Xét thấy sự cần thiết đối với việc nghiên cứu, phát triển những nghiệp vụ mới như Factoring và Forfaiting trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đồng thời cũng để đi tìm l
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ Đ À O TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP BỘ
PHÁT TRIỂN NGHIỆP vụ BAO THANH TOÁN TRONG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TÊ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
MÃ SỐ: B2006-08-13
XÁC NHẬN CỦA Cơ QUAN CHỦ TRÌ ĐÊ TÀI CHỦ NHIỆM Đ Ề TÀI
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ Đ À O TẠO TRƯỜNG Đ Ạ I HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
ĐỀ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC CẤP BỘ
PHÁT TRIẼN NGHIỆP vụ BAO THANH TOAN TRONG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MAI VIÊT NAM
CN Nguyễn Vân Hà - ĐHNT
CN Nguyễn Thị Tuyết Mai - ĐHNT
H À N Ộ I - 2007
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC TỪVIẾT TẮT
DANH MỤC Sơ Đ Ồ VÀ BẢNG
LỜI M Ở Đ Ầ U Ì CHƯƠNG ì: NHŨNG VẤN Đ Ề LÝ LUẬN VÊ NGHIỆP v ụ BAO THANH
TOÁN TRONG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI Quốc TẾ CỦA CÁC NHTM 6
ì TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUạC TẾ CỦA CÁC NHÍM 6
Ì Khái niệm Tài trợ thương mại quốc tế của các N H T M 6
2 Các hình thức tài trợ thương mại quốc tế của N H T M 7
2.1 Tín dụng xuất nhập khẩu (Import export credit) 7
2.2 Tín dụng chứng từ (Documentary credits) 8
2.3 Bảo lãnh ngân hàng (Bank's Letter of Guarantee - LIG) 9
2.4 Chiết khấu hối phiếu (Bills discounting) 12
2.5 Thương lượng thanh toán theo LIC (Negotiation under LIC) 13
2.6 Chấp nhận hối phiếu của ngân hàng (Bankers acceptance) 13
2.7 Cho thuê (Leasing) 14
2.8 Bao thanh toán Factoring và Forfaiting 17
n NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN FACTORING VÀ FORFAITING TRONG TÀI TRỢ
LI Khái quát chung về Factoring 18
1.2 Quy trình thực hiện Factorỉng quốc tế 27
2.1 Khái quát chung về forfaiting 30
3 So sánh bao thanh toán Factoring, Forfaiting và một số hình thức tài trợ
3.1 So sánh Factoring và Forfaiting 39
3.2 So sánh /actoring, forfaiting, và một số hình thức tài trợ thương mại
quốc tế khác của các ngân hàng thương mại 41
HI HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN FACTORING VÀ FORFAITING TRÊN THẾ GIỚI
43
1 Hoạt động Factoring trên thế giới 43
Trang 62 Hoạt động Forfaiting trên thế giới 46
IV N H Ũ N G Đ I Ề U K I Ệ N Đ Ể P H Á T T R I Ể N B A O T H A N H T O Á N F A C T O R I N G V À
F O R F A I T I N G N H Ì N T Ừ K I N H N G H I Ệ M C Ủ A C Á C N U Ớ C 49
Ì Các điều kiện khách quan 49
ỉ ỉ Có nhu cầu đáng kể và ổn định với Factoring và Forfaiting 49
1.2 Về nhận thức 50
Ì 3 Về môi trường pháp lý 5 1
2 Các điều kiện chủ quan 54
2.1 Về hình thức tổ chức của các đơn vị thực hiện nghiệp vụ /actoring và
2.7 Các tổ chức cung cấp dịch vụ cần có chiến lược kinh doanh 6 1
2.8 Cần xây dựng Hiệp hội liên kết tầm cỡ quốc gia 62
CHUỒNG ũ: THỤC TRẠNG NGHIỆP vụ BAO THANH T O Á N TRONG TÀI TRỢ
THUỒNG M Ạ I QUỐC TẾ TẠI C Á C NHTM V Ệ T NAM 64
ì K H Á I Q U Á T C H U N G V Ề H O Ạ T Đ ầ N G T À I T R Ợ T H Ư Ơ N G M Ạ I Q U Ố C T Ế C Ủ A H Ệ
T H Ố N G N H T M V I Ệ T N A M 64
Ì Hoạt động thương mại quốc tế của V N trong những năm gần đây 64
2 Đánh giá chung về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của hệ thống ngân
hàng thương mại Việt Nam 67
li T H Ự : T R Ạ N G H O Ạ T Đ ầ N G B A O T H A N H T O Á N F A C T O R I N G T Ạ I C Á C N H T M V I Ệ T
1 Tình hình thực hiện nghiệp vụ Bao thanh toán Factoring 78
Ì Ị Về số lượng các ngân hàng và công ty tài chính tham gia 78
1.2 Một số qui định cơ bản trong hoạt động Factoring của các NHTM tại
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 79
/ 3 Quy trình Factoring quốc tế của các NHTM Việt Nam 83
2 Hoạt động bao thanh toán Factoring tại một số N H T M Việt Nam 84
ra Đ Á N H G I Á C H U N G V Ề T H Ự : T R Ạ N G N G H I Ệ P vụ B A O T H A N H T O Á N F A C T O R I N G
T Ạ I C Á C N H Í M V I Ệ T N A M „ 91
Ì Những kết quả đạt được: 91
LI Về hành lang pháp lý ọ ị
Trang 71.2 Số lượng các tổ chức tín dụng quan tâm đến dịch vụ này ngày càng tăng 9:
1.3 Các NHTM đang cố gắng cung cấp các sản phẩm bao thanh toán đa
2.3 Nghiệp vụ bao thanh toán của các NHTM vẫn chưa thực sự tiện lợi cho
khách hàng, ngân hàng thường đòi hỏi cao đối với khách hàng 97
3 Nguyên nhân của những bất cập và hạn chế 99
3.1 Nguyên nhân từ bên trong hệ thống NHTM 99
3.2 Nguyên nhân từ bên ngoài hệ thống NHTM 102
CHƯƠNG ni: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP v ụ BAO THANH T O Á N
QUỐC TẾ TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 104
ì XU HUỐNG SỬDỰNG BAO THANH TOÁN TRONG TTTMQT 104
Ì Sự dịch chuyển của các phương thức thanh toán trong tài trợ thương mại
2 Bao thanh toán giúp các D N giải quyết vấn đề nợ khó đòi 107
n ĐỊNH HUỐNG PHÁT TRỂN NGHIỆP vụ BAO THANH TOÁN FACTORING VÀ
FORFAITING TẠI CÁC NHTM VỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 108
Ì Về số lượng các tổ chức thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán 108
2 Về sản phẩm cung ứng 108
3 Về doanh số bao thanh toán 109
4 Nâng cao chất lượng bao thanh toán 109
5 Về khách hàng mục tiêu 109
6 Về m ô hình tổ chức 109
8 Nâng tầm nghiệp vụ bao thanh toán của Việt Nam Ì l o
in CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG FACTORING VÀ FORFAITING TRONG
TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI Quốc TẾ TẠI CÁC NHÍM VỆT NAM Ì lo
Ì Nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải phát triển nghiệp vụ bao thanh
toán Factortng và Forfaiting tại các N H T M 110
Trang 82 Xây dựng một m ô hình tổ chức phù hợp và hiệu quả để phát triển nghiệp
vụ bao thanh toán: Ì * •
3 Các N H T M cần tăng cường hoạt động marketing về Factoring và
4 Đẩy mạnh công tác tư vấn cho khách hàng 116
5 Xây dựng một hệ thống các N H T M đủ mạnh, ngang tầm khu vực và quốc
tế để tài trợ cho hoạt động thương mại quốc tế • 117
6 M Ố rộng quan hê ngân hàng đại lý 120
7 Áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro 121
7.1 Tăng cường chất lượng khâu thẩm định 121
7.2 Ràng buộc các yếu tố đảm bảo 122
7.3 Thực hiên giám sát thường xuyên 122
7.4 Thiết lập mối quan hệ giữa các NHTM 123
7.7 Bảo hiểm hàng hoa phải thu 124
7.9 Thực hiện chứng khoán hoa các khoản nợ 124
8 Hiên đại hoa công nghệ ngân hàng theo trình độ quốc tế 125
9 Đào tạo đội ngũ cán bộ ngân hàng làm công tác TTTMQT và Bao thanh
toán có đủ năng lực và có tính chuyên nghiệp cao 126
V MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THỤC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 129
Ì Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 129
2 Kiến nghị đối với Bộ Công thương 133
3 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động thương mại
4 Kiến nghị về việc thành lập công ty định mức túi nhiệm 137
5 Kiến nghị về đào tạo trong các trường đại học cao đẳng 138
K Ế T LUẬN 139 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH M Ụ C T ừ VIẾT T Ắ T
V I Ế T T Ắ T
N G U Y Ê N V Ẫ N
V I Ế T T Ắ T
A T M Automatic Máy rút tiền tự động
ác Credit Iníormation Centre Trung tâm Thông tin tín dụng
D/A Document Against Acceptance Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ
DỊP Document Against Payment Nhờ thu thanh toán đổi chứng tò D/TC Documents against other tam and condition Nhờ thu trao chứng từ đổi lấy các điều khoản và điều kiện khác FCI Factors Chain Intemational Hiệp hội các nhà Factor quốc tế GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GRIF General Rules for Iníemational Factoring Các quy tắc chung về Factoring quốc tế
IFA International Forfaiter
Aíisociation
Hiếp hội các nhà Forfaiter quốc tế
IFC Intemational Finance Corp Tổ chức Tài chính Quốc tế
IFG Intemational Factors Group Hiệp hội các nhà Factor quốc tế L/C Letter of Credit Thư tín dụng
ưnited Nation Commission
ôn International Trade Law Công ước Liên hợp quốc về việc chuyợn nhượng các khoản phải thu
trong thương mại quốc tế
V B A R D
Vietnam Bank for
Agriculture and Rural
Development
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triợn Nông thôn Việt Nam
Trang 10VCB Vietcombank Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam VICB Vietincombank Ngân hàng công thương Việt nam VIDB Vietindebank Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 11DANH MỤC Sơ Đ Ồ
Sơ đồ 1: Hệ thống hai íactor 28
Sơ đồ 2: Quy trình thực hiện forfaiting đối với thương phiếu 37
Sơ đồ 3: Quy trình thực hiện forfaiting với L/C 38
Sơ đồ 4: Quy trình thực hiện Bao thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng Á châu 83
DANH MỤC BẢNG
Bảng Ì: So sánh thị trường Forfaiting sơ cấp và thị trường thứ cấp 32
Bảng 2: So sánh factoring và forfaiting 40
Bảng 3: Số lượng các factor trên thế giới năm 2006 44
Bảng 4 : Các nước có số lượng íactor nhiều nhất năm 2006 44
Bảng 5: Tình hình doanh thu Factoring của FCI theo từng khu vực trên thế giới
(2002-2006) 45 Bảng 6: Doanh thu theo từng nhóm sản phẩm - dịch vụ của FCI 46
Bảng 7: Các mổt hàng có kim ngạch xuất khẩu 65
trên Ì tỷ USD năm 2006 65
Bảng 8: Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam năm 2006 66
Bảng 9 Quy m ô hoạt động cho vay của các N H T M V N 68
giai đoạn 2004 - 2006 68
Bảng 10 : Hoạt động thanh toán quốc tế của N H T M V N 2004 - 2006 69
Bảng 11: Tinh hình chiết khấu hối phiếu kèm chứng từ theo L/C và nhờ thu
(Collection) qua 4 ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam (2000 - 2005) 69
Bảng 12: Doanh số bảo lãnh của các Tổ chức túi dụng năm 2004 - 2006 73
Bảng 13: Các công ty cho thuê tài chính tính đến tháng 9/2007 75
Bảng 14: Lộ trình tăng vốn của VCB với phần vốn góp của Nhà nước giữ nguyên
và giảm tỷ lệ xuống tới 51 % đến năm 2010 119
Trang 12L Ờ I M Ở Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới kể từ khi chính thức gia nhập WTO vào 7/1/2007 Vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định như một điểm sáng tăng trưởng kinh tế tại Châu Á Chúng ta đang đứng trước cơ hội có thể tạo ra những bước đột phá mới để tăng tốc nền kinh tế Tuy nhiên, cũng có hàng loạt vấn đề đảt ra cho toàn bộ nền kinh tế nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng
Trong tiến trình đó, ngành ngân hàng Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Việc đa dạng hoa các loại hình dịch vụ và giữ được vị thế cạnh tranh hiện nay đang là vấn đề sống còn của các ngân hàng thương mại (NHTM)
Trong quan hệ thương mại quốc tế, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cũng phải đối mảt với nhiều khó khăn, thách thức mới khi muốn tăng doanh số, mở rộng thị trường, thiết lập quan hệ với các khách hàng mới Các doanh nghiệp XK thường muốn thu được tiền ngay sau khi bán hàng để
có thể quay vòng vốn nhanh nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và phòng tránh rủi ro không trả được nợ của người Nhập khẩu, trong khi lại phải cạnh tranh gay gắt để thu hút khách hàng bằng phương thức thanh toán trả chậm
Sản phẩm Bao thanh toán Factoring và Forfaiting ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn đó Nghiệp vụ này cho phép người XK bán hàng trả chậm cho người
NK nhưng lại được thanh toán ngay sau khi giao hàng bởi các tổ chức Bao thanh toán (NHTM hoảc các công ty tài chính) Đồng thời, người XK lại được bảo đảm rủi ro tín dụng khi người NK không thanh toán và giảm được gánh nảng k h i không phải theo dõi và đòi các khoản phải thu Ngược lại, người NK được lợi vì mua hàng theo phương thức trả chậm và chỉ phải trả tiền khi hàng hoa / dịch vụ thực sự đáp ứng các yêu cầu của Hợp đồng mua bán ngoại thương
Đối với các ngân hàng thương mại, bao thanh toán giúp họ tăng doanh thu, đa dạng hoa sản phẩm, dịch vụ và thu hút được khách hàng, nâng cao vị thế cạnh
Trang 13tranh trong tiến trình hội nhập, đặc biệt là sau các ngân hàng nước ngoài được
phép thành lập các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam kể từ ngày
1/4/2007 theo các cam kết của Việt Nam trong WTO
Cho đến nay, hai nghiệp vụ Bao thanh toán Factoring và Forfaiting đã xuất
hiện ở 60 quốc gia trên thế giới và đang ngày càng tỏ ra là một công cụ hữu ích và
phự biến trong thương mại quốc tế
Tại Việt Nam, kể từ ngày Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN do Thống
đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán
của các tự chức tín dụng có hiệu lực, đến nay cũng đã có nhiều tự chức tín dụng
đưa nghiệp vụ này vào triển khai hoạt động Tuy vậy trên thực tế, cũng chỉ một vài
tự chức tín dụng thực hiện nhưng chưa mạnh và còn rất nhiều bất cập Vậy phải
chăng nghiệp vụ factoring và forfaiting thực sự khó triển khai, nhiều rủi ro và phức
tạp hoặc hiệu quả đem lại chưa cao hay còn những lý do nào khác?
Xét thấy sự cần thiết đối với việc nghiên cứu, phát triển những nghiệp vụ mới
như Factoring và Forfaiting trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam,
đồng thời cũng để đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi trên, chúng tôi đã lựa chọn
và nghiên cứu đê tài: "Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán trong tài trợ thương mại
quốc tế tại các ngần hàng thương mại Việt Nam "
2 Tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Factoring và forfaiting là những sản phẩm tài chính đã được sử dụng và phát
triển ở nhiều nước trên thế giói, do đó có thể tìm hiểu những nghiên cứu lý thuyết
trong một số tài liệu hướng dẫn sử dụng 2 nghiệp vụ này như:
• M i n F Moran, Jr (Vice President o f the British American Forfaiting
Company), Forfaiting A user 's Guide What ừ is, Who uses Ít and Why?
• Daniel J Eỉorgia, Ph.D and Deanna o Burgess, Ph.D, Reducing the Cash
Gap by Factoring
• Rai University, India, Factoring and Forfaiting - Financial Evaluation
• FCI, 2000 , Marketing ỉnternational Factoring, Neitherland
Trang 14Hoặc có thể tham khảo và tìm hiểu kinh nghiệm sử dụng Bao thanh toán tại
một số khu vực và quốc gia trên thế giới như:
Marie H.R Bakker, Leora Klapper, Undell, G.F (2004), Tinancing SMEs
with factoring: Global grovvth in factoring and its potential i n Eastem
Europe" Working paper, the Worỉd Bank, Edition ỉ, Poland
• Institue for Technology and Management, 1995-1997, Project Report ôn
Forfaiting - An alternative in Export Finance, Nevvbombay, India
• Ring Mary Ann, 1993, "Innovative Export Financing: Factoring and
Forfaiting", Business America 114 (No.Ì, January l i )
• Beroiza, Ricardo, 1997, "Forfaiting in the Emerging Markets: A Financial
Alternative for American Exporters", Business America 118, (No 10,
October)
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước:
Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu lý luận về hai nghiệp vụ này trong một số tác phẩm viết chung về tài trợ thương mại quốc tế như:
• GS Đinh Xuân Trình, Thanh toán quốc tế trong ngoại thương; N X B Giáo
dục, 2002
• GS.TS Lê Văn Tư, Tín dụng tài trợ xuất khẩu, thanh toán quốc tế và kinh
doanh ngoại tệ; NXB Thống kê 2003
• PGS.TS Nguyủn Văn Tiến, Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương;
NXB Thống kê, 2005
Đồng thời cũng có một số công trình NCKH nghiên cứu Bao thanh toán như một trong nhiều công cụ của thị trường tài chính nhằm tài trợ vốn cho các doanh
nghiệp:
• PGS.TS Lê Đình Hợp, "Vấn đề phát triển công cụ tài chính trên thị trường
tiền tệ và tín dụng ở Việt Nam trong thập niên 2000 - 2010"; Đ ề tài NCKH
cấp Bộ - Bô GD &ĐT, 2000
Trang 15• PGS Đinh Xuân Trình, Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài
trợ thương mại quốc tế ở Việt nam, Đ ề tài NCKH cấp Bộ - Bộ giáo dục và
đào tạo, năm 2000
• GS Đinh Xuân Trình, " Giải pháp phát triển thị trường thương phiếu nhằm
phát triển hoạt động thương mại ở nước ta trong giai đoạn hiện nay"; Đ ề tài
N C K H cấp bộ - Bộ Thương mại, 2005
Về sách viết riêng về nghiệp vụ Bao thanh toán Factoring có cuốn: Nghiệp
vụ Bao thanh toán - Factoring, NXB Chính trị quốc gia, năm 2006 của ThS
Nguyễn Quỳnh Lan
Các công trình nghiên cứu nói trên hoặc là chỉ nghiên cứu Bao thanh toán
như một hình thức trong các hình thức tài trợ thương mại quốc tế, hoặc chủ yếu tập
trung nghiên cứu lý luận cũng như kinh nghiệm sử dụng bao thanh toán ổ một số
nước trên thế giới mà chưa có công trình nào nghiên cứu ứng dụng dành riêng cho
nghiệp vụ bao thanh toán này, đặt nó trong bối cảnh và điều kiện áp dụng ở Việt
Nam Hơn nữa, sau khi có Quy chế về Bao thanh toán của các tổ chức túi dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN, do nhiều nguyên nhân nên
hai nghiệp vụ này chưa có điều kiện để phát triển tại Việt nam, đặc biệt là Bao
thanh toán Forfaiting vì vậy đây vẫn còn là lĩnh vực cần tiếp tục được nghiên cứu,
phát triển ỏ Việt nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế và tài chính quốc tế
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sổ làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, đặc biệt là lợi ích của Bao
thanh toán Factoring và Forfaiting đối vói các doanh nghiệp X N K và các NHTM,
đồng thời phân tích thực trạng triển khai nghiệp vụ bao thanh toán Factoring ổ Việt
Nam từ năm 2004, mục đích chính của đẻ tài là đề xuất các giải pháp nhằm phát
triển nghiệp vụ Bao thanh toán Factoring và Forfaiting trong hoạt động tài trợ
thương mại quốc tế của các NHTM Việt Nam trong thời gian tới
4 Đôi tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đ ố i tượng nghiên cứu: Nghiệp vụ Bao thanh toán Factoring và Forfaiting
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu 2 nghiệp vụ Factoring và Forfaiting trong tài trợ
thương mại quốc tế (bao thanh toán quốc tê), đặc biệt là tài trợ Xuất khẩu tại một
Trang 16số NHTM Việt Nam Đ ề tài nghiên cứu được nhìn nhận chủ quan từ phía các
N H Í M
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đ ề tài sử dụng:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Các phương pháp nghiên cứu truyền thống như thống kê, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, diên giải và qui nạp
- Phương pháp phỏng vấn các chuyên gia để thu thập thông tin phục vụ cho các nghiên cứu và đánh giá của để tài
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài lữi mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo đề tài được kết cấu làm ba chương:
Chương / Những vấn đề lý luận về nghiệp vụ Bao thanh toán trong tài t r ợ
thương mại quốc tê của các N H T M
Chương lì Thực trạng triển khai nghiệp vụ Bao thanh toán trong tài t r ợ
thương mại quốc tế tại các N H T M Việt Nam
Chương IU Các giải pháp phát triển nghiệp vụ Bao thanh toán quốc tế tại
các N H T M Việt Nam
Trang 17C H Ư Ơ N G ì
NHỮNG VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VẾ NGHIỆP vụ BAO THANH TOÁN TRONG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA CÁC NHTM
ì TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm Tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh thương mại là "việc thực hiên hay một nhiều dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích kiếm lợi Hành
vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoa, cung ứng dịch
vụ" (Luật thương mại nước CHXHCN Việt Nam 2005)
Hoạt động thương mại quốc tế hay còn gọi là hoạt động xuất nhập khởu là việc mua bán hàng hoa, cung ứng dịch vụ nhưng mang yếu tố quốc tế: như những người mua và những người bán có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc có thể là cả hai bên, hàng hoa và hoặc dịch vụ có thể được di chuyển khỏi biên giới một nước
Hàng hoa, dịch vụ được đưa vào lưu thông là kết quả của cả một quá trình Trên thực tế, không phải lúc nào các nhà buôn, các doanh nghiệp X N K cũng đủ vốn để hoạt động thương mại quốc tế Do vậy muốn có sản phởm chất lượng cao,
chi phí rẻ, hợp vốn thị hiếu tiêu dùng của xã hội và có khả năng cạnh tranh thì phải
tài trợ cho một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phởm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường Mặt khác, hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế là nhằm vào các thị trường nước ngoài Phong tục, tập quán, luật lệ, môi trường đều rất khác với thị trường trong nước, cho nên không thể tránh khỏi rủi ro, ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh thương mại Do vậy,
sự tài trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế là rất cần thiết
Cho đến nay không thấy có sách hoặc văn kiện nào đề cập đầy đủ về khái niệm tài trợ thương mại quốc tế, mà chủ yếu là phân loại tài trợ thương mại quốc tế
ở góc độ này ha)' ở góc độ khác Tuy nhiên, có thể hiểu một cách khái quát: Tài
trợ thương mại quốc tế là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về mặt tài
Trang 18chính cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế trong một số hoặc tất cả các cõng đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường thế giới
Có rất nhiều cách đọ phân loại tài trợ thương mại quốc tế Một trong những cách phân loại quan trọng là Căn cứ vào người cung ứng tài trợ là ai Theo đó, tài trợ thương mại quốc tế có thọ chia thành: (i) Tài trợ thương mại quốc tế của Nhà nước, (li) Tài trợ thương mại quốc tế của các tổ chức túi dụng, (iii) Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp giữa các doanh nghiệp
Do giới hạn bởi phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung giới thiệu loại hình Tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mại, theo đó Tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mại là tập hợp các hình thức hỗ trợ về mặt tài chính của các ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế và nhằm mục đích kiếm lời
2 Các hình thức tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng thương mại
2.1 Tín dụng xuất nhập khẩu (Import export credit)
Tín dụng xuất nhập khẩu là việc hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại quốc tế nhằm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán phát sinh trong quá trình từ sản xuất đến lưu thông hàng hoa Tín dụng xuất nhập khẩu bao gồm túi dụng nhập khẩu và tín dụng xuất khẩu
2.1.ỉ Tín dụng nhập khẩu là loại tín dụng mà các N H T M cấp cho nhà nhập khẩu
TÚI dụng nhập khẩu là tín dụng ngắn hạn, trung hạn và cũng có thọ là dài hạn Điều này tuy thuộc vào đối tượng nhập khẩu Nếu nhập khẩu hàng nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu hay hàng tiêu dùng thì ngân hàng sẽ cấp túi dụng ngắn hạn Nếu nhập máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải thì ngân hàng sẽ cấp tín dụng trung, dài hạn
Tín dụng nhập khẩu là nguồn vốn bổ sung rất quan trọng cho nhà nhập khẩu, vì thông thường việc thanh toán các hợp đồng nhập khẩu phải đi vay ngân hàng Nếu nhà nhập khẩu nào cũng đọ sẵn tiền nhằm mục đích thanh toán hàng nhập khẩu thì vốn xã hội sẽ tăng lên gấp đôi một cách không cần thiết Nguồn vốn
Trang 19thu hút từ túi dụng nhập khẩu là nguồn vốn rất quan trọng để thanh toán hàng nhập khẩu phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hoa và hiện đại hoa đất nước TÚI dụng nhập khẩu, thông qua nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật công nghệ phục vụ kỹ thuật công nghệ phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, còn góp phần thúc đẩy hoạt đủng xuất khẩu phất triển
2.1.2 Tín dụng xuất khẩu là loại tín dụng mà N H T M cấp cho nhà Xuất khẩu Tuy
theo loại hàng hoa xuất khẩu mà thời hạn túi dụng dài ngắn khác nhau Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thường phải vay để phục vụ cho chi phí sản xuất, thu mua hàng xuất khẩu Người ta thường phân loại tín dụng xuất khẩu theo hai công đoạn của quá trình sản xuất và quá trình lưu thông: TÚI dụng xuất khẩu trước khi giao hàng và túi dụng xuất khẩu sau khi giao hàng
- Tín dụng xuất khẩu trước khi giao hàng là loại tín dụng m à Ngân hàng cho các doanh nghiệp xuất khẩu vay vốn để mua nguyên nhiên vật liệu (đầu vào), sản xuất, chế biến hàng hoa xuất khẩu Thời hạn loại túi dụng này thường là trung và ngắn hạn Loại tín dụng này thường được cấp chủ yếu bằng nủi tệ - TÚI dụng xuất khẩu sau khi giao hàng là loại túi dụng cấp cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu khi đã có bủ chứng từ gửi hàng (Shipping documents) Cấp loại tín dụng này
được thực hiện theo nguyên tắc luân chuyển Có nghĩa là, khi ngân hàng căn cứ vào bủ chứng từ gửi hàng để cho vay thì đồng thời ngân hàng cũng thu hồi các khoản vay trước khi giao hàng (nếu có) Tín dụng sau khi giao hàng thường được cấp dưới các hình thức chủ yếu như: Ngân hàng chiết khấu bủ chứng từ gửi hàng cho vay thế chấp bủ chứng từ gửi hàng
2.2 Tín dụng chứng từ (Documentary credits)
Tín dụng chứng từ là bất cứ mủt sự thoa thuận nào, dù cho được m ô tả hoặc
đật tên như thế nào, là không thể huy bỏ và theo đó là mủt sự cam kết chắc chắn
của ngân hàng phát hành để thanh toán cho người hưởng lợi khi xuất trình các
chứng từ phù hợp
Thanh toán có nghĩa là:
a trả ngay khi xuất trình, nếu tín dụng có giá trị thanh toán ngay
Trang 20b cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán về sau
c chấp nhận hối phiếu ("draft") do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn, nếu túi dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận
(Điều 2 Uniorm Custom and Practice for the Documentary Credit No 600 UCP600, ICC, 2007)
-Tín dụng chứng từ không những là một phương thức thanh toán quốc tế m à còn là một hình thức tài trợ thương mại quốc tế cho nhà nhập khẩu Vì:
- Theo yêu cệu của nhà nhập khẩu, ngân hàng phát hành một Thư tín dụng (L/C) cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu, nếu nhà xuất khẩu thực hiện đệy đủ các điều kiện quy định trong Thư tín dụng đó Như vậy, ngân hàng đã mang toàn bộ địa
vị và "chữ tín " của mình thay mặt nhà nhập khẩu đứng ra cam kết trả tiền cho nhà
xuất kháu Đây là hình thức tài trợ đặc biệt dành cho nhà nhập khẩu
- Theo quy định của UCP600 (Tập quán quốc tế điều chỉnh Tín dụng chứng từ), sau khi ngân hàng phát hành trả tiền cho nhà xuất khẩu, thì ngân hàng mới đòi lại tiền nhà nhập khẩu, như vậy ỏ góc độ này, ngân hàng đã cho nhà nhập khẩu vay tiền Với ý nghĩa này, ngân hàng đã trực tiếp tài trợ tài chính cho nhà nhập khẩu Trong nghiệp vụ tín dụng chứng từ, cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành (Thu tín dụng - Lettẹr of credit - L/C) cho người xuất khẩu là một cam kết
"không thể huy bỏ" Ợrrevocable) trong thời hạn hiệu lực của nó Việc tu chỉnh
L/C là phải có sự đồng ý của tất cả các bên có liên quan và đặc biệt phải có sự xác nhận cuối cùng của ngân hàng phát hành Có thể nói đây là loại tài trợ chắc chắn, chính vì vậy, tài trợ bằng tín dụng chứng từ được áp dụng rộng rãi trên thị trường quốc tế
2 .3 Báo lãnh ngán hàng (Bank's Letter ofGuarantee - L/G)
Bảo lãnh là một cam kết của ngân hàng bảo lãnh chịu trách nhiệm trả tiền cho người hưởng bảo lãnh nếu người được bảo lãnh không thực hiện đúng và không đệy đủ các nghĩa vụ đã thoa thuận với Người bảo lãnh được quy định cụ thể
Trang 21trong Thư bảo lãnh của ngân hàng" (QĐ 26/2006 ngày 26/6/2006ỈNHNN về bảo
lãnh ngân hàng)
Theo "Quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu - Uniýorm rules for
demand Guarntee, No - 458, ICC-1992 ", bảo lãnh có nghĩa là bất cứ một sự cam
kết hoặc đảm bảo thanh toán nào dù cho được gọi hoặc m ô tả như thế nào, được
một ngân hàng, một công ty bảo hiểm hoặc một cơ quan hay một người khác (dưới
đây gọi là Người bảo lãnh) viết ra để thanh toán một số tiền khi xuất trình văn bản
yêu cầu thanh toán và các chứng từ khác có thể yêu cầu trong bảo lãnh phù hợp với
các điều khoản và điều kiện của bảo lãnh đó
Mịc đích của bảo lãnh ngân hàng là nhằm ngăn chặn những rủi ro có thể
phát sinh trong các dịch vị mua bán không thường xuyên, đồng thời bù đắp những
thiệt hại về mặt tài chính cho người hưởng một cách nhanh chóng và chắc chắn
Bảo lãnh ngân hàng vì thế có mịc đích thực hiện ngay (trước khi làm rõ những bất
đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng) một khi phát sinh yêu cầu thực hiện bảo
lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng về thực chất là một hình thức tài trợ tài chính K h i ngân
hàng phát hành một thư bảo lãnh, tức là ngân hàng đã cấp cho khách hàng một sự
tín nhiệm tài chính trong việc ngân hàng cam kết bồi thường cho khách hàng khi
có tổn thất xảy ra Sự tín nhiệm tài chính này lớn hay nhỏ hoàn toàn phị thuộc vào
địa vị, uy tín và độ túi nhiệm của ngân hàng như thế nào
Điểm khác biệt giữa L/C và Thư bảo lãnh (L/G) là "tính " trách nhiệm của
ngân hàng phát hành L/C tạo ra 'Tính trách nhiệm khởi đầu (Primary Liability)"
của ngân hàng phát hành L/C, có nghĩa là, người hưởng lợi L/C sau khi giao hàng
lập chứng từ theo quy định của L/C, xuất trình chứng từ trực tiếp đòi tiền ngân hàng
phát hành úc chứ không đòi tiền người yêu cầu mở L/C Ngược lại, L/G chỉ tạo ra
"Tính trách nhiệm thứ cấp (Secondary Liability)" của ngân hàng phát hành L/G có
nghĩa là, Ngân hàng chỉ bồi thường cho Người hưởng lợi bảo lãnh khi người được
bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vị của mình
Trong hoại động thương mại quốc tế, Bảo lãnh ngân hàng thường gồm có
những loại chủ yếu sau đây
Trang 22* Bảo lãnh thanh toán (Payment guarantee): Bảo lãnh thanh toán hoàn toàn
có thể sử dụng như một phương tiện đảm bảo thanh toán trong hợp đồng mua bán ngoại thương Đ ố i với loại bảo lãnh này, về mục đích giống như một túi dụng thư thương mại thông thường là bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán Tuy nhiên, nó hoàn toàn khác nhau về bản chất và cách truy đòi tiền
* Bảo lãnh tiền đặt cọc ịadvance payment guarantee): Khi ký kết hợp đồng
có giá trị lớn hơn, thông thường người X K thường xuyên yêu cầu người NK ứng trước một phần tiền nhọm tài trợ cho người XK thực hiện hợp đồng hoặc coi như
một khoản đạt cọc Việc ứng trước này phải có một bảo lãnh tiền đặt cọc có giá trị tương đương làm đảm bảo Người thụ hưởng (người NK) có thể thanh toán bảo
lãnh nếu người XK không giao hàng hay giao hàng không đủ, không đúng Tuy nhiên cũng cần ghi rõ những tình huống nào thì người thụ hưởng có quyền đòi thanh toán bảo lãnh (ví dụ; người XK không giao hàng, người X K giao hàng
không đủ giá trị của bảo lãnh đó hay người XK sử dụng tiên ứng trước sai mục
đích ) Bảo lãnh đặt cọc chỉ có hiệu lực khi bên được bảo lãnh (XK) đã nhận được
tiền ứng trước
* Bảo lãnh nhận hàng (shipping guarantee): Thông thường người NK luôn
mong muốn nhận được B/L để nhận hàng khi tàu chuyển hàng hoa đến cảng Tuy
nhiên trên thực tế thì điểu này không xảy ra, tàu chở hàng thường đến trước khi ngân hàng nhận được bộ chứng từ Điều đó có nghĩa rọng người NK không có vận đơn để nhận hàng Trong trường hợp này, để sớm nhận được hàng nhọm tránh các rủi ro (có thể có) như phí phạt lưu kho, chi phí cơ hội , người NK sẽ phải yêu cầu ngân hàng của mình phát hành một cam kết (thay thế cho vận đơn), cam kết này được gọi là bảo lãnh nhận hàng Bảo lãnh nhận hàng được người NK ký và người
ký đối ứng để bảo lãnh là ngân hàng Người NK sẽ xuất trình bảo lãnh nhận hàng này cho công ty vận tải để nhận hàng
Bọng việc ký trên bảo lãnh nhận hàng, ngân hàng đã cam kết thực hiện chuyển giao vận đơn cho công ty vận tải Nếu ngân hàng không có khả năng chuyển giao vận đơn thì ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm đối với công ty vận tải về toàn bộ giá trị của hàng hoa và toàn bộ thiệt hại (nếu có) Trách nhiệm đối với bảo
Trang 23lãnh nhận hàng là vô hạn, nên nhìn chung các ngân hàng rất thận trọng trong
những trường hợp như vậy
* Bảo lãnh hoàn trả (reimbursement guarantee): Bảo lãnh hoàn trả khi ngân
hàng phát hành từ chối thanh toán bộ chứng từ bất hợp lệ Khi người thụ hưởng của
một thư tín dụng xuất trình bộ chứng từ đến ngân hàng thanh toán Bộ chứng từ có những điồm bất hợp lệ, Ngân hàng thanh toán yêu cầu người thụ hưởng yêu cầu
phải có thư bảo lãnh (từ một ngân hàng khác chẳng hạn) bảo đảm bồi hoàn cho
ngân hàng thanh toán khi ngân hàng từ chối những điồm bất hợp lệ đã nêu
* Bảo lãnh thực hiện hợp đồng ịperỷormance guarantee): Loại bảo lãnh này
được sử dụng rộng rãi Bảo lãnh thực hiện hợp đồng cung cấp một bảo đảm cho
người thụ hưởng về việc thực hiên hợp đồng cung cấp một bảo đảm cho người thụ
hưởng về việc thực hiện hợp đồng của người bảo lãnh Trong trường hợp người được
bảo lãnh không thực hiện đúng, đầy đủ những nghĩa vụ đã được ghi trong hợp đồng thì người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán bảo lãnh Thông thường bảo lãnh này được dùng kèm với bảo lãnh thanh toán khác Giá trị bảo lãnh tuy theo giá trị
hợp đồng và tuy tính chất của mỗi thương vụ Tuy nhiên giá trị bảo lãnh thực hiện
hợp đồng thông thường là từ 5 - 1 0 % trị giá hợp đồng
2.4 - Chiết khấu hối phiếu (Bilỉs discounting)
Hối phiếu là một mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do người xuất khẩu ký phát
cho người nhập khẩu hoặc ngân hàng của người nhập khẩu, yêu cầu người này khi
nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày cụ thồ nhất định hoặc đến một ngày có thồ
xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho Người hưởng lợi hối phiếu hoặc theo lệnh của Người hưởng lợi trả cho một người khác hoặc trả cho người cầm phiếu
Người hường lợi hối phiếu muốn thu tiền của hối phiếu hoặc nhờ ngân hàng
thu hộ theo phương thức thanh toán nhờ thu (Collection) hoặc thế chấp h ố i phiếu
cho ngân hàng đồ vay tiền ngân hàng hoặc bán tờ hối phiếu đó cho ngân hàng với
giá thấp hơn mệnh giá hối phiếu đồ thu hồi tiền về sớm hơn
Trang 24Việc bán hối phiếu cho ngân hàng để sớm thu tiền về với một giá thấp hơn mệnh giá hối phiếu gọi là chiết khấu hối phiếu Chiết khấu hối phiếu thực chất là ngân hàng tài trợ tài chính tức thời cho người xuất khẩu
2.5 Thương lượng thanh toán theo thư tín dụng (Negotiatìon under L/C)
Là việc một ngân hàng mua các hối phiếu và/ hoặc các chứng từ của người
XK khi các chứng từ xuất trình phù hợp với quy định của L/C bởng cách trả tiền trước hoặc ứng tiền trước cho người thụ hưởng vào hoặc trước ngày làm việc ngân
hàng mà vào ngày đó ngân hàng chỉ định được hoàn trả tiền đúng hạn (Điều 2
-UCP600)
Có hai hình thức được gọi là thương lượng thanh toán:
* Ngân hàng chỉ định (negotiating bank) thương lượng mua hối phiếu của người thụ hưởng hối phiếu với một mức giá thoa thuận (giá chiết khấu) bởng cách trả tiền trước cho người thụ hưởng hối phiếu
* Dựa vào chứng từ xuất trình thuộc túi dụng, ngân hàng chỉ định ứng tiền trước cho người thụ hưởng tín dụng Mức ứng tiền trước là do hai bên thương lượng với nhau Cách thanh toán này thường áp dụng trong trường hợp:
+ L/C không dùng hối phiếu là phương tiện đòi tiền
+ Cho vay trên cơ sở bộ chứng từ thanh toán
Có thể nói đây là hình thức tài trợ rất phổ biến và có ý nghĩa của ngân hàng thương mại cho người xuất khẩu Thương lượng thanh toán đã giúp người xuất khẩu có thể thu hồi vốn nhanh hơn Với loại túi dụng này, việc bán hàng của người
XK luôn trở thành bán hàng trả tiền ngay sau khi đã hoàn thành việc giao hàng và xuất trình chứng từ tại nước người XK mà không cần chờ đến khi ngân hàng phát hành của người NK nhận được bộ chứng từ phù hợp với L/C
2.6 - Chấp nhận hối phiếu của ngân hàng (Banker's acceptance)
Chấp nhận của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ thương mại quốc tế trong nhiều thế kỷ Bởng cách "chấp nhận" hối phiếu, ngân hàng tạo ra một cam kết không điều kiện sẽ thanh toán cho người cầm hối phiếu số tiền đã định vào một ngày được quy định Do đó, ngân hàng thay thế một cách hiệu quả
Trang 25nghiệp quốc tế và bất kỳ tài sản vật chất nào có thể mua bán được đều có thể trở thành đối tượng cho thuê Những tài sản thường được cho thuê bao gồm có phương tiện giao thông, máy móc thiết bị, bất động sản, máy vi tính v.v Người cho thuê thường là các nhà sản xuất, giới ngân hàng hay Công ty cho thuê tài chính
Có hai loại cho thuê: cho thuê tài chính và cho thuê vận hành (Finance lease and operating lease) Cả hai loại hình cho thuê tài chính và cho thuê vận hành, quyền sở hữu thiết bị đều thuộc người cho thuê Người đi thuê với việc trả tiền thuê thiết bị, được quyền sứ dụng nhưng không có quyền sở hữu thiết bị đó Khái niệm cho thuê tài chính và cho mua vận hành chủ yếu liên quan tới chế độ kế toán - báo cáo tài chính chứ không liên quan tới cơ sở pháp lý
Cho thuê tài chính, một loại hình "thoa thuận mua" của người cho thuê, bởi
vậy trên bản tổng kết tài sản của người đi thuê thể hiện cả tài sản đi thuê và khoản
nợ tương ứng Báo cáo thu nhập của người đi thuê sẽ thể hiện cả phần khấu hao thiết bị đi thuê và trả lãi nợ Đ ố i với nghiệp vụ cho thuê tài chính, các khoản phải trả trong thời hạn cho thuê không huy ngang nói chung sẽ bù đắp được cho người chi phí mua thiết bị và một khoản lợi nhuận đầu tư
Cho thuê mua vận hành là một 'hợp đồng thuê hoặc sứ dụng" Vì vậy, trên bản tổng kết tài sản của người đi thuê không thể hiện trên cả phần tài sản có và tài sản nợ Việc đi thuê chỉ được chú thích trong báo cáo tài chính Vì vậy nghiệp vụ cho thuê thông thường sẽ được hạch toán ngoại bảng Trong báo cáo thu nhập của người đi thuê sẽ có mục chi phí thuê
Trong tài trợ dưới hình thức cho thuê thì cho thuê tài chính quốc tế là phát triển nhất Cho thuê tài chính quốc tế là một thoa thuận hợp đồng cho phép một bên (bên đi thuê) được sứ dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty cho thuê (bên cho thuê) và thực hiện các khoản chi trả định kỳ được quy định cụ thể Bên đi thuê có thể thuê từ nhà xuất khẩu nước ngoài, hoặc có thể thuê trực tiếp từ công ty cho thuê nước ngoài
Điểm mấu chốt của hợp đồng cho thuê tài chính quốc tế là quyền sở hữu về mặt pháp lý đối với tài sản (của công ty cho thuê) được tách khỏi việc sứ dụng về mặt kinh tế của tài sản đó (do bên đi thuê nắm giữ) Công ty cho thuê tập trung xem xét khả năng của bên đi thuê trong việc tạo ra số thu để chi trả tiền thuê chứ
Trang 26không dựa vào lịch sử tín dụng, tài sản hay số vốn của bên đi thuê Thoa thuận loại này đặc biệt phù hợp với loại doanh nghiệp vừa và nhỏ mới được thành lập chưa có báo cáo tài chính cho nhiều năm Tài sản thế chấp đảm bảo cho giao dịch này chính là tài sản cho thuê
Thực chất hoạt đầng cho thuê tài chính quốc tế là mầt hoạt đầng tài trợ trung, dài hạn cho người Nhập khẩu thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các đầng sản khác Bên cho thuê cam kết máy móc, thiết bị và đầng sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyển sở hữu đối vói tài cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời gian thuê đã được hai bên thoa thuận và không được huy hợp đồng trước hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điểu kiện
đã thoa thuận trong hợp đồng thuê
Vai trò tài trợ của nghiệp vụ cho thuê tài chính đối với các N H T M - người cho thuê và nhà nhập khẩu - bên đi thuê được thể hiện ở chỗ:
* Lợi thế đối với người cho thuê:
- Quyền sỏ hữu tài sản mang lại cho người cho thuê sự bảo đảm vững chắc Tại các nước mà các luật thế chấp yếu kém gây trở ngại đến việc cho vay của các ngân hàng thì nghiệp vụ cho thuê mang lại lợi thế là không đòi hỏi phải có thế chấp nào khác ngoài chính bản thân tài sản cho thuê và thủ tục thu hồi tài sản cũng đơn giản hơn vì quyền sở hữu tài sản vẫn nằm trong tay bên cho thuê
- Sử dụng vốn đúng mục đích Do bên cho thuê mua thẳng thiết bị từ nhà cung ứng nên không có kẽ hở nào để bên đi thuê sử dụng vốn vào mục đích khác
- Hệ thống chứng từ tương đối đơn giản giúp giảm chi phí giao dịch và cho phép các công ty cho thuê đạt được doanh số cho thuê cao mầt cách hiệu quả
- Do các công ty cho thuê không nhận tiền gửi nền thường không bị quản lý chặt chẽ như các ngân hàng
* Lợi thế đối với bên đi thuê:
- Phương thức thế chấp đơn giản hơn và cấc yêu cầu ít khắt khe hem đối với bản cân đối, điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ nhân được tài trợ thông qua cho thuê hơn là các khoản cho vay của ngân hàng
Trang 27- Chi phí giao dịch thấp vì không cần tài sản thế chấp Tài sản thế chấp chính là tài sản thuê
- Chỉ cần có ít tiền đối ứng Cho thuê có thể tài trợ cho tỷ lệ giá thành máy móc thiết bị cao hơn so với vốn vay ngân hàng, thường đòi hỏi đặt cọc ít
2.8 Bao thanh toán Factorìng và Forfaiting
Theo Quy chế 1096/2004/NHNN ngày 06 tháng 9 năm 2004 về hoổt động bao thanh toán của các tổ chức túi dụng, "bao thanh toán" chỉ là từ dịch của riêng Factoring, trong khi đó Forfaiting lổi chưa có được một tên gọi chuẩn bằng tiếng Việt Vì vậy, một số nhà kinh tế có quan điểm muốn giữ nguyên từ "factoring" và
"forfaiting", đồng thời, "factor", "forfaiter" lần lượt được hiểu là các nhà cung cấp dịch vụ Factoring và Forfaiting nói trên mà không dịch tương đương sang tiếng Việt
Quan điểm của nhóm đề tài là thuật ngữ Bao thanh toán bao gồm cả Factoring và Forfaiting
Bao thanh toán Factoring là một cơ chế tài trợ vốn ngắn hổn, là sự thoa
thuận giữa người xuất khẩu và Nhà Factor, trong đó qui định người xuất khẩu
"bán" cho Nhà Factor quyền đòi nợ từ người nhập khẩu trong một thời gian nhất định Với cơ chế này, người xuất khẩu sẽ được tài trợ ngay sau khi giao hàng Nhà Factor sẽ giành lấy quyền đòi tiền từ người Nhập khẩu vói chi phí và rủi ro m à hai bên đã thoa thuận trước
Nhà Factor sẽ ứng trước khoảng 8 0 % số tiền sẽ được báo có trên tài khoản
và sẽ quyết toán với người xuất khẩu sau khi đã thu tiền bằng phương thức thanh toán nhờ thu Lãi ứng trước bao thanh toán được tính theo số ngày thực ứng trước
Vì vậy, lãi này được thu định kỳ hàng tháng như một khoản cho vay thông thường
và tất toán gốc một lần khi thu được tiền thanh toán, cộng thêm lãi chưa trả tính
đến thời điểm tất toán Với ý nghĩa nói trên người ta Factoring là "Bao thanh toán
tương đối"
Factoring trong thương mổi quốc tế phần lớn là dựa vào phương thức thanh toán bằng phương thức "ghi sổ" (Open account) ngắn hổn giữa các công ty hoặc là mới quan hộ hoặc quan hệ với nhau đã lâu
Trang 28Bao thanh toán Forfaiting là một hình thức tài trợ vốn cho các công trình
hoặc việc xuất khẩu hàng hoa tư liệu sản xuất với thời hạn thanh toán năm bảy năm trong tương lai bằng một lãi suất cố định Các nhà Forfaiter tài trợ loại hình này theo nguyên tắc không hoàn lại, có nghĩa là Nhà cung cấp được chiết khấu toàn bộ số tiền bán hàng miễn truy đòi, (íactoring cũng có loại miễn truy đòi đối với trường hợp
người mua mất khả năng thanh toán, phá sản, không thanh toán trong vòng 90 ngày
kữ từ ngày đến hạn của hoa đơn, với điều kiên không có tranh chấp giữa người bán
và người mua) Porfaiting là chiết khấu miễn truy đòi trên cơ sở có bảo lãnh của
ngân hàng (aval) Với ý nghĩa nói trên người ta gọi Forfaiting là "Bao thanh toán
Sau đây chúng ta sẽ tập trung nghiên cứu vẻ 2 loại hình Bao thanh toán này
n NGHIỆP V Ụ BAO THANH T O Á N FACTORING V À FORFAITING
TRONG TÀI T R Ợ T H Ư Ơ N G M Ạ I Q U Ố C TẾ
1 Bao thanh toán Factoring
Trang 29Theo quan điểm chung nhất của các nhà nghiên cứu, Factoring có nguồn gốc từ sự phát triển của thương mại quốc tế Ngay từ đầu thế kỷ 13, Factoring
đã xuất hiện ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ như một phương thức cung cấp cho ngưữi bán tiện ích thu nợ và tài trợ ngắn hạn cho những giao dịch tại thị trưững nội địa
Trong khoảng thữi gian giữa thế kỷ 17 và 18, thương mại phát triển mạnh giữa các nước châu Âu và các khu vực khác trên thế giói, đặc biệt là với vùng Bắc
Mỹ Do thông tin liên lạc thữi đó yếu kém và để vận chuyển hàng hoa thì không có phương tiện nào nhanh hơn tàu biển nên nhà xuất khẩu cần phải chỉ định các đại lý thương mại tại các thị trưững nước ngoài Vì các đại lý thương mại này hiểu biết nhiều hơn về khách hàng địa phương nên chủ hàng thưững cho phép các đại lý bán hàng trên cơ sở tín dụng thương mại và hoa đơn thương mại của chính họ Họ phải chịu trách nhiệm về các khoản túi dụng thương mại này Ngoài ra, họ cũng phải ứng trước tiền để trang trải các phí cảng, thuế và trả tiền hàng cho các chủ hàng Tuy nhiên, khi nền kinh tế ở Mỹ đã vững mạnh và các mối quan hệ chính trị
lệ thuộc giữa châu Mỹ với châu Âu không còn tồn tại nữa, nhu cầu sử dụng các đại
lý để tiến hành việc xuất nhập khẩu hàng đã giảm xuống Các íactor nội địa ra đữi, đảm nhận việc bán hàng trong phạm vi biên giới một quốc gia
Khi thông tin liên lạc và các phương tiện vận chuyển đã phát triển, ngưữi ta nhận thấy các nhà sản xuất không cần thiết phải ký gửi hàng nữa Hàng có thể được bán bằng phương thức gửi mẫu qua các đại lý và chuyển hàng trực tiếp cho khách hàng Mặc dù vậy, các nhà sản xuất vẫn duy trì việc sử dụng các đại lý (factor) để tiến hành thanh toán cho các lô hàng, trong đó quyền của íactor là thu tiền thanh toán từ phía ngưữi mua cuối cùng Đây chính là cơ sở cho factoring hiện đại Khái niêm factoring phát triển liên tục và ngày nay đã trở nên quen thuộc trong kinh doanh, thương mại, tài chính ngân hàng hay xuất nhập khẩu
Các giao dịch Factoring cần tuân thủ theo một khung pháp lý chuẩn Hiện nay các công ty Factoring thế giới thưững sử dụng Công ước UNIDROIT được thông qua ngày 28/5/1988 tại Ottawa - Canada hay Qui tắc chung về Factoring quốc tế của Hiệp hội Factoring quốc tế - General Rules For Intemational Factoring - FCI làm chuẩn mực pháp lý cho các giao dịch của mình
Trang 30Tại Việt Nam, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng đã ban hành Quyết
định số 1096/2004/QĐ - NHNN về Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ
chức tín dụng
Có rất nhiều định nghĩa về Factoring Sau đây là một vài đinh nghĩa tiêu biểu:
Định nghĩa ỉ: Hợp đồng Factoring (Factoring contract) là hợp đồng giữa đơn
vị bán và đơn vị bao thanh toán (Factors), theo đó người bán có thể hoực sẽ chuyển
nhượng cho các đơn vị bao thanh toán các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng
mua bán hàng hoa/ dịch vụ giữa người bán và người mua hàng Đơn vị bao thanh
toán phải thực hiện ít nhất hai trong 4 chức năng sau: (i) tài trợ cho bên bán, bao
gồm các khoản vay và thanh toán trước, (li) quản lý các tài khoản liên quan tới các
khoản phải thu, (iii) thu hộ các khoản phải thu, (iv) Bảo hiểm rủi ro không thanh
toán của con nợ (Điều ỉ, Công ước UNIDROIT về Bao thanh toán quốc tế
-UNỈDROrr Convention ôn International Factoring - Ottawa, Canada, 28 May
1988)
Định nghĩa 2: Hợp đồng Factoring là hợp đồng theo đó người bán có thể
hoực sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu cho một đơn vị bao thanh toán (factor),
có thể với mục đích nhận tài trợ thương mại hoực không, để nhận được ít nhất một
trong các chức năng sau:
- Theo dõi sổ sách các khoản phải thu
- Thu hộ các khoản phải thu
- Bảo hiểm rủi ro nợ xấu
(Điều ì : Qui tắc chung về Factoring quốc tế của Hiệp hội Factoring quốc tế General Rules For ỉnternatìonal Factoring - FCI)
-Định nghĩa 3: Theo cuốn Marketing ỉnternational Factorìng, 2000,
Neitherland của Hiệp hội Factoring quốc tế - FCI, dựa trên quan điểm của luật và
kế toán thì Factoring là một dịch vụ dựa vào những khoản phải thu được chuyển nhượng Các khoản phải thu của người bán hàng được chuyển nhượng cho íactor,
do đó tạo ra sự chuyển đổi chủ nợ Một factor sẽ trở thành một chủ nợ mới và độc quyền đối với khoản phải thu, bao gồm cả các phần phụ thuộc vào các khoản phải
thu đó
Trang 31Định nghĩa 4: "Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín
dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hoa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoa thuận trong hợp
đồng mua, bán hàng." (điều 2 - Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06
tháng 9 năm 2004 về Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng)
Ngoài ra, Theo Từ điển kinh tế (Dictionary of Economic - Christopher Pass
& Bryan Lones), "Factoring là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ - factor firm) mua lại các khoản nợ của một công ty với sờ tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của sờ nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó L ợ i ích của công ty bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả
nợ, hơn nữa lại tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả"
Còn theo Từ điển thuật ngữ Ngân hàng - Hans Klaus thì "íactoring là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ Một công ty chuyển toàn
bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua
nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng) Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản phải thu để hưởng thủ tục phí và có lúc ứng trước các khoản nợ Thông thường công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất khả năng thanh toán của món nợ"
Qua các định nghĩa về Factoring trên đây, chúng ta có thể hiểu Bao thanh toán Factoring là một công cụ tài chính cung cấp cho người bán hàng hoặc một
thực thể kinh doanh bờn yếu tờ dịch vụ rất quan trọng, đó là: tài trợ vốn lưu động,
dịch vụ thu hộ tiền thanh toán từ người mua hàng, dịch vụ quản lý sổ bán hàng
và dịch vụ bảo đảm rủi ro Sự khác nhau giữa các định nghĩa chính là ở việc đơn
vị bao thanh toán (Factor) cung cấp nhiều hay ít sờ lượng các dịch vụ để được gọi
là Bao thanh toán
1.1.2 Phân loạiỊactoring
Dựa vào các căn cứ khác nhau, người ta có thể phân loại Factoring như sau:
* Theo phạm vi hoạt động địa lý
Trang 32Theo căn cứ này, người ta chia factoring làm 2 loại:
Factorìng nội địa (domestic factoring): là factoring chỉ giới hạn trong biên giới
một quốc gia, dựa trên hợp đồng mua, bán hàng, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối
Factoring quốc tế (international íactoring): là íactoring liên quan t ớ i ít nhất
hai quốc gia khác nhau, dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu Điụm khác biệt của bao thanh toán quốc tế so với bao thanh toán n ộ i địa là k h ả năng có sự tham g i a của hai đơn vị bao thanh toán ở hai nước đứng ra làm đại lý cho nhau đụ cung cấp dịch vụ cho người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu
* Theo phạm v i trách nhiệm đối với r ủ i ro
Dựa trên căn cứ này, người ta chia íactoring làm 2 loại:
Factoring có truy đòi (with recourse/ recourse factoring): nếu các khoản phải
thu (đã được chuyụn nhượng) đến hạn m à factor không đòi được thanh toán t ừ
người mua hàng, họ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho người bán hàng
Factoring miễn truy đòi (vvithout recourse/ non-recourse íactoring): factor
phải chịu hoàn loàn trách nhiệm đối v ớ i r ủ i ro không thu được tiền thanh toán Factor không có quyền đòi l ạ i số tiền ứng trước cho người bán hàng và còn phải thanh toán tiếp phần còn lại của hoa đơn
* Theo phạm v i áp dụng nghiệp vụ factoring đối với số lượng các hoa đơn của một người bán hàng cụ thụ
Dựa trên căn cứ này, người ta chia factoring thành 2 loại:
Factoring toàn bộ (whole factoring): áp dụng nghiệp vụ factoring đ ố i với toàn
bộ các hoa đơn thương m ạ i phát hành ra của m ộ t người bán hàng
Factoring một phần (partial íactoring): áp dụng nghiệp vụ íactoring đ ố i v ớ i
một số các hoa đơn phát hành của người bán hàng đòi tiền m ộ t số người m u a hàng
cụ thụ
* Theo phạm v i giao dịch của factor với người mua
Dựa trên căn cứ này, người ta chia íactoring làm 2 loại:
Trang 33Factoring công khai (disclosed factoring): người bán giao hàng cho người
mua và nhận tiền ứng trước từ factor Sau đó, người mua trả tiền hàng cho factor này
người mua, nhận tiền ứng trước từ factor Người mua - không hay biết gì về dịch
vụ íactoring được thực hiện - trả tiền cho người bán hàng như thông lệ Sau đó, người bán chuyển số tiền này cho factor
* Đối với các ỷactor
Factoring cho phép thu lợi nhuận qua phí dịch vụ và lãi suất
Factoring cho phép đa dạng hoa loại hình dịch vụ
Factoring cho phép sử dụng tốt hơn các nguẩn vốn huy động được
* Đôi với người xuất khẩu
Lợi ích lớn nhất của người xuất khẩu là về nguẩn vốn hoạt động: Thông thường các íactor sẽ thanh toán ngay 7 0 % đến 9 0 % số tiền trên hoa đem và số tiền này thường được thanh toán trong vòng 24 giờ Không chỉ thu được tiền nhanh và trong thời gian ngắn để phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của mình, các nhà cung cấp hàng hoa còn có lợi ích khi có các luẩng tiền được dự tính chính xác, giúp cho việc xác định kế hoạch tài chính và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp dễ dàng và hiệu quả hơn
Giảm rủi ro trong thanh toán: Khi cho người nhập khẩu trả chậm, người
xuất khẩu thườn.2 lo ngại về việc người nhập khẩu mất khả nâng thanh toán V ớ i
dịch vụ factoring miễn truy đòi, rủi ro này của họ sẽ được chuyển giao cho factor Dịch vụ này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà xuất khẩu do khoảng cách về địa
lý giữa các quốc gia và sự thiếu thông tin về nhà nhập khẩu Hơn nữa, các factor không hoạt động đơn lẻ mà họ luôn hoạt động trong một hiệp hội gẩm nhiều công
ty từ nhiều quốc gia khác nhau Thông qua mạng lưới này, các factor sẽ có thông tin để đánh giá những người nhập khẩu ở các quốc gia khác nhau trước khi chấp nhận họ Với sự chuyên nghiệp và mạng lưới thông tin rộng lớn và đáng tin cậy trên toàn cầu, họ sẽ góp phần làm giảm rủi ro về thanh toán trong hoạt động
Trang 34toán, không phải trả phí mở L/C, không bị trì hoãn việc mua hàng do những vấn đề phát sinh từ việc mở L/C, hơn nữa phí factoring lại do nhà xuất khẩu chịu
Nhà nhập khẩu có thể mua hàng với phương thức ghi sổ (Open Account) hoặc chuyển tiền sau khi đã nhận hàng (TT), nghĩa là họ có thể mua hàng trả chậm Hình thức này hỹ trợ rất lớn cho các nhà nhập khẩu về khả năng thanh khoản cũng như hoạt động ngân quỹ
Nhà nhập khẩu cũng giảm được công sức và chi phí trong việc quản lý sổ sách kế toán, quản lý khoản nợ
* Đối với nền kinh tế
Factoring tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định hơn cho nền kinh tế, tạo tâm lý yên tâm, tự tin cho các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
Factoring đẩy mạnh thương mại, sản xuất và đặc biệt là xuất nhập khẩu của quốc gia, tăng thu nhập cho nền tài chính
1.1.4 Hạn chế của /actoring
* Đối với cácỊactor
Như các công cụ tài chính khác, tín dụng factoring cũng tiềm ẩn nhiều nguy
cơ rủi ro, nhất là rủi ro đối vói các íactor:
s Rủi ro lớn nhất đối với các factor là việc nhà nhập khẩu trì hoãn việc thanh
toán hoặc mất khả năng thanh toán (đặc biệt là trong trường hợp thực hiện factoring miễn truy đòi)
s Việc trả tiền trên hoa đem dễ dẫn đến việc hoa đơn bị làm giả
S Giữa người bán và người mua có thể có sự thông đồng để lừa íactor
Vì vậy, khi có tranh chấp xảy ra giữa người Xuất khẩu và người nhập khẩu
về một vấn đề gì đó, tổ chức bao thanh toán sẽ không thanh toán/tạm ứng hoặc truy đòi các khoản đã thanh toán/tạm ứng cho những giao dịch có tranh chấp đó Tuy nhiên tổ chức bao thanh toán sẽ hỹ trợ người xuất khẩu trong việc giải quyết tranh chấp đối với người nhập khẩu
* Đối với các DN:
Trang 35Tín dụng factoring được xem là một hình thức tài trợ cố chi phí cao Lãi suất
chiết khấu cũng tương đương vói lãi suất thấu chi hiện hành của các ngân hàng Ngoài ra, chi phí hành chính có thể cũng khá cao, với tỉ lệ quy định sẵn cho mỗi hoa đơn được áp dụng dịch vụ factoring Đ ố i với các doanh nghiệp có doanh thu xuất khẩu quá nhỏ thì factoring không phắi là một sự lựa chọn đúng đắn Trên thực tế, tổng chi phí bao thanh toán (gồm phí và lãi) thường 2 % năm Do vậy các doanh nghiệp nào có lãi thấp hơn hoặc bằng 2%/năm thì sử dụng dịch vụ này không hiệu quắ
Thông thường phí íactoring quốc tế cao hơn phí factoring nội địa, phí factoring miên truy đòi cao hơn phí factoring truy đòi Những yếu tố ắnh hưởng đến giá phí factoring là:
Khối lượng công việc: khối lượng công việc nhiều hơn (số lượng hoa đơn,
phiếu ghi có, ) thì chi phí cao hơn và do đó giá phí sẽ cao hơn Ngoài ra, trong íactoring quốc tế, nếu thông tin cung cấp cho íactor nhập khẩu không đầy đủ thì factor nhập khẩu có thể sẽ báo giá cao hơn
Chi phí hệ thống: những chi phí gửi thông tin đi nước ngoài, xử lý giao dịch
bằng một số đồng tiền khác nhau, xử lý thông tin dữ liệu bằng tiếng nước ngoài trong hoạt động factoring quốc tế chắc chắn sẽ làm chi phí cho hoạt động này cao hơn so với íactoring nội địa
Nhìn chung, chi phí trong bao thanh toán íactoring thông thường bao gồm hai phần là tiền lãi (phí chiết khấu) và phí hoa hồng:
Tiền lãi (phí chiết khấu - Interest charge/Discount charge): thường được
tính toán theo tỉ lệ tương đương với tỉ lệ thấu chi ngân hàng cho phép đối với mỗi ngành nghề kinh doanh, tương đương lãi suất chiết khấu, hoặc cao hơn lãi suất vay ngắn hạn một chút Tỉ lệ này phụ thuộc chất lượng khoắn nợ và khoắng thời gian cần thiết tối thiểu để thu hồi được nợ từ nhà nhập khẩu
Phí hoa hổng (Service fee): là phí dịch vụ để trang trắi các chi phí quắn lý
sổ sách bán hàng và thực hiện chức năng quắn lý tín dụng các factor Thông thường mức phí dao động từ 0,5% - 2,5%/năm khoắn thanh toán chuyển nhượng, bao gồm cắ thuế VÁT Phí bao thanh toán gồm hai phần, phí của đại lý bao thanh toán nhập khẩu và phí của đại lý bao thanh toán xuất khẩu
Trang 36Trên thực tế ta còn có thể gặp những cách định giá khác nhau Sau đây là một số cách tiêu biểu:
• Phương pháp phí cộng lãi suất cơ bản (Prime Plus Method): gồm hai phần phí như sau:
- Phí Factor = a % X giá trị hoa đơn
- Lãi suất = b % X số tiền ứng trước X số ngày kể từ ngày ứng trước đến
ngày nhận được thanh toán
Trong đó: a là mức phí suất, b là mức lãi suất
• Phương pháp tính phí giảm dần (Discount Method): Ví dỳ 2 0 % cho 20 ngày dầu tiên kể từ ngày tạm ứng, 1 0 % cho mỗi 10 ngày tiếp theo
* Định giá theo lô (Batch Phăng): gộp nhiều hoa đơn trong một chu kỳ (Ì quý, Ì tháng ) thành một hoa đơn lớn để định giá
<s Phí cố định (Deíault fees): Ví dỳ phí cố định 60 USD cho 1.000 Ư S D
ứng trước Tuy nhiên cách tính phí này trên thực tế ít dùng
Ngoài phí Factoring cơ bản trên, người ta còn áp dỳng một số loại phí khác
để tăng doanh thu cho các factor: Phí thanh toán sai địa chỉ (Misdứected payment fees), phí ghi chú thiếu (Missing Notation fees), phí chấm dứt họp đồng sớm (Termination fees)
Quan hệ với bạn hàng: Một số doanh nghiệp nhỏ lo ngại sử dỳng dịch vỳ
factoring sẽ có thể dẫn đến tình trạng mất dần liên lạc với khách hàng của họ Hơn nữa, do áp dỳng dịch vỳ factoring với hoa đơn thương mại nên bạn hàng nhập khẩu sẽ có thể nghĩ rằng nhà xuất khẩu đang rơi vào tình trạng kém ổn định Tuy vậy, sự lo ngại này giờ đây cũng không phải là vấn đề nghiêm trọng, vì hình ảnh bao thanh toán là dịch vỳ phỳc vỳ cho các khách hàng phát triển tốt, khác với quan niệm trước kia Ngay cả khi nhà nhập khẩu biết nhà xuất khẩu tham gia dịch vỳ bao thanh toán íactoring thì dịch vỳ này vẫn ngày càng phổ biến trên toàn thế giới
1.2 Quy trình thục hiện Factoring quốc tê
1.2.ỉ Quy trình thực hiện
Quy trình nghiệp vỳ íactoring quốc tế thường được thực hiện thông qua Factor nhập khẩu Factoi nhập khẩu chịu trách nhiệm phân tích khoản phải thu, tình hình hoạt động, khả nàng tài chính của bên nhập khẩu trong hợp đồng xuất - nhập khẩu; thực hiện việc thu nợ theo uy quyền của factor xuất khẩu và cam kết thanh toán
Trang 37thay cho bên nhập khẩu trong trường hợp bên nhập khẩu không có khả năng thanh toán khoản phải thu
Trong trường hợp hoạt động íactoring được thực hiện qua factor nhập khẩu, íactor xuất khẩu và factor nhập khẩu phải thoa thuận ký kết một hợp đồng riêng phù hợp với quy định của pháp luật, trong đó quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa
vụ của mữi bên
Khi có sự tham gia của factor nhập khẩu, hoạt động íactoring được thực hiện thông qua một hệ thống, gọi là hệ thống hai íactor
Sơ đ ồ i : Hệ thống hai factor
1 Trước khi giao hàng người xuất khẩu đề nghị factor XK thực hiện dịch vụ íactoring đối vói các khoản phải thu:
- Factor XK và người xuất khẩu thoa thuận và ký kết hợp đồng factoring Hợp đồng Factoring giữa các nhà Factor với người X K sẽ được thực hiện khi Factor X K
và người xuất khẩu đồng ký gửi văn bản thông báo về hợp đồng factoring cho Factor nhập khẩu, trong đó nêu rõ việc người xuất khẩu chuyển giao quyền đòi nợ cho íactor XK và hướng dẫn Factor nhập khẩu thanh toán trực tiếp cho íactor XK
2 Người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu
3 Người xuất khẩu chuyển nhượng khoản phải thu của mình qua factor xuất khẩu và thông báo cho factor nhập khẩu, là bên sẽ chấp nhận rủi ro túi dụng (phải
có hợp đồng từ trước)
Trang 38Tổ chức factor XK sẽ thanh toán cho người XK sau khi đã xem xét tài khoản của người X K và sau khi đã kiểm tra năng lực tín dụng của người NK thông qua Factor NK
- Hạn mức tín dụng sẽ do tổ chức factor của người NK và những bên liên quan đến việc thu nợ quyết định
- Các khoản phí được xác định dựa trên chi phí quản lý tài khoản và số lượng hoa đơn do người XK cấp
- Hàng hoa đã được chuyển đi
- Factor XK có thể trả trước nhiều nhất là 9 0 % giá trị hoa đơn thương mại bừng cách ghi có vào tài khoản của nguôi XK và ghi nợ vào tài khoản tài trợ của ngân hàng
4 Factor xuất khẩu ứng trước tiền cho người xuất khẩu
5 Factor nhập khẩu tiến hành thu nợ từ bên nhập khẩu khi đến hạn
6 Người nhập khẩu trả tiền hàng cho factor nhập khẩu, factor nhập khẩu chuyển tiền về cho íactor xuất khẩu
7 Factor xuất khẩu quyết toán khoản tiền ứng trước và chuyển số tiền còn lại của giá trị hoa đơn cho người xuất khẩu
Trên thực tế, các giao dịch không phải lúc nào cũng suôn sẻ và đơn giản như vậy Những vấn đề phát sinh hàng như việc người nhập khẩu chậm thanh toán, tranh chấp do người nhập khẩu này luôn là những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giao dịch
7.2.2 Chứng từ sử dụng trong Bao thanh toán Factoring quốc tế
K h i quyết định "bán nợ", người xuất khẩu cần xuất trình những chứng từ sau cho íactor:
Ì Bản hoa đơn gốc và Ì bản sao
2 Chứng từ vận tải chứng nhận đã giao hàng (đã ký) và một bản sao
3 Văn bản ghi nhận về việc mua bán (bản gốc)
4 Biên bản xác nhận xếp hàng (nếu có)
5 Một số giấy tờ cần thiết chứng minh tư cách pháp lý của doanh nghiệp như giấy đăng ký kinh doanh, điều lệ công ty, giấy phép đầu tư, tu chỉnh (nếu có) ( K M c h hàng chỉ phải xuất trình một lần để thực hiện các thủ tục xét duyệt ban đầu)
Trang 39Ngoài ra, cần chú ý rằng hoa đơn được sử dụng trong dịch vụ factoring phải
có giá trị hiệu lực; biên bản ghi nhận việc bán hàng hoa và dịch vụ đã được gửi và
ký chấp nhận bởi người NK; hợp đồng thương mại giữa người xuất khễu và người
nhập khễu đã phải được ký thực và hợp pháp
2 Bao thanh toán Forfaiting
2.1 Khái quát chung vềforfaiting
2.1.2 Định nghĩa
Forfaiting bắt nguồn từ Châu Âu (thực tế thuật ngữ "forfaiting" xuất phát từ
tiếng Pháp "à forfeit", nghĩa là "miễn truy đòi") Forfaiting ra đời vào những năm
60 của thế kỷ 20 tại miền Tây Đức trước nhu cầu xuất khễu tư liệu sản xuất từ
vùng này sang các nước Đông Âu
Nền kinh tế các nước Đông Âu thường sẵn có rất ít các ngoại tệ mạnh để trả
cho các nhà sản xuất Tây Đức Chính vì vậy, các nhà sản xuất Tây Đức đã cho
phép họ được hưởng khoản nợ trung hạn, đôi khi cho phép lên tới 5 năm Ngân
hàng Trung ương Đông Âu thường là người đứng ra bảo đảm cho cấc khoản túi
dụng thương mại này
Khi các nhà sản xuất Tây Đức cần tiền mặt, họ sẽ bán giấy tờ chứng nhận
khoản tín dụng thương mại của mình với một tỉ lệ chiết khấu tới các nhà tài
chính Đó chính là những tiền đề cho sự ra đời của tín dụng forfaiting
So với Factoring, Forfaiting ít được áp dụng hem Vì vậy, cho đến nay chưa
có một luật lệ hay tập quán quốc tế nào định nghĩa cụ thể về Forfaiting Việt nam
cũng chưa có một văn bản pháp lý nào hướng dẫn và cho phép sử dụng dịch vụ
này Vì vậy, Forfaiting thường được viết trong các cuốn sách mang tính chất thực
hành Ví dụ, caốn"Ịnnovative Export Financing: Factoring and Forfaiting",
Business America 114 (No.Ì, January l i ) , Ring, Mary Ann, 1993, hay theo cuốn
"Forfaiting - an Inữoduction" - Finanz AG Zurich, Switzerland - 2001 thì
Forfaiting là thuật ngữ dùng để chỉ việc mua lại các khoản nợ phải trả trong tương lai, phát sinh từ việc giao hàng hoa hoặc dịch vụ, chủ yếu là từ hoạt động xuễt khẩu hàng hoa với điều kiện miễn truy đòi lại nhà xuễt khẩu
Trang 40Trong cuốn "Nghiệp vụ bao thanh toán" - Ths Nguyễn Quỳnh Lan - NXB
Chính trị quốc gia - 2006 có khái niệm: Forfating là một dạng tài trợ thương mại
quốc tế liên quan tới việc người xuất khẩu bán miễn truy đòi với mức giá chiết
khấu cho các đơn vị bao thanh toán (Forfaiter) các khoản phải thu trung và dài hạn có nguồn gốc từ các hợp đồng mua bán hàng hoa với điều kiện các khoản phải thu phải có bảo lãnh thanh toán của một ngân hàng có uy tín
Theo cuốn "giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương"- GS Đinh
Xuân Trình - NXB Giáo dục năm 2002 thì "Forfaiting là loại tín dụng trung và
dài hạn mà một NHTM hoểc một công ty tài chính ứng trước không hoàn lại cho nhà xuất khẩu một tỷ lệ % nhất định so với tổng giá trị hoa đơn để dành lấy quyền đòi lại tiền từ người nhập khẩu, và chịu mọi rủi ro mà người nhập khẩu không thanh toán được nếu có xảy ra.Các Forfaiter chỉ cấp tín dụng này cho người XK khi người nhập khẩu của anh ta đã được một ngân hàng bảo lãnh"
Forfaiting còn được GS Đinh Xuân Trình dịch ra tiếng Việt là bao thanh
toán tuyệt đối để phân biệt với Factoring là bao thanh toán tương đối
2.1.3 Đểc điểm chung
Các định nghĩa trên cho thấy Bao thanh toán forfaiting có những đặc điểm
cơ bản sau đây:
* Là một cơ chế tài chính nhằm chuyển hoạt động bán hàng theo hình thức tín dụng của nhà xuất khẩu sang giao dịch tiền mểt:
- Thông qua việc chiết khấu các chứng từ thu nợ tò hoạt đủng xuất khẩu, khoản nợ được thể hiện bằng hối phiếu, kỳ phiếu, L/C có bảo lãnh của ngân hàng
- Thanh toán ngay giá trị hối phiếu, miễn truy đòi người xuất khẩu sau khi
đã trừ phí chiết khấu
- Thời hạn tín dụng là trung hoặc dài hạn (thường từ 90 ngày đến 5 năm)
- Khoản tiền đem forfaiting nằm trong khoảng 100.000 USD - 200 triệu USD hoặc có thể nhiều hơn
- Công cụ để đòi nợ trong nghiệp vụ Forfaiting là các kỳ phiếu (Promissory Note - còn được gọi là các hối phiếu nhận nợ theo Luật công cụ chuyển nhượng Việt Nam 2005) hoặc hối phiếu (Bin of exchange)