1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình luận văn thạc sĩ 2015

85 414 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng việc sử dụng mô hình thực nghiệm VECM để phân tích, kiểm định với dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1986 đến năm 2010 theo giá so sánh năm 1994, kết quả nghiên cứu cho thấy cho thấy đầ

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING

-

MAI THANH HƯƠNG

ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG

TRƯỞNG KINH TẾ TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng

Mã số: 60340201

Hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư

TPHCM - 2015

Trang 2

MỤC LỤC

Contents

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1

1.3 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4

1.4.1 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4.2 Đối tượng nghiên cứu 4

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.5.1 Phương pháp định tính 4

1.5.2 Phương pháp định lượng 5

1.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 5

1.6.1 Ý nghĩa khoa học 5

1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

1.7 BỐ CỤC CỦA NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 6

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

2.1.1 Đầu tư công 6

2.1.2 Tăng trưởng kinh tế 8

Trang 3

2.1.3 Lý thuyết về tác động của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế qua các mô hình

tăng trưởng kinh tế 12

2.2.TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ QUA CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 18

2.2.1 Một số nghiên cứu nước ngoài 18

2.2.2 Một số nghiên cứu trong nước 19

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 24

3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 24

3.1.1 Mô hình nghiên cứu 24

3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 26

3.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 27

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 29

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH QUẢNG BÌNH 35

4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.2.1 Mô tả bộ dữ liệu 39

4.2.2 Kiểm định tính dừng, xác định độ trễ tối ưu 40

4.2.3 Kiểm định quan hệ nhân quả Granger 42

4.2.4 Ước lượng mô hình VAR, phân rã phương sai 43

4.2.5 Phân tích phân rã phương sai 44

4.2.6 Phân tích các cú sốc đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế 46

4.2.7 Tính ổn định của mô hình 47

4.3 THẢO LUẬN 48

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 55

Trang 4

5.1 KẾT LUẬN 55

5.2 GỢI Ý MỘT SỐ CHÍNH SÁCH NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG 56

5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

PHỤ LỤC 63

Trang 6

1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Quảng Bình là một tỉnh duyên hải miền trung, nằm ở Bắc Trung Bộ, Việt Nam,

thông huyết mạch: Quốc lộ 1A chạy dọc, Đường Hồ Chí Minh 2 nhánh Tây và Đông, Quốc lộ 12A nối Việt Nam - Lào - Thái Lan; có cửa khẩu quốc tế Cha Lo, cảng biển Hòn La, Sân bay Đồng Hới, có đường sắt Bắc - Nam , có hệ thống đường biển, đường sông; giáp ranh với nước bạn Lào và hướng ra Biển Đông Quảng Bình nằm gần một

số thành phố lớn như thành phố Huế, thành phố Nha Trang, thành phố Vinh Là một tỉnh có lợi thế về nguồn lao động dồi dào, lực lượng lao động đã qua đào tạo khá cao, Tỉnh Quảng Bình có nhiều tiềm năng cho sự phát triển kinh tế xã hội Cùng với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của cả nước, Quảng Bình cũng có những bước phát triển nhất định, lấy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững là mục tiêu đặt ra của Tỉnh nhà, nhằm nâng cao đời sống người dân, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm tỷ lệ thất nghiệp Nhu cầu vốn đầu tư của tỉnh rất lớn đặc biệt là nhu cầu vốn đầu tư công, việc quản lý,

sử dụng nguồn vốn đầu tư công có ý nghĩa rất quan trọng Đầu tư công góp phần tạo ra

cơ sở hạ tầng xã hội, đẩy mạnh phát triển kinh tế tỉnh nhà Nhưng hiện nay việc quản

lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư công còn nhiều bất cập, kém hiệu quả Đầu tư công luôn

đi kèm với thất thoát và lãng phí Chính vì vậy Tỉnh Quảng Bình đã đưa ra các chính sách cụ thể về quản lý đầu tư công

Tuy nhiên tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Quảng Bình vẫn chưa có minh chứng thực nghiệm

Để đánh giá tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại Tỉnh Quảng Bình nhằm tìm ra các biện pháp quản lý đầu tư công và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Tỉnh, tác giả chọn đề tài: “Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại Tỉnh Quảng Bình”

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Hiện nay đã có những đề tài nghiên cứu về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế gần giống với mục đích của nghiên cứu này như:

Trang 7

2

mô hình thực nghiệm VECM, Trung tâm nghiên cứu kinh tế chính sách

Trong nghiên cứu này, tăng trưởng kinh tế được xác định phụ thuộc vào hai biến

là đầu tư khu vực nhà nước và đầu tư khu vực tư nhân Bằng việc sử dụng mô hình thực nghiệm VECM để phân tích, kiểm định với dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1986 đến năm 2010 (theo giá so sánh năm 1994), kết quả nghiên cứu cho thấy cho thấy đầu

tư khu vực nhà nước, đầu tư khu vực tư nhân đều có tác động tích cực đến mức sản lượng của nền kinh tế Tuy nhiên hiệu quả của đầu tư tư nhân cao hơn hiệu quả của đầu tư công trong dài hạn Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy hiện tượng đầu tư công

“lấn áp” đầu tư tư nhân thể hiện rõ nét và hiệu ứng này đạt đến cực đại vào năm thứ 5

tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam:Góc nhìn thực nghiệm từ mô hình ARDL, Tạp chí Phát

triển và Hội nhập số 19 trang 3 – 10

Trong nghiên cứu này, tốc độ tăng trưởng kinh tế được xác định phụ thuộc vào các biến là tỷ lệ tăng vốn đầu tư công trên GDP, tỷ lệ tăng vốn đầu tư tư nhân trên GDP, tỷ lệ tăng vốn đầu tư khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trên GDP, tỷ lệ gia tăng lực lượng lao động hàng năm

Với dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1988 đến năm 2012, tác giả sử dụng mô hình ARDL để phân tích tích, kiểm định tại Việt Nam Kết quả tính toán tác động dài hạn

từ mô hình ARDL cho thấy đầu tư công trên GDP, đầu tư tư nhân trên GDP, đầu tư khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trên GDP, tỷ lệ tăng trưởng lao động đều có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế trong dài hạn một cách có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế là yếu nhất

Trong ngắn hạn tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê

Economic Growth in Pakistan, The Pakistan development review 45 : 1 (Spring 2006)

pp 87 – 98

Trang 8

3

Nghiên cứu sử dụng mô hình VAR nhằm nghiên cứu tác động của đầu tư công (IG), đầu tư tư nhân (IP), chi tiêu công (CG), và GDP (Y) tại Pakistant Dữ liệu về các biến trong điều kiện thực tế trong giai đoạn 1973-2004

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế phần lớn được thúc đẩy bởi đầu tư tư nhân Đầu tư công và chi tiêu công tác động rất ít đến tăng trưởng kinh tế

Pakistant

Economic Growth in Bangladesh, An econometric Analysis, Research Study Series

No–FDRS 05/2013

Nhằm nghiên cứu tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại Bangladesh, nghiên cứu xác định tăng trưởng kinh tế tại Bangladesh phụ thuộc vào đầu tư công và đầu tư tư nhân Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ các chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới và Thống kê Tài chính Quốc tế của

bộ số liệu IMF trong thời gian từ năm 1973 đến năm 2011

khu vực công, đầu tư khu vực tư nhân tác động dương đến tăng trưởng kinh tế Bangladesh Các tập dữ liệu chứa 39 quan sát có dung lượng lớn hơn so với yêu cầu số lượng tối thiểu để phân tích thống kê

Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư công có hệ số tích cực và có ý nghĩa thống

kê ở mức 1% Điều này ngụ ý rằng đầu tư công có tác động ngắn hạn tích cực vào tăng trưởng kinh tế Bangladesh Mặt khác, đầu tư tư nhân không có bất kỳ tác động đáng kể vào tăng trưởng kinh tế Sự hình thành vốn trong cả hai lĩnh vực với độ trễ thứ ba và

độ trễ thứ năm có tác động tích cực về tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu vào phân tích tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại Tỉnh Quảng Bình Do đó, đề tài nghiên cứu này của tôi dựa trên tính chất khách quan, khoa học để phân tích tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại Tỉnh Quảng Bình và gợi ý một số chính sách nâng cao hiệu quả của đầu tư công, cụ thể là tại Tỉnh Quảng Bình

Trang 9

4

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này xác định các mục tiêu cụ thể sau:

Bình

triển kinh tế tại Tỉnh Quảng Bình

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để phục vụ cho nghiên cứu này, các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra là:

không?

nào?

1.4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.4.1 Phạm vi nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu trên địa bàn Tỉnh Quảng Bình, giai đoạn 1991 – 2014

1.4.2 Đối tượng nghiên cứu

Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Tỉnh Quảng Bình

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài được nghiên cứu theo cả hai phương pháp định tính & định lượng

1.5.1 Phương pháp định tính

- Phân tích tổng hợp: Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: các bài báo, các đề tài nghiên cứu và các tài liệu khác có liên quan Thông qua phân tích tổng hợp lý thuyết, phân loại hệ thống hoá và khái quát hoá lý thuyết từ đó rút ra các kết luận khoa học là cơ sở lý luận cho đề tài

- Phương pháp thống kê mô tả: Dựa trên số liệu công bố trên niêm giám thống kê Tỉnh Quảng Bình nhằm thu thập thông tin đưa vào phân tích và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Trang 10

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan lý thuyết

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và các thảo luận

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách

Trang 11

6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1.1 Đầu tư công

2.1.1.1 Khái niệm đầu tư công

- Theo (Vũ Thành Tự Anh, 2012), đầu tư công là đầu tư khu vực nhà nước bao gồm đầu tư từ ngân sách (phân cho các bộ ngành và cho các địa phương), đầu tư theo chương trình mục tiêu quốc gia, tín dụng đầu tư (thường được ưu đãi) và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước

- Theo luật đầu tư công hiện hành, đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

luật đầu tư công hiện hành

2.1.1.2 Nguồn tài trợ đầu tư công

- Vốn ngân sách nhà nước: Đây là nguồn chi từ ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển xã hội Nguồn vốn này thường được sử dụng để đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia Đây là nguồn vốn quan trọng chiến lược phát triển kinh tế xã hội

- Vốn công trái quốc gia là nguồn vốn được huy động từ việc phát hành công trái xây dựng tổ quốc nhằm bổ sung vào ngân sách nhà nước nhằm đầu tư xây dựng các công trình then chốt, tạo nên cơ sở vật chất, góp phần phát triển kinh tế xã hội

- Vốn trái phiếu Chính phủ

Theo Nghị định số 01/2011/NĐ – CP về phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính phủ được bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương, vốn trái phiếu Chính phủ là nguồn vốn được huy động từ việc phát hành trái phiếu chính phủ nhằm

bổ sung vào ngân sách nhà nước, hoặc bổ sung vốn cho các chương trình dự án đầu tư

cụ thể, thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước

Trang 12

7

- Vốn trái phiếu chính quyền địa phương

Theo Nghị định số 01/2011/NĐ – CP về phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính phủ được bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương, vốn trái phiếu chính quyền địa phương là nguồn vốn do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương huy động từ việc phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn cho công trình,

dự án đầu tư của địa phương

- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài

Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn tài chính quan trọng giữ vai trò

bổ sung vốn cho quá trình phát triển của quốc gia nhất là đầu tư công Vốn ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Vốn ODA có thời hạn cho vay dài, thường là từ 10 năm đến 30 năm, lãi suất thấp thường khoảng từ 0,25%/năm đến 2% năm (Nguyễn Hữu Hiểu, 2013) Với nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi, Chính phủ các nước đang phát triển mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường, điện, nước, thủy lợi và các hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế Theo mục tiêu sử dụng ODA có 4 loại: Hỗ trợ cán cân thanh toán; tín dụng thương mại; viện trợ chương trình (viện trợ phi dự án); viện trợ dự án

- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là nguồn vốn hỗ trợ các dự án đầu

tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững;

- Vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước

- Các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư

2.1.1.3 Lĩnh vực đầu tư công

Theo luật đầu tư công hiện hành, lĩnh vực đầu tư công bao gồm:

Trang 13

8

- Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

- Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

- Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích

- Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư

2.1.2 Tăng trưởng kinh tế

2.1.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

- Tăng trưởng là sự gia tăng một cách bền vững về số lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân (Simon Kuznets, 1955, trích bởi Châu Văn Thành, 2014),

- Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số (Douglass C.North và Robert Paul Thomas, 1973, trích bởi Châu Văn Thành, 2014)

- Tăng trưởng kinh tế cần phải được hiểu như một quá trình thay đổi tạo ra sản lượng thực bình quân đầu người cao hơn Mặt khác tăng trưởng kinh tế không chỉ là quá trình làm ra cùng một thứ nhiều hơn, mà còn là quá trình thay đổi cơ cấu sản xuất

và tiêu dùng cả về mặt số lượng lẫn chất lượng (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 18, 19)

2.1.2.2 Một số chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong nước là chỉ tiêu phổ biến được dùng để phản ánh tình hình

hoạt động của nền kinh tế GDP được định nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa dịch vụ cuối cùng tạo ra hay sản xuất trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định

GDP bình quân đầu người là một trong những chỉ tiêu thống kê kinh tế tổng hợp quan trọng phản ánh kết quả sản xuất tính bình quân đầu người trong một năm GDP bình quân đầu người còn là chỉ tiêu được dùng để đánh giá sự phát triển kinh tế theo thời gian và so sánh quốc tế

Trang 14

9

GDP bình quân đầu người một năm được tính bằng cách chia GDP trong năm cho tổng dân số trung bình trong năm tương ứng GDP bình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, bằng nội tệ hoặc ngoại tệ, cũng có thể tính theo giá so sánh để tính tốc độ tăng (Vũ Thanh Liêm và cộng sự, 2014)

Tổng sản phẩm quốc dân để đo lường tổng thu nhập do công dân một nước kiếm được bất kể yếu tố dịch vụ của họ được cung cấp ở nước nào

GNP = GDP + thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài

Tuy nhiên, GNP có nhược điểm các yếu tố đầu ra như tiếng ồn, ô nhiễm gây giảm phúc lợi chưa được hạch toán vào GNP Thứ hai, GNP không bao gồm thời gian nhàn rỗi Thứ ba, GNP tính theo đầu người chỉ là con số trung bình, trong khi yếu tố quyết định mức sống của một cá nhân cụ thể trong quốc gia là phân phối thu nhập mới

Tốc độ tăng sản lượng hàng năm và tốc độ tăng sản lượng bình quân đầu người là các chỉ số đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế Các chỉ tiêu này được tính theo công thức:

gx = (Xnăm(t) - Xnăm(t-1))/ Xnăm(t-1)

Trong đó:

g là tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu X

X có thể là GDP thực, GNP thực, GDP thực tế bình quân đầu người hoặc GNP thực tế bình quân đầu người (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 32, 33)

2.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Theo nhà kinh tế học Robert Solow (1956), tăng trưởng kinh tế chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố như vốn, lực lượng lao động, khoa học công nghệ

- Ảnh hưởng của vốn đến tăng trưởng kinh tế:

Vốn là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế Tăng vốn ở đây được hiểu là sự gia tăng đầu tư mới vào nhà xưởng, máy móc, thiết bị, đường xá và cơ sở hạ tầng khác Tùy vào mức vốn mà quá trình sản xuất sử dụng máy như thế nào, tạo ra sản lượng ra sao Khi vốn gia tăng với điều kiện các yếu tố khác không đổi, sẽ trực tiếp gia tăng tổng cung của nền kinh tế Ở thế kỷ 19, Karl Marx đã chỉ ra các yếu tố tăng

Trang 15

Tuy nhiên một nền kinh tế tăng trưởng không chỉ phụ thuộc vào việc tăng khối lượng vốn mà còn phải chú ý đến việc quản lý và sử dụng vốn sao cho hợp lý, hiệu quả Ngoài ra cần chú ý đến sự tác động qua lại của vốn với các yếu tố khác trong nền kinh tế

- Ảnh hưởng của lao động:

Lao động là cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Trong các mô hình tăng trưởng kinh tế, các yếu tố như vốn, công nghệ có thể vay mượn hoặc mua được nhưng lao động thì khó có thể vay mượn được, vốn và công nghệ cũng không thể thực hiện chức năng của mình nếu không có lao động Lao động

là yếu tố đầu vào không thể thiếu của quá trình sản xuất Lao động ở đây được hiểu về hai khía cạnh: số lượng lao động và trình độ lao động Các nhà khoa học đã biết rằng con người đóng góp vào tăng trưởng kinh tế không đơn giản ở khía cạnh số lượng mà quan trọng hơn là chất lượng Họ xem khía cạnh chất lượng này là một loại vốn cùng với vốn vật chất, vốn xã hội hay còn gọi là vốn văn hóa Chất lượng lao động có vai trò quan trọng để tạo ra tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn lẫn dài hạn Một quốc gia

có mứa độ tích lũy vốn nhân lực cao thì sẽ duy trì được thu nhập bình quân đầu người cao hơn và ngược lại (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 167, 168, 183)

Chất lượng lao động bao gồm tất cả khả năng lao động, những tri thức, kỹ năng, giá trị con người Khi số lượng lao động ngày càng cao kết hợp với chất lượng lao động giỏi sẽ góp phần đẩy mạnh quá trình sản xuất, nâng cao năng xuất lao động

- Ảnh hưởng của kỹ thuật và khoa học công nghệ:

Trang 16

11

Kỹ thuật và khoa học công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Sự phát triển của khoa học công nghệ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thể hiện ở nhiều mặt

Trước hết là tiến bộ trong các ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp điện, điện tử với những đổi mới công nghệ, chế tạo ra nhiều máy móc, thiết bị hiện đại làm tăng hiệu quả công việc, tăng năng suất lao động, cung cấp những thông tin đến gần hơn với các chủ thể cần đến thông qua các viễn thông, mạng internet, rút ngắn thời gian làm việc, tiết kiệm nguồn vốn đầu tư Khoa học công nghệ còn đóng vai trò rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên khai thác được chế biến và xuất khẩu ở dạng tinh mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn

Thứ hai, kỹ thuật và khoa học công nghệ góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển, thông qua việc nghiên cứu, lai tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, hiệu quả kinh tế tốt, kết hợp với các loại phân bón, thuốc trừ sâu, các máy móc thiết bị hiện đại để tạo ra năng suất nông nghiệp cao hơn (Nguyễn Trọng Hoài,

2013, trang 203, 204)

Thứ ba, khoa học công nghệ thúc đẩy giao thương trong nước và quốc tế, với việc áp dụng khoa học công nghệ chế tạo, cải tiến các phương tiện vận tải, thay thế những phương tiện cũ bởi các phương tiện hiện đại, hiệu quả nhằm xóa bỏ các khoảng cách về không gian và thời gian, giúp doanh nghiệp giảm được các chi phí kinh doanh

và mở rộng thị trường, thương mại quốc tế thuận lợi hơn (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 281)

Thứ tư, khoa học công nghệ giúp cuộc sống người dân ngày càng nâng cao, giúp cho người dân tiếp cận với nhiều thông tin hơn, giúp người dân hiểu rõ hơn về môi trường kinh tế, xã hội, chính trị xung quanh để xây dựng các kế hoạch kinh doanh phù hợp (Nguyễn Toàn Thắng, 2012)

- Ảnh hưởng của tài nguyên

Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích luỹ vốn và phát triển ổn định Tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia không giống nhau Những quốc gia có tài nguyên thiên nhiên ưu đãi, đa dạng có thể rút ngắn

Trang 17

12

quá trình tích luỹ vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hoá nền kinh tế tạo nguồn vốn tích ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Sự đa dạng tài nguyên, là cơ sở để phát triển nhiều ngành kinh tế, ít bị phụ thuộc vào nguồn tài nguyên không ổn định trên thị trường thế giới Những quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú có thể tăng trưởng trong những điều kiện ổn định

2.1.3 Lý thuyết về tác động của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế qua các

mô hình tăng trưởng kinh tế

2.1.3.1 Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2013), trong mô hình Harrod – Domar thì mọi nền kinh tế đều phải dành một tỷ lệ thu nhập nhất định để bù đắp những hao mòn của trữ lượng vốn đã đầu tư còn gọi là khấu hao trữ lượng vốn của nền kinh tế (nhà cửa, thiết

bị, vật liệu…) Ngoài ra nền kinh tế muốn thúc đẩy tăng trưởng thì tất yếu phải có đầu

tư mới, hay còn gọi là đầu tư thuần

Giả thuyết rằng có một mối quan hệ kinh tế trực tiếp giữa quy mô trữ lượng vốn, gọi là K và lao động gọi là L và tổng sản phẩm quốc gia GNP, được ký hiệu là Y Điều này giúp chúng ta xây dựng một hàm sản xuất có dạng Y= f(K, L) Với giả thuyết năng suất không đổi theo quy mô thì hàm số sản xuất này có thể viết lại như sau Y/L =

f (K/L,1) hay còn gọi là hàm số sản xuất trên mỗi lao động Mô hình Harrod – Domar giả định tỷ lệ giữa vốn và lao động nghĩa là tỷ lệ K/L là không đổi

Giả sử chúng ta gọi tỷ lệ vốn và sản lượng là k hay k = Y/K hay Y = (1/k)K từ đây chúng ta có thể viết lại :

hay hay

Tỷ lệ này gọi là ICOR là số vốn đầu tư cần thiết để tạo nên một đơn vị tăng trưởng trong thu nhập

Gọi g là tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc gia thì

Gọi s là tỷ lệ tiết kiệm (0<s<1) và S là tổng số tiết kiệm trong nền kinh tế và giả

sử toàn bộ tiết kiệm này được chuyển sang đầu tư ký hiệu là I thì:

S = sY = I

Trang 18

13

Hàng năm, sự thay đổi của trữ lƣợng vốn tùy thuộc vào lƣợng vốn đầu tƣ mới và khấu hao vốn của nền kinh tế Gọi d là tỷ lệ khấu hao (0<d<1) thì sự thay đổi của trữ lƣợng vốn hàng năm sẽ là

Ta có thể viết lại

Kết hợp các biểu thức trên ta có: g = s/k –d

Đây là diễn tả đơn giản của công thức Harrod – Domar nổi tiếng trong lý thuyết

- Tỷ lệ tiết kiệm của quốc gia, s;

Trang 19

14

2.1.3.2 Hàm sản xuất Cobb – Douglas

Theo Nguyễn Thị Cành (2004), Mô hình tăng trưởng dạng hàm sản xuất thường được sử dụng trong nghiên cứu dưới dạng phương trình:

N: Tài nguyên thiên nhiên, đất đai

t: khoa học công nghệ theo thời gian

Phương trình này thường được trình bày dưới dạng hàm mũ:

Đây là hàm sản xuất Cobb – Douglas, hàm sản xuất cobb – Douglas cho biết có bốn yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế gồm vốn, lao động, tài nguyên, khoa học công nghệ trong đó khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế Các hệ số A, α, β là các hệ số không đổi chưa biết Tổng hệ số co giản α và β

có ý nghĩa kinh tế quan trọng

- Nếu tổng hệ số co giản (α + β) = 1, thì hàm sản xuất cho biết tình trạng doanh lợi không thay đổi theo qui mô, có nghĩa là % tăng các yếu tố đầu vào bằng % tăng sản lượng đầu ra

- Nếu tổng hệ số co giản (α + β) > 1, thì hàm sản xuất cho biết tình trạng doanh lợi tăng dần theo qui mô, có nghĩa là % tăng các yếu tố đầu vào nhỏ hơn % tăng sản lượng đầu ra

- Nếu tổng hệ số co giản (α + β) < 1, thì hàm sản xuất cho biết tình trạng doanh lợi giảm dần theo qui mô, có nghĩa là % tăng các yếu tố đầu vào lớn hơn % tăng sản lượng đầu ra

Mô hình hàm sản xuất Cobb – Douglas thường được áp dụng cho một ngành sản xuất, xác định mối quan hệ giữa tăng tổng sản phẩm của ngành với các yếu tố vốn và lao động Có thể dùng dự báo chỉ tiêu tổng sản phẩm của ngành khi biết trước được khả năng đầu tư vốn, lao động của ngành, theo yêu cầu phát triển của các giai đoạn (t)

Trang 20

15

Hàm số trên sau này thường được mở rộng bằng cách bổ sung thêm nhiều yếu tố nữa như tài nguyên và tiến bộ kỹ thuật Chẳng hạn, dạng hàm Cobb – Douglas – Timbergin:

Trong đó:

N: đất đai hoặc tài nguyên

e: cơ số logarit neper

Các tham số a, β, γ là các hệ số co giãn để chỉ sự gia tăng của các yếu tố vốn đầu

tư, lao động, tài nguyên ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm chẳng hạn qua hàm này có thể xác định được mức tăng trưởng tổng sản phẩm (Q) khi nhân tố lao động K, hoặc nhân tố lao động L tăng lên 1 %

Như vậy khi dùng hàm sản xuất để xác định mối tương quan giữa tăng trưởng của tổng sản phẩm với vốn, lao động, hoặc cả vòng quay của đất (N) thì phải dựa vào các yếu tố đầu vào thực tế về vốn, lao động, và tổng sản phẩm xã hội Và mối quan hệ của hàm này được coi là một dạng của hàm tương quan hồi quy phi tuyến tính (Nguyễn Thị Cành, 2004, trang 25, 26, 27)

2.1.3.3 Mô hình tăng trưởng Solow

Nhà khoa học Robest Solow đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng bằng một dạng khác của hàm sản xuất cho phép phân tích đánh giá các nguyên nhân hay các nguồn gốc khác nhau của sự tăng trưởng gọi là mô hình Solow Mô hình Solow tập trung vào các biến số: sản lượng đầu ra, vốn, lao động Mô hình cho phép

có trạng thái cân bằng toàn dụng liên tục bằng cách giả định rằng vốn và lao động có thể thay thế nhau trong quá trình sản xuất

Mô hình Solow với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng Một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn sẽ có mức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn

Điểm xuất phát của mô hình Solow là hàm sản xuất tân cổ điển đồng nhất, một đặc trưng cho sinh lợi không đổi theo quy mô Giả thiết này hàm ý rằng với một phần trăm gia tăng đồng thời trong lao động và vốn cũng sẽ dẫn đến cùng phần trăm gia

Trang 21

Điểm cơ bản của mô hình Solow: tích lũy vốn trên một đơn vị lao động tăng khi đầu tƣ thực tế mỗi đơn vị lao động lớn hơn phần bù đắp bình quân mỗi đơn vị lao động trong quá trình sản xuất Nếu đầu tƣ để tạo ra vốn mới vẫn còn lớn hơn lƣợng vốn bị khấu hao, thì vốn tiếp tục tăng Vốn sẽ tăng cho đến khi đầu tƣ mới chỉ đủ bằng lƣợng khấu hao, khi đó vốn mới không đƣợc sản sinh thêm nữa, nền kinh tế sẽ đạt trạng thái dừng

Trạng thái dừng là điểm cân bằng mà ở đó lƣợng vốn giữ nguyên không đổi, bởi

vì lƣợng đầu tƣ để tạo ra vốn mới mỗi năm chỉ đủ để bù trừ phần vốn bị hao mòn Khi vốn không tăng thì sản lƣợng cũng sẽ không tăng Vì vậy, ở trạng thái dừng, lƣợng vốn trên một lao động là cố định, và sản lƣợng trên một lao động là cố định Vốn và lao động không tăng thì tổng sản lƣợng cũng là cố định

- Thay đổi tỷ lệ tiết kiệm

Trang 22

17

Giả sử người dân tiêu dùng ít hơn và tỷ lệ tiết kiệm trung bình tăng vì một lý do ngoại sinh nào đó Tỷ lệ tiết kiệm cao hơn sẽ dẫn đến đầu tư nhiều hơn Đầu tư nhiều hơn tạo ra lượng vốn mới nhiều hơn, và nền kinh tế đạt trạng thái dừng ở một mức vốn mới cao hơn (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92)

- Thay đổi lượng lao động

Giả định rằng lực lượng lao động tăng trưởng với tỉ lệ n (n là ngoại sinh.) Trước kia, lượng vốn ở trạng thái dừng chỉ cần đủ để bù đắp phần khấu hao (đầu tư mới bằng đúng phần vốn bị khấu hao) Nhưng nếu lao động tăng hàng năm với tốc độ n, thì ở trạng thái dừng, để k không đổi (Δk=0), đầu tư phải đủ để bù đắp:

δk: lượng vốn bị khấu hao

n k: lượng vốn cần cho lượng lao động mới tăng thêm

Vì vậy, (δ + n)k còn gọi là mức đầu tư hòa vốn Phương trình thay đổi của vốn trở thành:

Tốc độ tăng lao động cao hơn sẽ cho nền kinh tế đạt trạng thái dừng sớm hơn, nghĩa là

ở mức k* thấp hơn Và vì y = f(k), khi k* thấp hơn sẽ dẫn tới y* thấp hơn (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 95, 96, 97, 98, 99)

- Thay đổi công nghệ

Thay đổi công nghệ, hay tiến bộ công nghệ có nghĩa là chúng ta có thể sản xuất

ra nhiều sản lượng hơn với cùng một lượng vốn và lao động

Tiến bộ công nghệ có thể làm tăng năng suất tổng hợp của cả vốn và lao động Tiến bộ công nghệ cũng có thể tập trung vào nâng cao hiệu quả lao động và tiến bộ công nghệ cũng có thể tập trung vào nâng cao hiệu quả

Hàm sản xuất với yếu tố công nghệ thay đổi sẽ có dạng:

Trong đó L là lượng lao động, A là tình trạng công nghệ

Trang 23

18

Khi tăng số công nhân hay tiến bộ công nghệ đều có ảnh hưởng như nhau đối với sản lượng Độ co giãn của sản lượng theo vốn hoặc theo lao động hiệu dụng lần lượt là

tỷ trọng thu nhập của vốn và lao động trong thu nhập

Trong dài hạn, tốc độ tăng trưởng của vốn và lao động được cho trước một cách ngoại sinh Chỉ có tiến bộ khoa học công nghệ mới giải thích được sự gia tăng không ngừng của mức sống (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 100, 101)

QUA CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2.2.1 Một số nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu sử dụng mô hình VAR gồm đầu tư công (IG), đầu tư tư nhân (IP), chi tiêu công (CG), và GDP (Y) Dữ liệu về các biến trong điều kiện thực tế trong giai đoạn 1973-2004

Trong đó: Y là GDP, IG là đầu tư công, IP là đầu tư tư nhân, CG là chi tiêu công

Mô hình được đề xuất với kỳ vọng về các biến đầu tư công, đầu tư tư nhân, chi tiêu công tác động dương đến tăng trưởng kinh tế Pakistant

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế phần lớn được thúc đẩy bởi đầu tư tư nhân Đầu tư công và chi tiêu công tác động rất ít đến tăng trưởng kinh tế Pakistant

Tuy nghiên cứu đã kiểm định được tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại Pakistant nhưng nghiên cứu còn có hạn chế nhất định Ở nghiên cứu này không phản ánh hết các yếu tố trọng yếu tạo ra tăng trưởng Yếu tố lao động chưa được xem xét trong nghiên cứu

Tất cả dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ các chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới và Thống kê Tài chính Quốc tế của bộ số liệu IMF trong thời gian từ 1973 đến 2011

Trang 24

19

Mô hình nghiên cứu như sau:

phẩm trong nước, vốn khu vực công và vốn khu vực tư nhân

khu vực công, đầu tư khu vực tư nhân tác động dương đến tăng trưởng kinh tế Bangladesh Các tập dữ liệu chứa 39 quan sát có dung lượng lớn hơn so với yêu cầu số lượng tối thiểu để phân tích thống kê

Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư công có hệ số tích cực và có ý nghĩa thống

kê ở mức 1% Điều này ngụ ý rằng đầu tư công có tác động ngắn hạn tích cực vào tăng trưởng kinh tế Bangladesh Mặt khác, đầu tư tư nhân không có bất kỳ tác động đáng kể vào tăng trưởng kinh tế

Ngoài ra, cả đầu tư công và đầu tư tư nhân với độ trễ thứ ba và thứ năm có hệ số tích cực và có ý nghĩa thống kê ở mức độ đáng kể 5 % Điều này suy ra rằng sự hình thành vốn trong cả hai lĩnh vực với độ trễ thứ ba và độ trễ thứ năm có tác động tích

thể mất thời gian đáng kể cho cả nhà nước và đầu tư tư nhân để đạt được trạng thái cân bằng trong ngắn hạn

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi quy cổ điển nên vẫn còn hạn chế khi phân tích kiểm định chỉ thấy được tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, không phân tích được tác động của tăng trưởng kinh tế của đầu tư công

2.2.2 Một số nghiên cứu trong nước

Trang 25

Kết quả tính toán tác động dài hạn từ mô hình ARDL cho thấy đầu tư công trên GDP, đầu tư tư nhân trên GDP, đầu tư khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trên GDP, tỷ

lệ tăng trưởng lao động đều có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế trong dài hạn một cách có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế là yếu nhất

Trong ngắn hạn tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn Tuy nhiên, nghiên cứu không bốc tách được đầy đủ hiện trạng tại Việt Nam, có sự khác biệt ở các tỉnh và các vùng miền tại Việt Nam

Mô hình nghiên cứu:

Y t = α 0 +α 1 GI t +α 2 PI t

Trong đó:

Y: tăng trưởng kinh tế

GI: đầu tư khu vực nhà nước

PI: Đầu tư khu vực tư nhân

Dấu của tất cả các biến được kỳ vọng là dương Điều này có nghĩa là đầu tư khu vực nhà nước, đầu tư khu vực tư nhân được kỳ vọng có hiệu ứng dương ý nghĩa đối với tăng trưởng kinh tế Dữ liệu các biến được thu thập từ năm 1986 – 2010

Kết quả nghiên cứu cho thấy cho thấy đầu tư khu vực nhà nước, đầu tư khu vực

Trang 26

21

tư nhân đều có tác động tích cực đến mức sản lượng của nền kinh tế Tuy nhiên hiệu quả của đầu tư tư nhân cao hơn hiệu quả của đầu tư công trong dài hạn Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy hiện tượng đầu tư công “lấn áp” đầu tư tư nhân thể hiện rõ nét

và hiệu ứng này đạt đến cực đại vào năm thứ 5

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế

nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

khác, đầu tư tư nhân không có bất kỳ tác động đáng kể vào tăng trưởng kinh tế

Trang 27

22

kinh tế Việt Nam

cách có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế là rất yếu Trong ngắn hạn tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê

1986 -2010 Đầu tư khu vực nhà

nước, đầu tư khu vực

tư nhân đều có tác động tích cực đến mức sản lượng của nền kinh tế Tuy nhiên hiệu quả của đầu tư tư nhân cao hơn hiệu quả của đầu

tư công trong dài hạn Kết quả thực

Trang 28

23

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Ở chương này, luận văn đã đề cập đến cơ sở lý luận và tổng quan về đầu tư công

và tăng trưởng kinh tế, khái quát lại lý thuyết về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế thông qua các mô hình tăng trưởng như mô hình tăng trưởng của Harrod – Domar, hàm sản xuất Cobb Douglas và mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow Bên cạnh đó, tác giả đánh giá các minh chứng thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế Và đây cũng là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài

Trang 29

24

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

3.1.1 Mô hình nghiên cứu

Một số minh chứng thực nghiệm đã chỉ ra tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, và mối quan hệ trong dài hạn giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế Thực tế cho thấy rằng sự đóng góp của vốn và lao động đối với tăng trưởng kinh tế là rất lớn Mô hình nghiên cứu đề xuất kết hợp giữa lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow, lý thuyết về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và

nghiên cứu của Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư (2014), Tác động của đầu tư công đối với

tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: Góc nhìn thực nhiệm từ mô hình ARDL

Với nghiên cứu này tác giả thể hiện mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế qua hàm sản suất tân cổ điển để xây dựng mô hình thực nghiệm:

trong phương trình (1) có thể giải thích:

- dY/Y = g = tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội thực;

- dKG / Y = IG/Y = IG = đầu tư công (%/GDP);

- dKP / Y = IP/Y = IP = đầu tư tư nhân (%/GDP);

- dL/L = L = tỷ lệ thay đổi lực lượng lao động hàng năm;

Trang 30

25

- Sau khi được điều chỉnh, phương trình (1) có thể viết lại:

Phương trình (2) cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào biến tỷ lệ đầu

tư công trên GDP (IG), tỷ lệ đầu tư tư nhân trên GDP (IP) và tỷ lệ thay đổi lực lượng lao động (L) Để kiểm định mô hình, ta có phương trình thống kê sau:

Vậy mô hình đề xuất của đề tài như sau :

g t = α 0 + α 1 IG t + α 2 IP t + α 3 L t + ε t

- Trong mô hình này, tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính như sau :

Trong đó:

g là tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu GDP

Số liệu về tốc độ tăng trưởng kinh tế được tác giả lấy từ niêm giám thống kê Tỉnh Quảng Bình từ năm 1991 đến 2013 và ước năm 2014

- Biến đầu tư công được đại diện bởi tỷ lệ đầu tư công trên GDP Tỷ lệ này được tính bằng công thức như sau :

Tỷ lệ đầu tư công = vốn đầu tư công năm t / GDP năm t

Số liệu về tỷ lệ đầu tư công trên GDP được tác giả lấy từ niêm giám thống kê Tỉnh Quảng Bình từ năm 1991 đến 2013 và ước năm 2014

- Biến đầu tư tư nhân được đại diện bởi tỷ lệ đầu tư nhân trên GDP Tỷ lệ này được tính bằng công thức như sau :

Tỷ lệ đầu tư tư nhân = vốn đầu tư tư nhân năm t / GDP năm t

Số liệu tỷ lệ đầu tư tư nhân trên GDP được tác giả lấy từ niêm giám thống kê Tỉnh Quảng Bình từ năm 1991 đến 2013 và ước năm 2014

Trang 31

Tác giả sử dụng tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ đầu tư công trên GDP, tỷ lệ đầu

tư tư nhân trên GDP, tỷ lệ gia tăng lao động để thể hiện các biến trong mô hình vì qua các chỉ số tương đối này có thể thể hiện được tốc độ tăng trưởng, mức độ tăng của các biến trong nghiên cứu

So với mô hình của Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư (2014), Tác động của đầu tư

công đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: Góc nhìn thực nghiệm từ mô hình ARDL, mô hình đề xuất của tác giả không đưa biến tỷ lệ đầu tư vốn đầu tư khu vực

nước ngoài trên GDP vào với lý do như sau:

Tỉnh Quảng Bình là Tỉnh duyên hải miền trung với điều kiện tự nhiên, thiên nhiên khắc nghiệt Điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều hạn chế

Trong thời gian từ năm 1991 đến nay, nguồn vốn đầu tư của Tỉnh chủ yếu là vốn đầu tư công Theo thực tế tại Tỉnh Quảng Bình thì việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài rất ít, tác động của vốn đầu tư nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế không đáng kể Cụ thể năm 1991 đến 2009, vốn đầu tư trực tiếp tại Tỉnh Quảng Bình là 0, sang năm 2010

tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài là 9,4% qua năm 2011 tỷ trọng này giảm chỉ còn 2,3% Qua năm 2012, 2013, vốn từ đầu tư trực tiếp nước ngoài là 0

Các yếu tố trên được đề xuất trên cơ sở phù hợp với thực tiễn tại Tỉnh Quảng Bình và dựa trên các nghiên cứu trước đó

3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu

Theo các nhà kinh tế học đã thừa nhận rằng đầu tư công là nhân tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Đầu tư công tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Vốn đầu tư công là một thành phần quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Việc tăng vốn đầu tư sẽ làm cho tổng cầu tăng khi các yếu tố khác không đổi Hay đầu tư công thúc đẩy kinh tế phát triển Đầu tư công góp phần phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, tạo

Trang 32

có tác động tích cực đến tăng tăng trưởng kinh tế như Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và cộng sự (2014), Sheikh Touhidul Haque (2012), Tô Trung Thành (2012), Phó Thị Kim Chi và cộng sự (2013) Nhưng một số nghiên cứu đã cho thấy đầu tư công không tác động hoặc tác động nghịch chiều đến tăng trưởng kinh tế như: Ejaz Ghani and Musleh –ud Din (2006)

Với nghiên cứu này tác giả kỳ vọng các biến đều tác động tích cực đến tăng

trưởng kinh tế và đưa ra các giả thuyết như sau:

Bảng 3.1: Giả thuyết nghiên cứu của đề tài

kinh tế tại Tỉnh Quảng Bình

Nguồn: Theo tổng hợp của tác giả

3.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn chính:

- Nghiên cứu định tính để hệ thống lại các lý thuyết về đầu tư công, tăng trưởng kinh tế, và tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế

- Nghiên cứu định lượng nhằm thu thập, phân tích dữ liệu thứ cấp và kiểm định

mô hình nghiên cứu

Trang 33

28

Quy trình nghiên cứu cụ thể như sau:

Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Theo nghiên cứu của tác giả

SPSS

16

0

Xác định vấn đề nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và

gợi ý chính sách

Tổng quan lý thuyết và mô

hình nghiên cứu

Nghiên cứu định tính (Chọn mô hình nghiên cứu) Giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng

(Phân tích bộ dữ liệu)

- Kiểm định tính dừng, xác định độ trễ tối ưu

- Kiểm định nhân quả

- Ước lượng mô hình VAR

- Phân tích hàm phản ứng đẩy

- Phân tích phân rã phương sai

- Phân tích tính ổn định của mô hình

-

-

Trang 34

29

Trong nghiên cứu này, để phân tích tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, tác giả thực hiện các kiểm định trong mô hình VAR Mô hình VAR là mô hình hữu ích trong phân tích chuỗi thời gian đa biến Mô hình VAR không phân định rõ ràng giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Hơn nữa mối quan hệ các biến kinh tế không đơn thuần chỉ theo một chiều, trong nhiều trường hợp nó còn ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Mô hình VAR giúp ta xem xét ảnh hưởng qua lại giữa các biến cùng một lúc Tác giả sử dụng mô hình VAR với các bước nghiên cứu cụ thể sau:

Đối với chuỗi thời gian, trước khi tiến hành chạy thực nghiệm cần phải kiểm tra tính dừng của nó Bởi “tính dừng” là một điều kiện quang trọng nhất trong việc phân tích và dự báo chuỗi thời gian Mỗi một mẫu dữ liệu thời gian sẽ mang một tình tiết nhất định và chỉ thể hiện những hành vi cụ thể trong một khoảng thời gian xem xét Kết quả là, chúng ta không thể khái quát hóa cho các giai đoạn thời gian khác Hơn nữa, đối với phân tích hồi quy, nếu chuỗi thời gian không dừng thì tất cả các kết quả điển hình của một phân tích hồi quy tuyến tính cổ điển sẽ không có giá trị cho việc dự báo, và thường được gọi là hiện tượng “ hồi quy giả mạo” Do đó, điều cơ bản nhất cho việc dự báo phân tích một chuỗi thời gian là nó phải có tính dừng Có nhiều cách

để kiểm định tính dừng nhưng trong nghiên cứu này tác giả sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị

Kiểm định nghiệm đơn vị là một kiểm định được sử dụng khá phổ biến để kiểm định một chuỗi thời gian dừng hay không dừng Xét mô hình sau đây:

Trang 35

30

(Δ: toán tử sai phân)

Các giả thiết trên có thể viết lại như sau:

(i) Ước lượng phương trình (3.1) và kiểm định giả thiết ρ = 1, hoặc:

(ii) Ước lượng phương trình (3.2) và kiểm định giả thiết δ

Cả hai mô hình này không dùng được tiêu chuẩn T (Student test) ngay cả trong trường hợp mẫu lớn Dickey – Fuller (DF) đã đưa ta tiêu chuẩn để kiểm nghiệm như sau:

Ta ước lượng mô hình (3.1), τ = ρ^/Se(ρ^) có phân bố DF Nếu như: [τ =

Trọng Hoài và cộng sự, 2009)

Khi chuỗi không dừng ta có thể lấy sai phân của nó (Gujarati ,2003, trích bởi Nguyễn Trọng Hoài, 2013), một chuỗi dừng sai phân có đặc điểm quan trọng như sau :

Trang 36

Độ trể tối ưu được lựa chọn dựa trên các tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC), tiêu chuẩn thông tin Schwarz (SC) và tiêu chuẩn thông tin Hannan Qiunn (HQ) Độ trể nào làm cho các thống kê nói trên nhận giá trị nhỏ nhất thì được xem là độ trể tối ưu của mô hình (Nguyễn Thị Minh, 2011)

Kiểm định nhân quả Granger được sữ dụng trong nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi đơn giản là có hay không sự thay đổi của X xảy ra bởi Y và ngược lại

Mô hình nghiên cứu đã được thiết lập dựa trên các giả thiết về các biến độc lập

là yếu tố đầu vào đối với sản lượng GDP Tuy nhiên, lý thuyết cho thấy các biến có

sự tương tác lẫn nhau Nghĩa là có sự phản hồi giữa các biến Nếu tồn tại quan hệ đồng thời giữa một số biến thì các biến này hoàn toàn có vai trò như nhau, không có

sự phân biệt giữa các biến nội sinh và ngoại sinh Có thể nói, tất cả các biến đều nội sinh Và mô hình tự hồi quy VAR đã được đưa ra VAR là mô hình của một số biến thời gian

Trong mô hình VAR, mỗi một tập hợp các biến được hồi quy dựa trên giá trị quá khứ của bản thân nó và giá trị của các biến khác Mối quan hệ của các biến được gắn kết với nhau, bởi vì khi đưa vào độ trễ của các biến trong mỗi phương trình cũng như sự mở rộng tương quan trong số các “ nhiễu trắng” của các phương trình khác nhau (Sim, 1980, trích bởi Sử Đình Thành, 2012)

Trang 37

32

Một trong những sử dụng phổ biến của mô hình VAR là kiểm định nhân quả

như thông tin trong quá khứ và hiện tại của biến giúp để cải thiện sự dự báo của biến

vậy, kiểm định một khối biến ngoại sinh hay còn gọi là kiểm định Granger trong mô hình đa biến sẽ rất hữu ích trong việc khám phá sự kết hợp của các biến

này, sự kiểm định được tiến hành bằng cách giới hạn độ trễ của tất cả các biến đến zero Sự giới hạn chéo giữa các phương trình có thể được kiểm định bằng việc sử

Trong đó, T là số biến quan sát có thể sử dụng và C là tổng các tham sô trong hệ

hệ thống không bị giới hạn Thống kê t có phân phối chi bình phương với bậc tự do

bằng với biến giới hạn (Granger, 1969, trích bởi Sữ Đình Thành, 2012)

biến xác định có thể bao gồm hằng số, xu thế tuyến tính và đa thức

Trang 38

33

Khi ước lượng mô hìnhVAR, điều kiện đầu tiên là tất cả các biến phải dừng Có nhiều cách để kiểm định tính dừng của các biến như kiểm định nghiệm đơn vị, phân tích giản đồ tự tương quan nếu cách biến không dừng ta khử bằng lấy sai phân

Phép ước lượng mô hình VAR đơn giản nhất là phương pháp OLS có thể áp dụng cho từng phương trình riêng lẽ cho ta kết quả đồng nhất (Nguyễn Thị Minh, 2011)

- Phân tích phân rã phương sai :

Phân rã phương sai là một trong các bước phân tích kết quả trong mô hình VAR Sau khi kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các biến, ta dùng phân rã phương sai để phân tích mức độ tác động của yếu tố này đến yếu tố khác và ngược lại Khi ước lượng một biến phụ thuộc ta có tổng sai số bao gồm sai số được giải thích bởi các biến độc lập và sai số không được giải thích bởi mô hình Hệ số phân rã phương sai của biến độc lập so với biến phụ thuộc ở một độ trễ nhất định cho biết sự thay đổi của biến độc lập đóng góp bao nhiêu phần trăm sự thay đổi của biến phụ thuộc ở độ trễ nhất định

- Phân tích hàm phản ứng đẩy:

Trong mô hình VAR có nhiều cách để phân tích kết quả, trong đó có phân tích hàm phản ứng đẩy Hàm phản ứng đẩy phát hiện phản ứng của các biến phụ thuộc trong hệ VAR đối với các cú sốc của các biến trong mô hình ở các giai đoạn tương lai

Do các hệ số đơn lẻ trong mô hình VAR ước lượng thường khó giải thích, nên khi áp dụng kỹ thuật này trên thực tế ta thường dùng ước lượng hàm phản ứng đẩy Hàm phản ứng đẩy thực hiện phản ứng của các biến phụ thuộc trong hệ VAR đối với các cú sốc của các biến trong mô hình (Cao Hào Thi và Các Cộng Sự, 1998)

- Tính ổn định của mô hình:

Sau khi ước lượng mô hình VAR, ta cần kiểm định tính ổn định của mô hình Mô hình VAR được xem là ổn định nếu có phần dư là một chuỗi dừng và tất cả nghiệm của đa thức đặc trưng đều nằm trong vòng tròn đơn vị hay các mô đun tính toán được đều có giá trị nhỏ hơn 1 (Nguyễn Thị Minh, 2011)

Trang 40

35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH QUẢNG BÌNH

Vốn đầu tư công là một thành phần quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội

cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tỉnh Quảng Bình Từ năm 1991 đến năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tương đối ổn định Tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm với gia tăng vốn đầu tư công

Hình 4.1: Đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Tỉnh Quảng Bình

Nguồn: Theo tổng hợp của tác giả

GDP bình quân đầu người cũng tăng lên đáng kể Nhưng hệ số ICOR tăng nhanh đồng nghĩa với đầu tư công kém hiệu quả và tăng trưởng kinh tế không bền vững Tăng trưởng kinh tế lúc này chủ yếu dựa vào vốn đầu tư và để tạo ra một đơn vị tăng trưởng thu nhập Quảng Bình phải đầu tư nhiều hơn các địa phương khác Tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng số lượng vốn đầu tư công dẫn đến hiệu quả đầu tư công là rất thấp

Ngày đăng: 20/11/2015, 13:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Tổng  hợp  các  nghiên  cứu  trước  về  tác  động  của  đầu  tư  công  đến  tăng  trưởng kinh tế - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
ng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế (Trang 26)
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 33)
Hình 4.1: Đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Tỉnh Quảng Bình - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Hình 4.1 Đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Tỉnh Quảng Bình (Trang 40)
Bảng 4.3 : Kiểm định tính dừng các biến tại chuỗi gốc - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.3 Kiểm định tính dừng các biến tại chuỗi gốc (Trang 45)
Bảng 4.5 : Xác định độ trễ tối ƣu - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.5 Xác định độ trễ tối ƣu (Trang 46)
Bảng 4.6: Kiểm định nhân quả Granger - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.6 Kiểm định nhân quả Granger (Trang 47)
Bảng 4.7 : Phân rã phương sai của biến Dg - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.7 Phân rã phương sai của biến Dg (Trang 49)
Hình 4.2 : Phản ứng đẩy của các biến trong mô hình - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Hình 4.2 Phản ứng đẩy của các biến trong mô hình (Trang 51)
Hình 4.3 : Kiểm định nghiệm vòng tròn đơn vị của mô hình VAR - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Hình 4.3 Kiểm định nghiệm vòng tròn đơn vị của mô hình VAR (Trang 52)
Hình 4.4 : Tính ổn định của mô hình - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Hình 4.4 Tính ổn định của mô hình (Trang 53)
Bảng 9.1: GDP bình quân đầu người Tỉnh Quảng Bình - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 9.1 GDP bình quân đầu người Tỉnh Quảng Bình (Trang 79)
Hình 9.2: Cơ cấu vốn đầu tƣ Tỉnh Quảng Bình từ năm 1991 - 2014 - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Hình 9.2 Cơ cấu vốn đầu tƣ Tỉnh Quảng Bình từ năm 1991 - 2014 (Trang 81)
Hình 9.3: Tăng trưởng quy mô vốn đầu tư theo nguồn vốn - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Hình 9.3 Tăng trưởng quy mô vốn đầu tư theo nguồn vốn (Trang 82)
Bảng 9.2: Cơ cấu vốn đầu tƣ công theo nguồn vốn đầu tƣ từ năm 2008 – 2013 - Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh quảng bình  luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 9.2 Cơ cấu vốn đầu tƣ công theo nguồn vốn đầu tƣ từ năm 2008 – 2013 (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w