ tay phât xít Nhật chứ không phải từ tay Phâp

Từ đó tâc giả đi đến tuyín bố đanh thĩp:

- Ta thoât li han quan hệ với thực dđn Phâp, xóa bỏ mọi hiệp ước trước đđy đê kí kết về Việt Nam, xóa bỏ mọi đặc quyền của Phâp trín đất nước Việt Nam

- Ta lập nín nước Việt Nam Dđn chủ Cộng hoă lă quyền phải có vă đê lă hiện thực

Tâc giả còn đưa ra lời kíu gọi nhđn dđn Việt Nam đoăn kết chống Phâp

vă kíu gọi câc nước trong cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của dđn tộc Việt Nam

3 Lời tuyín ngôn |

_ Dua trĩn nhiing su that lịch sử vă những lập luận chặt chẽ tâc giả đi đến lời Tuyín ngôn Độc lập:

Trang 10

~ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập

- Sự thật là nước Việt Nam đã được tự do, độc lập

- Dân tộc Việt Nam sẽ quyết tâm giữ vững nền tự do, độc lập Ấy

Tuyên ngôn Độc lập còn là một lời tuyên bố, một sự thách thức với các thế lực thù địch dựa trên nền tảng vững chắc là ý chí và lòng quyết tâm sắt đá của toàn thể nhân dân Việt Nam

4 Nghệ thuật

- Ngôn ngữ: trong sáng, ngắn gọn, chan chứa tình cảm

- Lập luận chặt chẽ, lí lẽ giàu sức thuyết phục và mang đậm chất trí tuệ

V TƯ LIỆU THAM KHẢO

“Muốn hiểu và đánh giá đúng các bài văn, bài thơ của Hồ Chí Minh, trước hết cần nắm vững quan điểm sáng tác của người Điều này, nhiều người phân

` tích tác phẩm của Bác chưa chú ý

Đối với Bác, mọi văn bản viết ra đều là những hành vi chính trị trực tiếp

Để những bài viết của mình đạt hiệu quả chính trị cao nhất, khi cầm bút bao giờ Người cũng đặt ra câu hỏi: Viế? cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? và Viết thế nào? Cái trước quyết định cái sau Như thế, việc xác định đối tượng tác động, thuyết phục và mục đích chính trị của văn bản là vấn đề then chốt Không nắm vững điều đó, không thể hiểu chính xác và đầy đủ tác phẩm của Người từ nội dung đến hình thức nghệ thuật

Nắm được quan điểm sáng tác của Người chưa đủ, còn phải hiểu đặc điểm

về mặt thể loại của mỗi tác phẩm của Người nữa Văn chính luận hay văn thẩm mĩ, thơ tuyên truyền hay thơ nghệ thuật, không phân biệt được điều đó,

sự đánh giá không tránh khỏi mơ hồ Ngoài ra còn phải biết được phong cách viết của Bác nữa Nét nổi bật của phong cách văn xuôi của Bác là giản dị, trong sáng, ngắn gọn, xúc tích.( ) Tuyên ngôn Độc lập là một bài văn chính luận thuyết phục người đọc bằng lí lẽ Nếu đánh địch thì cũng đánh bằng lí lẽ Lợi khí của nó là những lí lẽ đanh thép, lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không al chối cãi được Văn chính luận, nếu có dùng những hình ảnh, có gợi đến những tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp lí lẽ thêm thuyết phục mà thôi.”

(Nguyễn Đăng Mạnh)

“Trong lịch sử dân tộc có những văn kiện có tầm vóc lịch sử vĩ đại vừa có giá trị văn học Đó là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh Đại cáo cũng như tuyên ngôn là thể văn chính luận được viết vào thời điểm có sự kiện chính trị trọng đại, nhằm tuyên bố thắng

11

Trang 11

lợi, khẳng định, đề ra những nguyên tắc đảm bảo quyền lợi cho con người, nhân dân, dân tộc Trên thế giới, đã có những bản tuyên ngôn nổi tiếng như

Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền 0ò Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 Tuyên ngôn Độc lập của Việt

Nam ngày 2 - 9 - 1945 không chỉ mở đầu kỉ nguyên độc lập tự do của nước

Việt Nam sau 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và sau hơn một nghìn năm chế độ phong kiến mà còn mở đầu cho sự tan rã của hệ thống thuộc địa trên thế giới

Để hiểu ý nghĩa lịch sử của Tuyên ngôn Độc lập cần ôn lại đôi nét tình hình chính trị lúc ấy Năm 1945, khi quân phát xít sắp thua, quân Đồng minh đang

thắng, nhiều đế quốc nhòm ngó Đông Dương, thuộc địa cũ của Pháp đã mất về tay Nhật Không đếm xỉa đến chủ quyền của Việt Nam, hội nghị Pôx-đam

tháng 7 - 1945 đã quyết định quân đội Anh vào giải giáp quân đội phát xít

Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam Quân đội Tưởng Giới Thạch làm nhiệm vụ này từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc Tướng Đò-gôn tuyên bố sẽ tổ chức Đông Dương

thành liên bang gồm 5 nước tự trị: Lào, Cam-pu-chia, Bắc Kì, Trung Kì, Nam

Kì Tất cả đặt dưới sự lãnh đạo của toàn quyền Pháp Để chống lại âm mưu của

đế quốc, bảo vệ chủ quyền độc lập của nhân dân và đất nước Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta tranh thủ thời cơ Hồng quân

Liên Xô đánh bại phát xít Nhật ngày 15 - 8 - 1945, đã đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Chỉ trong hơn một tuần lễ, chính quyền toàn quốc đã

về tay nhân dân Ngày 2 - 9 - 1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra mắt đồng bào tại Hà Nội; Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước khi quân Anh, quân Tưởng tràn vào Việt Nam

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ khẳng định chủ quyền của Việt Nam mà còn

đánh đòn phủ đầu vào âm mưu tái chiếm Việt Nam của thực dân Pháp và âm mưu can thiệp vào Việt Nam của các đế quốc khác, tranh thủ sự đồng tình rộng

rãi của dư luận quốc tế Tình thế và nhiệm vụ đó quy định nhiệm vụ, lời lẽ của bản Tuyên ngôn Tuyên ngôn do Chủ tịch Hỗ Chí Minh khởi thảo và được tập thể Thường vụ Trung ương Đảng thông qua Hồ Chí Minh cảm thấy sảng khoái

nhất khi được cầm bút viết những lời cáo chung cho chế độ thực dân Pháp và khai sinh chế độ Dân chủ Cộng hoà tại Việt Nam

Bản Tuyên ngôn có 2 phần lớn:

Phần 1: Triệt để phủ nhận quyền dính líu tới Việt Nam của thực dân Pháp

Phần 2: Tuyên bố thành lập chính phủ, khẳng định quyển độc lập, bày tỏ quyết tâm sắt đá bảo vệ quyền độc lập đó |

1.a Một bản Tuyên ngôn Độc lập của thời đại Dân chủ Cộng hoà không thể

xuất phát từ nguyên tắc thay trời hành đạo, quy định của sách trời như tuyên

ngôn thời phong kiến, mà phải xuất phát từ các nguyên tắc mới do chính các

Trang 12

nước tư bản và đế quốc công nhận, đặc biệt là các nước đang thuộc phe Đồng minh Chính vì lẽ đó mà Tuyên ngôn Độc lập mỏ đầu bằng cách trích dẫn hai đoạn từ Tuyên ngôn của nước Mĩ và của Cách mạng Pháp Suy rộng ra rồi khẳng định: Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được

Chỗ đáng nói là Hồ Chí Minh không dừng lại ở nội dung trích dẫn mà suy rộng ra phát triển thêm những điều mà hai bản Tuyên ngôn đó chưa có Các bản Tuyên ngôn ấy tập trung nói đến quyền con người, quyền người dân mà chưa nói đến quyền độc lập của dân tộc Và đây mới là thời điểm then chết với vận mệnh của nước ta Các nước tư bản đế quốc cho đến đầu thế kỉ XX vẫn chưa hề có tuyên bố về việc tôn trọng quyền độc lập dân tộc, chủ quyền của dân tộc Kể cả Tuyên bố Pháp lệnh hoà bình của Ngơ năm 1917 hay Hiến chương Liên hợp quốc 1945 Vậy Tuyên ngôn Độc lộp đã nêu quyền độc lập,

tự do của dân tộc như một lẽ phải trong quan hệ quốc tế để khẳng định quyền độc lập của một dân tộc thuộc địa, chưa được các nước lớn thừa nhận

Câu Đó lờ một lẽ phải không ai có thể chốt cãi được, cho thấy đó chưa phải là lẽ phải được các nước công nhận Phải trải qua chiến đấu hi sinh lẽ phải ấy mới được công nhận

Việc dẫn hai bản tuyên ngôn của nước Mĩ và Cách mạng Pháp có tác dụng thể hiện sự tôn trọng thành quả văn hoá nhân loại, vừa có tác dụng chiến đấu, khiến các cường quốc không dễ nuốt lời, chối bỏ quyền độc lập chính đáng của nhân dân Việt Nam

1b Sau khi nêu lẽ phải không thể chối cãi, Hồ Chí Minh lập tức tố cáo tội

ác của thực dân Pháp: bất chấp lẽ phải, lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng, bác ái

để nô dịch nhân dân ta trong hơn 80 năm Tác giả vạch ra ð tội ác về chính trị, 4 tội ác về kinh tế của chúng

Quan trọng hơn, Tuyên ngôn vạch ra bộ mặt phản bội của thực dân Pháp trong việc đầu hàng Nhật “năm năm bán nước ta hai lần cho Nhật”

Trên thực tế, thực dân Pháp đã từ bỏ quyền lợi của họ, từ chối chiến đấu cùng Việt Minh để bảo vệ quyền lợi cho họ Thực tế là Pháp không còn chủ quyền nào ở Việt Nam từ sau ngày Nhật đảo chính 9 - 3 - 1945 Trong điều

kiện đó, Việt Minh là chủ nhân duy nhất, là đoàn thể đã đánh Nhật và giúp

13

Trang 13

mối quan hệ Pháp - Việt trong ð năm Chiến tranh thế giới thứ hai Mà nguyên tắc quan hệ quốc tế là dựa vào sự thật lịch sử

Cuối cùng, tác giả khẳng định thực tế của nền độc lập của Việt Nam hiện tại “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị cộng hoà”

Câu 1 xác nhận sự hết thời của các lực lượng thực dân, phát xít và phong kiến Câu 2 khẳng định nền độc lập Câu 3 khẳng định chính thể mới

2 Tuyên bố độc lập của nước Việt Nam mới

a Điều quan trọng, dễ bị hiểu lầm nhất là quan hệ với Pháp:

Có người nghĩ đơn giản: Việt Nam vốn là thuộc địa của Pháp, bị phát xít Nhật chiếm Nay Nhật hàng thì Pháp sẽ trở lại Việt Nam Chính lúc

đó tướng Đờ-gôn - người giải phóng nước Pháp tuyên bố: Chúng ta sẽ trở lại Đông Dương vi chung ta mạnh hơn Hà Nội là chặng đường giải phóng cuối cùng

Do đó, điều tuyên bố quan trọng nhất là tuyên bố với Pháp, tuyên bố độc lập và mối quan hệ với thực dân Pháp: Thoát li hắn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ tất cả, xoá bỏ hết những đặc quyền đặc lợi của Pháp trên đất nước Việt Nam; quyết chống lại âm mưu của thực dân Pháp

b Tiếp theo là buộc các nước Đồng minh công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam với hai lí do: họ đã công nhận quyền bình đẳng các dân tộc thì không thể không công nhận quyền độc lập của Việt Nam Hai là một dân tộc đã đứng về phe Đồng minh chống phát xít thì dân tộc đó nhất định

Cho dén day, Tuyén ngôn Độc lập đã dùng lẽ phải và sự thật trong thực tế

để khẳng định quyền độc lập của Việt Nam |

Lời tuyên bố trịnh trọng cuối cùng với thế giới là lời khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập của mình Nó có vị trí như một lời thể

Như vậy là, bằng lí lẽ, sự thật, bằng chính nghĩa, ý chí và lòng quyết tâm, Tuyên ngôn đã khẳng định quyền hưởng tự do độc lập và thực tế độc lập của chúng ta

Bài văn rất ngắn gọn Nó không bắt đầu từ “Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nên độc lập” mà bắt đầu từ việc thực dân Pháp chà đạp quyền độc lập của nhân dân ta Bởi vì độc lập ở đây là độc lập thoát khỏi ách thực dân của Pháp Lập luận nhất quán và sắc bén Trước sau chỉ xoáy vào một vấn để là quyền độc lập tự do của nước Việt Nam

Tuyên ngôn sử dụng trích dẫn trong các bản Tuyên ngôn nổi tiếng của nước Mĩ và Cách mạng Pháp cũng như nguyên tắc dân tộc bình đẳng của các.nước Đồng minh làm cho họ không thể chối từ quyền độc lập của nhân dân Việt Nam

Trang 14

Tuyên ngôn viện dẫn thực tế, bác bỏ quyền trở lại của Pháp

Ngôn ngữ xúc tích, chính xác, giàu sức biểu cảm Nói về Pháp, tác giả

dùng các từ tố cáo mỉa mai: chúng tuyệt đốt không cho nhân dân ta một chút

tự do dân chủ nào Câu: Bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta

rước Nhật, biểu lộ tư thế đê hèn của Pháp Thế là chẳng những chúng không

“bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật

Chữ bảo hộ đầy châm biếm Bán nước ta hơi lần vạch rõ bộ mặt xấu xa của chúng ”

(Trần Đình Sử)

DE VÀ BÀI LÀM VĂN THAM KHẢO

* Đề 1: Anh (chi) hay phan tich tac Pham Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ

Chí Minh -

Bài làm

Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực, một văn kiện

chính trị lớn, là kết quả của cuộc đấu tranh gần một trăm năm chống lại chế

độ thực dân và phát xít “là kết quả của bao nhiêu hi vọng gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam” (Trần Dân Tiên) Được ra đời ngay sau sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là lời tuyên ngôn về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam mà

đó còn là cuộc đấu tranh về chính trị nhằm đập tan những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch Hơn thế, Tuyên ngôn Độc lập còn được Người viết rất công phu, cảm động, sâu sắc và rất tiêu biểu cho phong cách văn chính luận

nói riêng, phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh nói chung Tuyên ngôn Độc lập

đã mở ra một trang sử mới, một kỉ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỉ

thuộc địa của Pháp”; còn phía Bắc được sự hậu thuẫn của Mĩ, bọn Tàu Tưởng cũng đang lăm le ở biên giới Chính vì vậy đối tượng mà Tuyên Ngôn hướng đến lúc này không chỉ là nhân dân Việt Nam mà còn là nhân dân thế giới và đặc biệt là các thế lực thù địch như thực dân Pháp, đế quốc Mĩ

Để bác bỏ những luận điệu xảo trá và âm mưu đen tối của kẻ tha, | ngay

mở đầu ban Tuyên ngôn Độc lập tác giả đã trích dẫn nội dung của hai bản tuyên ngôn của hai cường quốc lớn đó là Mĩ và Pháp:

15

Trang 15

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ đã khang định: “7? cả mọi người déu sinh ra có quyên bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyên không di có thể xâm phạm được; trong những quyên ấy có quyên được sống, quyền tự do va quyên mưu cầu hạnh phúc"

Bản Tuyên ngôn Nhân quyên uà Dân quyền của Cách mạng Pháp năm

1791 cũng khẳng định: “Người ta sinh ra tự do uò bình đẳng uề quyền Idi, va

phải luôn được tự do uò bình đẳng uê quyền loi”

Đó là những chân lí không ai có thể chối cãi được Viêc trích dẫn này

không chỉ nhằm để cao những giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân đạo, của văn minh nhân loại mà còn nêu ra nguyên lí về quyền bình đẳng, quyền tự do

và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc Lấy chính những lời lẽ đúng đắn, tiến bộ của tổ tiên người Mi và Pháp ghi trong hai bản Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Nhân quyền uà Dân quyền là một cách làm hết sức khéo léo để đập lại chúng (gậy ông đập lưng ông) Mặt khác, việc trích dẫn

còn có ý nghĩa quan trọng về mặt tư tưởng và pháp lí bởi đây còn là cuộc tranh luận nhằm bác bỏ luận điệu của kể thù trước dư luận thế giới, từ đó _ ngăn chặn dã tâm xâm lược của chúng

Với cách vào đề rất khéo léo, sáng tạo, tác giả đã thể hiện sự trân trọng đối với những lời lẽ bất hủ của tổ tiên họ và cũng ngầm nhắc-nhở họ đừng tự chà đạp, phản bội lại những tư tưởng cao đẹp mà tổ tiên họ đã thừa nhận Hơn thế khi nhắc đến hai bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp ngay trong phần mở đầu của bản Tuyên ngôn Độc lập tức là tác giả đã đặt ba bản Tuyên ngôn ngang nhau,

ba cuộc cách mạng, ba nền độc lập ngang nhau Đây là điều hoàn toàn xứng đáng bởi cuộc cách mạng của dân tộc Việt Nam đã giải quyết cùng một lúc hai

nhiệm vụ trong hai cuộc cách mạng của Mĩ và Pháp đó là “đánh đổ các xiêng

xích thực dân uà chế độ quân chủ để lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà”

Như vậy, bằng cách vận dụng khéo léo, sáng tạo và lập luận chặt chẽ, từ việc nêu ra nguyên lí mang tính phổ quát, nguyên lí uê quyên bình đẳng, quyên tự do uà quyên mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc tác giả

đã suy rộng ra, phát triển thành quyền lợi của dân tộc Việt Nam và bước đầu

khẳng định quyển độc lập tự do của dân tộc Việt Nam Đây cũng là “phát

súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các nước thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX",

Tuy nhiền trong lúc này kẻ thù trực tiếp của chúng ta là thực dân Pháp, chúng không ngừng tung ra những luận điệu về công lao khai hoá, bảo hộ của chúng Chính vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập bằng những lập luận chặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, tác giả đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt và những tội

ác tày trời của thực dân Pháp trong hơn 80 năm chúng xâm lược nước ta -Bản Tuyên ngôn chỉ ra rằng thực dân Pháp đã đi ngược lại với những gì

mà tổ tiên họ đã thừa nhận và cho là đúng đắn, tiến bộ, chúng luôn khoe

Trang 16

khoang rằng chúng đến để bảo hộ, khai hoá, đem lại cho đất nuéc ta, déng bao

ta ánh sáng của văn minh, khoa học nhưng thực tế chúng đã đẩy hàng triệu đồng bào ta vào cảnh khốn cùng, đói rét chết chóc, dốt nát bệnh tật, chính bọn chúng đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để mị dân và che giấu những hành động frát uớt nhân đạo uà chính nghĩa |

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta chút tu do dân chủ nào Chúng thi hành những luật pháp dã man, lập ra ba chế độ khác nhau ở

ba miền để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc

ta đoàn kết, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu

Về lĩnh vực văn hoá giáo dục thì chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, chúng thi hành chính sách ngu dân, chúng dùng thuốc phiện và rượu cồn

để làm cho nòi giống ta suy nhược

Về kinh tế, chúng đã bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều, chúng cướp không hầm mỏ, ruộng đất, đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí khiến cho dân ta trở nên bần cùng kiệt quệ Đó chẳng phải là “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn” sao?! Như vậy trên tất cả các lĩnh vực, từ văn hoá giáo dục đến kinh tế chính trị và cả quân sự ngoại giao, thực dân Pháp đã tìm đủ “muôn nghìn kế” để thẳng tay đàn áp, bóc lột nhân dân ta đó là những việc làm “dối trời, lừa dân” chứ đâu phải là nhân đạo, chính nghĩa

Không chỉ dừng lại ở đó, tội ác của thực dân Pháp càng chồng chất khi - chúng phản bội Đồng minh, thẳng tay đàn áp phong trào Việt Minh và hơn thế chúng luôn rêu rao là nước “bảo hộ” cho Đông Dương Nhưng thực tế đã chứng minh khi phát xít Nhật vào Đông Dương để mở rộng căn cứ đánh Đồng minh thì Pháp đã quỳ gối dâng nước ta cho Nhật khiến dân ta phải chịu cảnh

“một cổ hai tròng” và đặc biệt là thảm hoạ mùa xuân năm 1945 hơn hai triệu đồng bào ta từ Quảng Trị đến Bắc Kì bị chết đói Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp nắm hoàn toàn chính quyền thì một lần nữa luận điệu

về công lao bảo hộ của thực dân Pháp lại bị bác bỏ, bộ mặt thật của chúng đã được vạch trần Từng câu từng chữ như chất chứa sự hờn căm khôn tả, như lời kết án đanh thép, những mõi tên bắn thẳng vào kẻ thù xâm lược

Bản Tuyên ngôn khẳng định: “Trong 5 nam, ching bán nước ta hai lần cho Nhật”, “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phỏi thuộc địa của Pháp nữa”, “Sự that là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ bhông phỏi từ tay Pháp

Về phía nhân dân Việt Nam, bản Tuyên ngôn cũng khẳng định nhân dân Việt Nam đã đứng về phe Đồng minh chống phát xít “mấy năm nay” và đã có những chính sách rất khoan hồng với thực dân Pháp khi chúng tháo chạy

“cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật uà bảo uệ tính mạng uò tài san cho họ” Chính vì lẽ đó, tác giả bản Tuyên ngôn đã tuyên bố “Toœ thoát li

17

Trang 17

khỏi thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã bí vé nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.”

Tác giả còn khẳng định quyết tâm đoàn kết chống Pháp của nhân dân Việt Nam “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” và kêu gọi các nước trong cộng đồng quốc tế công

nhận quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng mình đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng uà Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập

của dan Việt Nam”

Có thể thấy, với những dẫn chứng tiêu biểu xác thực, lập luận chặt chẽ

đầy sức thuyết phục tác giả không những vạch trần âm mưu đen tối của thực

dân Pháp mà còn khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam là quyền phải có và sự thật là “Dân ta đã đánh đổ các xiêng xích thực dân gần

100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế

độ quân chủ mấy mươi thế bì mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà”

Bằng sự đấu tranh kiên cường bất khuất trong suốt chiều dài lịch sử “Từ Triệu, Định, Lí, Trần bao đời gêy nền độc lập” cho đến ngày hôm nay dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã giành được tự do, độc lập Tuyên ngôn Độc lập với những câu văn vừa hào hùng, vừa đanh thép đã khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng uê phe Đồng mình chống phát xít mấy năm nay dân tộc

đó phải được tự do! Dân tộc đó phúi được độc lập” và “sự thật đã thành một

nước tự do, độc lập” Bản Tuyên ngôn khép lại với lời khẳng định đanh thép

“Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cỏ tỉnh thần uà lực lượng, tính mang va cua cải để giữ uững quyền tự do, độc lập ấy” Lời khẳng định còn là một lời tuyên bố, một sự thách thức với các thế lực thù địch dựa trên nền tầng

ý chí và lòng quyết tâm sắt đá của toàn thể nhân dân Việt Nam

Lịch sử đã sang một trang mới nhưng những giá trị cơ bản của Tuyên

ngôn Độc lộp thì vẫn còn mãi với thời gian Tuyên ngôn Độc lập trước hết là

một văn kiện lịch sử có giá trị to lớn Tuyên ngôn không chỉ tuyên bố về quyền độc lập, tự do của dân tộc mà còn khép lại một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại, mở ra một trang sử mới của độc lập, tự do và cũng là mở đầu một thời kì mới, thời kì đấu tranh giữ vững chủ quyền dân tộc Tuyên ngôn còn có giá trị lớn lao về mặt pháp lí Đó là một bản luận tội đanh thép những tội ác của chủ nghĩa thực dân và khẳng định tính đúng đắn phù hợp với “nhân đạo và chính nghĩa” của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945

Tuyên ngôn Độc lập còn xứng đáng là áng văn chính luận mẫu mực với hệ

.- thống lập luận chặt chẽ đầy sức thuyết phục và lôi cuốn người đọc bởi một

giọng văn hào hùng, ngôn ngữ ngắn gọn, chan chứa tình cảm

Trang 18

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là một văn kiện lịch sử có giá trị mà đó còn

là một áng văn chính luận mẫu mực với ngôn ngữ hùng hồn, lập luận chặt chẽ tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến hàng trăm năm ở nước ta, mở

ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của độc lập, tự do Qua đó ta còn cảm nhận

được tấm lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự hào dân tộc và khát vọng độc lập,

tự do cháy bỏng của Bác - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc

* ĐỀ 3: Mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh uiết:

“Hoi dong bdo ca nic,

“Tất cả mọi người sinh ra đêu có quyên bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyên không ơi có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyên được sống, quyền tự do va quyền mưu cầu hạnh phúc” : Loi bat hủ ấy ở trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776 của nước Mĩ Suy rộng raơ, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra

đêu bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyên sống, quuyên sung sướng uò quyền tự do

Bản “Tuyên ngôn Nhân quyền uò Dân quyên” của Cách mang Pháp năm

1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do uà bình đẳng uê quyền lợi, uà phải luôn luôn được tự do uò bình dang vé quyén loi”

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”

Anh (ch hãy phân tích giá trị nối bật của đoạn uăn trên ở hơi phương điện nột dung tư tưởng uà nghệ thuật lập luận

I Mở bài

- Giới thiệu về hoàn cảnh ra đời của Tuyên ngôn Độc lập:

+ Ngày 19 tháng 8 năm 1945 chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân + Ngày 26 tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ tịch rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Tại số nhà 48 phố Hàng Ngang, Người đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập Ngày 2 - 9 - 1945 trước hàng vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai

sinh ra nước Việt Nam mới

- Đoạn mở đầu Tuyên ngôn Độc lập: “Hõi đồng bào cả nước ( ) không ai chối cãi được”, bằng những lập luận chặt chẽ đầy sức sáng tạo, tác giả đã nêu

ra nguyên lí mang tính phổ quát - nguyên lí uê quyên bình đẳng, quyên tự do

va quyên mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc từ đó đã phát triển thành quyền lợi của dân tộc Việt Nam

19

Trang 19

‘TI Than bai

- Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực, một văn kiện

chính trị lớn, là kết quả của cuộc đấu tranh gần 100 năm chống lại chế độ thực dân và phát xít lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

- Tuyên ngôn Độc lập còn là cuộc đấu tranh chính trị nhằm bác bỏ những

âm mưu đen tối của kẻ thù với những lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục

- Việc trích dẫn thể hiện tài năng lập luận bậc thầy của tác giả đồng thời còn có ý nghĩa quan trọng về nội dung tư tưởng, cơ sở pháp lí:

+ Khẳng định nguyên lí vĩnh cửu về quyền của con người dựa trên những lời lẽ đúng đắn, tiến bộ và đã được thừa nhận trong hai bản tuyên ngôn của

hai nước lớn mà hiện tại họ đang dính líu đến vấn đề ở Việt Nam, đó là Pháp

và MI

+ Tác giả không chỉ thể hiện sự trân trọng đối với những lời lẽ bất hủ ấy

mà còn khẳng định quyền độc lập của dân tộc ta một cách khéo léo bằng chính những lời lẽ của tổ tiên họ, cha ông họ Mặt khác, tác giả còn ngầm nhắc nhở `

họ đừng tự phản bội lại tổ tiên mình

+ Tác giả đã đặt ba cuộc cách mạng, ba bản tuyên ngôn, ba nền độc lập ngang hàng nhau, khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là cuộc đấu tranh chính nghĩa không ai được phủ nhận

+ Tạo tiền đề cho những lập luận sau này của tác giả khi tố cáo những tội

ác của thực dân Pháp, đồng thời khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam Đây chính là chiến thuật “ety ¢ ông đập lưng ông” của tác giả

III Kết luận

- Tuyên ngôn Độc lập là một âng văn chính luận mẫu mực, nội dung tư

tưởng sâu sắc, lập luận chặt chẽ, sáng tạo, lời lẽ đanh thép và có sức thuyết

phục cao

- Tuyên ngôn Độc lập còn thể hiện tình cảm yêu nước mãnh liệt của tác giả

* ĐỀ 3: Hãy phân tích “phần tuyên ngôn” trong “Tuyên ngôn Độc lập” của

Hồ Chí Minh “Pháp chạy, Nhật hàng để giữ uững quyên độc lập tự do ấy” để

-_ làm rõ: - Ý nghĩa sâu sắc của “phân tuyên ngôn”

- hập luận chặt chẽ, giọng uăn hào hùng đầy sức thuyết phục

Dàn bài

I MG bai

Tuyên ngôn Độc lập va đời trong một bối cảnh khá phức tạp Vì vậy, Tuyên ngôn không chỉ nói với nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên thế giới mà còn là cuộc đấu tranh chính tr]

Trang 20

Tuyên ngôn Độc lập gồm ba phần có liên quan mật thiết với nhau, trong

đó “phần tuyên ngôn” với những lập luận chặt chẽ, giọng văn hùng biện đầy sức thuyết phục có một ý nghĩa vô cùng sâu sắc

II Than bai

- Su ra đời của Tuyên ngôn Độc lập có ý nghĩa lịch sử rất sâu sắc và phù

hợp với sự phát triển của nhân loại bởi cùng một lúc cuộc Cách mạng tháng

Tam nam 1945 của dân tộc Việt Nam đã giải quyết hai nhiệm vụ quan trọng: độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân |

- Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bền bi

của dân tộc Việt Nam gần 100 năm đánh đổ các xiểng xích thực dân để xây

dựng nước Việt Nam độc lập và đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi năm để

lập nên chế độ cộng hoà và mở ra một trang sử mới cho dân tộc, trang su cua nền độc lập, tự do

- Lời tuyên ngôn dứt khoát, ngắn gọn nhưng chặt chẽ: tuyên bố thoát li

hẳn và xoá bỏ hết mọi hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất

cả mọi đặc quyền dân tộc Việt Nam

- Lời tuyên ngôn còn được xây dựng dựa trên những lập luận chặt chẽ và giọng văn hùng biện giàu sức thuyết phục: `

+ Trước hết đó là lời khẳng định về tình thế lịch sử trong một câu văn

ngắn gọn, súc tích “Pháp chạy, Nhật hòng, uud 1 Bao Dai thoái vi’ Đó là sự thật lịch sử

+ Tiếp đó là hàng loạt những tuyên bố với lời lẽ đanh thép và dứt khoát: cắt đứt mọi quan hệ với Pháp trên tất cả các phương diện (hiệp ước kí về Việt Nam, đặc quyền của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam)

_+ Tiếp sau là lời kêu gọi các nước trong cộng đồng thế giới công nhận

quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam “quyết không thể không cong nhận quyền độc lập của dân Việt Nam

+ Cuối cùng là lời khẳng định mạnh mẽ về quyền hưởng tự do, độc lập

“dan tộc đó phỏi được tự do phải được độc lập

Trang 21

TAY TIEN

Quang Ding

I VE TAC GIA

- Quang Dũng (1921 - 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm

- Quê quán: làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, Hà Nội

— - Ông học hết bậc Trung học ở Hà Nội Đầu năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến Đến cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác

Từ sau năm 1954, ông là biên tập viên Nhà xuất bản Văn học

- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc

- Ông là một hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa, đặc biệt là khi ông viết về những người lính Tây Tiến và quê hương xứ Đoài của mình

- Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

- Tác phẩm chính: Mây đầu 6 (thơ, 1986), Thơ uăn Quang Dũng (tuyển thơ văn, 1988)

II ĐÔI NÉT VỀ ĐOÀN QUÂN TÂY TIẾN

- Tây Tiến là đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt - Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và ở miền Tây Bắc Bộ nước ta

- Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, miền Tây Thanh Hoá và cả Sầm Nưa (Lào)

- Chiến sĩ Tây Tiến chủ yếu là thanh niên Hà Nội trong đó có cả học sinh, sinh viên, chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn, khó khăn khắc nghiệt Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu dũng cảm |

- Đoàn quân Tây Tiến sau thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hoà Bình thành lập Trung đoàn 52

I TAC PHAM TAY TIEN

1 Hoàn cảnh ra đời

Đầu năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến Đến c cuối năm

1948, ông chuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị cũ chưa được bao lâu Quang Dũng nhớ về đoàn quân Tây Tiến với những kỉ niệm khó quên, ông đã viết Tây Tiến khi đang ngồi tại Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội) Ban đầu tác phẩm với tên Nhớ Tây Tiến, khi in lại, tác giả đặt tên bài thơ là Táy Tiến

Trang 22

9 Phân tích tác phẩm >

ơ Một tiếng gọi thân thương, trìu mến

Sông Mã xa rồi Tây Tiến oi!

Nhé vé ritng nui nhé choi voi Nỗi nhớ da diết bao trùm cả không gian và thời gian: nhớ Tây Bắc, nhớ những con người Tây Bắc và nhớ những người lính Tây Tiến Nỗi nhớ ấy giờ

đã trở thành những kỉ niệm không thể phai mờ trong tâm trí nhà thơ và hiện

tại nó đang như một thước phim quay chậm cứ hiện dần về trong tâm trí để đưa ông trở về với quá khứ Nhớ “chơi vơi” vừa là một nỗi nhớ trải rộng tới nhiều đối tượng trong kí ức, vừa có tác dụng hình tượng hoá nỗi nhớ, vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ để rổi bật lên thành tiếng gọi đầy thân thương

và triu mến “xa rồi Tây Tiến ơ?”

b Bức tranh uê núi rừng Tây Bắc

+ Một thiên nhiên đữ đội và nguy hiểm:

- Vùng đất miền Tây ấy chính là địa bàn hoạt động của những người lính Tây Tiến, một vùng đất mà lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, núi cao, sông sâu, rừng rậm và có nhiều thú dữ, vì thế mà những người lính Tây Tiến tử vong vì ốm đau bệnh tật sốt rét nhiều hơn là vì đánh trận |

- Sự xuất hiện của hàng loạt các địa danh với những cái tên rất lạ như sông Mã, Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch đã đưa người đọc đến với một không gian núi rừng xa xôi, lạ lẫm:

Sài Khao sương lấp đoàn quân moi Mường Lát hog uề trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút côn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nha ai Pha Luéng mua xa khoi

- Ta bat gap 6 day hinh anh một đoàn quân mỏi mệt đang bị sương núi

mờ mịt lạnh lùng làm khuất lấp thì ngay sau đó lại xuất hiện “hoa vé trong đêm hơi” đã phần nào làm tan biến đi sự mệt mỏi của những người lính sau chặng đường hành quân cực nhọc

- Tiếp đó là một khung cảnh núi rừng được tái hiện bằng những ngôn từ táo bạo đầy giá trị tạo hình và những hình ảnh đặc tả sự hoang vu, heo hút,

dữ đội và nguy hiểm: đèo cao, sương lấp, đốc khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút

và đặc biệt là hình ảnh cực tả độ cao của đèo dốc “súng ngửi trời “Súng ngửi

trời” một hình ảnh vừa táo bạo, vừa ngộ nghĩnh lại mang những nét tỉnh

nghịch của người lính, đó cũng là một cách miêu tả rất riêng trong ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng

23

Trang 23

- Đặc biệt câu thơ “Ngèn thước lên cao, ngàn thước xuống” như bị bẻ gập

đôi diễn tả độ cao gần như thắng đứng của dốc núi, nhìn lên thì cao chót vót đến chóng mặt mà nhìn xuống thì sâu hun hút làm cho người đọc “như đang

được thể nghiệm một trò chơi bập bênh chóng mặt” Nhưng câu thơ ngay sau

đó lại được tác giả vẽ bằng một nét vẽ mềm mại, uyễn chuyển toàn thanh bằng “Nhờ ơi Pha Luông mưa xa khơi” như để lấy lại “thăng bằng” cho bài thơ

và cân bằng lại cảm xúc cho người đọc Từ trên đỉnh núi cao, người lính tạm

dừng chân hướng cái nhìn về phía xa xa thấy những nếp nhà ấn hiện thấp thoáng sau một màn mưa mênh mang và những làn sương mờ mịt

- Thiên nhiên hoang vu, đữ dội ấy đang ẩn chứa đầy sự nguy hiểm đang

rình rập con người, đặc biệt là những người lính Tây Tiến, còn được tác giả

khám phá ở chiều thời gian:

Chiêu chiêu odi linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Tiếng thác gầm thét, hổ dữ rình rập cùng với bóng đêm của rừng đại ngàn

như đang phối hợp với nhau tạo nên mối đe doạ khủng khiếp đối với những

người lính Theo nhà thơ Trần Lê Văn thì câu thơ “Đêm đêm Mường Hich cop trêu người” có “Hai chữ có dấu nặng đi với nhau nghe nặng như tiếng chân cọp Có điều kì lạ là nếu ta thay hai chữ “Mường Hịch” bằng hai chữ khác

như Châu Thuận chẳng hạn ( ) thì hiệu lực câu thơ giảm sút ngay” Đó quả

là một nhận xét rất tinh tế! Tuy nhiên sự nguy hiểm lại được tác giả diễn tả

bằng cách nói ngộ nghĩnh “cop trêu người” khiến cho câu thơ trở nên nhẹ ténh đúng với chất lính

+ Một thiên nhiên thơ mộng, mi lệ:

- Hình ảnh núi rừng Tây Bắc dữ dội, nguy hiểm được thay thế bằng một

hình ảnh núi rừng thơ mộng, mĩ lệ với những nét vẽ tỉnh tế mềm mại:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi | Những ấn tượng về Tây Tiến, về vùng đất Mai Châu đầy tình nghĩa được bật lên thành những vần thơ chất chứa đầy nỗi nhớ Có lẽ những người lính

Tây Tiến sau những chặng đường dài hành quân đầy gian nan, sau những tháng ngày phải chống chọi với đói rét, bênh tật thì giờ đây họ mới có được phút giây nghỉ ngơi, quây quần bên những nổi cơm dẻo thơm nghỉ ngút khói

- Tiếp đó là những hình ảnh được miêu tả bằng những chỉ tiết rất thực

mà cũng rất ảo:

Doanh trại bừng lên hột đuốc hoa

Kia em xiém do tu bao gid

Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc uề Viên Chăn xây hồn thơ

Trang 24

Tất cả cảnh vật cũng như con người đều “bừng lên” trong đêm sinh hoạt lửa trại vừa như thực vừa như ảo, trong ánh lửa bập bùng tất cả như đang bốc men say, mê đi trong những tiếng khèn réo rắt, những điệu múa và cả những dáng hình vũ nữ Sự xuất hiện bất ngờ của những thiếu nữ nơi núi rừng với những bộ xiêm áo lộng lẫy và dáng vẻ e ấp, tình tứ trong những “man điệu”

khiến cho những người lính không khỏi ngạc nhiên ngỡ ngàng, thích thú

- Và rồi hồn thơ tình tế của tác giả lại đưa người đọc đến với một cuộc tiễn biệt trong “chiều sương” vừa mênh mang, vừa mờ ảo:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhó dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Đó là không gian của một buổi chiều sương trên dòng sông lặng ngắt như tờ

xuất hiện dáng hình một người con gai uyén chuyển trên chiếc thuyền độc mộc

và những bông hoa như cũng đang “đong đưa” khiến cho cảnh vật như có hồn

Tóm lại, có thể nói thiên nhiên Tây Bắc hiện lên không chỉ mang vẻ dữ

dội, hiểm nguy mà còn mang vẻ đẹp của một thế giới cổ tích, vừa thơ mộng, vừa huyền ảo

c Hình ảnh uê những người lính Tôy Tiến

- Thơ ca thời kì kháng chiến đã có không ít các nhà thơ viết về người lính nhất là khi nói về những khó khăn gian khổ mà họ phải trải qua đặc biệt là

những cơn sốt rét rừng quái ác Nhà thơ Chính Hữu trong bài Đồng chí đã

miêu tả rất rõ điều đó: “Anh uới tôi biết từng cơn ớn lạnh; Sốt run người uầng

trán đẫm mồ hôi”, còn trong Cá nước, Tố Hữu cũng không quên điều đó khi

viết về những anh lính Vệ quốc: “Giọt giọt mô hôi rơi; Trên mú anh uàng

nghệ” Với Quang Dũng, nhà thơ cũng không hề che giấu điều đó mà ngược lại

ông còn miêu tả rất thực thậm chí ngay cả nói đến những sự mất mát hi sinh

nhưng lại bằng một cái nhìn mang đậm màu sắc lãng mạn

Bằng những chỉ tiết chọn lọc tiêu biểu, Quang Dũng đã xây dựng thành công hình tượng những người lính Tây Tiến với vẻ đẹp bì tráng chứ không hề bi luy °

Tây Tiến đoàn bình khéng moc tóc Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

- Hình ảnh những cái đầu “không mọc tóc” ấy có thể sẽ khiến cho độc giả ngỡ ngàng hay cho đó là một sự miêu tả thái quá của nhà thơ Thực ra đó không phải là sản phẩm do nhà thơ tưởng tượng mà đó là sự thật và với những người lính Tây Tiến đó đâu phải là chuyện lạ bởi trong số họ có người thi.cao troc giống những anh Vệ quốc để khi đánh giáp lá cà với giặc cho thuận tiện, có người do bệnh sốt rét rừng hành hạ không có thuốc chữa khiến

25

Trang 25

cho tóc rụng hết Nhưng qua cách nói mang đậm chất lính của nhà thơ, ta có cảm giác như tóc “không thèm mọc” vậy Đâu chỉ có vậy, cái dáng vẻ bề ngoài của người lính Tây Tiến cũng xanh xao “quân xanh mờu lđ” vì đói, vì sốt rét rừng nhưng dưới con mắt của nhà thơ họ vẫn hiện lên với một dáng vẻ oal phong, dữ dội của chúa sơn lâm “dif oai hum” Dáng vẻ ấy như làm khuất lấp

đi cái đói, rét và ốm đau bệnh tật của những người lính

- Những người lính Tây Tiến hầu hết họ đều là những chàng trai gốc Hà Nội Họ ra di vi li tưởng cao đẹp, vì tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc Họ mang trong mình dòng máu hào hùng của những chàng trai đất Hà thành

“quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Vì thế họ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng:

“Chiến trường di chang tiếc đời xanh” cho dù họ luôn chứng kiến cảnh những nấm mồ của đồng đội nằm lạnh léo “rdi rác biên cương” trên suốt chặng đường hành quân

- Bên trong những người lính ấy còn mang dòng máu lãng mạn của những chàng trai hào hoa đất Hà thành Vì vậy trái tìm trẻ trung của họ vẫn khao khát yêu thương Họ vẫn “gửi mộng qua biên giới”, vẫn mơ về Hà Nội với những dáng kiều thơm “Đêm mơ Hà Nội dáng hiểu thom” Phải chang ho ra di

để cho một Hà Nội thanh bình và cho cả những “dáng biều thom” ay?!

- Khi nói về sự mất mát, hi sinh của những người lính Tây Tiến qua cách miêu tả của Quang Dũng, những mất mát hi sinh ấy không hề bi thương mà ngược lại rất hào hùng, bi tráng:

Áo bào thuy chiếu anh uê đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

“Mot sự thật nghiệt ngã: người lính Tây Tiến nằm xuống không một manh chiếu che thân và thậm chí đồng đội cũng không kịp nói lời tiễn biệt nhưng qua cái nhìn của Quang Dũng, họ lại được bọc trong những chiếc “đo bào” và dòng sông Mã đã tấu lên “khúc độc hành” như một lời tiễn biệt đưa các anh về với đất mẹ thiêng liêng Lời thơ còn thể hiện sự tiếc thương vô hạn, sự trân trọng và cũng là lời tiễn biệt của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội -

- Bài thơ khép lại bằng những vần thơ toát lên vẻ hào hùng của những

Táy Tiến người di hông hẹn ước Hồn vé Sém Nita chẳng uê xuôi

Đó vẫn chính là tỉnh thần chung của thời đại những người lính Tây Tiến, tỉnh thần “một đi không trở lạ? (nhất khứ bất phục hoàn) đã ăn sâu vào tâm trí của những người lính Tây Tiến, nó như một lời thề danh dự thiêng liêng của những người lính Tây Tiến anh hùng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Thời oai hùng của những người lính Tây Tiến đã lùi xa nhưng hình ảnh về các anh vẫn mãi là một bài ca bất tử:

Trang 26

Tây Tiến biên cương mờ lửa khoi Quân ởi lớp lớp động cây rừng

Va bai tho dy, con người ấy Vẫn sống muôn đời uới núi sông

(Giang Nam) Tóm lại, bằng nghệ thuât tạo hình đặc sắc, âm điệu da diết, bút pháp lang man tinh tế nhà thơ đã đưa người đọc đến với vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc và những người lính hào hoa, hào hùng 7ây Tiến xứng đáng được coi là một bài thơ độc đáo nhất viêt về người lính trong văn học Việt Nam hiện đại

IV TƯ LIỆU THAM KHẢO

“Bài thơ Tây Tiến không bị “chết già” trong cô đơn (tuy tác giả của nó có những năm cô đơn, đã già đã mất) Sau hơn bốn mươi năm, đọc lại, bài thơ không cũ Ba mươi tư câu không một câu nào non nóớt, bằng phẳng, trái lại câu nào cũng có nội lực riêng, tạo nên khí vị chung cho bài thơ, một khí vị bì hùng, hoang dã và quả cảm Trong đó, những sáng tạo hình ảnh rất đặc sắc,

có lẽ đặc sắc nhất so với các bài thơ thời kì đó

Có khi chỉ hai câu thơ mà nhốt cả hai thế giới:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mo Ha Noi dang kiéu thom Chữ “trừng” được coi là nhãn tự của câu thơ Nội lực trong cảm hứng thơ Quang Dũng thường dội xuống các động từ “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Nội lực câu thơ đó không ở bản thân nó, mà rơi xuống từ câu trên “Áo bào thay chiếu anh uê đất” Vì cảnh đất bị hùng như vậy, sông Mã mới gầm © lên và chỉ gầm đơn độc: khúc độc hành Cái tiếng vang rung chuyển và ngự trị

cả một vùng thiên nhiên trời đất sinh ra từ những mất mát câm lặng của con người Bài thơ mang phẩm chất anh hùng ngay trong nỗi buồn” |

“Tây Tiến làm cho anh (tức Quang Dũng) sống lại một thời trai trẻ Ngày

ấy hào khí của dân tộc ta đã gây chấn động trong tâm hồn anh, và tiếng thơ riêng biệt của anh có phần âm vang của hào khí ấy Cùng với toàn dân, đặc biệt là cùng với những người trong lứa tuổi thanh xuân như mình vào những ngày Cách mạng tháng Tám Quang Dũng đã dấn mình vào cuộc Dấn mình với tất cả men say của một người dân mất nước bấy lâu khát khao độc lập tự

do và của một nghệ sĩ vốn yêu, mê cái đẹp, lí tưởng đẹp Dấn mình không tính toán chỉ li, không suy bì hơn thiệt Dấn mình đến mức nếu cần thì cả tính mệnh cũng không tiếc nữa”

(Trần Lê Văn - Thương tiếc nhà thơ Quang Dũng)

Trang 27

DE VA BAI LAM VAN THAM KHAO

DE 1: Binh giảng đoạn thơ sau trong bùi thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng:

Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc Quan xanh mau la dit oai hum

Sông Mã gầm lên khúc độc hành Bài làm

Tây Tiến là một bài thơ rất thành công trong việc xây dựng hình tượng người lính đẹp một cach bi tráng và hào hoa trong những năm tháng đầy gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Trong hai đoạn thơ đầu nhà thơ đã thành công trong việc vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về núi rừng Tây Bắc vừa hiểm nguy dữ dội, vừa thơ mộng bằng những nét vẽ vừa gân guốc, táo

bạo lại vừa mềm mại uyển chuyển Nhưng ở đoạn thơ thứ ba này, nhà thơ lại dành tất cả những tình cảm cùng sự trân trọng của mình để nói về những mất

mát hi sinh lớn lao của những đồng đội mình, họ là những người lính Tây Tiến:

Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Sông Mõ gầm lên khúc độc hành

Toàn bộ bài thơ là một nỗi nhớ được nhà thơ viết theo dòng hồi tưởng Chính vì vậy những hình ảnh được ông miêu tả là những hình ảnh rất thật thậm chí là trần trụi của cảm xúc thăng hoa nhưng lại được nhìn qua lăng

kính của cặp mắt lãng mạn Đoạn thơ thứ ba này chính là một minh chứng

cho điều đó

Mở đầu đoạn thơ, người đọc gặp ngay một hình ảnh khá ấn tượng và bất ngờ:

Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oat hùm |

Hình ảnh những con người da xanh tái, đầu thi không có tóc không khỏi

làm cho người đọc có cảm giác ngỡ ngàng hoặc cho đó là sự tưởng tượng thái

quá của nhà thơ Thực tế đây không phải là sản phẩm do nhà thơ tưởng tượng mà đó là sự thật khắc nghiệt với những người lính Tây Tiến Đối với những người lính Tây Tiến đó đâu phải là chuyện lạ bởi trong số các anh có

nhiều người ra đi từ đất Hà thành, mang trong mình dòng máu lãng mạn

của tuổi trẻ nên có người thì cạo trọc đầu giống những anh Vệ quốc để khi

đánh giáp lá cà với giặc cho thuận tiện Song phần nhiều, họ bị căn bệnh sốt

rét rừng quái ác hành hạ không có thuốc chữa khiến cho tóc rụng hết Căn

Trang 28

bệnh quái ác ấy hầu như người lính nào cũng từng phải trải qua Trong bài thơ Đồng chí, nhà thơ Chính Hữu cũng đã ít nhất một lần nhắc đến căn bệnh đó: “Anh uới tôi biết từng cơn ớn lạnh; Sốt run người uầng trán đẫm mồ hôi”, còn trong Có nước, Tế Hữu cũng không quên khi viết về những anh lính Vệ quốc: “Giọt giọt mô hôi rơi; Trên má anh uòng nghệ?” Nhưng với Quang Dũng, qua cách nói mang đậm chất lính người đọc có cảm giác như thể tóc của những chiến binh Tây Tiến “không thèm mọc” vậy Đâu chỉ có vậy, cái dáng vẻ bề ngoài của người lính Tây Tiến cũng xanh xao “quân xanh màu lá” vì đói, vì sốt rét nơi rừng thiêng nước độc nhưng dưới con mắt của nhà thơ họ vẫn hiện lên với một dáng vẻ oai phong, dữ dội của chúa sơn lâm

“đữ oai hùm” Dáng vẻ ấy như làm khuất lấp đi cái đói, rét và ốm đau bệnh tật của những người lính Đối với những người lính Tây Tiến những gian khổ ấy không thể làm nhụt đi ý chí chiến đấu mà càng tôi luyện thêm ý chí vốn đã trở nên sắt đá của họ |

Khác hẳn với vẻ bề ngoài, ẩn bên trong những người lính ấy còn mang một tâm hồn lãng mạn của những chàng trai hào hoa đất Hà thành Vì vậy trái tim trẻ trung của họ vẫn khao khát yêu thương, bay bổng, lãng mạn họ vẫn “gửi mộng qua biên giới”, họ gửi mộng mơ của mình về một nơi xa nào đó nào ai biết! Họ vẫn nhớ nhung những bóng hình kiều diễm, thướt tha của những thiếu nữ của đất Hà thành nghìn năm văn hiến “Đêm mơ Hà Nội dáng kiéu thom”

Trước đây, đã một thời gian bài thơ 74y Tiến có một “số phận” thăng trầm chính là bởi những câu thơ này bị phê phán là uỷ mị, là xa lạ, làm nhụt đi ý chí chiến đấu của người lính Nhưng kì thực đây là những tình cảm rất chân thật của những người lính bởi họ đâu chỉ đơn giản là những người lính chỉ biết chiến đấu cho lí tưởng mà thôi Họ còn mang trong mình một tâm hồn trẻ trung, khát khao yêu thương của tuổi đôi mươi và có thể chính những ước mơ thấm đẫm chất nhân văn ấy lại chính là động lực giúp họ vững tin trên những chặng đường hành quân đầy gian khổ Phải chăng họ “chẳng tiếc đời xanh” là

để cho một Hà Nội thanh bình và cho cả những “dáng kiêu thơm” ấy?! | Những người lính Tây Tiến hầu hết đều là những chàng trai gốc Hà Nội,

họ ra đi vì lí tưởng cao đẹp, vì tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc “guyết tử cho

Tổ quốc quyết sinbh” vì thế họ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng:

Rỏi rác biên cương mồ uiễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Mạch thơ đột ngột chuyển sang âm điệu da diết khi nói về sự hi sinh mất mát của những người lính chứ không còn bay bổng như khi nói về cuộc sống của

ho Cau tho “Rai rác biên cương mồ uiễn xứ' với hầu hết là các từ Hán Việt tạo nên âm hưởng thiêng liêng khi nói về sự hi sinh Chiến tranh tàn khốc, bóng

29

Trang 29

đen của thần chết luôn rình rập, những nấm mồ “viễn xứ” nằm rải rác khắp biên cương không một tấm bia, không một dòng địa chỉ Thật là xót xa!

Với những chiến binh Tây Tiến, cho dù họ luôn phải chứng kiến cảnh những nấm mô của đồng đội nằm lạnh lẽo “rải rác” trên suốt chặng đường hành quân nhưng họ vẫn sẵn sàng hi sinh khi Tổ quốc cần đến họ: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Họ không tiếc đời ra đi chiến đấu vì quê hương, vì Tổ quốc bởi cuộc đời sẽ như thế nào nếu không có Tổ quốc Câu thơ vang lên âm hưởng “một đi không trở lại” của những tráng sĩ, dũng sĩ thuở nào và như một lời thể danh dự của những chiến binh Tây Tiến anh hùng Biết rằng ra đi là không hẹn ngày trở lại nên những người lính Tây Tiến coi cái chết “nhẹ tựa lông hồng”, vì vậy sự hi sinh của họ được hình dung trong tư thế của những chiến binh anh hùng:

Áo bào thay chiếu anh uê đất Sông Mã gầm lên bhúc độc hành Trong hoàn cảnh thiếu thốn lúc đó, khi nằm xuống những người lính có khi không có cả chiếu để bọc thân là một sự thật nhưng với Quang Dũng họ lại được bọc trong những chiếc “áo bào” trang trọng khi trở về với đất mẹ thiêng liêng Cụm từ “anh về đất” thật nhẹ nhàng, cái chết của các anh chỉ là trở về với những gì thân thuộc của ngày xưa và các anh vẫn sống mãi với quê hương Cái chết của họ trở nên bi tráng mà không hề bi luy Sự hi sinh của các anh làm cho núi sông quan thắt và rồi dòng sông Mã quê hương đã tấu lên một bản nhạc hùng tráng thay lời tiễn biệt đưa các anh về với đất mẹ yêu thương “Sông Mã gâm lên khúc độc hành” Không một giọt nước mắt, không một lời tiễn biệt nhưng bằng những câu thơ chất chứa nỗi đau xót và niềm tiếc thương vô hạn chính là tấm lòng, sự trân trọng, là nén tâm hương mà Quang Dũng thắp lên để tưởng nhớ đồng đội

Bằng ngòi bút sắc sảo, tỉnh tế cùng với bút pháp lãng mạn, Quang Dũng

đã xây dựng thành công hình tượng người lính trong những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ với vẻ đẹp hào hoa, hào hùng Đây cũng là đóng góp to lớn

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút côn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Trang 30

I Mo bai

- Giới thiệu về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến: Đầu năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến, sau đó một thời gian ông chuyển sang đơn vị khác Khi đang ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về đoàn quân Tây Tiến và viết bài thơ này Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Quang Dũng: tài hoa, lãng mạn

- Giới thiệu về đoạn thơ, nội dung của đoạn thơ: Là đoạn thơ viết về chặng đường hành quân gian khổ của những người lính Tây Tiến và sự dữ dội, hiểm nguy của núi rừng Tây Bắc

H Thân bài

- Đây là đoạn thơ kết tỉnh tài năng nghệ thuật của Quang Dũng trong nghệ thuật miêu tả: cảnh Tây Bắc hiểm trở, dữ dội và những gian khổ mà người lính Tây Tiến phải trải qua trên chặng đường hành quân

- Hai câu mở đầu đoạn thơ với những từ ngữ đầy giá trị tạo hình, nhà thơ

đã tái hiện lại sự hùng vĩ, hiểm nguy của núi rừng Tây Bắc: “Đốc lên khúc khuỷu dốc thăm thắm; Heo hút cồn mây súng ngửi trời

+ Cách sử dụng từ ngữ đầy giá trị tạo hình: khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây gợi lên sự ghập ghềnh, hiểm trở của đèo dốc

+ Đặc biệt cụm từ “súng ngửi trời” được sử dụng táo bạo, mang đậm chất tỉnh nghịch của người lính đã cực tả được độ cao của đèo dốc

Từ đó thấy được sự cảm phục của tác giả đối với khí phách ngang tàng của người lính Tây Tiến

Hai câu thơ tiếp:

| Ngan thudc lén cao mua xa khơi

+ Câu thơ “Ngan thước lên cao, ngàn thước xuống” như bị bẻ gập làm đôi diễn tả độ cao của đốc núi: nhìn lên thì thẳng đứng, nhìn xuống thì thăm thắm làm cho người đọc có cảm giác như đang chơi trò chơi bập bênh

+ Câu thơ tiếp theo lại là một câu thơ toàn vần bằng “Nha ai xa khoi” tạo cho độc giả cảm giác nhẹ nhàng, thăng bằng trong cảm xúc Hình ảnh những ngôi nhà thấp thoáng trong mưa rừng, sương núi gợi lên cảm giác lãng mạn

- Về đặc sắc nghệ thuật:

+ Ngôn ngữ miêu tả với những từ ngữ rắn rỏi, đầy giá trị tạo hình

+ Bút pháp lãng mạn với những từ ngữ chắt lọc, tỉnh tế, bay bong 1 mang phong cách riêng của nhà thơ

III Kết luận

Khẳng định đây là đoạn thơ hay nhất miêu tả cảnh hùng vĩ, dữ dội và \ đây hiểm nguy của núi rừng miền Tây cũng như sự khó khăn gian khổ của người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân

31

Trang 31

* ĐỂ 3 Nhò thơ Trân Lê Văn nhận xét uê bài thơ “Tây Tiến” như sau:

“Bài tho “Tay Tiến” có phẳng phất những nét buồn, những nét đau nhưng đó

là cái buồn đau bì tráng chứ không phỏi là cái buồn đau bì luy” Anh (chị) hãy

phân tích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng để chứng mình nhận xét trên Đàn bài

I Mỏ bài

- Bài thơ được ra đời sau khi Quang Dũng rời xa đoàn quân Tây Tiến, toàn

bộ bài thơ là một nỗi nhớ dài về những kỉ niệm khó quên của đời người lính

- Thành công của bài thơ là đã xây dựng thành công hình tượng người lính với những vẻ đẹp hào hoa, bi tráng, đúng như nhà thơ Trần Lê Văn đã nhận xét: “Bời thơ “Tây Tiến” có phẳng phất những nét buồn, những nét đau,

nhưng đó là cái buồn dau bi trang chứ không phỏi là cái buồn đau bi luy”

- Bài thơ mở đầu bằng một nỗi nhớ da diết về núi rừng Tây Bắc và những người lính Tây Tiến, nỗi nhớ ấy như một thước phim đang hiện dần về trong

đèo dốc khúc khuỷu, núi cao vực sâu “Dốc lên bhúc khuyu súng ngửi trời”

(chú ý hình ảnh “súng ngửi trời”, một cách diễn đạt ngộ nghĩnh đầy tỉnh nghịch theo kiểu lính)

+ Sự hiểm nguy ẩn chứa nơi ¡ rừng thiêng nước độc luôn đe doạ đến: tính mạng người lính: bệnh tật “quân xanh màu lá”, thác dữ “thác gầm thét” và ca thú dữ “cọp trêu người”

+ Những người lính Tây Tiến ra đi chiến đấu vì tiếng gọi thiêng liêng của

Tổ quốc, họ sẵn sàng hi sinh tuổi trẻ của mình cho đất nước “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” và đã không ít người mãi mãi nằm lại nơi chiến trường

“Áo bào thay chiếu anh uê đất”

- Tây Tiến có cái buồn đau bi tráng chứ không phải bi luy

+ Dù khó khăn gian khổ nhưng những người lính ấy vẫn cảm nhận được

vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc bằng một tâm hồn nhạy cảm: “Mường Lát hoa vé trong đêm hơi” hay đó là những khi họ đứng từ trên đỉnh núi cao hướng cái nhìn về một nơi xa đang ẩn hiện trong sương núi và mưa rừng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Trang 32

+ Sau những chặng đường dài hành quân gian khổ người lính có được những phút giây nghỉ ngơi quây quần bên nổi cơm nghỉ ngút khói ở một bản lang nao dé “Mai Chau mia em thơm nếp xôi” Đặc biệt là những phút giây họ được thả hồn trong những tiếng khèn, những điệu múa, những dáng hình vũ

nữ “Doanh trại bừng lên xây hồn thơ" |

- Đó là những nét đẹp trong tâm hồn lãng mạn của những người lính đất

Hà thành

+ Họ không chỉ đẹp trong tâm hồn mà còn đẹp cả trong khí phách ngang tàng bất chấp mọi gian khổ, hiểm nguy: “Heo hút côn mây ngàn thước xuống” + Đối với người lính Tây Tiến thì sự gian khổ hay bệnh tật và thậm chí cả cái chết cũng không làm nhụt đi ý chí chiến đấu sắt đá của họ “Rdi rdc biên cương chẳng tiếc đời xanh” Đó cũng chính là tâm trạng có thật của một lớp thanh niên ngày ấy với lí tưởng cao đẹp ăn sâu vào tâm trí họ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”

+ Sy hi sinh của họ không chỉ làm cho lòng người ngậm ngùi tiếc thương

mà ngay cả núi sông cũng quặn thắt “Sông Mã gầm lên khúc độc hờnh”, tiếng gầm ấy như một lời tiễn biệt của sông núi đối với người con anh hùng khi trở

về trong sự chở che của đất mẹ thiêng liêng, cái chết của các anh đã trở thành

III Kết luận

- Chiến tranh đã qua đi nhưng hình ảnh về những người lính Tây Tiến hào hoa cùng âm hưởng về những cuộc chiến hào hùng năm xưa của họ vẫn còn vang vọng với thời gian

- Thành công của Tây Tiến chính là sự kết hợp hài hoà giữa cái bì và cái hùng cùng với bút pháp lãng mạn để tạo nên cái bi mà không luy đúng như nhận xét của nhà thơ Trần Lê Văn: “Bài thơ Tây Tiến bi luy”

* ĐỀ 4: Cảm nhận của anh (chị) uê đoạn tho sau trong bai “Tay Tién” của nhà thơ Quang Dũng:

“Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ ogi hùm Mắt trừng gửi mộng quo biên giới

Đêm mở Hà Nội dáng kiéu thom

Rai rác biên cương mồ uiễn xứ Chiến trường ởi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh uê đất Sông Mã gâm lên khúc độc hành”

33

Trang 33

A Yéu cau chung

* Về nội dung:

- Cảm nhận được vẻ đẹp lãng mạn, thanh lịch, hào hoa của người lính

Tây Tiến

- Thấy được những khó khăn, thiếu thốn mà người lính trải qua

- Hình ảnh người lính hiện lên bi trắng không bi luy

* Về nghệ thuật:

- Bút pháp lãng mạn là chủ đạo

- Dùng từ độc đáo, sáng tạo, sử dụng lớp từ Hán Việt

- Một số biện pháp tu từ từ vựng: so sánh, nhân hoá, nói giảm, nói tránh

B Dan bai |

1 Đặt uấn đê

- Giới thiệu nhà thơ Quang Dũng, bài thơ Tây Tiến và đoạn thơ trên

- Quang Dũng - Nhà thơ - Hoạ sĩ Quê ông ở Đan Phượng - Hà Nội Ông dành nhiều vần thơ viết về quê hương, về xứ Đoài mây trắng, về núi Tần,

- Năm 1947, ông từng tham gia đoàn quân Tây Tiến, là đại đội trưởng

Một năm sau rời xa đoàn quân, nhà thơ nhớ lại viết nên 7y Tiến Bài thơ viết năm 1948, ban đầu tên là Nhớ Tây Tiến sau đó đổi thành Tây Tiến

-.Đoạn thơ trên là đoạn thơ hay nhất của bài thơ - khắc hoạ hình ảnh người lính Tây Tiến

_11 Giải quyết uấn đề

- Người lính Tây Tiến là những chàng trai Hà Nội lãng mạn, bay bổng

Bởi họ là những học sinh, sinh viên vừa rời ghế nhà trường xung phong vào

Trang 34

Đêm: mơ về Hà Nội có người thần, người yêu

+ Bút pháp lãng mạn tô đậm cái bình thường thành cái phi thường cao cả Người lính hiện lên ốm nhưng không yếu, không tiểu tuy vẫn mang vẻ đẹp tâm hồn của người lính tiểu tư sản

2 Bốn câu cuối: Tác giả miêu tả về cái chết của người lính, về sự thiếu thốn, nhưng câu thơ không gợi sự bi thương mà mang đậm tình than bi trang + Sử dụng lớp từ Hán Việt, nghệ thuật đảo ngữ khi nói về các ngôi mộ vô danh rải rác khắp biên cương

+ Ca ngợi tỉnh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của người lính

“Chống tiếc” thể hiện sự chối bỏ dứt khoát

+ Miêu tả cái chết của người lính một cách nhẹ nhàng thanh thản, ý nghĩa thiêng liêng Cái chết đã thành bất tử

+ “Anh uề đất" trong cảnh thiếu thốn, không một manh chiếu che thân nhưng tác giả đã đưa các anh trong những “áo bào” sang trọng

+ Nghệ thuật nói giảm, nói tránh “ơnh uề đất”; tiếng gầm của dòng sông như sự chia sẻ, đồng cảm của thiên nhiên “Sông Mã gầm lên ”

=8, Khái quát về nội dung và nghệ thuật: |

- Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện nên qua nỗi nhớ của nhà thơ Đó là những người lính gặp nhiều khó khăn, bị bệnh tật hành ha, hi sinh tinh mang nhưng họ vẫn mang vẻ đẹp của người lính tiểu tư sẵn: có lòng yêu nước nồng nàn, có tâm hồn lãng mạn, thanh lịch, hào hoa | _ :

- Bút pháp lãng mạn kết hợp bút pháp hiện thực khi phác hoạ chân dung người lính

- Hình ảnh thơ, ngôn từ độc đáo, sáng tạo

35.

Trang 35

vẫn là nỗi nhớ của nhân vật trữ tình Nỗi nhớ hiện lên là thiên nhiên Tây Bắc

dữ dội nhưng cũng đầy nên thơ, là hình ảnh đoàn binh Tây Tiến những con người xuất thân từ thủ đô hoa lệ sẵn sàng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Bức tượng đài của những người chiến sĩ đầy hào hùng nhưng cũng rất hào hoa

ấy được nhà thơ khắc hoạ qua đoạn thơ:

Tây Tiến đoàn bình hông mọc tóc Quân xanh màu lá đữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng quo biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng biêu thơm _ Rải rác biên cương mồ uiễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh uê đất Song Ma gam lên khúc độc hành

Hai câu thơ đầu, Quang Dũng đã tập trung miêu tả hình dáng bề ngoài của những người lính Tây Tiến cùng đời sống chiến đấu gian khổ của họ Ra

đi trong những ngày đầu của kháng chiến, những người lính Tây Tiến nói riêng và những anh bộ đội Cụ Hồ ngày ấy nói chung phải chịu rất nhiều thiếu thốn về vật chất, lại phải hành quân suốt những đêm dài Vì vậy các anh thường bị mắc phải căn bệnh sốt rét nơi rừng thiêng nước độc Hiện thực của cuộc sống luôn bước vào văn chương như một quy luật tất yếu bởi “nhà văn là thư kí trung thành của thời đại” (Ban-dắc) Cũng có không ít những vần thơ ghi lại hiện thực đời sống chiến đấu của những người lính:

Tôi uới anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người uừng trán ướt mô hôi

(Cá nước - Tố Hữu)

— Song, tất cả những hình ảnh này đều được thể hiện qua bút pháp hiện thực cách mạng Với Quang Dũng, cũng viết về người lính trong giai đoạn này, cũng là căn bệnh sốt rét rừng nhưng nhà thơ không nhìn dưới tâm hồn hiện thực mà nhìn nó dưới cái nhìn lãng mạn hiện thực Vì vậy mà có lẽ chưa

Trang 36

có vần thơ nào ấn tượng như vần thơ Quang Dũng với những hình ảnh độc đáo “không mọc tóc”, “xanh màu 1a”:

Tay Tiến đoàn bình bhông mọc tóc Quân xanh màu lá dữ odi hùm

Sự thực do căn bệnh sốt rét mà những người lính Tây Tiến đã bị rụng tóc

O day, nhà thơ đã sử dụng phép đảo ngữ “bhông mọc tóc”, biến cái bị động

thành cái chủ động Hiện thực khốc liệt ấy được tái hiện qua tâm hồn lãng mạn của Quang Dũng nên cái đầu không có tóc của anh lính Tây Tiến lại mang vẻ oai phong lẫm liệt khác thường Do thiếu thốn về vật chất, lại bị căn

bệnh sốt rét rừng hành hạ mà những người lính da xanh vàng vọt Qua tâm

hồn lãng mạn của Quang Dũng, màu xanh đó đã trở thành màu xanh của lá

nguy trang, màu xanh của rừng bạt ngàn Lãng mạn của Quang Dũng quả

thực không phải là cái lãng mạn tô hồng hay bôi đen cuộc sống, không phải

thứ lãng mạn thoát li cuộc đời như Nam Cao đã từng kịch liệt phê phán trong tác phẩm Giăng sáng (1943): “Chao ôi, nghệ thuật không nên lò ánh trăng lừa

dối, nghệ thuật bhông cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ bia thoát ra từ những biếp lầm than” D6 là lãng mạn cách mạng, lãng mạn lí tưởng Nhờ có cái lãng mạn đó mà người lính Tây Tiến hiện

lên trong thơ Quang Dũng oai phong như mãnh hé “dit oai hum”, ché ngự cái

khắc nghiệt của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, làm cho quân thù phải khiếp

sợ Tuy rằng gian khổ, thiếu thốn, chấp nhận hi sinh nhưng vượt lên trên tất

cả, họ vẫn giữ được cái hào hùng của người lính trẻ

Nếu hai câu thơ đầu, Quang Dũng khắc tạo trước mắt người đọc hình dáng bề ngoài của người lính Tây Tiến thì hai câu thơ sau, nhà thơ lại lách

sâu ngòi bút của mình để mô tả đời sống nội tâm của các anh Những người lính Cụ Hồ xuất thân từ những hoàn cảnh khác nhau, đến từ mọi phương trời:

Quê hương anh nước mặn đồng chua Lang toi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh uồới tôi, đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

_ (Đồng chí - Chính Hữu) Nếu những người lính xuất thân từ đồng ruộng nông thôn ra đi, họ bỏ lại

đằng sau "gian nhà không mặc hệ gió lụng lay”, bỏ lại những “luống cày dat do” thì khi nhớ về quê hương, nỗi nhớ của họ cũng chân chất hồn quê Họ nhớ về:

Mái lêu gianh Tiếng mõ đêm trường Luống cày đất đỏ

37

Trang 37

Ít nhiều người uợ trẻ - - Mòn chân bên cối gạo canh bhuyd

(Nhớ - Hồng Nguyên) Hay họ còn nhớ về cảnh tiễn đưa:

Xóm dưới lùng trên

Con trai, con gai Xôi nắm, cơm đùm

Còn ở đây, những người lính Tây Tiến phần lớn là thanh niên trí thức Hà

thành Theo tiếng gọi của đất nước, họ đã ra đi, đến chiến trường và mang theo cả cái lãng mạn hào hoa vốn có Do vậy, khi nhớ về quê hương, nhớ về Hà Nội, nỗi nhớ ấy có phần lãng mạn hơn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mở Hà Nội dáng biêu thơm | Quang Dũng đã thể hiện một chất lính rất thực - chất lính của người trí

thức Đây là những thanh niên Hà thành một thời kì được ngồi trên ghế nhà

trường, tâm hồn họ thấm đẫm áng văn chương cổ Nhớ về Hà Nội, họ xem Hà Nội như một “đáng biêu thơm” Những tình cảm rất mộng mơ ấy là động lực nâng đỡ tình thần người lính, tiếp sức cho họ trong cuộc chiến đấu Vẻ đẹp của khổ thơ này còn được kết tỉnh qua thủ pháp nghệ thuật đối lập Điều này được thể hiện qua hình ảnh “Mắt trừng gửi mộng” “Mắt trừng” vốn là tìm về phía quân thù để canh chừng, cảnh giác, nêu cao quyết tâm chiến đấu Những khát vọng, ý chí chiến đấu, mộng ước chiến tranh đều được thể hiện qua ánh mắt quyết tử - một ánh mắt đầy giận đữ, nảy lửa, áp đão kẻ thù Nó mang vẻ dữ dan, oai hùng đầy dũng khí Còn “gởi mộng” là gửi những lí tưởng, những ước

mơ, những mộng ước chiến tranh “Mộng” và “nở” được họ gửi về hai phương trời “Mộng” giết giặc gửi qua biên giới sang nước bạn Lào, còn “nở” về “dáng

biêu thơm” được gửi về nơi Hà thành mĩ lệ Như vậy, với bốn câu thơ cùng với nền hiện thực và cái nhìn đa chiều, Quang Dũng đã xây dựng một bức tượng

đài nghệ thuật sống động chân thực về hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ Ấn chứa

dưới dáng vẻ bề ngoài oai hùng đữ dằn là một tâm hồn khao khát yêu thương,

một trái tìm cháy bỏng căm hờn, một trái tìm biết căm thù quân xâm lược,

Sự kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp lãng mạn với tỉnh thần bi trang được tác giả thể hiện rõ khi miêu tả tư thế ra đi và sự hi sinh của người lính Tây Tiến Nếu như bốn câu thơ đầu, Quang Dũng tập trung miêu tả cõi sống thì bốn câu thơ sau lại miêu tả “cõi chết” của những người lính Tây Tiến: _

Trang 38

Rải rác biên cương mô uiễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh uê đất ` Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Đã từng có một thời gian dài, người ta quan niệm thơ văn kháng chiến không nên miêu tả, đề cập đến cái chết bởi người ta sợ sẽ làm ảnh hưởng đến

ý chí, tỉnh thần chiến đấu của người lính Nhưng Quang Dũng đã nhìn thẳng

vào sự thật, phản ánh mất mát hi sinh Bởi vậy, những câu thơ này được xem

là hiếm hoi Quang Dũng không chỉ một lần mà đã hai lần nhắc đến cái chết trong bài thơ này Ở đoạn trên, cái chết được hiện về qua hình ảnh:

Anh bạn đãi dầu bhông bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Có thể đây là một giấc ngủ của người lính Tây Tiến giữa hai giờ súng nổ cũng có thể đây là sự ra đi vĩnh viễn của các anh Đến đây, cái chết không chỉ còn là một nét tả thực, cụ thể không còn là một khoảnh khắc đau thương giữa

đường hành quân mà đã trở thành một nét chiêm nghiệm hay nói cách khác, cái cụ thể đã được nâng lên thành tâm khái quát Những hình ảnh này gợi lên được vẻ đẹp của các anh bộ đội Cụ Hồ luôn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng:

Vụi uẻ chết như cày xong thửa ruộng

Lòng khoẻ nhẹ anh dân quê sung sướng

Ngửa mình trên liếp có ngủ ngon lành

Và trong mơ thơm ngát lúa đồng xanh

(Trăng trối - Tố Hữu) Cái bi của đoạn thơ được Quang Dũng gợi lên qua hình ảnh nấm mồ nơi rừng sâu biên giới Viết về cái bi nhưng thơ Quang Dũng không luy bởi nhà thơ đã sử dụng hàng loạt những từ Hán Việt Câu thơ “Bởi rác biên cương mồ uiễn xứ” gồm bảy âm tiết nhưng đã có năm âm tiết là những từ Hán Việt Việc

sử dụng hàng loạt những từ Hán Việt này tạo sắc thái trang trọng, thiêng liêng, giảm bớt đau thương và nâng tầm cái chết của những người lính Như

vậy, nói về cái chết nhưng thơ Quang Dũng không gây cảm giác bi luy mà chỉ

để lại trong lòng người cảm giác bi hùng, bi tráng Sự thật đáng sợ không làm nhụt nhuệ khí của những chàng trai Tây Tiến bởi khát vọng lên đường đầy

cao đẹp của họ Với họ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Hai chữ “đời xanh” gợi lên cái tuổi trẻ với bao mộng đẹp, ước mơ, hoài bão Phẳng phất

trong những vần thơ này có âm hưởng lãng mạn, hào hùng:

Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi

- Nào có sá chỉ đâu ngày trở uề

39

Trang 39

Một khi đã cất bước ra đi, các anh chỉ muốn hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình cho đất nước:

Ôi! Tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như uợ, như chồng Ôi! Tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông

Đó là thái độ của những con người đầy trách nhiệm khi Tổ quốc lâm nguy Ta bắt gặp hình ảnh ấy qua tứ thơ của Trần Mạnh Hảo trong trường ca Đất nước hình tia chớp: |

Thế hệ chúng con đi như gió thối

Áo quân phục xanh đồng sắc uới chân trời Chua kip yêu một người con gái

Lúc ngã uào lòng đất uẫn con trai | Đoàn binh Tây Tiến trong chặng đường hành quân gian khổ phải đối mặt với bao nhiêu thiếu thốn, gian nan, cho đến khi các anh ngã vào lòng đất mẹ, những thiếu thốn ấy vẫn hiện về qua hình ảnh thơ:

Áo bào thay chiếu anh uê đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Câu thơ đầu có nhiều cách hiểu khác nhau Có cách hiểu đây là hình ảnh chiếu thay áo bào Nếu được hiểu theo cách này, ta lại nhớ đến tứ thơ của Hoàng Lộc trong bài Viếng bạn:

Ở đây không gỗ uán

Vùi anh trong tấm chăn Của đông bào Cửa Ngăn Tặng tôt ngày phân tán

“Áo bào” là một hình ảnh quen thuộc trong văn học cổ, được Quang Dũng

sử dụng để tái tạo một vẻ đẹp tráng sĩ làm mờ đi hiện thực thiếu thốn nơi chiến trường Các tráng sĩ xa, lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh còn với người lính Tây Tiến chỉ có tấm áo đơn sơ các anh vẫn mặc hằng ngày Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến đấu đầy gian khổ này, chiếc áo ấy sẽ là gì nếu không phải:

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời uá rách - Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Trang 40

Trong mắt Quang Dũng chiếc áo đơn sơ ấy đã trở thành tấm chiến bào sang trọng bọc lấy thi thể những người quên mình vì nước Khoác những tấm

áo bên mình, các anh đã trở về trong lòng đất mẹ, về với sự trường tồn bất tử Đối với những người lính Tây Tiến, họ chết nhưng không hết Cái chết của họ

đã giúp cho đồng đội mình “nhằm thẳng quân thù mà bắn”:

_ Mai mốt bên cửa rừng

Anh có nghe súng nổ

Là chúng tôi đang cố Tiêu diệt bẻ thù chung

Giây phút tiễn đưa các anh không chỉ có đồng đội mà còn có dòng sông

Mã như một chứng nhân lịch sử gầm lên những khúc bi ai Tiếng gầm sông

Mã là một âm hưởng hoành tráng, là âm vang của sông núi, là điệu kèn vĩnh

quyết, là khúc hát bi hùng tạo ra một nghỉ lễ trang trọng, thiêng liêng để tiễn

"biệt các anh Và từ đây, các anh vĩnh viễn nằm lại bên dòng sông Mã cuồn

cuộn chảy về xuôi mang theo những truyền thuyết bất tử về người lính anh

hùng Trong hai câu thơ cuối của đoạn thơ, con người bình thường đã được phản ánh bằng cảm thức sử thi, thần thoại hoá và bất tử hoá

Có thể xem đoạn thơ trên là một trong những khúc đoạn hay nhất của bài thơ 7y Tiến Đoạn thơ đã góp phần xây dựng chủ đề về đề tài anh bộ đội Cụ

Hồ trong thời kì kháng chiến chống Pháp Cái bi và cái hùng, cái hiện thực và lãng mạn, cái hào hùng và hào hoa là chất liệu chủ yếu mà Quang Dũng đã sử dụng để miêu tả bức tượng đài về người lính “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" Ở họ ánh lên một vẻ đẹp lạ lùng, vừa mang chất nghệ sĩ lại vừa pha chất tráng sĩ thời xa xưa Chính vẻ đẹp ấy của người lính Tây Tiến đã khiến

bài thơ sau bao thăng trầm lịch sử vẫn còn sống mãi và được khẳng định như một bài ca không quên của thơ ca kháng chiến

VIỆT BẮC

Tố Hữu

Phần một: TÁC GIÁ _

I VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ

- Tố Hữu (1920 - 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành

- Quê quán: Thừa Thiên - Huế

- - Cha là một nhà nho không đỗ đạt nhưng rất thích thơ phú và ham sưu tầm văn học dân gian

41

Ngày đăng: 05/01/2016, 06:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN