1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài tập lớn học kì dân sự 1

22 47 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 49,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm vẫn tồn tại, nhưng giữa ông Lưu và bà T

Trang 1

bà Xê Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì ông Lưu kết hônvới bà Thẩm trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhângiữa ông Lưu với bà Thẩm là quan hệ hôn nhân hợp pháp và vẫn đang tồn tạitheo quy định của pháp luật Tuy căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6,thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hônnhân giữa ông Lưu và bà Thẩm vẫn tồn tại, nhưng giữa ông Lưu và bà Thẩm cókinh tế riêng và ông Lưu đứng tên riêng đối với nhà đất trên, hơn nữa trong quátrình giải quyết vụ án bà Thẩm thừa nhận căn nhà là do ông Lưu tạo lập và làtài sản riêng của ông Lưu Còn quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Xê là viphạm pháp luật

Câu 1: Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân

sự năm 2005 về hình thức sở hữu tài sản

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định 3 hình thức sở hữu bao gồm: sở hữu toàndân, sở hữu riêng và sở hữu chung thay cho 6 hình thức sở hữu được quy địnhtrong Bộ luật Dân sự năm 2005 (sở hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tưnhân; sở hữu chung; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức

xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp)

- Sở hữu toàn dân được quy định tại Chương XIII Phần thứ hai, gồm 8 điều (từĐiều 197 đến Điều 204) Điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 là quy địnhtên gọi của hình thức sở hữu là “sở hữu toàn dân” thay cho tên gọi “sở hữu nhànước” của Bộ luật Dân sự năm 2005

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì đất đai, tài nguyên nước, tàinguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiênkhác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữutoàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Trên tinhthần của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản thuộc hình thức

sở hữu toàn dân là một hình thức sở hữu đặc biệt

- Sở hữu riêng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tại hai điều luật(Điều 205, Điều 206 Chương XIII Phần thứ hai) Điều 205 Bộ luật Dân sự năm

2015 đã khẳng định: “sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân” Bộ luật Dân sự năm 2015 không liệt kê các loại tài sản thuộc hình thức

sở hữu riêng như Bộ luật Dân sự năm 2005 mà quy định nguyên tắc các tài sảnhợp pháp thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu (cá nhân hoặc pháp nhân) đềuđược pháp luật bảo vệ; chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài

Trang 2

sản thuộc sở hữu riêng của mình cho các mục đích khác nhau, nhưng khôngđược trái pháp luật

- Sở hữu chung: Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hình thức sở hữu chung tại

14 điều (từ Điều 207 đến Điều 220 thuộc Chương XIII, Phần thứ hai)

+ Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung quy định sở hữu chung của các thànhviên gia đình, cụ thể tại Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015

“Điều 212 Sở hữu chung của các thành viên gia đình

1 Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

2 Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này”

+ Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi và bổ sung quy định về việc từ bỏ quyền sởhữu đối với tài sản thuộc sở hữu chung của một hoặc nhiều chủ sở hữu chungtheo hướng quy định chi tiết hơn Cụ thể tại Khoản 4,5,6 Điều 218 Bộ luật Dân

sự năm 2015 đã quy định:

“Điều 218: Định đoạt tài sản chung

4 Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa

kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.

5 Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.

6 Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều

228 của Bộ luật này”.

Câu 2: Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 cho câu trả lời?

Trang 3

- Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hônnhân với bà Thẩm

- Đoạn của Quyết định số 377 có câu trả lời: “ Căn cứ các tài liệu, chứng cứ

có trong hồ sơ vụ án thì ông Lưu kết hôn với bà Thẩm trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu với bà Thẩm là quan hệ hôn nhân hợp pháp và vẫn đang tồn tại theo quy định của pháp luật Tuy căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm vẫn tồn tại, nhưng giữa ông Lưu và bà Thẩm có kinh tế riêng và ông Lưu đứng tên riêng đối với nhà đất trên, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án bà Thẩm thừa nhận căn nhà là do ông Lưu tạo lập và là tài sản riêng của ông Lưu”

Câu 3: Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

- Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà

- Đoạn của Quyết định số 377 có câu trả lời: “Còn bà Thẩm cho rằng căn nhà

số 150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101m 2 dất là tài sản chung của vợ chồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu của bà Xê”

Câu 4: Theo Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung cảu ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định số 377 cho câu trả lời

- Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu riêng củaông Lưu

- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời

kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác và được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên”

Câu 5: Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?

- Theo nhóm em thì giải pháp của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là chưahợp lý

- Căn cứ vào Khoản 1, Điều 33, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì

“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản

Trang 4

riêng và thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”

Ở đây Tòa không công nhận ngôi nhà 150/6A Lý Thường Kiệt là tài sản chung

do căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông Lưu khi ông vào Namcông tác và bà Thẩm không có công sức trong việc tạo lập ngôi nhà này làkhông hợp lý

+ Thứ ba: theo Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

“Điều 29 Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng

1 Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập,

chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.” nghĩa là mặt dù tiền do

ông Lưu làm ra nhưng tài sản vẫn là tài sản chung của hai vợ chồng mặccho bà Thẩm có hay không có đóng góp công sức

+ Thứ tư, xét về tình ông Lưu cũng phải có nghĩa vụ chăm sóc gia đình, chia sẻnhững khó khăn cũng như xây dựng tài sản với bà Thẩm

Theo đó, căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt là tài sản mà ông Lưu hình thànhtrong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm, do đó căn nhà đó là tài sản chung của ôngLưu và bà Thầm

- Căn cứ theo Khoản 2 và 3, Điều 219 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định về

Sở hữu chung của vợ chồng:

“2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

Trang 5

Câu 6: Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu và bà Thẩm thì ông Lưu có thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp

3 Vợ chồng cũng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”

* Diện thừa kế

Tóm tắt Quyết định số 08/2013/DS-GĐT

Cha chồng của bà Ơn là ông Nguyễn Kỳ Huệ có tạo dựng được căn nhà bê tôngcốt thép diện tích xây dựng là 148,8m2 và phần diện tích 912,4m2 tọa lạc tại số3/58 quốc lộ 1A thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang và một số vậtdụng trong nhà từ trước năm 1975 Năm 1999, ông Huệ chết để lại di chúc địnhđoạt toàn bộ tài sản cho ông Nguyễn Kỳ Hà (con ruột ông Huệ) là chồng của bà

Ơn Ông Hà chết ngày 12/5/2008 thì bà Lý Thị Ơn là vợ và các con ông Hàđược thừa kế và nhà đất này đã được chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở và quyền

sử dụng đất ở sang cho bà Lý Thị Ơn Ngày 4/3/2011 bà Ơn đã được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất,nên bà Ơn có quyền đòi bà Chắc trả nhà đất

Câu 1: Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không? Vì sao

- Bà Thẩm, chị Hương thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

+ Ông Lưu kết hôn với bà Thẩm trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào26/10/1964 tại Ủy ban nhân dân xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọnên quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm là quan hệ hôn nhân hợp pháp + Theo Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Điều 651: Người thừa kế theo pháp luật

Trang 6

1 Những người thừa kế theo phâp luật được quy đinh theo thứ tự sau đđy

a Hăng thừa kế thứ nhất gồm : vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ

nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”

=> Bă Thẩm (vợ của ông Lưu) vă chị Hương (con của ông Lưu) thuộc hăngthừa kế thứ nhất của ông Lưu

- Bă Xí không thuộc hăng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

+ Mặc dù sau năy bă Xí vă ông Lưu có đăng kí kết hôn Tuy nhiín, trước đóông Lưu vẫn chưa ly hôn với bă Thẩm nín quan hệ hôn nhđn giữa bă Xí vẵng Lưu vă vi phạm phâp luật theo khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhđn vă gia đình

“Điều 2: Những nguyín tắc cơ bản của chế độ hôn nhđn vă gia đình

1 Hôn nhđn tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”

Cđu 2: Nếu ông Lưu kết hôn với bă Xí văo cuối năm 1976 thì cđu trả lời trín có khâc không? Vì sao

- Nếu ông Lưu kết hôn với bă Xí văo cuối năm 1976 thì cđu trả lời trín cókhâc, bă Xí sẽ được hưởng thừa kế vă thuộc hăng thừa kế thứ nhất của ôngLưu

- Vì căn cứ theo Điểm a, Khoản 4, Nghị quyết số 02/HĐTP ngăy 19/10/1990quy định về thừa kế theo phâp luật

“a) Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngăy 13-01-1960 - ngăy công bố Luật Hôn nhđn vă gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngăy 25-3-1977 - ngăy công bố danh mục văn bản phâp luật được âp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam vă đối với cân bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thím vợ mă việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng bản ân có hiệu lực phâp luật), thì tất cả câc người vợ đều lă người thừa

kế hăng thứ nhất của người chồng vă ngược lại, người chồng lă người thừa kế hăng thứ nhất của tất cả câc người vợ”

Theo đó, bă Xí vă ông Lưu sống với nhau văo cuối năm 1976, hai người sống

ở miền Nam (Tiền Giang) cho nín đê thuộc trường hợp của Điểm a, Khoản 4của Nghị quyết năy Do vậy, ông Lưu vă bă Xí lă vợ chồng hợp phâp, đượchưởng thừa kế của nhau vă bă Xí thuộc hăng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

Trang 7

Câu 3: Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao?

- Trong vụ việc này, chị Hương không có được di sản của ông Lưu

- Vì

+ Thứ nhất: ông Lưu đã để viết di chúc để lại toàn bộ di sản cho bà Xê Vì thếchị Hương không có được di sản theo di chúc của ông Lưu

+ Thứ hai: Theo Khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Điều 644: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba

suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”

Theo đó có thể thấy rằng chị Hương không nằm trong trường hợp được nêutrên Vì chị Hương sinh năm 1965 mà ông Lưu mất năm 2003 thì chị Hương đã

38 tuổi và chị Hương cũng không nằm trong con thành niên mà không có khảnăng lao động vì không thấy trong bản án một quyết định nào của Tòa tuyênchị Hương không có khả năng lao động

Câu 4: Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền

sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại? Nêu cơ sở khi trả lời

- Theo pháp luật hiện hành, kể từ thời điểm mở thừa kế thì người thừa kế cóquyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại

- Căn cứ theo Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015

“Điều 614: Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”

Trang 8

Câu 5: Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểm nào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp? Vì sao?

- Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ngày 12/05/2008 người

thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp

- Vì

+ Thứ nhất: theo nội dung bản án “ông Hà chết ngày 12/5/2008 thì bà Lý Thị

Ơn là vợ và các con ông Hà được thừa kế và nhà đất này đã được chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở sang cho Lý Thị Ơn”

+ Thứ hai: Căn cứ theo Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015

“Điều 614: Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”

Và theo Khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015

“Điều 611: Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp

Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại Khoản 2 Điều 71 của bộ luật này”

* Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Tóm tắt Quyết định 377/2008/DS-GĐT Ngày 23-12-2008

Năm 1964, ông Lưu kết hôn với bà Thẩm có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhândân xã và có con chung là chị Hương Năm 1994, ông Lưu nhận chuyểnnhượng đất để cất nhà ở Năm 1996, ông Lưu làm thủ tục đăng ký kết hôn với

bà Xê Năm 2003, ông Lưu chết có để lại di chúc cho bà Xê được hưởng toàn

bộ tài sản Chị Hương cho rằng đây là tài sản của ông Lưu, bà Xê lấy ông Lưu

là bất hợp pháp nên không đồng ý theo yêu cầu của bà Xê Bà Thẩm cho rằngnhà và đất là tài sản chung của vợ chồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu của

bà Xê và đề nghị được hưởng thừa kế tài sản của ông Lưu cùng với chị Hương.Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều chấp nhận yêu cầu của bà Xê

và bác yêu cầu của chị Hương và bà Thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối caonhận định căn nhà được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩmnhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác và căn nhàđược tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông, bà Thẩm không có đóng góp vềkinh tế cũng như công sức nên căn nhà là tài sản riêng của ông Lưu Đồng thời,

Trang 9

Tòa án cũng nhận định bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nộidung di chúc đối với di sản của ông Lưu và cho bà quyền yêu cầu được bù đắpcông sức nuôi con chung Do đó, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao quyếtđịnh hủy Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm.

Tóm tắt Bản án số 2493/2009/DS-ST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân

để lại di sản là căn nhà số 83 Lương Định Của, phường An Khánh quận 2 Mặc

dù theo di chúc cụ Khánh thì toàn bộ căn nhà giao cho ông Nhật Nhưng vì tạithời điểm mở thừa kế, bà Khót đã 71 tuổi, già yếu không còn khả năng laođộng Ông Tâm đã 68 tuổi, là thương binh hạng 2/4, không có khả năng laođộng Hai người yêu cầu được hưởng thừa kế của cụ Khánh về thừa kế khôngphụ thuộc vào nội dung di chúc Từ trước đến nay ông Tâm, bà Khót có đờisống kinh tế độc lập không phụ thuộc vào bà Khánh Bà Khót có gia đình, cótài sản riêng, bản thân bà hàng tháng còn được hưởng chế độ chính sách củaNhà nước theo diện người có công với cách mạng khoảng 400 000 đồng; cònông Tâm tuy là thương binh 2/4 theo gia đình thì ông bị suy giảm khả năng laođộng là 62% nhưng ông cũng đã được cho hưởng chính sách đãi ngộ của Nhànước hàng tháng ông lãnh hơn 2.000.000 đồng Mặc dù tại thời điểm cụ Khánhchết, ông Tâm đã 68 tuổi và bà Khót 71 tuổi nhưng độ tuổi lao động chỉ là cơ

sở để xác định người hết tuổi lao động được hưởng các chế độ đãi ngộ chứkhông phải là căn cứ để xác định một người không còn khả năng lao động,pháp luật không đặt ra giới hạn độ tuổi tối đa được tham gia các quan hệ laođộng mà việc tham gia quan hệ lao động phụ thuộc vào thể lực, trí lực và tinhthần của từng người Vì thế nên Toà án quyết định ông Tâm và bà Khót khôngđược hưởng thừa kế của bà Khánh về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung dichúc

Câu 1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê?

- Phần phán xét của Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tốicao cho thấy ông lưu đã định đoạt di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà

Xê: “Việc ông Lưu lập văn bản đề là Di chúc ngày 27/07/2002 là thể hiện ý chí của ông Lưu để lại tài sản của ông cho bà Xê là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.”

Câu 2: Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao?

- Cơ sở pháp lý: Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015

“Điều 644: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Trang 10

1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”

- Đối với bà Xê

+ Theo phần xét thấy của Hội đồng giám đốc thẩm Tòa Dân sự Tòa án nhândân tối cao thì quan hệ hôn nhân giữa Lưu và bà Xê là vi phạm pháp luật.+ Theo Quyết định số 02/HĐTP-TANDTC ngày 19/10/1990 có quy định:

“Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13/01/1960 - ngày công

bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25/03/1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn không bị hủy bỏ bằng văn bản có hiệu lực pháp luật) thì tất cả các người đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại người chồng là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của tất cả các người vợ.”

Mà thực tế việc đăng ký kết hôn giữa ông Lưu và bà Xê diễn ra vào ngày21/10/1996 Nên việc kết hôn giữa hai ông bà không phù hợp với quy định củapháp luật Bà Xê không là vợ hợp pháp của ông Lưu, không thuộc diện đượchưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản củaông Lưu

- Đối với bà Thẩm

+ Theo phần xét thấy của Hội đồng giám đốc thẩm Tòa Dân sự Tòa án nhândân tối cao thì quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm là quan hệ hônnhân hợp pháp và vẫn đang tồn tại theo quy định của pháp luật Bà Thẩm là vợhợp pháp của ông Lưu, theo quy định trên, bà Thẩm là người thuộc diện đượchưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản củaông Lưu

- Đối với chị Hương

+ Chị Hương sinh năm 1965, ông Lưu chết năm 2003 Tại thời điểm ông Lưuchết, chị Hương 38 tuổi nên không thuộc trường hợp con chưa thành niên cũngkhông thuộc trường hợp người thành niên mà không có khả năng lao động Nênchị Hương không phải là người thuộc diện được hưởng thừa kế không phụthuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu Như vậy, chỉ có bàThẩm là người thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dungcủa di chúc đối với di sản của ông Lưu

Như vậy chỉ có bà Thẩm thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vàonội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu

Câu 3: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời ?

- Theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Thẩm được hưởng thừa kế của ông Lưu vì:

Trang 11

+ Bà là vợ hợp pháp của ông Lưu, nay bà đã già yếu không còn khả năng laođộng.

+ Bà là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của hai ông bà khi ôngLưu vào miền Nam công tác

- Đoạn của Quyết định theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao bà Thẩm đượchưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc đối với di sản của ông

Lưu: “Tuy nhiên, do bà Thẩm đang là vợ hợp pháp của ông Lưu đã già yếu, không còn khả năng lao động, theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự thì

bà Thẩm được thừa kế tài sản của ông Lưu mà không phụ thuộc vào nội dung

di chúc của ông Lưu Mặt khác, trong suốt thời gian từ khi ông Lưu vào miền Nam công tác, bà Thẩm là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ khi còn nhỏ cho đến khi trưởng thành Khi giải quyết cần xem xét để công sức nuôi con chung của bà Thẩm và trích từ giá trị khối tài sản của ông Lưu để bù đắp công sức nuôi con cho bà Thẩm (nếu bà Thẩm có yêu cầu).”

Câu 4: Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao?

- Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì vẫn được hưởng thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu

- Cơ sở pháp lý: Điều 644 BLDS năm 2015

“Điều 644 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng

di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

- Bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu, thuộc đối tượng được hưởng thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc tại Điểm a, Khoản 1 của điều luậtnêu trên nên được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc đối với

di sản của ông Lưu mặc cho dù bà khỏe mạnh và có khả năng lao động

Câu 5: Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà Thẩm sẽ được hưởng khoản tiền là bao nhiêu?Vì sao?

- Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà Thẩm sẽ được hưởngkhoản tiền là 200 triệu đồng

- Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định :

“Điều 644: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

Ngày đăng: 24/05/2021, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w