Trong cặn của quá trình chưng cất chân không bên cạnh các hydrocabon phân tử lượng cao còn chứa hàm lượng lớn chất asphalten và nhựa. Nhiều trong số các hydrocacbon kể trên là thành phần không mong muốn cho dầu nhờn, do đó nhiệm vụ là phải làm sạch các phân đoạn dầu này. Cặn chưng cất chân không được xem như một hệ keo của các hợp chất có phân tử lớn gồm asphalten, nhựa. Trong đó asphalten là những cấu tử có cấu trúc thơm đa vòng ngưng tụ có dạng phẳng, chứa khoảng từ 6 đến 20 vòng thơm, khối lượng phân tử trung bình khoảng 1000 đến 2000 đơn vị, phân tử của chúng chiếm trên 100 C và các các hợp chất chứa lưu huỳnh, nito và các kim loại. Về mặt tổng thể ta có thể nói asphalten tan trong môi trường dầu có kích thước rất nhỏ và được bao bọc bởi nhựa lơ lửng trong dầu. Sự có mặt của nhựa, asphalten trong dầu gốc chính là nguyên nhân làm cho dầu gốc có độ nhớt cao, chỉ số độ nhớt (VI_Viscosity Index) thấp, có độ bền oxi hoá thấp, dễ gây ăn mòn và làm xấu màu dầu (do thường có các dị nguyên tố trong chúng), là nguyên nhân xuất hiên keo làm mất tính đổng nhất của dầu. Quá trình tách asphalten với mục đích loại asphalten và các hợp chất nhựa có trong cặn chưng cất chân không ra khỏi môi trường dầu, quá trình này luôn được xem là công đoạn lọc dầu trung gian, nhất thiết phải có, nó đồng bộ trong sơ đồ công nghệ lọc dầu vì nó làm tăng giá trị cho các sản phẩm đó là các phân đoạn asphanlten, nhựa và phân đoạn dầu nhờn Quá trình tách asphalten có thể được làm bằng cách sử dụng dung môi. Hiệu quả làm sạch cặn dầu khỏi chất nhựa bằng dung môi lựa chọn đơn chất là không cao ngay cả khi bội số dung môi cao. Điều này có thể đượcgiải thích là do không phải tất cả các thành phần của nhựa hòa tan tốt trongdung môi lựa chọn. Về cơ bản các chất asphalten hòa tan hoặc phân tán trong nguyên liệu có thể được loại ra bằng cách xử lý cặn bằng axit sulfuric, cũng như alkan phân tử lượng thấp hóa lỏng như propane, butane. Phương pháp loại asphalten bằng axit sulfuric đặc biệt khi kết hợp với làm sạch tiếp xúc bằng đất sét phù hợp để sản xuất dầu nhờn từ phần cô dầu thô ít nhựa. Tuy nhiên, do chi phí axit sulfuric cao và tạo thành lượng lớn axit gudron khó sử dụng khiến cho phương pháp này kém hiệu quả. Quá trình tách asphalten và nhựa bằng alkan phân tử lượng thấp hóa lỏng được ứng dụng trong sản xuất không chỉ dùng cho dầu nhờn nhớt cao, mà cả nguyên liệu cho cracking xúc tác và hydrocracking. Dung môi được dùng rộng rãi là propan hóa lỏng nhưng trong một số nhà máy cũng sử dụng hỗn hợp propan butan. Ở nhiệt độ gần với nhiệt độ tới hạn của propan (96,8oC), độ hòa tan của các phần trong nguyên liệu dầu nhờn giảm. Điều này diễn ra là do khi nhiệt độ dung dịch gần tới vùng trạng thái tới hạn của dung môi thì khối lượng riêng của nó giảm mạnh, dẫn tới tăng mạnh thể tích mol. Chỉ số này đối với hydrocacbon phân tử lượng cao thay đổi ít do lực kéo giữa các phân tử dung môi và hydrocacbon giảm làm giảm độ hòa tan. Độ hòa tan của hydrocacbon nguyên liệu dầu nhờn trong propan trong vùng nhiệt độ cao (75 ÷ 90oC) giảm khi khối lượng riêng và phân tử lượng tăng. Nhựa và đặc biệt là asphanten là những chất hòa tan kém nhất trong propan lỏng. Trên cơ sở này đã sử dụng propan làm dung môi cho quá trình tách asphalten. Khi tiếp tục tăng nhiệt độ các hydrocacbon đa vòng phân tử lượng cao, các hydrocacbon ít vòng với mạch alkyl dài ở lại trong dung dịch. Độ hòa tan của các hydrocacbon đa vòng và nhựa ở nhiệt độ gần với nhiệt độ tới hạn của propan gần đến 0, còn độ hòa tan của hydrocacbon naphten và hydrocacbon thơm nhẹ tiếp tục giảm. Sự phụ thuộc này của khả năng hòa tan của propan vào nhiệt độ (trong vùng gần với nhiệt độ tới hạn của propan) quan sát thấy ở áp suất ứng với áp suất bão hòa của hơi propan ở nhiệt độ xác định. Việc tạo áp suất cao hơn áp suất hơi bão hòa của propan dẫn tới tăng khối lượng riêng và khả năng hòa tan của nó. Do đó, nếu ở hai nhiệt độ khối lượng riêng của propan như nhau (thí dụ, 409 kgm3), hiệu suất và tính chất của các hydrocacbon hòa tan trong propan như nhau. Thông thường quá trình tách asphalten thực hiện ở áp suất cao hơn đôi chút so với áp suất hơi bão hòa của propan hóa lỏng. Lượng dung môi cần để bão hòa nguyên liệu phụ thuộc vào thành phần nguyên liệu và nhiệt độ. Trong nguyên liệu chứa càng nhiều chất nhựa asphanten và hydrocacbon phân tử lượng cao thì lượng dung môi cần thiết cho bão hòa càng thấp. Nhiệt độ càng thấp, chi phí dung môi cho tạo hỗn hợp bão hòa càng cao. Khi tiếp tục thêm propan (ở nhiệt độ hỗn hợp cố định) tạo thành pha thứ hai gồm propan và hydrocacbon hòa tan. Như trên đã nói, ở nhiệt độ gần với nhiệt độ tới hạn, propan hòa tan một lượng hạn chế hydrocacbon. Dung dịch bão hòa hydrocacbon trong propan tạo thành bằng cách này (lớp trên) cân bằng với dung dịch bitum bão hòa (lớp dưới). Để phân tách tốt nguyên liệu trong hai pha (dầu nhờn và bitum) bội số propan so với nguyên liệu tương đối cao không thấp hơn 3 phần thể tích propan và 1 phần thể tích nguyên liệu. Do hòa tan của hydrocacbon phân tử lượng cao trong propan lỏng giới hạn, để tách các thành phần mong muốn ra khỏi nguyên liệu cần dư nhiều dung môi. Đồng thời cũng cần tiến hành tách naphten ở nhiệt độ cao khi độ hòa tan của hydrocacbon trong propan giảm. Đây là đặc điểm của propan so với nhiều dung môi khác (phenol, furfurol và các chất khác).
Trang 21. Tổng quan quá trình tách asphalten
Trong cặn của quá trình chưng cất chân không bên cạnh các hydrocabon phân tử lượng cao còn chứa hàm lượng lớn chất asphalten và nhựa Nhiều trong
số các hydrocacbon kể trên là thành phần không mong muốn cho dầu nhờn, do
đó nhiệm vụ là phải làm sạch các phân đoạn dầu này Cặn chưng cất chân không được xem như một hệ keo của các hợp chất có phân tử lớn gồm asphalten, nhựa Trong đó asphalten là những cấu tử có cấu trúc thơm đa vòng ngưng tụ có dạng phẳng, chứa khoảng từ 6 đến 20 vòng thơm, khối lượng phân tử trung bình khoảng 1000 đến 2000 đơn vị, phân tử của chúng chiếm trên 100 C và các các hợp chất chứa lưu huỳnh, nito và các kim loại Về mặt tổng thể ta có thể nói asphalten tan trong môi trường dầu có kích thước rất nhỏ và được bao bọc bởi nhựa lơ lửng trong dầu Sự có mặt của nhựa, asphalten trong dầu gốc chính là nguyên nhân làm cho dầu gốc có độ nhớt cao, chỉ số độ nhớt (VI_Viscosity Index) thấp, có độ bền oxi hoá thấp, dễ gây ăn mòn và làm xấu màu dầu (do thường có các dị nguyên tố trong chúng), là nguyên nhân xuất hiên keo làm mất tính đổng nhất của dầu
Quá trình tách asphalten với mục đích loại asphalten và các hợp chất nhựa
có trong cặn chưng cất chân không ra khỏi môi trường dầu, quá trình này luôn được xem là công đoạn lọc dầu trung gian, nhất thiết phải có, nó đồng bộ trong
sơ đồ công nghệ lọc dầu vì nó làm tăng giá trị cho các sản phẩm đó là các phân đoạn asphanlten, nhựa và phân đoạn dầu nhờn
Quá trình tách asphalten có thể được làm bằng cách sử dụng dung môi Hiệu quả làm sạch cặn dầu khỏi chất nhựa bằng dung môi lựa chọn đơn chất là không cao ngay cả khi bội số dung môi cao Điều này có thể đượcgiải thích là do không phải tất cả các thành phần của nhựa hòa tan tốt trongdung môi lựa chọn
Về cơ bản các chất asphalten hòa tan hoặc phân tán trong nguyên liệu có thể được loại ra bằng cách xử lý cặn bằng axit sulfuric, cũng như alkan phân tử lượng thấp hóa lỏng như propane, butane Phương pháp loại asphalten bằng axit sulfuric đặc biệt khi kết hợp với làm sạch tiếp xúc bằng đất sét phù hợp để sản xuất dầu nhờn từ phần cô dầu thô ít nhựa Tuy nhiên, do chi phí axit sulfuric cao
và tạo thành lượng lớn axit gudron khó sử dụng khiến cho phương pháp này kém hiệu quả Quá trình tách asphalten và nhựa bằng alkan phân tử lượng thấp hóa lỏng được ứng dụng trong sản xuất không chỉ dùng cho dầu nhờn nhớt cao,
mà cả nguyên liệu cho cracking xúc tác và hydrocracking Dung môi được dùng rộng rãi là propan hóa lỏng nhưng trong một số nhà máy cũng sử dụng hỗn hợp propan - butan
Trang 3Ở nhiệt độ gần với nhiệt độ tới hạn của propan (96,8oC), độ hòa tan của các phần trong nguyên liệu dầu nhờn giảm Điều này diễn ra là do khi nhiệt độ dung dịch gần tới vùng trạng thái tới hạn của dung môi thì khối lượng riêng của nó giảm mạnh, dẫn tới tăng mạnh thể tích mol Chỉ số này đối với hydrocacbon phân tử lượng cao thay đổi ít do lực kéo giữa các phân tử dung môi và hydrocacbon giảm làm giảm độ hòa tan
Độ hòa tan của hydrocacbon nguyên liệu dầu nhờn trong propan trong vùng nhiệt độ cao (75 ÷ 90oC) giảm khi khối lượng riêng và phân tử lượng tăng Nhựa
và đặc biệt là asphanten là những chất hòa tan kém nhất trong propan lỏng Trên
cơ sở này đã sử dụng propan làm dung môi cho quá trình tách asphalten Khi tiếp tục tăng nhiệt độ các hydrocacbon đa vòng phân tử lượng cao, các hydrocacbon ít vòng với mạch alkyl dài ở lại trong dung dịch Độ hòa tan của các hydrocacbon đa vòng và nhựa ở nhiệt độ gần với nhiệt độ tới hạn của propan gần đến 0, còn độ hòa tan của hydrocacbon naphten và hydrocacbon thơm nhẹ tiếp tục giảm Sự phụ thuộc này của khả năng hòa tan của propan vào nhiệt độ (trong vùng gần với nhiệt độ tới hạn của propan) quan sát thấy ở áp suất ứng với
áp suất bão hòa của hơi propan ở nhiệt độ xác định Việc tạo áp suất cao hơn áp suất hơi bão hòa của propan dẫn tới tăng khối lượng riêng và khả năng hòa tan của nó Do đó, nếu ở hai nhiệt độ khối lượng riêng của propan như nhau (thí dụ,
409 kg/m3), hiệu suất và tính chất của các hydrocacbon hòa tan trong propan như nhau
Thông thường quá trình tách asphalten thực hiện ở áp suất cao hơn đôi chút
so với áp suất hơi bão hòa của propan hóa lỏng Lượng dung môi cần để bão hòa nguyên liệu phụ thuộc vào thành phần nguyên liệu và nhiệt độ Trong nguyên liệu chứa càng nhiều chất nhựa - asphanten và hydrocacbon phân tử lượng cao thì lượng dung môi cần thiết cho bão hòa càng thấp Nhiệt độ càng thấp, chi phí dung môi cho tạo hỗn hợp bão hòa càng cao
Khi tiếp tục thêm propan (ở nhiệt độ hỗn hợp cố định) tạo thành pha thứ hai gồm propan và hydrocacbon hòa tan Như trên đã nói, ở nhiệt độ gần với nhiệt
độ tới hạn, propan hòa tan một lượng hạn chế hydrocacbon Dung dịch bão hòa hydrocacbon trong propan tạo thành bằng cách này (lớp trên) cân bằng với dung dịch bitum bão hòa (lớp dưới) Để phân tách tốt nguyên liệu trong hai pha (dầu nhờn và bitum) bội số propan so với nguyên liệu tương đối cao - không thấp hơn
3 phần thể tích propan và 1 phần thể tích nguyên liệu Do hòa tan của hydrocacbon phân tử lượng cao trong propan lỏng giới hạn, để tách các thành phần mong muốn ra khỏi nguyên liệu cần dư nhiều dung môi Đồng thời cũng
Trang 4cần tiến hành tách naphten ở nhiệt độ cao khi độ hòa tan của hydrocacbon trong propan giảm Đây là đặc điểm của propan so với nhiều dung môi khác (phenol, furfurol và các chất khác)
Ở nhiệt độ ôn hòa (40 ÷ 70o) khi tăng bội propan chất lượng sản phẩm loại asphalten (deasphantizat) tăng, nhưng hiệu suất giảm Sau khi đạt được độ hòa loãng tối ưu hiệu suất deasphantizat tăng, nhưng chất lượng giảm Ở nhiệt độ rất gần với nhiệt độ tới hạn của propan không có được bội tối ưu của propan với nguyên liệu; chi phí propan tăng
Bội cần thiết của propan đối với kết tủa các chất nhựa - asphalten phụ thuộc vào nồng độ hydrocacbon mong muốn trong nguyên liệu Đối với nguyên liệu ít nhựa có hàm lượng parafin - dầu nhờn cao cần có bội propan cao hơn so với nguyên liệu giàu nhựa - asphanten Thí dụ, loại asphalten trong phần cô của dầu
ít nhựa tỷ lệ tối ưu propan : nguyên liệu là 8:1 (theo thể tích), còn khi loại asphalten trong gudron dầu nhiều nhựa cần tỷ lệ 4 : 1 Điều kiện khác không kém phần quan trọng là nhiệt độ quá trình loại asphalten Nên tiến hành quá trình ở vùng nhiệt độ tương đối thấp, khoảng 50 ÷ 85oC, do dưới 40 ÷ 50oC nhựa trung hòa hòa tan trong propan tuy không nhiều Ở nhiệt độ 90oC, gần với nhiệt
độ tới hạn của propan (96,8oC), nhiều hydrocacbon mong muốn không hòa tan trong nó và bị tách ra cùng với nhựa
Thông số chính của quá trình loại asphalten không chỉ là nhiệt độ, áp suất và bội propan so với nguyên liệu, mà cả dạng dung môi và độ sạch của nó Butan có độ lựa chọn thấp hơn propan nhưng cao hơn etan Metan và etan làm cho hơi propan khó cô đọng trong máy lạnh Với nồng độ etan trongdung môi không đáng kể quá trình loại asphanten diễn ra ở áp suất quá cao, do đó trong propan
kỹ thuật chứa không quá 7% (k.l.) các hydrocacbon khác cùng dãy, trong đó không quá 3% etan Sự hiện diện của propylen và butylene cũng không mong muốn, do chúng làm tăng độ hòa tan nhựa và hydrocacbon thơm đa vòng
Hiệu quả loại asphalten cũng phụ thuộc vào mức độ loại phân đoạn dầu nhờn trong chưng cất chân không mazut - chứa trong phân đoạn gudron đến
500oC Như trên đã thấy, phân đoạn phân tử lượng thấp của deasphantizat hòa tan trong propan nhiều hơn phân đoạn phân tử lượng cao ở vùng nhiệt độ gần với nhiệt độ tới hạn Ngoài ra, do ảnh hưởng của lực phân tán các phân đoạn phân tử lượng thấp hoạt động như dung môi trung gian, làm tăng độ hòa tan của các phân đoạn sôi cao và nhựa trong propan Điều này khiến cho việc phân tách chúng sẽ khó hơn Nguyên liệu với thành phần phân đoạn rộng tách asphalten
Trang 5kém hơn nguyên liệu đã loại phân đoạn nhẹ Loại asphalten dầu nhiều dầu nhờn, nhận được từ nguyên liệu cô đặc (không có phân đoạn dưới 500oC), có độ cốc và
độ màu thấp hơn deasphantizat với phân đoạn sôi thấp
Mức độ loại asphalten ra khỏi nguyên liệu trong tháp được đánh giá trước tiên thông qua độ cốc của deasphantizat, do nhựa và hydrocacbon đa vòng có độ cốc cao Sau khi loại naphten, độ cốc, khối lượng riêng và hàm lượng kim loại (niken và vanady) giảm; các chất này cô đặc trong sản phẩm đáy - bitum loại naphten Hàm lượng lưu huỳnh trong deasphantizat thấp hơn trong nguyên liệu, nhưng loại lưu huỳnh sâu không diễn ra
Nhựa và đặc biệt là asphalten được đặc trưng là có khả năng nhuộm màu cao Gudron với khối lượng riêng lớn có màu đen, còn deasphantizat có màu từ vàng sáng đến xanh - xám tối Tăng mức làm sạch, cường độ màu của deasphantizat giảm
Phụ thuộc vào đặc tính của nguyên liệu, yêu cầu về chất lượng và điều kiện quá trình hiệu suất deasphantizat dao động từ 26 đến 90% Nhìn chung khi nguyên liệu chứa nhiều cốc, hiệu suất deasphantizat nhận được trong quá trình loại asphanlen bằng propan giảm
Để tách nhựa, asphalten thông thường người ta dung phương pháp chiết với dung môi thích hợp Viêc lựa chọn dung môi phụ thuộc vào tính chọn lọc của
nó, tức là vào khả năng phân tách hai nhóm cấu tử khác nhau về mặt hoá học Dung môi dùng phải rẻ, sẳn có, bền về mặt hoá học trong khi sử dụng, không gây ăn mòn và dễ sử dụng Hiêu suất của quá trình chiết phụ thuộc vào ba yếu
tố ca bản: bản chất của dung môi, nhiêt độ tiến hành và tỉ lê dung môi trên nguyên liêu
Quá trình tách asphan bằng axit sunfuric đã không cho thấy nhiều nhược điểm của nó như chỉ áp áp dụng đối với cặn gudron có chứa hàm lượng asphaten
và nhựa thấp, chi phí cho acit cao, tạo ra hỗn hộp axit gudron rất khó tách hoàn toàn và acit có lẫn trong dầu gốc là một điều không mong muốn Do vậy việc sử dụng dung môi propane mang lại kết quả tốt hơn như là không gây ảnh hưởng đến sản phẩm dầu gốc, áp dụng được với nguyên liệu có hàm lượng nhựa – asphalten cao và đặc biệt dung môi propane là nguyên liệu sẵn có từ quá trình chưng cất khí quyển Dung môi tách asphalten cho phép loại bỏ các hợp chất lưu
Trang 6huỳnh và nitơ cũng như các thành phần kim loại bằng cách cân bằng năng suất với các tính chất nguyên liệu mong muốn
Quá trình tách asphalten ra khỏi dầu với các dung môi là các hydrocacbon nhẹ hóa lỏng (C3, C4, C5) ở nhiệt độ môi trường và áp suất khí quyển, trong khi tiếp xúc trực tiếp với nguyên liệu nó sẽ hòa tan tốt môi trường dầu và nhờ đó giúp sự kết tủa của asphan trong dầu dễ dàng hơn Để sản xuất dầu nhờn có chất lượng cao khi không có phân đoạn xử lý tạp chất bằng hydro thì propan là dung môi tốt nhất vì nó cho chất lượng dầu cao tuy nhiên hiệu suất lại không được cao Đó là do propan hòa tan rất chọn lọc chỉ trong môi trường dầu, điều đó có nghĩa là cả asphan và nhựa đều kết tủa rất dễ
Cặn chân không được tiếp xúc ngược dòng với propan Sau đó dung dịch dầu đã tách asphan lấy ra ở đỉnh tháp, còn pha chứa asphalten chảy ra ở đáy, hai pha tiếp tục được gia nhiệt và lôi cuốn bằng hơi nước
Các thông số ảnh hưởng tới quá trình tách asphan đó là cấp độ chưng cạn kiệt, tỷ
lệ dung môi, bản chất dung môi, nhiệt độ tháp tách
2.1.1. Cấp độ chưng cạn kiệt
Cấp độ chưng cạn kiệt trong tháp chưng cất chân không của cùng một loại cặn khí quyển được thể hiện bằng hiệu suất phần cặn chưng không thu ở đáy tháp Ngoại trừ bản chất nguyên liệu cấp độ chưng cạn kiệt của nguyên liệu cũng có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm dầu khử asphan ở cùng điều kiện vận hành khi cấp độ chưng cạn kiệt càng lớn nghĩa là nguyên liệu đầu vào có thành phần nhẹ trong cặn càng ít, điều đó sẽ làm giảm hiệu suất thu hồi dầu khử asphan, nó
sẽ làm giảm chất lượng dầu do khôi lượng riêng thấp độ nhớt cao
2.1.2. Bản chất dung môi
Thông số có ảnh hưởng nhất đến quá trình tách asphan khỏi dầu chính là bản chất dung môi Nó quyết định rất lớn đến hiệu suất và chất lượng của pha dầu nhờn trích ly được dung môi paraffin càng nặng thì hiệu suất pha malten càng tăng, hậu quả là dầu khử chứa nhiều nhựa làm giảm chất lượng dầu như vậy butan và pentan có khả năng hòa tan nhựa mềm và cứng, trong khi đó propan kết
Trang 7tủa không chỉ asphan mà còn nhựa còn đáng kể trong dầu do vậy propan được cho là dung môi tôt trong sản xuất dầu nhờn
2.1.3. Tỷ lệ dung môi
Độ chọn lọc của công đoạn khử asphan sẽ được cải thiệt đáng kể bằng cách tăng
tỷ lệ dung môi Đây là một biến số cơ bản làm tăng chất lượng của dầu càng nhiều lượng dung môi thì lượng hòa tan dầu càng cao hiệu suất thu hồi dầu sẽ cao hơn
2.1.4. Nhiệt độ tháp tách
Tác động của nhiệt độ tách đến độ chọn lọc của quá trình là liên quan đến khả năng hòa tan dung môi Sự gia tăng nhiệt độ sẽ làm tăng khả năng hòa tan dung môi trong asphan, làm cho hiệu suất thu hồi dầu giảm nhưng chất lượng dầu lại tăng
Nhằm mục đích tạo dòng hồi lưu nội đáng kể trong vùng giữa tháp đến đỉnh
để gia tăng thu hồi dầu tách asphan do vậy khoảng chênh lệch nhiệt độ đỉnh và nguyên liệu phải lớn hơn 20oC
Nhằm mục đích tạo thuận lợi cho quá trình lắng asphan nhiệt độ vùng lắng phải là thấp nhất và là gần bằng nhiệt độ nguyên liệu, do vậy khoảng chênh lệch nhiệt độ của nguyên liệu và đáy tháp nhỏ hơn 5oC
Trang 8Trên hình 1 là sơ đồ công nghệ tách asphalten bằng dung môi propane Nguyên
liệu cặn chân không qua thiết bị trao đổi nhiệt được đưa lên đỉnh tháp, dung môi propane đi qua thiết bị trao đổi nhiệt được đưa vào đáy tháp tách, tại tháp tách cặn chân không được tiếp xúc ngược với dung môi propane và lôi cuốn bằng hơi nước, tại đỉnh tháp tách dòng ra là dung dịch dầu đã tách asphalten được đi qua thiết bị bay hơi propane với hơi nước áp suất cao thực hiện quá trình hồi lưu dung môi Tại thiết bị bay hơi propane một dòng thực hiện quá trình bay hơi propane qua thiết bị ngưng tụ trở về thiết bị chứa dung môi hoàn thành chu kỳ hồi lưu dung môi, dòng ra thứ hai là dòng dầu đã tách asphalten lẫn một ít dung môi chưa bay hơi hết được qua thiết bị bay hơi tiếp theo, tại thiết bị bay hơi thứ hai lượng dung môi còn trong dung dịch được bay hơi hết nối tiếp vào quá trình bay hơi của quá trình hồi lưu dung môi của thiết bị bay hơi dung môi thứ nhất phần ra của thiết bị bay hơi thứ hai chỉ còn dầu đã tách asphalten và hơi nước, dòng dầu này được đưa tới tháp lôi cuốn hơi nước để cho ra sản phẩm dầu đã tách asphalten Hơi nước được cuốn từ tháp đến thiết bị ngưng tụ một phần được thải ra ngoài một phần được qua máy nén Sau khi qua máy nén hơi nước được nối tiếp vào dòng hồi lưu dung môi Sản phẩm ra từ đáy tháp tách asphalten là dòng sản phẩm chứa asphalten, dòng sản phẩm chứa asphalten sẽ qua lò nung đến thiết bị chưng cất nhanh Tại thiết bị chưng cất nhanh có hai dòng đi ra, dòng đi ra ở đỉnh là phần dung môi đi ra từ đáy tháp tách asphalten quay trở lại
Trang 9thực hiện quá trình hồi lưu dung môi, phần ra từ đáy thiết bị chưng cất nhanh gồm asphalten và nước được qua thiết bị lôi cuốn hơi nước tại thiết bị lôi cuốn hơi nước một phần hơi nước được lôi cuốn đi lên đến thiết bị ngưng tụ, phần asphalten đi ra từ đáy tháp lôi cuốn hơi nước và hoàn thành quá trình tách asphalten bằng dung môi