Trong những năm 1776, lý thuyết của Smith là lý thuyết đầu tiên giảithích lý do tại sao thương mại tự do không chỉ mang lại lợi ích riêng lẻ cho một quốc gia.Thương mại tự do đề cập đến
Trang 1Phần 3: Thương mại và Đầu tư xuyên biên giới
1 Hiểu được tại sao nhiều quốc gia giao thương với các quốc gia khác
2 Làm quen với các lý thuyết khác nhau giải thích về dòng chảy thương mại giữa các quốc gia
3 Hiểu được tại sao nhiều nhà kinh tế tin rằng không hạn chế thương mại tự do giữa các quốc gia sẽ nâng cao phúc lợi kinh tế của các nước tham gia trong hệ thống thương mại tự do đó
4 Làm quen với lý lẽ của những người cho rằng Chính phủ có thể đóng một vai trò chủ động trong việc thúc đẩy lợi thế cạnh tranh quốc gia trong các ngành công nghiệp nhất định
5 Hiểu được ý nghĩa quan trọng mà lý thuyết thương mại quốc tế nắm giữ đối với thực tiễn kinh doanh
Chương 5:
Lý thuyết thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế trong Công nghệ thông tin và sự phát triển kinh tế Mỹ
Các doanh nghiệp kinh doanh tại Hoa Kỳ đã phát minh ra hầu hết các công nghệthông tin mà chúng ta đang sử dụng hiện nay, bao gồm cả phần cứng máy tính và truyềnthông, phần mềm và dịch vụ Trong những năm 1960 và 1970, lĩnh vực công nghệ thôngtin được dẫn đầu bởi các công ty như IBM và DEC, với việc phát triển máy tính lớn đầutiên và sau đó là máy tính tầm trung Trong những năm 1980, sự tăng trưởng trong lĩnhvực này chuyển sang máy tính cá nhân, cùng với sự xuất hiện của các công ty như Intel,Apple, IBM, Dell, Compaq đã giúp phát triển mạnh thị phần cho sản phẩm Trên đàphát triển, một vài sự kiện đã xảy ra duy nhất đối với nền công nghiệp Mỹ: bắt đầu dichuyển công đoạn sản xuất phần cứng ra nước ngoài
Trong giai đoạn đầu những năm 1980, một số thành phần của máy tính như DRAM(chip bộ nhớ) được sản xuất ở nước ngoài để làm giảm chi phí sản xuất như ở Nhật, vàsau đó là ở Đài Loan, Hàn Quốc Không lâu sau đó, ổ cứng, màn hình, chuột máy tính, vàmột loạt các linh kiện khác đều được thuê sản xuất ở nước ngoài Đầu những năm 2000,các nhà máy của Mỹ chỉ chuyên sản xuất các thành phần có giá trị cao chẳng hạn như bộ
vi xử lí của Intel và thực hiện các công đoạn lắp ráp cuối cùng (Dell là một ví dụ, thựchiện việc lắp ráp ở 2 cơ sở tại Bắc Mỹ) Điểm mấu chốt là tất cả các thành phần khácđược thực hiện ở nước ngoài để tiết kiệm chi phí Đã có rất nhiều cuộc tranh cãi giữa cácchính trị gia và các nhà báo về những bất lợi có thể xảy đến cho nền kinh tế Mỹ khi đitheo xu hướng này Theo các chuyên gia, các công đoạn có chi phí sản xuất cao của lĩnhvực công nghệ thông tin được chuyển ra sản xuất ở nước ngoài
Trang 2Đó có phải là một xu hướng xấu cho nền kinh tế Mỹ như các chuyên gia đã tuyên bố?Nhiều bằng chứng cho thấy rằng không Theo những nghiên cứu gần đây, toàn cầu hóasản xuất đối với phần cứng công nghệ thông tin sẽ tiết kiệm được khoảng 20% chi phí.Giá giảm đi được phần đầu tư hỗ trợ thêm trong công nghệ thông tin bởi các doanhnghiệp và hộ gia đình Vì được sản xuất với giá rẻ nên máy tính được phổ biến rất nhanh
ở Mỹ Nhờ việc áp dụng công nghệ thông tin vào sản xuất, các doanh nghiệp đã tinh giảnđược quy trình sản xuất, góp phần tăng trưởng năng suất nhanh hơn Từ năm 1995 đến
2002, năng suất tăng 2,8% hàng năm tại Hoa Kỳ, cao hơn tiêu chuẩn cũ Theo tính toángần đây, khoảng 0,3% tăng trưởng hàng năm này có thể là do việc trực tiếp giảm giá củaphần cứng công nghệ thông tin nhờ di chuyển sản xuất ra nước ngoài Việc tăng trưởng0.3% năng suất so với những năm 1995 – 2000 đã thêm vào khoảng 230 tỷ đô la choGDP của Hoa Kỳ Trong ngắn hạn, nền kinh tế Mỹ tăng trưởng nhanh hơn là một điều tấtnhiên, vì sản xuất phần cứng công nghệ thông tin đã được chuyển cho người nước ngoài.Hơn nữa, nhiều bằng chứng chứng minh rằng mức giá giảm cho phần cứng có được nhờthương mại quốc tế đã tạo nên sự bùng nổ công ăn việc làm trong 2 ngành công nghiệpliên quan: phần mềm máy tính và dịch vụ Trong những năm 1990, số lượng việc làmtrong lĩnh vực công nghệ thông tin tại Hoa Kỳ tăng 22%, gấp đôi tỷ lệ tạo công ăn việclàm trong toàn nền kinh tế, và điều này là tại thời điểm khi phần lớn công đoạn đã được
di chuyển ra nước ngoài Sự tăng trưởng này có thể là do một phần nhu cầu mạnh mẽ vềphần mềm máy tính và dịch vụ trong phạm vi Hoa Kỳ và một phần nhu cầu về phần mềm
và dịch vụ từ nước ngoài, bao gồm cả những người nước ngoài đã làm ra phần cứng Tómlại, mua phần cứng máy tính từ nước ngoài, trái ngược với sản xuất trong nước, đã cómột tác động tích cực đáng kể với nền kinh tế Mỹ hơn là tác dụng phụ từ mất việc làmtrong lĩnh vực sản xuất
số cá nhân bị mất tiền vì thương mại tự do, nhưng, họ lập luận rằng, lợi ích lớn hơn thiệthại Nhiều trường hợp mở cửa cung cấp bằng chứng hỗ trợ cho lập luận này.Như đã nói,chuyển phần cứng công nghệ thông tin ra nước ngoài sản xuất có lợi ích thiết thực chonền kinh tế Mỹ Như một kết quả của toàn cầu hóa, chi phí sản xuất phần cứng công nghệthông tin tại Hoa Kỳ giảm hơn 20% so với khi không chuyển sản xuất ra nước ngoài Giáphần cứng thấp hơn, năng suất tăng lên đã giúp Hoa Kỳ có thêm 230 tỷ USD vào GDPgiữa năm 1995 và 2002 Hơn nữa, giá phần cứng rẻ đã góp phần nâng gấp đôi lượng công
ăn việc làm trong lĩnh vực phần mềm máy tính và dịch vụ so với mức trung bình quốc giatrong giai đoạn 1995 – 2002 Những lập luận xung quanh lợi ích và chi phí của thươngmại tự do không phải là một trường phái triết học trừu tượng Lý thuyết thương mại quốc
tế đã định hình chính sách kinh tế của nhiều quốc gia trong 50 năm qua và là động lực
Trang 3đằng sau sự hình thành của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các khối thươngmại khu vực như Liên minh châu Âu và Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ Đặc biệt
là trong những năm 1990, đã có một động thái toàn cầu hướng tới tự do thương mại lớnhơn Đây là nguyên nhân quan trọng chủ yếu để hiểu được rằng những lý thuyết đó là nềntảng của sự thành công trong việc định hình chính sách kinh tế và sự cạnh tranh của cácdoanh nghiệp quốc tế Chương này trình bày hai vấn đề trung tâm của cuộc tranh luận.Đầu tiên là một số lý thuyết giải thích lý do tại sao các quốc gia được hưởng lợi khi thamgia vào thương mại quốc tế Thứ hai là xem xét một số mô hình của thương mại quốc tếthường thấy trong nền kinh tế thế giới Đối với các mô hình thương mại, chúng tôi chủyếu trình bày các mô hình xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia TrongChương 7, chúng tôi sẽ trình bày tiếp về các mô hình đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa cácquốc gia
Tổng quan về lý thuyết thương mại
Chúng tôi mở đầu chương này với một cuộc thảo luận về chủ nghĩa trọng thương.Chủ nghĩa trọng thương được phát triển trong giai đoạn thế kỉ 16 -17, chủ trương rằngcác nước đồng thời phải khuyến khích xuất khẩu và không khuyến khích nhập khẩu Mặc
dù chủ nghĩa trọng thương là một học thuyết cũ và không được coi trọng, nhưng ảnhhưởng của nó vẫn còn tồn tại trong những vấn đề chính trị hiện đại và trong chính sáchthương mại của nhiều quốc gia Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét lý thuyết lợi thế tuyệt đốicủa Adam Smith Trong những năm 1776, lý thuyết của Smith là lý thuyết đầu tiên giảithích lý do tại sao thương mại tự do không chỉ mang lại lợi ích riêng lẻ cho một quốc gia.Thương mại tự do đề cập đến một tình huống trong đó một chính phủ không cố gắng đểgây ảnh hưởng thông qua hạn ngạch hoặc thuế đối với việc công dân của mình có thểmua hàng hóa từ một quốc gia khác, hoặc những gì họ sản xuất có thể đem bán ra nướcngoài Smith lập luận rằng chính bàn tay vô hình của cơ chế thị trường, chứ không phải làchính sách của chính phủ, mới là yếu tố xác định việc một quốc gia nhập khẩu và xuấtkhẩu những gì Lập luận của ông có ý nghĩa như là như một giấy thông hành, lập trường
mở đầu cho những lợi ích tốt nhất mà thương mại tự do có thể mang đến cho một quốcgia Smith xây dựng hai lý thuyết.Một là lý thuyết lợi thế so sánh, được nâng cao bởi nhàkinh tế học người Anh David Ricardo trong thế kỉ 19 Lý thuyết này là cơ sở của nhữnglập luận hiện đại cho tự do thương mại không hạn chế.Trong thế kỷ XX, hai nhà kinh tếThụy Điển, Eli Heckscher và Bertil Ohlin, đã chắt lọc thành quả của Ricardo để tập hợpthành lý thuyết được gọi là lý thuyết Heckscher-Ohlin
CÁC QUYỀN LỢI THƯƠNG MẠI
Sức mạnh tuyệt vời của lý thuyết của Smith, Ricardo và Heckscher-Ohlin là họ xácđịnh được một cách chính xác những lợi ích cụ thể của thương mại quốc tế Một sốtrường hợp cho thấy rằng thương mại quốc tế là có lợi Ví dụ, không ai sẽ đề nghị rằngIceland nên phát triển riêng cam của mình Iceland có thể hưởng lợi từ thương mại bằngcách trao đổi một số các sản phẩm mà nó có thể sản xuất với chi phí thấp (cá) đối với một
số sản phẩm mà nó không thể sản xuất (cam) Như vậy, bằng cách tham gia vào thươngmại quốc tế, Iceland có thể thêm cam đến chế độ ăn của họ Các lý thuyết của Smith,Ricardo và Heckscher-Ohlin đi xa hơn khái niệm thông thường, tuy nhiên, để cho thấy lý
do tại sao nó là mang lại lợi ích cho một quốc gia để tham gia vào thương mại quốc tếngay cả đối với các sản phẩm của nó là có thể tạo ra cho chính nó Đây là một khái niệm
Trang 4khó khăn cho người dân để nắm bắt Ví dụ, nhiều người tại Hoa Kỳ tin rằng người tiêudùng Mỹ nên mua sản phẩm sản xuất tại Hoa Kỳ bởi các công ty Mỹ bất cứ khi nào cóthể giúp tiết kiệm công việc cạnh tranh nước ngoài từ Mỹ Hơn nữa, người dân ở nhiềunước khác cũng thường có tư tưởng dân tộc.
Tuy nhiên, các lý thuyết của Smith, Ricardo, và Heckscher-Ohlin cho chúng ta biếtrằng nền kinh tế của một quốc gia vẫn phát triển được nếu các công dân của mình muamột số sản phẩm từ các quốc gia khác Những lợi ích phát sinh do thương mại quốc tếcho phép một quốc gia chuyên sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có thể được sản xuấtmột cách hiệu quả nhất trong đất nước đó, trong khi nhập khẩu sản phẩm có thể được sảnxuất hiệu quả hơn ở các nước khác Ví dụ, nó có ý nghĩa đối với Hoa Kỳ chuyên sảnxuất và xuất khẩu của máy bay phản lực thương mại, bởi vì việc sản xuất máy bay đòi hỏiphải có nguồn tài nguyên dồi dào trong nước, chẳng hạn như một lực lượng lao động cótay nghề cao và công nghệ tiên tiến Mặt khác, Hoa Kỳ nhập khẩu hàng dệt may từ TrungQuốc, khi sản xuất hàng dệt may đòi hỏi lực lượng lao động tương đối rẻ và dồi dào ởTrung Quốc
Tất nhiên, không phải toàn bộ các phân đoạn dân số của một quốc gia có thể chấpnhận lập luận kinh tế khó khăn này Với tương lai của họ bị đe dọa bởi hàng nhập khẩu,các công ty dệt Mỹ và các nhân viên của họ đã cố gắng hết sức để thuyết phục chính phủ
để hạn chế nhập khẩu hàng dệt may bằng cách yêu cầu hạn ngạch và thuế quan Mặc dùkiểm soát nhập khẩu như vậy có thể mang lại lợi ích cho các nhóm đặc biệt, chẳng hạnnhư các doanh nghiệp dệt may và nhân viên của họ, các lý thuyết của Smith, Ricardo vàHeckscher-Ohlin cho thấy rằng hành động như vậy sẽ làm tổn thương toàn bộ nền kinh
tế Nhập khẩu thường đem lại lợi ích cho người tiêu dùng trong nước
CÁC MẪU CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Các lý thuyết của Smith, Ricardo và Heckscher-Ohlin giúp giải thích các mô hình củathương mại quốc tế mà chúng ta quan sát trong nền kinh tế thế giới Một số khía cạnh của
mô hình là dễ hiểu Khí hậu và nguồn lực tài nguyên thiên nhiên giải thích lý do tại saoGhana xuất khẩu ca cao, Brazil xuất khẩu cà phê, Ả-rập Xê-út xuất khẩu dầu, và TrungQuốc xuất khẩu tôm Tuy nhiên, nhiều khía cạnh của các mô hình thương mại quốc tế rấtkhó để giải thích Ví dụ, tại sao Nhật Bản xuất khẩu ô tô, điện tử tiêu dùng, và máy côngcụ? Tại sao Thụy Sĩ xuất khẩu hóa chất, dược phẩm, đồng hồ, và đồ trang sức? Lý thuyếtlợi thế so sánh của Ricardo cung cấp một lời giải thích về sự khác biệt quốc tế về năngsuất lao động Heckscher-Ohlin phức tạp hơn, lý thuyết nhấn mạnh sự tương tác giữa tỷ
lệ trong đó các yếu tố sản xuất (chẳng hạn như đất đai, lao động và vốn) có sẵn trong cácquốc gia khác nhau và tỷ lệ, trong đó họ là cần thiết cho sản xuất hàng hoá đặc biệt Lờigiải thích này dựa trên giả định rằng các nước có nguồn lực khác nhau của các yếu tố sảnxuất khác nhau Các thử nghiệm của lý thuyết là một lời giải thích mạnh mẽ của mô hìnhthương mại thế giới thực hơn ta từng nghĩ Một phần của các lý thuyết Heckscher-Ohlin
để giải thích quan sát các mô hình thương mại quốc tế là lý thuyết vòng đời sản phẩm Lýthuyết này cho thấy trong giai đoạn đầu của chu kỳ sản phẩm, hầu hết các sản phẩm mớiđược sản xuất và xuất khẩu từ các quốc gia, sau đó được phát triển ở một quốc gia khác
Là một sản phẩm mới trở nên được chấp nhận rộng rãi quốc tế, tuy nhiên, sản xuất bắtđầu ở các nước khác Kết quả là, lý thuyết cho thấy, sản phẩm cuối cùng có thể được xuấtkhẩu trở lại đất nước xuất phát ban đầu của nó
Trang 5Trong một lập luận tương tự, ở những năm 1980, Paul Krugman đã phát triển những
gì đã được biết đến như là các lý thuyết thương mại mới Lý thuyết thương mại mới nhấn
mạnh rằng trong một số trường hợp quốc gia chuyên sản xuất và xuất khẩu các sản phẩmđặc biệt không phải vì sự khác biệt cơ bản trong các nguồn tài yếu tố, mà bởi vì trongmột số ngành công nghiệp thị trường thế giới chỉ có thể hỗ trợ ở một số giới hạn nhấtđịnh (Đây là lập luận áp dụng cho trường hợp cho ngành công nghiệp máy bay thươngmại.) Trong ngành công nghiệp như vậy, các công ty gia nhập vào thị trường đầu tiên cóthể để xây dựng một lợi thế cạnh tranh sau đó là khó khăn thách thức Như vậy, mô hìnhquan sát thương mại giữa các quốc gia có thể là do một phần khả năng của các công tytrong phạm vi một quốc gia nhất định để nắm bắt lợi thế đầu tiên - triển khai nhanh Hoa
Kỳ là một nước xuất khẩu chính của máy bay phản lực thương mại bởi vì các công ty Mỹnhư Boeing là tiên phong trên thị trường thế giới Boeing đã xây dựng một lợi thế cạnhtranh sau đó đã gặp không ít khó khăn từ các công ty từ các quốc gia với nguồn tài yếu tốkhông kém thuận lợi để thách thức (mặc dù ngành công nghiệp máy bay Airbus của châu
Âu đã thành công trong việc đó) Trong một công việc liên quan đến lý thuyết thươngmại mới, Michael Porter đã phát triển những gì được gọi là lý thuyết về lợi thế cạnh tranhquốc gia Nó cố gắng để giải thích lý do tại sao các quốc gia cụ thể đạt được thành côngquốc tế trong các ngành công nghiệp cụ thể Ngoài nguồn tài yếu tố, Porter chỉ ra tầmquan trọng của yếu tố nước như nhu cầu trong nước và sự cạnh tranh trong nước trongviệc giải thích sự thống trị của một quốc gia trong sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm cụthể
LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI VÀ CHÍNH SÁCH CHÍNH PHỦ
Mặc dù tất cả các giả thuyết này đồng ý rằng thương mại quốc tế là mang lại lợi íchcho một quốc gia, họ không có thỏa thuận trong khuyến nghị của họ cho chính sách củachính phủ Chủ nghĩa trọng thương làm cho chính phủ tham gia trong việc thúc đẩy xuấtkhẩu và hạn chế nhập khẩu dầu thô Các lý thuyết của Smith, Ricardo, và hình thứcHeckscher-Ohlin thể hiện một phần của các trường hợp thương mại tự do không bị hạnchế Đối số cho thương mại tự do không bị giới hạn là cả hai kiểm soát nhập khẩu vàkhuyến khích xuất khẩu (chẳng hạn như trợ cấp) là tự chuốc lấy thất bại và kết quả tàinguyên lãng phí Cả hai lý thuyết thương mại mới và lý thuyết của Porter về lợi thế cạnhtranh quốc gia có thể được hiểu là biện minh cho một số giới hạn can thiệp của chính phủ
để hỗ trợ sự phát triển của ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu nhất định Chúng tôi
sẽ thảo luận về những ưu và nhược điểm của lập luận này, được gọi là chính sách thươngmại chiến lược, cũng như những ưu và nhược điểm của các đối số cho thương mại tự do
và không hạn chế, trong Chương 6
Chủ nghĩa trọng thương
Lý thuyết đầu tiên của thương mại quốc tế, chủ nghĩa trọng thương, xuất hiện ở Anhtrong giữa thứ mười sáu thế kỷ Khẳng định nguyên tắc của chủ nghĩa trọng thương làvàng và bạc là những trụ cột của cải quốc gia và cần thiết để thương mại phát triển Vàothời điểm đó, vàng và bạc là tiền tệ của thương mại giữa các quốc gia, một nước có thểkiếm được vàng và bạc nhờ những mặt hàng xuất khẩu Ngược lại, nhập khẩu hàng hoá
từ các nước khác sẽ cho kết quả là vàng và bạc bị chuyển cho những quốc gia khác.Nguyên lý chính của chủ nghĩa trọng thương là lợi ích tốt nhất của một quốc gia để duytrì thặng dư thương mại, xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Bằng cách làm như vậy, mộtquốc gia sẽ tích lũy vàng và bạc, do đó, tăng tài sản quốc gia, uy tín, và quyền lực
Trang 6Trung Quốc là một quốc gia Tân-trọng thương?
Gia tăng nhanh chóng quyền lực kinh tế của Trung Quốc được xây dựng dựa trêntăng trưởng xuất khẩu Đất nước đã đưa nguyên liệu nhập khẩu từ các nước khác, và sửdụng lao động giá rẻ của nó, chuyển đổi chúng thành các sản phẩm bán cho các quốc giaphát triển như Hoa Kỳ Trong nhiều năm qua, đất nước xuất khẩu đã được phát triểnnhanh hơn so với nhập khẩu, một số nhà phê bình hàng đầu khẳng định rằng Trung Quốcđang theo đuổi một chính sách chủ nghĩa trọng thương, cố gắng để tích lũy thặng dưthương mại kỷ lục và đồng tiền nước ngoài sẽ cung cấp cho nó sức mạnh kinh tế đối vớicác nước phát triển Lý luận này đạt đỉnh cao mới trong năm 2005, khi Thặng dư thươngmại của Trung Quốc đạt mức kỷ lục 121 tỷ USD và dự trữ ngoại hối đứng đầu $ 800 tỷ,khoảng 70%, được tính bằng đô la Mỹ Các nhà quan sát lo lắng rằng nếu Trung Quốcquyết định bán trái phiếu chính phủ Mỹ, điều này có thể làm suy giảm giá trị của đồngUSD so với các đồng tiền khác và tăng giá của hàng nhập khẩu vào Mỹ Trong suốt năm
2005, xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ gấp đôi nhập khẩu, dẫn một
số lập luận rằng Trung Quốc đã hạn chế nhập khẩu bằng cách theo đuổi một chính sáchthay thế nhập khẩu, khuyến khích đầu tư trong nước trong việc sản xuất của lịch sử nhậpkhẩu từ các quốc gia khác Đồng thời, Trung Quốc đã nỗ lực chống lại việc cho đồng tiềncủa mình trôi nổi tự do so với đồng đô la Mỹ Nhiều người cho rằng tiền tệ của TrungQuốc là quá rẻ, mà giữ giá hàng hóa thấp giả tạo của Trung Quốc và các nhiên liệu xuấtkhẩu của đất nước
Vì vậy, Trung Quốc là một quốc gia chủ nghĩa trọng thương là cố tình không khuyếnkhích nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu để phát triển thặng dư thương mại của mình
và tích lũy dự trữ ngoại hối, mà có thể cung cấp cho nó quyền lực kinh tế? Ban giámkhảo về vấn đề này Những người hoài nghi cho rằng sự sụt giảm của nhập khẩu vớiTrung Quốc là tạm thời và rằng đất nước sẽ không có sự lựa chọn, nhưng để tăng nhậpkhẩu hàng hoá mà nó thiếu, chẳng hạn như dầu Họ cũng lưu ý rằng Trung Quốc đã bắtđầu cho phép các giá trị của đồng nhân dân tệ (tiền tệ của Trung Quốc) tăng giá so vớiđồng USD trong tháng bảy năm 2005, mặc dù đánh giá cao ban đầu được giới hạn chỉ là2,1% hầu như không đủ nói các nhà phê bình Trong một dấu hiệu rằng áp lực đối vớiTrung Quốc thay đổi cách của nó đang phát triển, vào đầu năm 2006, thư ký kho bạc Mỹgia hạn các cuộc gọi cho người Trung Quốc để cho phép đồng Nhân dân tệ tiếp tục tăng
so với đồng đô la Mỹ
Phù hợp với niềm tin này, học thuyết trọng thương chủ trương can thiệp của chínhphủ để đạt được thặng dư trong cán cân thương mại Mercantilists thấy không có đạo đứctrong một thể tích lớn của thương mại Thay vào đó, họ đề nghị chính sách để tối đa hóaxuất khẩu và giảm thiểu nhập khẩu Để đạt được điều này, họ ủng hộ chính phủ hạn chếnhập khẩu bởi thuế quan và hạn ngạch trong khi trợ cấp xuất khẩu Nhà kinh tế học cổđiển của David Hume đã chỉ ra sự không thống nhất vốn có trong học thuyết trọngthương năm 1752 Theo Hume, nếu Anh đã có một thặng dư cán cân thương mại vớiPháp (xuất khẩu hơn nhập khẩu), dòng chảy của vàng và bạc sẽ làm tăng cung tiền trongnước và tạo ra lạm phát ở Anh Tuy nhiên, tại Pháp, dòng chảy của vàng và bạc sẽ có tácdụng ngược lại Cung tiền của Pháp sẽ co lại, và giá của nó sẽ giảm Thay đổi giá cảtương đối giữa Pháp và Anh này sẽ khuyến khích người Pháp mua ít hàng hóa Anh (vìchúng đã trở nên đắt hơn) và người Anh mua nhiều hàng hoá Pháp (bởi vì chúng đã trởnên rẻ hơn) Kết quả sẽ là một sự suy giảm trong sự cân bằng cán cân thương mại của
Trang 7Anh và cải thiện trong cán cân thương mại của Pháp, cho đến khi thặng dư của Anh đã bịloại bỏ Do đó, theo Hume, trong thời gian dài không một quốc gia nào có thể duy trìthặng dư trong cán cân thương mại và để tích lũy vàng và bạc như thuyết trọng thương đã
dự kiến Các lỗ hổng với chủ nghĩa trọng thương mà nó đã xem thương mại như một trò
chơi tổng bằng không ( trò chơi tổng bằng không là một trò chơi mà trong đó một quốc
gia đạt được là kết quả của sự mất mát bởi một quốc gia khác.) Còn lại để AdamSmith và David Ricardo chỉ rõ bản chất của phương pháp này và để chứng minh rằngthương mại là một trò chơi tích cực tổng hợp, hoặc một tình huống mà trong đó tất cả cácnước có thể có lợi Thật không may, học thuyết trọng thương không có nghĩa là chết Lýthuyết Tân-trọng thương cân bằng quyền lực chính trị với sức mạnh kinh tế và quyền lựckinh tế với thặng dư cán cân thương mại Các nhà phê bình lập luận rằng nhiều quốc gia
đã thông qua một chiến lược chủ nghĩa trọng thương được thiết kế để đồng thời đẩy mạnhxuất khẩu và nhập khẩu hạn chế Ví dụ, các nhà phê bình khuyến cáo rằng Trung Quốcđang theo đuổi một chính sách chủ nghĩa trọng thương, cố tình giữ giá trị của tiền tệ thấp
so với đồng đô la Mỹ để bán hàng hóa Hoa Kỳ và do đó tích lũy thặng dư thương mại và
dự trữ ngoại hối (xem Tập trung vào các quốc gia trang trước)
LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI
Trong cuốn sách mang tính bước ngoặt của ông năm 1776 “sự giàu có của các quốcgia”, Adam Smith đã bác bỏ giả thuyết của chủ nghĩa trọng thương cho rằng thương mại
là trò chơi có tổng bằng không Smith lập luận rằng mỗi nước có khả năng sản xuất hànghóa một cách hiệu quả Vào thời của ông, người Anh, vì những lý thuyết khác cấp caohơn của họ giải thích những luồng thương mại giữa những quy trình công nghệ, là nhàsản xuất dệt may hiệu quả nhất của thế giới Do sự kết hợp của khí hậu thuận lợi, đất tốt,
và tích lũy chuyên môn,Pháp có ngành công nghiệp rượu vang hiệu quả nhất thế giới Anh đã có một lợi thế tuyệt đối trong sản xuất hàng dệt may, trong khi người Pháp đã cómột lợi thế tuyệt đối trong sản xuất rượu vang Như vậy, một quốc gia có một lợi thếtuyệt đối trong sản xuất một sản phẩm khi mà việc sản xuất đó hiệu quả hơn bất kỳ nướcnào khác trong việc sản xuất ra nó Theo Smith, các nước nên chuyên môn hóa trong việcsản xuất ra những hàng hoá mà họ có một lợi thế tuyệt đối,sau đó thực hiện hoạt độngthương mại đối với những hàng hoá cũng được sản xuất bằng cách này bởi các quốc qiakhác Vào thời của Smith, điều này gợi ý rằng người Anh chuyên sản xuất hàng dệt maytrong khi người Pháp chuyên sản xuất rượu vang Người Anh có thể nhận được tất cả cácloại rượu họ cần bằng cách bán hàng dệt may sang Pháp và mua rượu vang Tương tựnhư vậy, Pháp có thể nhận được tất cả các hàng dệt may họ cần bằng cách bán rượu cho Anh và mua hàng dệt may Lập luận cơ bản của Smith, do đó, các nước không nên sảnxuất hàng hóa ở chính nước mình trong khi nó có thể mua với một chi phí thấp hơn từ cácquốc gia khác Smith cho thấy rằng, bằng cách chuyên môn hóa sản xuất, trong đó mỗibên có một lợi thế tuyệt đối, cả hai quốc gia sẽ được hưởng lợi bằng cách tham gia hoạtđộng thương mại Hãy xem xét những ảnh hưởng của thương mại giữa hai nước, Ghana
và Nam Triều Tiên Nền sản xuất tốt (đầu ra) đòi hỏi phải có nguồn lực (đầu vào) nhưlao động, đất đai, và vốn Giả sử rằng Ghana và Hàn Quốc đều có cùng một lượng tàinguyên và các nguồn lực này có thể được sử dụng để sản xuất hoặc gạo hoặc ca cao Giả
sử thêm 200 đơn vị tài nguyên có sẵn trong mỗi quốc gia Hãy tưởng tượng rằng ở Ghanamất 10 nguồn lực để sản xuất một tấn ca cao và 20 tài nguyên để sản xuất một tấn gạo
Trang 8Như vậy, Ghana có thể sản xuất 20 tấn ca cao và không có gạo, 10 tấn gạo và không có
ca cao, hoặc kết hợp một số gạo và ca cao Các kết hợp khác nhau mà Ghana có thể sảnxuất được đại diện bởi dòng GG trong hình 5 Điều này được gọi là biên giới khả năngsản xuất (PPF) của Ghana Tương tự như vậy, hãy tưởng tượng rằng ở Hàn Quốc có 40nguồn lực để sản xuất một tấn ca cao và 10 tài nguyên để sản xuất một tấn gạo Như vậy,Hàn Quốc có thể sản xuất 5 tấn ca cao và không có gạo, 20 tấn gạo và ca cao không, hoặckết hợp cả hai Các kết hợp khác nhau có sẵn cho Hàn Quốc được đại diện bởi dòng KKtrong Hình 5.1 Đó là PPF của Hàn Quốc Rõ ràng Ghana có một lợi thế tuyệt đối trongsản xuất ca cao (Nhiều nguồn lực cần thiết để sản xuất một tấn ca cao tại Hàn Quốc hơn
ở Ghana) Thêm vào đó Hàn Quốc có một lợi thế tuyệt đối trong sản xuất lúa
Bây giờ hãy xem xét một tình huống trong đó quốc gia không kinh doanh với bất kỳquốc gia khác Mỗi nước dành một nửa tài nguyên của mình đến sản xuất lúa và một nửa
để sản xuất ca cao Mỗi nước cũng phải tiêu thụ những gì mà nó tự sản xuất ra Ghana sẽ
có thể sản xuất 10 tấn ca cao và 5 tấn gạo (điểm A trong Hình 5.1 ), Trong khi Hàn Quốc
sẽ có thể sản xuất 10 tấn gạo và 2,5 tấn ca cao Nếu không có thương mại,kết hợp sảnxuất của cả hai nước này sẽ là 12.5 tấn ca cao (10 tấn ở Ghana cộng với 2,5 tấn HànQuốc) và 15 tấn gạo (5 tấn ở Ghana và 10 tấn Hàn Quốc) Nếu mỗi quốc gia chuyên sảnxuất tốt những hàng hóa mà nó đã có một lợi thế tuyệt đối và sau đó giao dịch với quốcgia khác vì lợi ích nó thiếu, Ghana có thể sản xuất 20 tấn ca cao, và Hàn Quốc có thể sảnxuất 20 tấn gạo Do đó, bằng cách chuyên môn hóa, sản xuất của cả hai hàng hoá có thểđược tăng lên Sản xuất ca cao sẽ tăng từ 12,5 tấn đến 20 tấn, trong khi sản lượng gạo sẽtăng từ 15 tấn đến 20 tấn Sự gia tăng trong sản xuất sẽ cho kết quả từ chuyên môn do đó7,5 tấn ca cao và 5 tấn gạo Bảng 5.1 tóm tắt những số liệu này
Bằng cách tham gia vào thương mại và trao đổi một tấn ca cao cho một tấn gạo, cácnhà sản xuất trong cả hai nước có thể tiêu thụ cả ca cao và gạo Hãy tưởng tượng rằngGhana và Hàn Quốc trao đổi ca cao và gạo trên cơ sở một-một, đó là, giá của một tấn cacao là bằng với giá của một tấn gạo Nếu Ghana đã quyết định xuất khẩu 6 tấn ca cao choHàn Quốc và nhập khẩu trở lại từ Hàn Quốc 6 tấn gạo, tiêu dùng cuối cùng của Ghanasau khi thương mại sẽ là 14 tấn ca cao và 6 tấn gạo Ghana được thêm 4 tấn ca cao và 1tấn gạo so với trước khi chuyên môn hóa và thương mại Tương tự như vậy, Hàn Quốc tiêu dùng cuối cùng sau khi thương mại sẽ được 6 tấn ca cao và 14 tấn gạo Điều nàychứng tỏ HQ tiêu thụ nhiều hơn 3,5 tấn ca cao và 4 tấn gạo so với trước khi chuyên mônhóa và thương mại Vì vậy, như một kết quả của sự chuyên môn hóa và thương mại, sảnlượng của cả ca cao và gạo sẽ được tăng lên, và người tiêu dùng trong cả hai quốc gia sẽ
có thể tiêu dùng nhiều hơn Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng thương mại là một trò chơitổng hợp tích cực, nó tạo ra lợi nhuận ròng cho tất cả các bên có liên quan
LỢI THẾ SO SÁNH
David Ricardo đã đưa lý thuyết của Adam Smith lên một bước xa hơn bằng cáchkhám phá những gì có thể xảy ra khi một quốc gia có một lợi thế tuyệt đối trong việc sảnxuất tất cả các hàng hoá Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Smith cho rằng một đất nước
có lợi ích bằng không từ thương mại quốc tế Trong cuốn sách của ông 1817 Nguyên tắckinh tế chính trị Ricardo cho thấy rằng đây không phải là trường hợp Theo lý thuyết lợithế so sánh của Ricardo, nó có ý nghĩa đối với một quốc gia chuyên sản xuất các loạihàng hoá mà nó tạo ra hiệu quả nhất và mua hàng hóa mà nó tạo ra ít hiệu quả từ cácnước khác, điều này có nghĩa là mua hàng hóa ở các nước có thể sản xuất hiệu quả hơntrong nước Trong khi điều này có vẻ phản trực giác, logic có thể được giải thích bằng
Trang 9một ví dụ đơn giản Giả sử rằng Ghana là hiệu quả hơn trong việc sản xuất cả hai ca cao
và gạo; rằng Ghana có một lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất cả hai sản phẩm
và 20 nguồn lực để sản xuất một tấn gạo Như vậy, Hàn Quốc có thể sản xuất 5 tấn ca cao
và không có gạo, 10 tấn gạo và ca cao không có, hoặc sự kết hợp bất kỳ PPF của nó(dòng KK trong Hình 5.2) Một lần nữa giả định rằng nếu không có thương mại, mỗiquốc gia sử dụng một nửa nguồn lực của mình để sản xuất gạo và một nửa để sản xuất cacao Vì vậy, không có thương mại, Ghana sẽ sản xuất 10 tấn ca cao và 7,5tấn gạo (điểm
A trong Hình 5.2),Trong khi Hàn Quốc sẽ sản xuất 2,5 tấn ca cao và 5 tấn gạo (điểm Btrong Hình 5.2) Trong ánh sáng của lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất cả hai hàng hóacủa Ghana, tại sao nó hoạt động thương mại với Hàn Quốc? Mặc dù Ghana có một lợi thếtuyệt đối trong sản xuất của cả ca cao và gạo, nó có một lợi thế so sánh trong sản xuất cacao: Ghana có thể sản xuất nhiều bằng 4 lần Hàn Quốc, nhưng chỉ nhiều bằng 1,5 lầngạo Ghana là tương đối hiệu quả hơn trong việc sản xuất ca cao hơn là sản xuất lúa gạo.Nếu không có sản xuất thương mại kết hợp của ca cao sẽ là 12.5 tấn (10 tấn trong Ghana
và 2,5 ở Hàn Quốc), và kết hợp sản xuất gạo cũng sẽ được 12,5 tấn (7,5 tấn ở Ghana và 5tấn ở Hàn Quốc) Nếu không có thương mại, mỗi quốc gia phải tiêu thụ những gì nó sảnxuất Bằng cách tham gia vào thương mại, hai nước có thể tăng sản xuất kết hợp của gạo
và ca cao, và người tiêu dùng trong cả hai quốc gia có thể tiêu dùng nhiều hơn của cả haihàng hoá
Trang 10NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI
Hãy tưởng tượng rằng Ghana khai thác lợi thế so sánh của mình trong việc sản xuất
ca cao để tăng sản lượng từ 10 tấn đến 15 tấn Điều này sử dụng hết 150 đơn vị tàinguyên, để lại 50 đơn vị nguồn lực còn lại để sử dụng sản xuất 3.75 tấn gạo (điểm Ctrong Hình 5.2) Trong khi đó, Hàn Quốc chuyên sản xuất lúa, sản xuất 10 tấn Sản lượngkết hợp của cả hai ca cao và gạo đã tăng lên Trước khi chuyên môn, sản lượng kết hợp12,5 tấn ca cao và 12,5 tấn gạo Bây giờ nó là 15 tấn ca cao và 13,75 tấn gạo (3,75 tấn tạiGhana và 10 tấn ở Hàn Quốc) Nguồn gốc của sự gia tăng trong sản xuất được tóm tắttrong Bảng 5.2
Không chỉ là đầu ra cao hơn, nhưng cả hai nước cũng có thể hưởng lợi từ thương mại.Nếu Ghana và Hàn Quốc trao đổi ca cao và gạo trên cơ sở một-một, với cả hai nước lựachọn để trao đổi 4 tấn xuất khẩu cho 4 tấn nhập khẩu, cả hai quốc gia có thể tiêu thụ cacao và gạo nhiều hơn so với trước khi chuyên môn hóa và thương mại (Xem Bảng 5.2)
Vì vậy, nếu Ghana trao đổi 4 tấn ca cao với Hàn Quốc bằng 4 tấn gạo, nó vẫn còn 11 tấn
ca cao, đó là 1 tấn so với nó đã có trước khi thương mại 4 tấn gạo, nó được đến từ HànQuốc để đổi lấy 4 tấn ca cao, khi thêm vào 3,75 tấn sản xuất trong nước, với tổng cộng7,75 tấn gạo, mà là 0,25 của một tấn nhiều hơn so với nó đã có trước khi chuyên môn.Tương tự như vậy, sau khi trao đổi 4 tấn gạo với Ghana, Hàn Quốc vẫn kết thúc với 6 tấngạo, mà là nhiều hơn nó đã có trước khi chuyên môn Ngoài ra, 4 tấn ca cao nhận đượctrong trao đổi là 1,5 tấn so với sản xuất trước khi thương mại Như vậy, tiêu thụ ca cao vàgạo có thể tăng lên ở cả hai nước như là một kết quả của sự chuyên môn hóa và thươngmại Các nhà kinh tế tin rằng Thông điệp cơ bản của lý thuyết lợi thế so sánh là sản xuấtlớn hơn với thương mại tự do không bị giới hạn hơn là với thương mại hạn chế Lý thuyếtcủa Ricardo về phúc lợi kinh tế cho thấy rằng người tiêu dùng trong tất cả các quốc gia
nước tham gia hạn chế về thương mại Điều này xảy ra ngay cả ở các nước đang thiếumột lợi thế tuyệt đối trong một hệ thống thương mại tự do
Trang 11Tăng tiêu thụ như là một kết quả Chuyên ngành Thương mại
lý thuyết này cung cấp một lý do mạnh mẽ để khuyến khích tự do thương mại Đó là lýthuyết của Ricardo cho rằng nó vẫn còn một vũ khí hữu trí tuệ lớn đối với những ngườitranh luận thương mại tự do
TRÌNH ĐỘ VÀ GIẢ ĐỊNH
Các kết luận rằng thương mại tự do phổ biến mang lại lợi ích là khá táo bạo rút ra từmột mô hình đơn giản như vậy Mô hình đơn giản của chúng tôi bao gồm nhiều giả địnhkhông thực tế:
1 Chúng tôi đã giả định một thế giới đơn giản, trong đó chỉ có hai nước vàhai hàng hoá Trong thế giới thực, có nhiều nước và nhiều mặt hàng
2 Chúng tôi đã giả định chi phí vận chuyển giữa các quốc gia
3 Chúng tôi đã giả định sự khác biệt trong giá cả của nguồn tài nguyên khácnhau quốc gia Chúng tôi đã không nói gì về tỷ giá hối đoái, chỉ cần giả định rằng
ca cao và gạo có thể được trao đổi trên cơ sở một-một
4 Chúng tôi đã giả định rằng các nguồn lực có thể di chuyển tự do từ việcsản xuất trong phạm vi một quốc gia Trong thực tế, đây không phải luôn luônnhư vậy
5 Chúng tôi đã giả định trở lại liên tục để quy mô, có nghĩa là, mà chuyênmôn bởi Ghana hoặc Hàn Quốc đã không ảnh hưởng đến số lượng nguồn lực cầnthiết để tạo ra một tấn ca cao hoặc gạo Trong thực tế, cả hai suy giảm và tăng trởlại chuyên môn tồn tại Số lượng nguồn lực cần thiết để sản xuất một có thể tốtgiảm hoặc gia tăng khi một quốc gia chuyên sản xuất là tốt
6 Chúng tôi đã giả định rằng mỗi quốc gia có một cổ phiếu cố định của cácnguồn tài nguyên và miễn phí thương mại không thay đổi hiệu quả với một quốcgia sử dụng nguồn lực của mình Điều này giả định tĩnh không phụ cấp đối vớicác thay đổi năng động của một quốc gia cổ phiếu của các nguồn lực và hiệu quả
mà các nước sử dụng nguồn lực của mình có thể là kết quả của thương mại tự do
7 Chúng tôi đã giả định ảnh hưởng của thương mại về phân phối thu nhậptrong một quốc gia Với những giả định này, có thể kết luận rằng tự do thươngmại thực sự cùng có lợi được mở rộng của nhiều quốc gia với thế giới,nhiều mặthàng,vận chuyển tích cực chi phí, tỷ giá biến động, các nguồn tài nguyên bất độngtrong nước Mặc dù một phần mở rộng của lý thuyết lợi thế so sánh là vượt rangoài phạm vi của cuốn sách này, các nhà kinh tế đã chỉ ra rằng kết quả cơ bảnxuất phát từ mô hình đơn giản của chúng tôi có thể được tổng quát cho một thếgiới bao gồm của nhiều quốc gia sản xuất nhiều mặt hàng khác nhau Mặc dùnhững thiếu sót của mô hình Ricardo, nghiên cứu cho thấy rằng đề xuất cơ bản
mà các quốc gia sẽ xuất khẩu các hàng hóa mà họ có hiệu quả nhất trong việc sảnxuất được sinh ra bởi các dữ liệu Tuy nhiên, một khi tất cả các giả định giảm,một số nhà kinh tế kết hợp với "lý thuyết thương mại mới" đã lập luận rằng các
Trang 12trường hợp thương mại tự do không hạn chế, trong khi vẫn còn tích cực, mất một
số sức mạnh của nó Chúng tôi quay trở lại vấn đề này sau trong chương này vàtiếp theo khi chúng tôi thảo luận về các lý thuyết thương mại mới Trong gần đây
và thảo luận rộng rãi phân tích, các nhà kinh tế đoạt giải Nobel Paul Samuelsonlập luận rằng trái với việc giải thích tiêu chuẩn, trong một số trường hợp, lý thuyếtcủa lợi thế so sánh dự đoán rằng một quốc gia giàu có thực sự có thể bị tồi tệ hơnbằng cách chuyển sang một chế độ thương mại tự do với một quốc gia nghèo.Chúng tôi sẽ xem xét phê bình của Samuelson phần tiếp theo
PHẦN MỞ RỘNG CỦA MÔ HÌNH RICARDO
Hãy để chúng tôi khám phá những hiệu ứng thư giãn hai trong số các giả định đượcxác định trên mô hình lợi thế so sánh đơn giản Dưới đây chúng tôi đưa ra các giả địnhrằng các nguồn lực di chuyển tự do từ sản xuất trong phạm vi một quốc gia và giả địnhrằng thương mại không thay đổi nguồn tài nguyên của một quốc gia hoặc hiệu quả mànhững nguồn tài nguyên sử dụng
NGUỒN TÀI NGUYÊN
Trong mô hình so sánh đơn giản của Ghana và Hàn Quốc, chúng tôi giả định rằng cácnhà sản xuất (nông dân) có thể dễ dàng chuyển đổi đất từ sản xuất ca cao với cây lúa và ngược lại Mặc dù giả thuyết này có thể giữ cho một số sảnphẩm nông nghiệp, tài nguyên không luôn luôn thay đổi khá dễ dàng như vậy từ sản xuấtmột khác Một số lượng nhất định của ma sát có liên quan Ví dụ,ôm một chế độ thươngmại tự do cho một nền kinh tế tiên tiến như Hoa Kỳ thường có nghĩa rằng đất nước sẽ sảnxuất ít hơn của một số mặt hàng thâm dụng lao động, như dệt may, và Một số mặt hàngkiến thức chuyên sâu, chẳng hạn như phần mềm máy tính hoặc công nghệ sinh học sảnphẩm Mặc dù cả nước sẽ đạt được từ một sự thay đổi như vậy, dệt may sẽ bị mất Mộtcông nhân dệt ở Nam Carolina có lẽ là không đủ điều kiện để viết phần mềm choMicrosoft Như vậy, chuyển sang thương mại tự do có thể có nghĩa rằng người trở thànhthất nghiệp hoặc phải chấp nhận một công việc khác kém hấp dẫn hơn, chẳng hạn nhưlàm việc tại một thức ăn nhanh nhà hàng Tài nguyên không phải luôn luôn di chuyển dễdàng từ một trong những hoạt động kinh tế khác Trong khi lý thuyết này dự đoán rằnglợi ích của thương mại tự do lớn hơn các chi phí bằng lãi đáng kể cho những người chịuchi phí Theo đó, chính trị đối lập với việc thông qua chế độ thương mại miễn phí thườngđến từ những người có công việc có nhiều nguy cơ Ví dụ, công nhân dệt may và cácđoàn thể của họ từ lâu đã phản đối động thái hướng tới thương mại tự do một cách chínhxác bởi vì nhóm này có nhiều thứ để mất từ thương mại tự do Các chính phủ thường dễdàng chuyển tiếp đối với thương mại tự do bằng cách giúp đào tạo lại những người bị mấtcông việc của họ như là một kết quả Cơn đau gây ra bởi sự chuyển động hướng tới mộtchế độ thương mại tự do một hiện tượng ngắn hạn, trong khi lợi ích từ thương mại khichuyển đổi đã được thực hiện cả hai đều quan trọng và lâu dài
HIỆU ỨNG NĂNG ĐỘNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Mô hình lợi thế so sánh đơn giản giả định rằng thương mại không thay đổi nguồn tàinguyên của một quốc gia hoặc hiệu quả mà nó sử dụng những nguồn tài nguyên Điềunày không làm cho các nhà kinh tế tin rằng những thay đổi năng động có thể là kết quảcủa thương mại Nó trở nên rõ ràng rằng việc mở một nền kinh tế thương mại có khảnăng để tạo ra phúc lợi kinh Đầu tiên, thương mại tự do có thể tăng cổ phần của mộtquốc gia Nước tham gia các nguồn lực là nguồn cung cấp lao động và vốn từ nước ngoàitrở nên có sẵn trong một hệ thống thương mại tự do,sử dụng trong nước Ví dụ, điều này
Trang 13đã xảy ra ở Đông Âu kể từ khi đầu những năm 1990, với nhiều doanh nghiệp phương Tâyđầu tư vốn đáng kể trong các nước cựu cộng sản Thứ hai, thương mại tự do cũng có thểlàm tăng hiệu quả với một quốc gia sử dụng nguồn lực của nó Lợi nhuận trong hiệu quả
sử dụng nguồn lực có thể phát sinh từ một số yếu tố Ví dụ, các nền kinh tế sản xuất quy
mô lớn có thể trở thành có sẵn như là thương mại mở rộng kích thước của toàn thị trường
có sẵn cho các công ty trong nước Thương mại có thể thực hiện tốt hơn công nghệ từnước ngoài có sẵn cho các công ty trong nước, công nghệ tốt hơn có thể tăng năng suấtlao động, năng suất của đất (Cuộc cách mạng xanh đã có ảnh hưởng đến kết quả đầu ranông nghiệp ở các nước đang phát triển) Ngoài ra,mở một nền kinh tế cạnh tranh nướcngoài có thể kích thích sản xuất trong nước tìm cách để tăng hiệu quả của họ Một lầnnữa, hiện tượng này đã được cho là xảy ra trong các thị trường Đông Âu, nơi mà nhiềungười trước đây nhà nước độc quyền nâng cao hiệu quả hoạt động của mình để tồn tạitrong thị trường thế giới cạnh tranh Tăng năng động trong cả hai cổ phiếu tài nguyên củamột quốc gia và hiệu quả với những nguồn lực được sử dụng sẽ gây PPF của một quốcgia để chuyển ra nước ngoài Đây là minh họa trong Hình 5.3,Nơi mà sự thay đổi từ PPF
để PPF kết quả từ sự năng động những lợi ích phát sinh từ thương mại tự do Như một hệquả của sự thay đổi này ra nước ngoài,trong nước Hình 5.3 có thể sản xuất cả hàng hóahơn trước khi giới thiệu miễn phí thương mại Lý thuyết này cho thấy rằng mở một nềnkinh tế tự do thương mại không chỉ có kết quả lợi ích tĩnh của các loại thảo luận trước đó,nhưng nó cũng có kết quả lợi ích động vào tăng trưởng kinh tế Nếu điều này là như vậy,sau đó người ta có thể nghĩ rằng các trường hợp cho thương mại tự do trở nên mạnh hơnvẫn còn, và nói chung nó Tuy nhiên, như đã nói ở trên,gần đây Điều một trong các nhà
lý thuyết kinh tế hàng đầu của thế kỷ XX, Paul Samuelson, lập luận rằng trong một sốtrường hợp, lợi ích động có thể dẫn đến một kết quả đó không phải là để mang lại lợi ích
Bài phê bình của Samuelson
Phê bình của Samuelson nhìn vào những gì xảy ra khi một đất nước giàu có như Hoa
Kỳ tham gia vào một thỏa thuận thương mại tự do với một nước nghèo - quốc gia TrungQuốc - nhanh chóng cải thiện năng suất của nó sau khi sự ra đời của một chế độ thượngmại tự do (tức là có sự tăng lên năng động trong hiệu quả tài nguyên được sử dụng trongcác nước nghèo) Mô hình Samuelson cho thấy rằng trong những trường hợp như vậy,thấp hơn giá mà người tiêu dùng Mỹ phải trả đối với hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốcsau khi giới thiệu của một chế độ thương mại tự do có thể không đủ để tạo ra một lợi íchròng để cho nền kinh tế Mỹ nếu như hiệu ứng năng động của thương mại tự do là thấphơn mức lương thực tế trong Hoa Kỳ Samuelson đã nói trong một cuộc phỏng vấn NewYork Times,có thể cửa hàng tạp hóa mua 20% rẻ hơn tại Wal-Mart (do thương mại quốctế)không nhất thiết phải làm cho những tổn thất lương (tại Mỹ) " Samuelson tiếp tục lưu
ý rằng ông đặc biệt quan tâm về khả năng gửi dịch vụ việc làm ra nước ngoài mà theotruyền thống đã không được quốc tế điện thoại di động, chẳng hạn như gỡ lỗi phần mềm,hãy gọi cho trung tâm việc làm, công việc kế toán, và thậm chí cả dự đoán của MRI(xem Focus Quốc gia trên trang tiếp theo để biết thêm chi tiết) Tiến bộ gần đây trongcông nghệ truyền thông đã thực hiện điều này có thể, có hiệu quả mở rộng thị trường laođộng cho các công việc bao gồm những người được đào tạo ở những nơi như Ấn Độ,ViệtNam và Trung Quốc Khi kết hợp với những tiến bộ nhanh chóng trong sản xuất của laođộng nước ngoài là kết quả từ giáo dục tốt hơn, ảnh hưởng đến tầng lớp trung lưu lươngHoa Kỳ, theo Samuelson, có thể tương tự như đại chúng chuyển hướng vào bên trong cácliên kết sẽ thấp hơn lãi suất thị trường tiền lương thanh toán bù trừ,có lẽ bởi đủ để lớn
Trang 14hơn những lợi ích tích cực của thương mại quốc tế Khi nói điều này, cần lưu ý rằngSamuelson thừa nhận rằng thương mại tự do lịch sử đã được hưởng lợi quận giàu (như dữliệu thảo luận dưới đây dường như để xác nhận) Hơn nữa, ông lưu ý rằng các biện phápbảo hộ giới thiệu (ví dụ, các rào cản thương mại) bảo vệ chống lại khả năng lý thuyếtthương mại tự do có thể gây tổn hại cho Hoa Kỳ trong tương lai có thể tạo ra một tìnhhình tồi tệ hơn căn bệnh mà họ đang cố gắng để ngăn chặn Như Samuelson, “thương mại
tự do có thể áp dụng vào thực tế để được lợi ích tốt nhất cho từng khu vực so với thuếquan và hạn ngạch do vận động hành lang liên quan đến cả một sự lầm đường của nềndân chủ "
QUỐC GIA TẬP TRUNG
Di chuyển những công nhân cổ trắng từ Mỹ ra nước ngoài
Các nhà kinh tế học từ lâu đã lập luận rằng thương mại tự do đem lại lợi ích cho tất cảcác quốc gia tham gia vào hệ thống thương mại tự do,nhưng làn sóng tiếp theo của vấn đềtoàn cầu hóa tác động tới nền kinh tế Mỹ, nhiều người sẽ ngạc nhiên nếu đó là sự thật,đặc biệt là những người đứng trước đe dọa mất việc làm do làn sóng toàn cầu hóa Trongnhiều suy diễn phổ biến của một phần tư thế kỷ qua, thương mại tự do có liên quan với sự
di chuyển của những công nhân kỹ thật thấp, công nhân cổ xanh trong các nhà máy ở cácnước giàu có như Hoa Kỳ tới các nước có mức lương thấp như dệt may tới Costa Rica,giày thể thao tới Philipines, thép tới Brazil, đồ điện tử tới Malaysia và vv…Trong khinhiều nhà quan sát than vãn “rỗng tuếch” của nhà máy ở Mỹ, các nhà kinh tế học chorằng kỹ thuật cao và mức lương cao, các công nhân cổ trắng cùng với nền tảng kiến thức
về kinh tế sẽ ở lại Mỹ Những lập luận cũng qua đi khi máy tính có thể được lắp ráp tạiMalaysia, nhưng chúng sẽ tiếp tục được thiết kế tại Silicon Valley bởi những kỹ sư có taynghề cao của Mỹ
Những phát triển gần đây một số người đặt câu hỏi xoay quanh giả định này Khi nềnkinh tế toàn cầu chậm lại sau năm 2000 và lợi nhuận các công ty giảm mạnh nhiều công
ty Mỹ phản ững bằng cách di chuyển công nhân cổ trắng công việc “dựa trên kiến thức”sang các nước đang phát triển nơi mà họ có thể thực hiện với phần chi phí rất nhỏ Trongsuốt quá trình khủng hoảng kinh tế năm 1990, các ngân hàng của Mỹ đã phải cạnh tranhvới những tổ chức khác cho những tài năng đặc biệt hiếm hoi về công nghệ thông tin,lương hàng năm hơn 100,000$ Tuy nhiên, dưới áp lực của việc kinh doanh, giữa năm
2000 và đầu năm 2003 các ngân hàng đã cắt giảm gần 5000 nhân viên từ con số 25000lực lượng lao động dựa trên công nghệ thông tin của Mỹ Một số được chuyển sang Ấn
Độ, nơi mà thay vì được trả 100$ một giờ thì họ chỉ nhận được 20$ một giờ
Được thụ hưởng từ việc thu hẹp quy mô của các ngân hàng của Mỹ là InfosysTechnology Ltd Bangalore, Ấn độ, là một hãng công nghệ thông tin nơi có 250 kỹ sưphát triển công nghệ thông tin đáp ứng cho ngân hàng Những nhân viên khác đang bậnrộn với việc đáp ứng tiến trình cho vay tại nhà cho Greenpoint Mortgage của Novato,California Gần đó trong văn phòng của một hãng khác ở Ấn Độ, Wipro Ltd., 5 bác sĩchụp X quang phải giải thích 30 tấm chụp x quang một ngày cho bệnh việnMassachusetts General thông qua internet Mà tại các doanh nghiệp khác của Bangalorechưa có, các kỹ sư kiếm được 10.000$ mỗi năm để thiết kế chíp bán dẫn cho TexasInstruments Không chỉ có Ấn Độ mới được hưởng lợi từ những thay đổi này Accenture,một công ty tư vấn quản lý lớn và công nghệ phần mềm của Mỹ đã chuyển 5000 nhân
Trang 15viên phát triển phần mềm và kế toán sang Philipine Cũng như Philipines, Procter &Gamble tuyển 650 chuyên gia những người chuẩn bị việc trả thuế những công ty toàncầu Công việc đã từng được làm ở Mỹ, nhưng bây giờ lại thực hiện tại Manila, với chỉ đệtrình cuối cùng tại cơ quan thuế cục bộ ở Mỹ và các quốc gia khác giải quyết tại quốc giamình.
Một vài công việc kiến trúc cũng được thuê ngoài tới các địa điểm có chi phí thấphơn Flour Corp., một công ty xây dựng ở California, tuyển dụng khoảng 1.200 kỹ sư vàthiết kế ở Philipines, BaLan, và Ấn Độ để bố trí vào các cơ sở công nghiệp với các chitiết kỹ thuật cụ thể Công ty hóa chất thực vật Ả rập Saudi đang được thiết kế, 200 kỹ sưtrẻ tại Philipines chỉ kiếm được ít hơn 3.000$ mỗi năm trong thời gian thực tế hợp tác quainternet với các kỹ sư giỏi của Hoa kỳ và Anh những người kiếm được đến 90,000$ mỗinăm Tại sao Flour lại làm điều đó? Theo công ty câu trả lời thật đơn giản Làm như vậy
sẽ giảm chi phí mỗi dự án xuống 15% đem lại lợi thế cạnh tranh về chi phí trong thịtrường toàn cầu về thiết kế xây dựng
Công ty có thể thuê ngoài những người có tay nghề cao rõ ràng sẽ mang lại lợi nhuận
từ chi phí thấp hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới, và đạt đượclợi nhuận lớn hơn Người tiêu dùng Mỹ cũng có thể được hưởng lợi từ cái giá thấp hơn từgia công toàn cầu Những quốc gia đang phát triển như Ấn Độ và Philipines với nguồncung ứng lao động chi phí thấp, được giáo dục tốt, có tay nghề ( tiêu chuẩn quốc tế) cũngđược hưởng lợi Tuy nhiên, một số người tự hỏi liệu Mỹ có chịu để mất đi những côngnhân có tay nghề cao và được trả lương cao? Xu hướng gia công toàn cầu làm giảm mứclương của các công nhân cổ trắng trên toàn quốc? Nếu điều đó xảy ra, có thể nó sẽ tácđộng tiêu cực đến nền kinh tế Mỹ hay không ?
( Nguồn: P Engardio, A Bernstein, and M Kripalani, “Is Your Job Next?”
BusinessWeek, February 3, 2003, pp 50–60; “America’s Pain, India’s Gain,”
The Economist, January 11, 2003, p 57; and M Schroeder and T Aeppel,
“Skilled Workers Mount Opposition to Free Trade, Swaying Politicians,”
The Wall Street Journal, October 10, 2003, pp A1, A11 )
Bằng chứng cho sự liên kết giữa thương mại và tăng trưởng
Nhiều nghiên cứu kinh tế đã xem xét mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởngkinh tế Nói chung những nghiên cứu cho rằng, theo dự đoán dựa trên tiêu chuẩn lýthuyết về lợi thế cạnh tranh, các quốc gia độc lập thường cởi mở hơn trong thương mạiquốc tế và cũng có tốc độ tăng trưởng cao hơn những quốc gia khép kín đối với nền kinh
tế thương mại ( trường hợp mở cửa cung cấp một bằng chứng về sự liên kết giữa thươngmại và tăng trưởng) Jeffrey Sachs và Andrew Warner đã tạo ra thước đo của việc “mở”đối với nền thương mại quốc tế của một nền kinh tế và sau đó xem xét mối quan hệ giữa
“ sự mở cửa” và tốc độ tăng trưởng kinh tế từ một mẫu hơn 100 quốc gia từ 1970 đến
1990 Giữa những điều khác được tìm thấy họ báo cáo:
Chúng tôi thấy có sự liên quan giữa sự mở cửa và tăng trưởng, cả ở nhóm các nướcphát triển và đang phát triển Trong nhóm các quốc gia đang phát triển, việc mở cửa nềnkinh tế giúp tăng trưởng 4.49% mỗi năm, và nền kinh tế đóng chỉ 0.69% mỗi năm Trongnhóm các nước có nền kinh tế phát triển, kinh tế mở tăng 2.29% và nền kinh tế đóng tăng0.74% mỗi năm
Một nghiên cứu bởi Wacziarg và Welch cập nhật các dữ liệu của Sachs và Warnerthông qua cuối những năm 1990 Họ thấy rằng giai đoạn 1950-1998, các nước có chế độ
Trang 16tự do hóa thương mại đã có kinh nghiệm, trung bình, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 1.5% sovới trước đó.
Thông điệp của các nhà nghiên cứu dường như rất rõ ràng: thông qua nền kinh tế mở
và nắm lấy nền thương mại tự do hóa, và quốc gia của bạn sẽ đạt được thắng lợi với mứctăng trưởng kinh tế cao hơn Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ kéo theo tăng mức thunhập và mức sống Điểm cuối cùng được xem xét bởi một nghiên cứu về mối quan hệgiữa thương mại và tăng trưởng thu nhập Nghiên cứu được thực hiện bởi Jeffrey Frankel
và David Romer, đã cho thấy rằng, trung bình 1%tăng trưởng GDP của một quốc gia thì
ít nhất thu nhập của mỗi người dân tăng 0.5% Cứ 10% tăng lên trong tầm quan trọng củathương mại quốc tế trong nền kinh tế, trung bình thu nhập sẽ tăng lên ít nhất 5% Mặc dùchi phí điều chỉnh trong ngắn hạn có liên quan tới việc áp dụng chế độ thương mại tự do,thuơng mại sản xuất sẽ dường như cao hơn tốc độ tăng trưởng nền kinh tế và mức sốngcao hơn trong một thời gian dài, cũng như lý thuyết của Ricardo nó sẽ dẫn chúng ta đếnnhững mong đợi
Thuyết Heckscher- Ohlin
Lý thuyết của Ricardo cho rằng lợi thế cạnh tranh phát sinh từ sự khác nhau về hiệusuất Do vậy, có không Ghana sẽ có hiệu quả hơn Hàn Quốc trong việc sản xuất ca caodựa vào hiệu suất mà sử dụng chính nguồn lực của mình Ricardo lập luận rằng sự khácbiệt về năng suất lao động giữa các quốc gia làm nền tảng cho khái niệm về lợi thế sosánh Các nhà kinh tế Thụy Điển Eli Hecscher ( vào năm 1919) và Bertil Ohlin ( vào năm1933) đưa ra lời giải thích khác nhau về lợi thế so sánh Họ lập luận rằng lợi thế so sánhphát sinh từ sự khác nhau về yếu tố nguồn lực của mỗi quốc gia Khái niệm yếu tố nguồnlực đề cập đến mức độ mà một quốc gia được ưu đãi với nguồn tài nguyên như đất đai,lao động, và vốn Các quốc gia khác nhau về nguồn lực và những khác nhau đó giải thíchcho sự khác nhau về chi phí; cụ thể, càng phong phú các yếu tố đó, chi phí càng thấp Lýthuyết của Heckscher-Ohlin dự báo rằng các nước sẽ xuất khẩu những mặt hàng chuyêndùng sử dụng nguồn lực dồi dào trong nước và nhập khẩu những hàng hóa mà chuyêndùng mà phải sử dụng những yếu tố khan hiếm trong nước Do đó, lý thuyết củaHeckscher-Ohlin nỗ lực giải thích mô hình thương mại quốc tế mà chúng ta quan sátđược trong nền kinh tế thế giới Cũng giống như lý thuyết Ricardo, lý thuyết Heckscher-Ohlin cho rằng thương mại tự do là có lợi Tuy nhiên không giống như lýthuyết Ricardo, lý thuyết Heckscher-Ohlin cho rằng mô hình thương mại quốc tế đượcxác định bởi sự khác biệt về nguồn lực chứ không phải là sự khác biệt về hiệu suất Các
lý thuyết của Heckscher-Ohlin có tiếng nói chung Ví dụ, Hoa Kỳ đã từ lâu là một nướcxuất khẩu đáng kể hàng nông sản nó phản ánh một phần về sự giàu có đất canh tác.Ngược lại, Trung Quốc vượt trội trong việc xuất khẩu sản phẩm công nghiệp với laođộng có chuyên môn trong các khu công nghiệp, như dệt may, dày dép
Điều này phản ánh mối liên quan đến lực lượng lao động dồi dào giá rẻ ở TrungQuốc Hoa Kỳ thiếu nguồn lao động dồi dào giá rẻ nên là khách hàng chính của nhữnghàng hóa này Lưu ý rằng chỉ là tương đối không phải là tuyệt đối, các nguồn lực rất quantrọng; một quốc gia có thể có lượng đất đai và lao động hoàn toàn hơn hẳn quốc gia khác,liên quan đến sự phong phú thì chỉ có một trong số họ
THE LEONTIEF PARADOX - Lý thuyết của Heckscher-Ohlin đã trở thành một
trong những lý thuyết ảnh hưởng nhất trong nền kinh tế quốc tế Hầu hết các nhà kinhthích lý thuyết của Heckscher-Ohlin hơn lý thuyết của Ricardo nó làm đơn giản hóa cácgiả định Do ảnh hưởng của nó lý thuyết đã trở thành chủ đề của rất nhiều thử nghiệm
Trang 17Bắt đầu với một nghiên cứu nổi tiếng được xuất bản vào năm 1953 bởi Wassily Leontief( giải nobel kinh tế năm 1973), rất nhiều những thử nghiệm này đã đưa ra câu hỏi về tínhhợp lệ của lý thuyết Heckscher-Ohlin Sử dụng lý thuyết của Heckscher-Ohlin, Leontiefgiả định rằng khi Hoa kỳ tương đối dồi dào về nguồn vốn so với các quốc gia khác, Hoa
Kỳ sẽ xuất khẩu hàng hóa từ nguồn vốn lớn và nhập khẩu những hàng hóa đòi hỏi nguồnlao động lớn Tuy nhiên, ông ta rất ngạc nhiên khi thấy rằng nước Mỹ xuất khẩu lượngvốn ít hơn nhập khẩu Từ kết quả này không đúng với giả định của lý thuyết, nó được biếtđến như nghịch lý của Leontief Không ai hoàn toàn chắc chắn tại sao chúng ta lại xemxét nghịch lý của Leontief Có thể giải thích rằng Hoa Kỳ có một lợi thế đặc biệt trongviệc sản xuất ra những sản phẩm mới hay những hàng hóa được sản xuất bằng công nghệtiên tiến Các sản phẩm đó có thể cần ít nguồn vốn lớn hơn các sản phẩm công nghệ đã cóthời gian để hoàn thiện và trở nên phù hợp cho việc sản xuất hàng loạt Vì vậy Hoa Kỳ cóthể sẽ xuất khẩu những hàng hóa sử dụng lao động có tay nghề và tinh thần sáng tạo nhưphần mềm máy tính, trong khi đó nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp nặng sử dụngnguồn vốn lớn Một số nghiên cứu thực nghiệm đã có xu hướng xác nhận điều này Tuyvậy những thử nghiệm của lý thuyết Heckscher-Ohlin đang sử dụng dữ liệu của mộtlượng lớn các nước có xu hướng xác nhận sự tồn tại nghịch lý của Leontief
Điều này khiến các nhà kinh tế rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan Họ thích lýthuyết của Heckscher-Ohlin về cơ sở lý thuyết nhưng nó lại rất nghèo về mô hình thươngmại quốc tế trong thực tế Mặt khác, lý thuyết mà họ xem quá hạn chế là lý thuyết về lợithế so sánh của Ricardo thực sự lại dự đoán chính xác hơn về các mô hình thương mại.Giải pháp tốt nhất trong tình thế tiến thoái lưỡng nan này là trở lại với ý tưởng củaRicardo rằng mô hình thương mại được thúc đẩy bởi sự khác biệt quốc tế về năng suất
Vì vậy người ta có thể lập luận rằng Hoa Kỳ xuất khẩu máy bay thương mại và nhậpkhẩu hàng dệt may không phải bởi vì các nhân tố tài nguyên đặc biệt thích hợp để sảnxuất mấy bay và không phù hợp để sản xuất hàng dệt may, mà vì Hoa Kỳ sản xuất máybay hiệu quả hơn hàng dệt may Một giả thuyết quan trọng của lý thuyết Heckscher-Ohlin
là các nước giống nhau về công nghệ Đây không hẳn là một tình huống Sự khác nhau vềcông nghệ có thể dẫn tới sự khác nhau về hiệu suất, mà lần lượt trong các mô hình vềthương mại quốc tế Vì vậy thành công của Nhật Bản về xuất khẩu ô tô trong những năm
1970 và 1980 kết quả không chỉ từ sự dồi dào về nguồn vốn mà còn từ sự phát triển côngnghệ tiên tiến giúp đạt được hiệu suất cao hơn các nước có nguồn vốn dồi dào trong việcsản xuất ô tô Công tác thực nghiệm gần đây cho thấy rằng lý thuyết này có thể giải thíchđúng Kiểm soát sự khác biệt công nghệ trên khắp các quốc gia, nghiên cứu chỉ ra rằngcác quốc gia thực sự xuất khẩu các hàng hóa được sản xuất chuyên sâu sử dụng nhữngyếu tố phong phú tại quốc gia mình và nhập khẩu những hàng hóa chuyên sâu sử dụngnhững yếu tố khan hiếm Nói cách khác, một khi tác động của sự khác biệt về công nghệđược kiểm soát lý thuyết Heckscher-Ohlin dường như giành được quyền ưu tiên
Lý thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm
Raymond Vernon ban đầu đã đề xuất lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm vào năm 1960
Lý thuyết của Vernon dựa trên sự quan sát một tỷ lệ lớn các sản phẩm mới trong thế kỷ
20 trên thế giới đã được phát triển bởi các công ty của Hoa Kỳ và được bán đầu tiên tạithị trường Hoa Kỳ ( ví dụ: hàng loạt sản phẩm ô tô, ti vi, máy ảnh tự động, máy phô tôcoppy, máy tính cá nhân, và những con chip bán dẫn) Để giải thích điều này, Vernon đãlập luận rằng sự giàu có và quy mô của thị trường Mỹ đã khuyến khích mạnh mẽ các
Trang 18công ty của Mỹ phát triển các sản phẩm tiêu dùng mới Ngoài ra, chi phí lao động caothúc đẩy các công ty đổi mới để tiết kiệm chi phí.
Một sản phẩm mới được sản xuất bởi một công ty của Mỹ và bán đầu tiên tại thịtrường Mỹ, không có nghĩa là sản phẩm đó sản xuất ngay tại Mỹ Nó có thể được sảnxuất ở một số nơi có chi phí thấp hơn tại nước ngoài sau đó nhập khẩu trở lại Mỹ Tuynhiên, Vernon lập luận rằng hầu hết những sản phẩm mới ban đầu được sản xuất tại Mỹ
Rõ ràng, các công ty tiên phong tin rằng sẽ tốt hơn để giữ cho sản phẩm gần gũi hơn vớithị trường và việc ra quyết định của các công ty, đem lại sự không chắc chắn và rủi rovốn có trong việc giới thiệu sản phẩm mới Ngoài ra, nhu cầu về sản phẩm mới có xuhướng dựa vào những yếu tố phi giá cả Do đó, các công ty có thể bán giá cao với các sảnphẩm mới mà không cần thiết phải tìm kiếm địa điểm sản xuất với chi phí thấp ở cácnước khác Vernon tiếp tục cho rằng đầu chu kỳ sống của một sản phẩm mới trong khinhu cầu đang bắt đầu phát triển nhanh chóng tại Mỹ, nhu cầu tại các nước tiên tiến khác
là giới hạn cho các nhóm có thu nhập cao Việc giới hạn về nhu cầu ban đầu ở các nướctiên tiến khác không đáng để cho các công ty tại các quốc gia đó sản xuất ra sản phẩmmới nhưng nó lại cần thiết cho việc Mỹ xuất khẩu sang các quốc gia này Qua thời gian,nhu cầu cho sản phẩm mới bắt đầu phát triển ở các nước tiên tiến khác ( như Anh, Pháp,Đức, Nhật Bản) Khi đó nó trở nên đáng để các nhà sản xuất nước ngoài bắt đầu sản xuấtcho thị trường trong nước Ngoài ra, các công ty của Mỹ phải cơ sở sản xuất ở các quốcgia này nơi mà nhu cầu đang tăng lên Do đó, sản xuất trong các nước tiên tiến khác bắtđầu làm hạn chế tiềm năng xuất khẩu của Hoa Kỳ Khi thị trường Mỹ và các quốc giatiên tiến khác ở giai đoạn tăng trưởng , sản phẩm trở nên tiêu chuẩn hóa, và giá cả trởthành vũ khí cạnh tranh chính Như điều xảy ra, sự cân nhắc chi phí bắt đầu đóng vai tròlớn trong quá trình cạnh tranh Các nhà sản xuất có trụ sở tại các nước tiên tiến nơi có chiphí lao động thấp hơn Mỹ (ví dụ Italia hay Nhật Bản) sẽ có thể xuất khẩu sang Mỹ Nếu
áp lực về chi phí trở nên căng thẳng, quá trình này sẽ không dừng lại ở đó Chu kỳ đó sẽlàm cho Hoa Kỳ mất đi lợi thế của nó với các nước tiên tiến khác, và lặp lại như vậy đốivới các nước đang phát triển (như Thái Lan) lại bắt đầu có được một lợi thế sản xuất hơncác nước tiên tiến Vì vậy, ban đầu là địa điểm sản xuất toàn cầu từ Mỹ chuyển dần sangcác quốc gia tiên tiến khác và sau đó là các quốc gia đang phát triển
Hậu quả của xu hướng toàn cầu hóa thời gian qua của Mỹ đã chuyển một nước xuấtkhẩu sang một nhà nhaaoj khẩu sản phẩm được sản xuất tại các nước có chi phí thấp hơn.Hình 5.4 cho thấy sự tăng trưởng của sản xuất và tiêu thụ theo thời gian tại Mỹ, các quốcgia tiên tiến khác, và các quốc gia đang phát triển
Lý thuyết đánh giá chu kỳ sống của sản phẩm.
Trong lịch sử, lý thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm dường như là một lời giải thíchchính xác cho mô hình thương mại quốc tế Hãy xem xét chiếc máy photocopy: sản phẩmlần đầu tiên được phát triển vào những năm 1960 bởi Xerox tại Mỹ và được bán đầu tiêncho những người tiêu dùng Mỹ Ban đầu, Xerox xuất khẩu chủ yếu sang Nhật Bản và cácnước tiên tiến ở Tây Âu Khi nhu cầu bắt đầu tăng lên ở các quốc gia này, Xerox gia nhậpvào liên doanh để sản xuất tại Nhật Bản (Fuji-Xerox) và Anh (Rank-Xerox) Bên cạnh
đó, khi bằng sáng chế về máy Photocopy hết hạn, các đối thủ cạnh tranh nước ngoài bắtđầu thâm nhập vào thị trường (như Canon tại Nhật Bản, Olivetti tại Itealia) Kết quả là,xuất khẩu từ Mỹ bị giảm sút, và người tiêu dùng bắt đầu mua những máy photocopy từnguồn nước ngoài với giả rẻ hơn, đặc biệt là Nhật Bản Gần đây hơn, các công ty củaNhật thấy rằng chi phí sản xuất trong nước quá cao vì vậy họ đã bắt đầu chuyển đổi sang