BÀI TẬP LUẬN Câu 1: Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công của việt nam trong giai đoạn 2011-2016 - Nợ công là nguồn tài chính quan trọng để tài trợ đầu tư công: Nợ công là khoản nợ mà
Trang 1BÀI TẬP LUẬN Câu 1: Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công của việt nam trong giai đoạn 2011-2016
- Nợ công là nguồn tài chính quan trọng để tài trợ đầu tư công:
Nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài, còn đầu tư công đơn giản là tất cả các khoản đầu tư do chính phủ tiến hành để thực hiện chúc năng của mình và có thể nói ở đây nợ công chính là nguồn vốn tài trợ quan trọng cho đầu tư công Nợ công là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài chính mỗi quốc gia Nguồn vốn vay nợ công không thể thiếu,
nó đáp ứng cho mục tiêu đầu tư , đặc biệt ở nhưng quốc gia đang phát triển, nhu cầu về vốn đầu tư để phát triển kinh tế là rất lớn bới ở khu vực này có nhiều hạn chế về nguồn lực, lao động trình độ thấp, khoa học công nghệ chưa phát triển
- Hiệu quả đầu tư công tác động mạnh mẽ đến nợ công:
Vay nợ công là để thực hiện đầu tư công là một việc bình thường vì nợ công là một nguồn vốn quan trọng để tài trợ đầu tư công Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vay nợ để tài trợ đầu tư công, không phải lúc nào con số nợ công cũng tỉ lệ thuận với đầu tư công Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vay nợ để tài trợ đầu tư công, không phải lúc nào số nợ công cũng tỉ lệ thuận với đầu tư công Vay nợ để đầu tư công có thể gia tăng tài sản xã hội, tăng năng lực của một quốc gia cũng như tạo đà tăng trường kinh tế, tuy nhiên có thể có những tác động ngược lại như gia tăng gành nặng nợ nần, tạo áp lực lạm phát, gây bất ổn
vĩ mô, ngân sách nhà nước vì thế mà gặp nhiều khó khăn Đầu tư công và nợ công có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nha, mối quan hệ này được thể hiện
rõ ràng thông qua tác động của hiệu quả đầu tư công đến nợ công
Đầu tư công hiệu quả tác động tốt đến nợ công: Khi đầu tư công hiệu quả có thể hiểu là khi nhà nước bỏ vốn nợ công một đồng thì sẽ thu lại gần một đồng, chi phí vốn để tăng trưởng ở mức thấp, khi đầu tư có hiệu quả tất yếu sẽ tạo ra tăng trường cao, gia tăng tài sản từ đó tăng nguồn thu cho ngân sách, đặc biệt là sẽ có thêm một lượng dự trữ ngoại hối từ hoạt động sản xuất
- Đầu tư công không hiệu quả làm gia tăng nợ công, tăng rủi ro
Trang 2nợ công
Đầu tư công có thể coi là căn nguyên của nợ công vì đơn giản không phải chính phủ nào cũng cõ mức ngân sách cân bằng Vấn đề ở đây mức thâm hụt ở mức nào,mức vay nợ ở mức nào Và có thể nói đầu tư công không hiệu quả chính
là nguyên nhân chủ yếu làm tăng gánh nặng nợ công, mức nợ công liên tực gia tăng, từ đó làm tăng rủi ro nợ công
Đầu tư công được sủ dụng như một công cụ kích cầu, đầu tư công không hiệu quả sẽ dẫn tới ra tăng chi phí đầu tư, kéo dài thời gian, do đó kéo theo khả năng lạm phát tăng cao Khi lạm phát tăng cao sẽ dẫn đến đồng nội tệ mất giá từ đó gia tăng chi phí trả nợ, cũng như nợ công vì thế mà tăng nhanh chóng
Liên hệ thực tiến với Việt Nam:
Đầu tư công hiện nay ở nước ta bao gồm bốn nguồn chính: ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, tín dụng đầu tư của nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước Nợ công ở Việt Nam chính là nguồn vốn quan trọng để tài trợ đầu tư công, trong những năm vừa qua Việt Nam đuổi theo mô hình tăng trường dựa vào vốn đầu tư , với vốn đầu tư xã hội trên GDP vào loại cao nhất khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Trong nhiều năm qua, tình hình chi tiêu công ở Việt Nam không đạt hiệu quả cao Vấn đề chi tiêu không đúng chế độ, sử dụng tài chính không đúng mục tiêu, không đúng nguồn, tình trạng bội chi, lãng phí và thất thoát diễn ra khá phổ biến
Số liệu của Kiểm toán Nhà nước năm 2008 công bố số tài sản mua sai chế độ, sử dụng sai mục đích của 8 bộ ngành lên đến 95 tỷ đồng Kiểm toán Nhà nước cũng thống kê những thất thoát tiền của trong chi tiêu công ở hầu hết các dự án lên tới con số 783,8 tỷ đồng năm 2008 Trong chi tiêu thường xuyên, số tiền chi không đúng chế độ, không thuộc nhiệm vụ chi ở 16/29 tỉnh được kiểm toán vượt quá con
số quy định là 800 tỷ đồng Theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng chi ngân sách nhà nước năm 2008 tăng 22,3% so với năm 2007 và bằng 118,9% so với dự toán Trong đó, chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên vượt mức dự toán tương ứng ở mức 118,3% và 113,3% Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 9 tháng đầu năm 2011, vốn đầu tư thực hiện từ Ngân sách Nhà nước là 131.364 tỷ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước Việc cắt giảm đầu tư công đôi khi còn không hiệu quả Nhiều dự án trọng điểm đang đầu tư lại bị dừng đột ngột, chẳng hạn như xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên Trong khi đó, một số khoản mục đầu tư cần cắt giảm như mua sắm thiết bị,
Trang 3máy móc, xe cộ… vẫn chưa được cắt giảm nghiêm ngặt Trong điều kiện thế giới đang gặp khủng hoảng, mức chi công tăng cao như trên cho thấy kỷ luật đầu tư công hiện nay của Việt Nam còn lỏng lẻo
Câu 2: Thực trạng huy động và giải ngân nguồn vốn ODA của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2016
Thực trạng quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài giai đoạn
2011-2016, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết theo các điều ước quốc tế là 33,85
tỷ USD, cao hơn 57% so với thời kỳ 2006 - 2010 Trong đó, vốn ODA và vốn vay
ưu đãi đạt 32,51 tỷ USD, chiếm khoảng 96%, còn lại là vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 1,346 tỷ USD
- Trong đó, vốn ODA cho lĩnh vực giao thông vận tải đạt trên 11,7 tỷ USD, chiếm tỷ trọng cao nhất trong thời kỳ này Nhiều công trình dự án trọng điểm quốc gia sử dụng các nguồn vốn này như cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đường nối Nhật Tân
- Nội Bài được đưa vào khai thác, góp phần hoàn chỉnh, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng
- Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, nguồn vốn ODA cũng
đã được huy động để thực hiện các dự án trồng rừng, nâng cao sản lượng, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm của cây trồng, vật nuôi Nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật cũng được thực hiện để nâng cao tính cạnh tranh nông nghiệp, vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng cường công tác khuyến nông
Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi chưa được như mong muốn, trong khi nguồn vốn ODA có chiều hướng giảm dần trong thời kỳ
2011 - 2016 và đang hoàn thành nốt những hiệp định cuối cùng trước khi Việt Nam được đưa vào diện không còn được ưu đãi
Số lượng nhà tài trợ, cả đa phương và song phương, đã giảm dần và có kế hoạch chấm dứt chương trình viện trợ chính thức dành cho Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Các bộ, ngành và địa phương vẫn chưa sẵn sàng tiếp cận các nguồn vốn vay kém ưu đãi áp dụng cơ chế tài chính trong nước theo hình thức cho vay lại
Trang 4Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước tại một hội thảo về quản lý và sử dụng vốn vay nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2016 vừa qua cũng cho thấy, năng lực hấp thu nguồn vốn ODA còn kém, chưa đáp ứng được nhu cầu Nhiều chương trình và dự án chậm tiến độ, nhiều trường hợp phải xin gia hạn Việc lồng ghép các chương trình và dự án của Chính phủ trên địa bàn với các chương trình và dự án ODA, nhiều khi có sự trùng lặp dẫn đến hạn chế nguồn vốn vay ODA
Thắt chặt các khoản chi ODA
Để nâng cao chất lượng quản lý vốn ODA, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài theo nguyên tắc đồng bộ, nhất quán, tránh mâu thuẫn chồng chéo, tinh giản quy trình thủ tục, bảo đảm hiệu lực hiệu quả nguồn vốn này
Theo đó, nghiên cứu sửa đổi và bổ sung Luật Đầu tư công, trong đó có những quy định phù hợp với những đặc thù của nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài
Ngoài ra, vốn ODA chỉ nên đầu tư cho dự án trọng điểm quốc gia và lĩnh vực giao thông, thủy lợi Địa phương cần chi từ vốn vay ODA phải áp dụng cơ chế vay lại theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015
Cơ sở để thực hiện cho vay lại là khả năng thu hồi, hoàn trả vốn Địa phương nào phát triển, có khả năng thu hồi vốn nhanh thì tăng tỷ lệ cho vay lại vốn ODA
và giảm tỷ lệ cấp phát bằng ngân sách Tỉnh nghèo thì phần cho vay ODA giảm xuống, tăng đầu tư không hoàn lại Khi đó, việc sử dụng vốn ODA sẽ tiết kiệm, hiệu quả
Cơ quan, tổ chức nào vi phạm quy định về quản lý vốn vay ODA phải xử lý theo quy định của điều 18 Luật Ngân sách nhà nước Đồng thời, việc bố trí dự toán ngân sách hàng năm gắn với hiệp định đã ký kết vay vốn ODA và lộ trình giải ngân cam kết với nhà tài trợ để đưa vào dự toán ngân sách trình cấp có thẩm quyền quyết định, ông Hào nhấn mạnh
Trong cuộc họp với một số bộ, ngành mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu trong giai đoạn tới phải thắt chặt quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản vay ODA, kể cả các dự án hỗ trợ kỹ thuật Phải chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn để dòng vốn này đi vào phục vụ phát triển tốt hơn
Trang 5Các cơ quan chủ quản chủ động rà soát, cắt giảm tối đa các khoản chi không hiệu quả, không phù hợp, chưa cần thiết để làm sao bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và trên cơ sở thống nhất với các nhà tài trợ; gửi Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ Các khoản vay ODA mới chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển, không dùng cho chi thường xuyên
Tổng vốn ODA giải ngân tính đến hết năm 2014 dự kiến đạt 48,23 tỷ USD, chiếm trên 69,71% tổng vốn ODA ký kết Riêng hai năm trở lại đây, nhờ quyết tâm cao của Chính phủ, nỗ lực của các ngành, các cấp và nhà tài trợ, giải ngân của một
số nhà tài trợ quy mô lớn như Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới (WB) đã có tiến bộ vượt bậc: Tỷ lệ giải ngân của Nhật Bản tại Việt Nam năm 2011 đứng thứ hai và năm 2012 đứng thứ nhất thế giới; tỷ lệ giải ngân của WB tại Việt Nam tăng từ 13% năm 2011 lên 19% năm 2012
Câu 3: Đầu tư công cho các lĩnh vực xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2016
Về tái cơ cấu đầu tư công trong tổng đầu tư toàn xã hội: Vốn đầu tư công giai đoạn 2011-2017 chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Tỷ trọng vốn đầu tư công của Việt Nam trong tổng đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011-2017 đạt mức cao nhất (40,4% năm 2013) và thấp nhất (35,68% năm 2017) (Bảng 1) Từ năm 2011 đến nay, chi đầu tư công liên tục tăng Năm 2017, chi đầu tư công cao gấp 1,74 lần so với năm 2011
Điểm đáng chú ý là số vốn tăng nhưng tỷ trọng chi đầu tư công trong tổng đầu tư toàn xã hội có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây Điều này cho thấy, tái cơ cấu đầu tư công có mục tiêu giảm tỷ trọng đầu tư công, tăng tỷ trọng đầu tư tư nhân trong tổng đầu tư toàn xã hội
- Về tái cơ cấu chi đầu tư công theo nguồn vốn: Chính phủ đã dành ngân sách lớn cho đầu tư Hàng năm, có khoảng hơn 200.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước (NSNN) chi cho đầu tư, chiếm tỷ trọng từ hơn 40% đến hơn 50% tổng chi đầu tư công
Đứng sau chi đầu tư từ nguồn NSNN là chi đầu tư từ nguồn vốn vay (chủ yếu
là trái phiếu chính phủ) Năm 2011, Chính phủ đã chi đầu tư 114.085 tỷ đồng từ
Trang 6vốn NSNN, chiếm 33,4% tổng chi đầu tư công Trong các năm tiếp theo chi đầu tư
từ vốn vay tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong tổng chi đầu tư công (Bảng 2) -Về số tuyệt đối, chi đầu tư từ NSNN khá ổn định Chỉ trừ năm 2011 do thực hiện thắt chặt chi tiêu để chống lạm phát nên nguồn vốn đầu tư có giảm, trong các năm còn lại mức chi đầu tư từ NSNN được duy trì ở mức hơn 200.000 tỷ đồng Tuy nhiên, về tỷ trọng, chi đầu tư từ NSNN có xu hướng giảm, chi đầu tư từ vốn vay và vốn của các DNNN có xu hướng tăng
Trong thời kỳ 2011 - 2016, chi đầu tư từ vốn NSNN tăng bình quân 3,88%/năm, chi đầu tư từ vốn vay có tốc độ tăng bình quân cao nhất, đạt 8%/năm; tiếp đến là chi đầu tư từ vốn các DNNN và vốn khác tăng 5,78% Đầu tư từ vốn NSNN được coi là ít rủi ro hơn so với đầu tư từ các nguồn khác, nhưng tỷ trọng loại vốn này lại giảm và tốc độ tăng thấp hơn các đầu tư từ nguồn vốn khác - đây là
xu hướng thay đổi không tích cực của tái cơ cấu đầu tư công và đối với nền kinh tế Nghiên cứu của trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho thấy, năm 2016, NSNN đã chi 6.560 tỷ đồng đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó, 5.150 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững; chi 1.410 tỷ đồng cho Chương trình nông thôn mới Chi đầu tư từ nguồn trái phiếu chính phủ tập trung cho các lĩnh vực giao thông 22.394,43 tỷ đồng, y tế 16.180,06
tỷ đồng, thủy lợi 8560,43 tỷ đồng
Những kết quả tích cực về tái cơ cấu đầu tư công
Những phân tích ở trên cho thấy, cơ cấu đầu tư công và tái cơ cấu đầu tư công ở Việt Nam trong thời kỳ 2011-2016 đã có những kết quả đáng ghi nhận, cụ thể:
Một là, quy mô chi tiêu đầu tư công đã được mở rộng liên tục để hỗ trợ cho
tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ này
Hai là, tái cơ cấu đầu tư công đã được thực hiện theo đúng định hướng, tỷ
trọng đầu tư công trong tổng đầu tư toàn xã hội và trên GDP đã giảm dần
Ba là, cơ cấu đầu tư công đã được chuyển dịch sang những ngành bảo đảm
tính bền vững của tăng trưởng
Một số vấn đề đặt ra
Trang 7Bên cạnh các kết quả đạt được ở trên, tái cơ cấu đầu tư công giai đoạn
2012-2016 còn tồn tại một số hạn chế sau:
Thứ nhất, tái cơ cấu đầu tư công diễn ra chậm.
Thứ hai, tái cơ cấu đầu tư công chưa hiệu quả, chưa khắc phục được tình
trạng đầu tư dàn trải
Thứ ba, tái cơ cấu đầu tư công tác động tới tăng trưởng kinh tế không lớn.
Câu 4: Đầu tư công từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ của Việt Nam 2011-2016
Giai đoạn 2011- 2015, thị trường vốn đã huy động được hơn 1.211 nghìn tỷ đồng, gấp gần 4 lần giai đoạn 2006 - 2010, đóng góp bình quân 23% vào tổng đầu
tư toàn xã hội Khối lượng vốn huy động được cho NSNN thông qua phát hành trái phiếu chính phủ tăng mạnh, đạt khoảng một triệu tỷ đồng (gấp 13 lần so với giai đoạn 2005- 2010)
Thị trường trái phiếu DN huy động được hơn 211 nghìn tỷ đồng thông qua công tác CPH Theo báo cáo của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, mức vốn hóa thị trường cổ phiếu tích điểm đến tháng 3/2017 tương đương 57,4% GDP
Trong cơ cấu vốn đầu tư công giai đoạn 2011 – 2016, vốn đầu tư từ NSNN vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (46,3%), tiếp đến là vốn vay (từ trái phiếu và nguồn khác) đạt 38,03%, còn nguồn vốn từ DNNN và nguồn khác đạt 15,61%
Bên cạnh những kết quả đạt được trên, vấn đề huy động nguồn lực tài chính phục vụ cơ cấu lại nền kinh tế cũng còn những hạn chế:
Thứ nhất, tốc độ tái cơ cấu thị trường tài chính (TTTC) chưa được như mong muốn
Khả năng huy động nguồn lực tài chính phụ thuộc rất lớn tới mức độ trưởng thành và linh hoạt của TTTC Quá trình tái cơ cấu TTTC của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua còn nhiều tồn tại như sự thay đổi về cơ cấu thị trường diễn ra chậm chạp, vai trò của thị trường vốn chưa đủ lớn, nhiều yếu kém có tính hệ thống và dài hạn của các tổ chức tín dụng (TCTD) chưa được giải quyết cơ bản, đặc biệt là vấn
Trang 8đề nợ xấu, sở hữu chéo và quản trị ngân hàng nhiều rủi ro; chưa xử lý dứt điểm một số ngân hàng thương mại (NHTM) rất yếu kém, đã có dấu hiệu phá sản
Thứ hai, vai trò của thị trường vốn như là một kênh huy động nguồn lực tài chính chưa thực sự rõ nét
Quy mô thị trường chứng khoán tuy đã có sự tăng trưởng nhanh nhưng vẫn chưa tương xứng tiềm năng và chưa trở thành kênh cấp vốn quan trọng nhất cho khu vực DN Về quy mô thị trường, đến cuối năm 2015, dư nợ tín dụng thị trường trái phiếu đạt khoảng 24,1% GDP, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt khoảng 35% GDP (thấp hơn so với mục tiêu 50% đặt ra tại Chiến lược phát triển thị trường vốn)
Thứ ba, những tồn tại trong hệ thống ngân hàng hiện vẫn đang là lực cản đến việc huy động nguồn lực tài chính
Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng vẫn còn cao, chưa được xử lý dứt điểm làm cho lãi suất cho vay vẫn cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với an toàn, hiệu quả hoạt động của các TCTD Các NHTM gặp khó khăn trong việc tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực tài chính do việc tăng vốn của các ngân hàng chủ yếu từ nguồn cổ tức Lãi suất cho vay trong thời gian từ 2012 đến nay có xu hướng giảm nhưng vẫn
ở mức cao so với lạm phát và mức lãi suất của nhóm nước ASEAN-4
Thứ tư, năng lực của các TCTD mặc dù đã được chú trọng nhưng chưa được thực sự nâng cao rõ rệt
Theo số liệu của Tạp chí The Banker, mức tăng vốn cấp 1 của các ngân hàng Việt Nam chỉ đạt mức 4,54% trong năm 2016, thấp nhất trong các quốc gia Đông Nam Á
Nguyên nhân chính của tình trạng này là do: (i) Thiếu những chỉ số và lộ trình cụ thể cho việc định hướng giảm số lượng ngân hàng và nâng cao năng lực tài chính của hệ thống này; (ii) Áp lực tăng vốn của hệ thống các NHTM chưa cao; (iii) Khả năng tăng vốn của các NHTM thông qua các nhà đầu tư chưa cao; (iv) Các chỉ tiêu tối thiểu về an toàn vốn chưa nhiều; (v) Các nhà đầu tư nước ngoài còn dè dặt khi cân nhắc việc đặt chân vào miền đất của các ngân hàng thương mại nhà nước
Trang 9Năng lực của các TCTD chưa được nâng cao rõ rệt đã ảnh hưởng tới việc huy động vốn cho cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng
Thứ năm, huy động nguồn lực tài chính thông qua NSNN còn chưa bền vững
Cơ sở của nguồn thu cho NSNN phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế và việc mở rộng cơ sở thuế, các khoản phí, lệ phí một cách hợp lý Việc xác định cơ sở thuế đối với từng sắc thuế rất quan trọng vì cơ sở thuế ảnh hưởng tới sự bền vững của các sắc thuế
Có thể chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, tồn tại nêu trên gồm: Một là, thể chế pháp lý để tái cơ cấu TTTC chưa được xây dựng kịp thời đã hạn chế tốc độ tái cơ cấu TTTC và ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực tài chính
Đối với một thị trường quan trọng như TTTC trong nền kinh tế thị trường thì việc tái cơ cấu TTTC cần được thể chế hóa một cách hoàn chỉnh nhằm có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc trong thực tế TTTC nói riêng và các cơ chế huy động nguồn lực tài chính cũng cần được quản lý chặt chẽ bởi mức độ nhạy cảm và vai trò của nó đối với nền kinh tế
Trong điều kiện một TTTC mới được hình thành và phát triển như ở nước ta thì việc thận trọng trong thể chế hóa việc tái cơ cấu TTTC và cơ chế huy động vốn
là điều rất cần thiết
Hai là, thị trường vốn của nước ta vẫn dựa chủ yếu vào hệ thống NHTM mà chưa phát triển nhiều và đồng bộ các kênh huy động nguồn lực tài chính khác
Sự tham gia của các định chế tài chính phi ngân hàng còn tương đối hạn chế Việc phân bổ vốn theo ngành và theo thành phần kinh tế còn chậm thay đổi, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra Thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu chính phủ, thị trường trái phiếu DN và thị trường bảo hiểm còn chưa được phát triển toàn diện và đồng bộ; Thị trường chứng khoán phái sinh mới được hình thành và đưa vào hoạt động chưa lâu
Ba là, việc xử lý nợ xấu, các biện pháp phòng ngừa nợ xấu phát sinh chưa được triển khai toàn diện và đồng bộ
Trang 10Hai nguyên nhân chính mà giới chuyên gia tài chính nước ta xác định cho vấn đề nợ xấu của hệ thống ngân hàng bao gồm: (i) Các TCTD không thể chủ động
xử lý tài sản đảm bảo khi vay vốn; (ii) Việt Nam chưa có thị trường mua bán nợ đúng nghĩa
Bên cạnh đó, sự bấp bênh của tăng trưởng kinh tế và thị trường bất động sản
bị đóng băng trong thời gian qua làm cho nhiệm vụ xử lý nợ xấu tiếp tục là nhiệm
vụ khó khăn nhất trong tái cơ cấu ngân hàng
Bốn là, việc nâng cao năng lực tài chính của các TCTD bị hạn chế bởi khả năng huy động vốn cho các TCTD từ các tổ chức trong và ngoài nước
Trong điều kiện nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn thì việc huy động từ các
tổ chức kinh tế trong nền kinh tế thị trường với tư cách là trung tâm thanh toán cũng bị hạn chế Chức năng thanh toán trong nền kinh tế của các TCTD sẽ bị ảnh hưởng khi các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nội địa và giữa nội địa với quốc tế bị giảm đi
Bên cạnh đó, các quan hệ thương mại nếu bị giảm đi thì các khoản thanh toán giữa các bên như các khoản phải thu, phải trả qua ngân hàng cũng giảm theo Điều
đó dẫn tới khả năng huy động vốn cho ngân hàng cũng bị ảnh hưởng
Năm là, việc duy trì và mở rộng cơ sở cho nguồn thu của NSNN bị hạn chế bởi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Cơ sở thu của NSNN ảnh hưởng lớn tới nguồn thu của NSNN Số lượng các
DN đóng thuế cho NSNN giảm đi sẽ ảnh hưởng tới nguồn thu từ cơ sở này Số lượng hàng hóa tiêu thụ trên thị trường giảm đi do sức mua của người dân giảm đi cũng ảnh hưởng tới tổng số thuế thu được từ thuế giá trị gia tăng
Số lượng phương tiện vận tải lưu thông trên đường giảm đi sẽ ảnh hưởng tới các khoản lệ phí thu được Nguồn thu của chính quyền trung ương và địa phương cũng bị suy giảm bởi các hoạt động kinh tế ở cấp Trung ương và địa phương bị suy giảm
Cau 5: Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2011-2016