Trên bình diện quốc tế, khủng hoảng tài chính toàn cầu qua đi đang để lại những hệ lụy nguy hiểm cho thị trường tiền tệ: Vai trò của các đồng tiền lớn không còn như trước và biến động [r]
Trang 1A Lời Mở Đầu
Gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ Trong
sự phát triển của nền kinh tế của các nước trên thế giới, vấn đề tiền tệ là vấn đềrất được xã hội quan tâm do tiền tệ ra đời làm cho việc trao đổi hàng hóa, dịch
vụ được dễ dàng, thuận tiện hơn
Tiền tệ được phát triển qua các giai đoạn khác nhau, sự thay thế nhau của cácloại tiền trong từng thời kỳ Ở Việt Nam cũng vậy, sự thay đổi của tiền tệ, thayđổi hình thái tiền tệ ( kim loại, giấy, polime, thẻ…), lịch sử tiền tệ cũng chịu ảnhhưởng của lịch sử xã hội Sự thay đổi đi lên của tiền tệ điều đó cũng là một phần
để đánh giá dự phát triển kinh tế của một đất nước
Chính sự phát triển và vai trò quan trọng của tiền tệ mà chúng em lựa chọn
đề tài “Trình bày lịch sử phát triển của tiền tệ và những liên hệ đến chế độ tiền tệ Việt Nam” Tìm hiểu đề tài này không chỉ cho chúng em biết thêm
những kiến thức về lịch sử xuất hiện của tiền tệ mà còn hiểu biết sâu sắc hơnnhững thực tế xoay quanh chế độ tiền tệ, những ảnh hưởng của tiền tệ với nềnkinh tế của đất nước Việt Nam
Bố cục đề tài gồm ba chương:
Chương I: Lý luận chung về lịch sử phát triển của tiền tệ
Chương II: Thực trạng về sự phát triển của tiền tệ ở Việt Nam qua từng thời kỳ Chương III: Những giải pháp để phát triển chế độ tiền tệ hiện nay
Trang 2
M
ỤC LỤC
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ
I. Khái niệm và nguyên nhân ra đời của tiền tệ
1 Khái niệm
- Khái niệm về tiền tệ
- Nguồn gốc lịch sử của tiền tệ
- Chế độ tiền tệ
2 Quan điểm về chính sách tiền tệ
3 Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành của tiền tệ
II. Vai trò và đặc điểm của tiền tệ
1 Vai trò của tiền tệ
2 Đặc điểm của tiền tệ
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ Ở VIỆTNAM QUA TỪNG THỜI KỲ
I So sánh giữa chế độ tiền tệ thế giới và chế độ tiền tệ Việt Nam
1 Các chế độ tiền tệ của thế giới
2 Các chế độ tiền tệ Việt Nam qua các thời kỳ
Trang 3II Thực trạng phát triển của tiền tệ.
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I Những vấn đề tiêu cực, những bất cập về chế độ tiền tệ ở nước ta hiện
nay
II Những giải pháp cần thực hiện cho chế độ tiền tệ ở nước ta hiện nay KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH SÁCH NHÓM WER ARE ONE
Họ và tên Mã số sinh viên
Nguyễn Thị Liên 10011836
Phạm Thị Mỹ Dung 10008516
Lê Thị Thảo Vy 10007576
Vũ Thị Hà 10007626
Phan Thị Bích Quỳnh 10007356
Lê Thị Ngọc Trâm 10008546
Trang 4Võ Thị Nhi 10009776
Phan Thị Thủy 10012766
Hoàng Thị Ngọc Thúy 10007236
Nguyễn Hồng Vân 10007686
Nguyễn Diệu Anh Tú 10007196
Trang 5CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ.
I Khái niệm và nguyên nhân ra đời của tiền tệ
1 Khái niệm.
- Khái niệm tiền tệ:
Theo Mác, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa
Theo các nhà kinh tế hiện đại:Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhậnchung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ
- Nguồn gốc và lịch sử của tiền tệ
Ngày nay, chúng ta sử dụng cả tiền xu và tiền giấy, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng vậy Trước khi những đồng tiền kim loại và tiền giấy có mặt, con người
đã sử dụng nhiều thứ khác thường để mua thứ họ cần, Chẳng hạn, ở một nơi nọ trênthế giới, người ta sử dụng răng cá mập như là tiền Ở nhiều nơi khác, tiền có thể là những chiếc lông chim sặc sỡ và những chiếc vỏ sò quý hiếm Có nơi người ta còn dùng cộng lông cứng trên đuôi voi để làm tiền Lông chim là loại tiền nhẹ nhất từ trước đến nay Chúng được sử dụng trên đảo Santa Cruz Đá là loại tiền nặng nhất
từ trước đền giờ Chúng được sử dụng trên đảo Yap ở Thái Bình Dương Có hòn nặng trên £500 (1£ = 0,4536 kg) Loại tiền nhỏ nhất từ trước đến nay được phát hiện ở Hy Lạp Tiền được làm bằng kim loại, nhưng có kích thước nhỏ hơn hạt táo.Không ai biết chính xác người ta bắt đầu sử dụng tiền dưới những hình thức đồng tiền kim loại từ khi nào Các nhà khảo cổ đã phát hiện những đồng tiền kim loại có
Trang 6từ năm 600 trước công nguyên, vì thế ta biết chúng đã được lưu hành trong suốt một thời gian dài Lúc đầu người ta sử dụng những kim loại quý như vàng và bạc
để chế tiền xu Họ in hình người hoặc (con) thú trên mỗi đồng tiền để xác định giá trị của nó Trong những năm 1200, người Trung Quốc đúc những đồng tiền bằng sắt Những đồng tiền này giá trị chẳng là bao, cho nên người dân phải sử dụng một
số lượng lớn khi mua hàng Do đó rất bất tiện khi phải mang một số lượng lớn những đồng tiền sắt nặng nề nên chính phủ đã cho in những giấy biên nhận Người
ta mang các biên nhận này đến ngân hàng để đổi ra tiền xu Đây là ví dụ đầu tiên ta
có được về việc phát hành và sử dụng tiền giấy Ngày nay, hầu hết các nước đều sử dụng cả tiền xu lẫn tiền giấy Ở Mỹ, các loại tiền giấy đều có cùng kích cỡ và màu sắc như nhau Chẳng hạn, tờ một đô la có cùng kích cỡ và màu sắc y như tờ một trăm đô la Ở nhiều quốc gia khác, tiền giấy được in dưới nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau Tờ có kích thước nhỏ hơn thì có giá trị thấp hơn Việc này tạo điều kiện cho chúng ta chỉ cần nhìn thoáng qua là có thể xác định được giá trị của chúng Tất
cả những sự kiện này khiến lịch sử tiền tệ trở thành một công cuộc nghiên cứu lý thú
Tối ưu hóa thương mại:
Người ta tin rằng đầu tiên hàng hóa và các dịch vụ được trao đổi trực tiếp với nhau
(thương mại trao đổi) Vì điều này không thực dụng nên hàng hóa và dịch vụ được
trao đổi với các loại hàng hóa khác mà có thể được tiếp tục trao đổi một cách dễ dàng Loại hàng hóa là tiền này là những vật có giá trị đẹp hay hữu ích như bò, lạc
đà, lông súc vật, dao, xẻng, vòng trang sức, đá quý, muối và nhiều loại khác Khi người ta khám phá ra rằng một số vật không còn được sử dụng nữa mà chỉ được tiếp tục trao đổi thì các bản sao chép nhỏ hơn và ít có giá trị hơn của các vật này được sử dụng làm phương tiện thanh toán Thuộc về các loại hàng hóa trở thành tiền là các vỏ sò cho đến khi người Trung Quốc tiến quân vào năm 1950 (chữ "bối"
貝 trong "bảo bối" 寶貝 chỉ đến con sò)
Trang 7Đó là các hình thức thanh toán đầu tiên trước khi có tiền (Tiền trong tiếng La tinh
là pecunia bắt nguồn từ pecus có nghĩa là con bò vì đồng tiền kim loại đầu tiên của
La Mã tượng trưng cho giá trị của một con bò.) Khả năng có thể đếm được, dễ bảo toàn, dễ vận chuyển đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn vật liệu cũng như khả năng có thể giữ được giá trị Các thỏi hay sợi dây bằng đồng thiếc hay bạc đáp ứng được các yêu cầu này vì có giá trị bền vững và có thể bảo toàn dễ dàng
Các đồng tiền kim loại đầu tiên được người Lydia ở phía Tây của Thổ Nhĩ Kỳ ngàynay đúc từ vàng, trong thời gian giữa 640 và 600 TCN, có nhiều kích thước và giá trị khác nhau và được dùng như là một phương tiện thanh toán để đơn giản hóa việctrả lương cho những người lính đánh thuê Một lượng nhất định của các hạt bụi vàng được nấu chảy thành đồng tiền và sau đó hình của nhà vua được dập nổi lên trên Nhà vua người Lydia cuối cùng, Croesus, vì thế mà mang danh là giàu có vô hạn Các đồng tiền kim loại này đã làm cho việc thương mại dễ dàng đi rất nhiều vìchúng có ưu điểm là bao giờ cũng có kích thước, trọng lượng và hình dáng không thay đổi và thay vì là phải cân thì có thể đếm được
Các chỉ trích và phê phán về thuyết cho rằng tiền hình thành từ thương mại trao đổi
xuất phát từ những người đại diện cho Chủ nghĩa Nợ (tiếng Anh: Debitism), đặc
biệt là Paul C Martin Lý luận được đưa ra là sử dụng một vật trao đổi thứ ba trướctiên là sẽ làm cho việc trao đổi phức tạp thêm Từ một giao dịch biến thành hai giaodịch Điều quyết định chính là chức năng của tiền, dùng để nối tiếp thời gian giữa nhu cầu cần dùng hàng hóa A và sự sản xuất hàng hóa B Vì thế mà tiền ngay từ đầu không phải là hàng hóa và cũng không phải là một vật trao đổi mà là dấu hiệu cho một mối quan hệ nợ
Tiền kim loại:
Trang 8Mãi cho đến trong thế kỷ 18 giá trị của các loại tiền tệ của châu Âu được định nghĩa thông qua lượng kim loại quý Bên cạnh việc theo dõi sản xuất trong nước, các xưởng đúc tiền quốc gia còn theo dõi cả việc đúc tiền của nước ngoài Một tiền
tệ được đánh giá quá cao hay quá thấp khi đồng tiền được tính trên hay dưới giá trị của kim loại trong lúc tính toán với các tiền tệ khác trên thế giới
Việc cố tình mài mòn đồng tiền để lấy bớt đi kim loại đã tạo nên nhiều vấn đề rất lớn trong việc sử dụng tiền kim loại Việc giá trị của các kim loại quý biến động khi so sánh với nhau còn mang lại nhiều vấn đề lớn hơn Giá trị của các loại tiền tệ khác nhau, bao gồm các đồng tiền bằng vàng, bạc và đồng, không thể giữ ổn định khi so sánh với nhau được Bạc được mang ra khỏi Tây Ban Nha và Anh vì các thương gia người Tây Ban Nha và người Anh đánh giá các đồng tiền vàng cao hơn một ít so với các đối tác thương mại quốc tế của họ, tạo thành một vấn đề lan rộng khắp trong thương mại quốc tế: Ở châu Á người ta lại không thấy có lý do gì để đánh giá vàng cao hơn như ở châu Âu Vì thế mà bạc được mang đến châu Á để đổilấy vàng Giải pháp cho vấn đề này trong đầu thế kỷ 18 tại Anh là loại tiền tệ về
nguyên tắc dựa trên vàng, Ngân hàng Quốc gia Anh (Bank of England) bảo đảm sẽ
trả cho người sở hữu đồng tiền Anh quốc giá trị tương ứng với giá trị của vàng trên
thị trường tại mọi thời điểm (Xem: Kim bản vị) Các vấn đề của cuộc cải cách này
có thể nhìn thấy ngay trước mắt: Làm sao có thể bảo đảm là ngân hàng không phát hành tiền nhiều hơn là số lượng tiền được bảo chứng bằng vàng của ngân hàng? Trong thập niên 1730 đã có một cuộc khủng hoảng tín nhiệm và Ngân hàng Quốc gia Anh chỉ được cứu thoát khi giới đại thương nghiệp của Luân Đôn sẵn sàng gánh vác lấy sự bảo đảm này Về mặt khác các thủ đoạn gian lận trong tiền kim loại
và biến động giá trị giữa các loại tiền kim loại trong nước không còn nữa
Mãi cho đến trong thế kỷ XIX một số tiền tệ thí dụ như Đô la Mỹ vẫn được bảo chứng bằng vàng và cho đến ngày hôm nay việc hủy bỏ bảo chứng vàng cũng không phải là một điều tất nhiên
Trang 9III Chế độ tiền tệ.
Quan hệ mậu dịch giữa các nước dẫn đến hình thành các chế độ tiền tệ quốc tế Đó
là 1 tập hợp những quy định thống nhất giữa các nước trong việc tổ chức và điềuhành thống nhất các quan hệ tiền tệ- tín dụng phát sinh giữa các nước nhằm thiếtlập một trật tự cho các quan hệ kinh tế- mậu dịch
Lịch sử các chế độ tiền tệ quốc tế điển hình:
Chế độ tiền tệ quốc tế Pari 1867
Chế độ tiền tệ Genova 1922
Chế độ tiền tệ Bretton Woods 1944
Chế độ tiền tệ Jamaica 1977
Chế độ tiền tệ Europe 1979
+ Chế độ tiền tệ quốc tế Pari năm 1867
Song song với việc thực thi chế độ tiền vàng ở các nước, trên phạm vi quốc tế, một chế độ tiền tệ dựa trên tiêu chuẩn vàng đã được thiết lập Đó là chế độ tiền tệ quốc
tế Pari
Chế độ tiền tệ quốc tế này được xác lập vào năm 1867 tại Pari sau cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra trên thế giới Những nội dung chủ yếu của chế độ tiền tệ này là:
- Thừa nhận vàng là tiền tệ thế giới, được chu chuyển và trao đổi tự do giữa các quốc gia
- Vàng là căn cứ để xác lập tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia của các nước
- Vàng thực hiện mọi chức năng của tiền tệ Chế độ tiền tệ quốc tế Pari, về cơ bản
là có sự đồng nhất
Trang 10+ Chế độ tiền tệ Genova (Italia)
- Bối cảnh ra đời của chế độ tiền tệ Giê-nơ: Sau Thế chiến lần thứ I, việc khôi phục
lại nền kinh tế ở các nước châu Âu trở nên cấp thiết Nhu cầu thiết lập một trật tự mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng, tiền tệ quốc tế nhằm nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế bị tổn thất trong chiến tranh trở nên vô cùng cấp thiết đối với các quốc gia ở châu Âu Thực tế này đòi hỏi phải có những thoả thuận thống nhất giữa các nước để thiết lập một trật tự mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng và tiền tệ quốc tế
- Nội dung của chế độ tiền tệ Giê-nơ:
Chế độ tiền tệ Giê-nơ hình thành là kết quả của những thoả thuận giữa các nước tham gia Hội nghị tiền tệ-tài chính quốc tế tổ chức chức tại thành phố Giê-nơ
(Italia) vào năm 1922 Qua hội nghị nhằm tổ chức lại các quan hệ tiền tệ-tài chính quốc tế, thúc đẩy các quan hệ mậu dịch và các quan hệ kinh tế quốc tế khác giữa các nước thành viên vào thời kỳ hậu chiến Trong chế độ này các nước đã thoả thuận những nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, các nước chính thức thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của đồng BảngAnh (GBP) trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tín dụng quốc tế Họ thừa nhậnđồng Bảng Anh là phương tiện thanh toán và phương tiện dự trữ quốc tế, đánh giá
nó ngang với vàng, coi đồng Bảng Anh là đồng tiền chủ chốt Vì vậy, thực chất củachế độ tiền tệ này là chế độ bản vị Bảng Anh, một đồng tiền quốc gia do Ngân hàngAnh phát hành
Hai là, việc sử dụng đồng Bảng Anh trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ kinh tế quốc tế khác không hạn chế Các nước muốn có Bảng Anh thì phải chuyển vàng đổi lấy Bảng Anh của nước Anh
Trang 11Chế độ tiền tệ Giê-nơ tạo nên nhiều lợi thế cho nước Anh trong lĩnh vực mẫu dịch, dịch vụ, thanh toán và tín dụng quốc tế Điều đó đã làm cho Chính phủ Anh
“lạm dụng” quyền phát hành đồng Bảng Anh, để rồi đẩy đồng tiền ây lâm vào tình trạng khủng hoảng liên tục, làm cho uy tín của nó trên trường quốc tế ngày càng giảm sút nghiêm trọng Đánh dấu sự kiện này chính là việc nước Anh đã tuyên bố chính thức phá giá đồng tiền nước mình với mức 33% so với đồng đô la Mỹ vào ngày 21-09-1931 Việc phá giá đồng Bảng Anh – xương sống của chế độ tiền tệ Giê-nơ cũng là sự “khai tử” đối với chế độ tiền tệ quốc tế này
+ Chế độ tiền tệ Bretton-woods
- Bối cảnh ra đời của chế độ tiền tệ Bretton-woods: Sự sụp đổ của chế độ tiền tệ
Giê-nơ làm cho các quan hệ tiền tệ-tài chính quốc tế trở nên rối ren đã dẫn đến sự hình thành các liên minh tiền tệ do một số nước tư bản đầu sỏ cầm đầu Đó là các khu vực tiền tệ như khu vực đồng Phơ-răng Pháp, khu vực đồng đô la Mỹ, khu vực đồng Bảng Anh
Khu vực đồng đô la do Mỹ cầm đầu tồn tại bên cạnh các “đối thủ không hơn kém”
là khu vực đồng Bảng Anh và khu vực đồng Phơ-răng Pháp Nhưng sau Đại chiến thế giới lần thứ II, Mỹ trở thành một cường quốc mạnh nhất thế giới về ngoại thương, về tín dụng quốc tế và là nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới (chiếm khoảng ¾ tổng dự trữ vàng của toàn bộ thế giới tư bản) Đây chính là những yếu tố tạo nên thế mạnh cho đồng đô la Mỹ trên trường quốc tế, đưa đồng tiền này “lên ngôi” đồng tiền chủ chốt của thế giới
Tháng 7 năm 1944, lợi dụng địa vị kinh tế và tài chính của mình trên trường quốc
tế, Hoa Kỳ đã đứng ra triệu tập Hội nghị tiền tệ - tài chính quốc tế tại thành phố
Trang 12Bretton-woods với sự tham gia của 44 nước Hội nghị đã ký kết một Hiệp định quốc tế bao gồm những thoả thuận của các nước về việc thiết lập các quan hệ tiền
tệ - tài chính quốc tế mới cho thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần II Được gọi là chế độ tiền tệ Bretton-woods
- Nội dung chủ yếu của chế độ tiền tệ Bretton-woods:
Một là, chế độ tiền tệ Bretton-woods đã thừa nhận USD là đồng tiền chuẩn, làmtrụ cột cho chế độ tiền tệ này Nó được coi là phương tiện dự trữ và thanh toánquốc tế, đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tính dụngquốc tế
Hai là, việc sử dụng USD trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan
hệ đối ngoại khác không hạn chế, các đồng tiền của các nước khác phải liên hệ chặtchẽ với USD theo chế độ tỷ giá cố định Theo chế độ tỷ giá này thì các nước thành viên phải chấp hành những quy định sau đây:
+ Phải xác định và công bố cho IMF tiêu chuẩn giá cả (nội dung vàng) của đồng tiền nước mình
+Không được tự ý tăng, giảm nội dung vàng của đồng tiền nước mình vượtquá mức ±10% nếu không được IMF đồng ý
+ Ngân hàng trung ương của các nước thành viên của IMF phải can thiệp vào thị trường để giữ cho tỷ giá hối đoái thị trường không biến động vượt ra ngoài biên độ ±1% so với đồng giá vàng
Ba là, các nghiệp vụ về vàng được thực hiện theo 1 giá chính thức là 35 USD = 1ounce vàng (1 ounce vàng = 31,1035 gram vàng nguyên chất) Đô la Mỹ được tự
do chuyển đổi ra vàng theo giá đó Vì vậy, để duy trì tỷ giá cố định của USD vớiđồng tiền các nước, ngân hàng trung ương của các nước thành viên cũng phải canthiệp vào thị trường vàng để giữ giá vàng chính thức luôn luôn ở mức 35 USD = 1
Trang 13ounce vàng Nếu giá vàng này biến động thì cũng có nghĩa là chế độ tỷ giá cố địnhcũng bị vô hiệu hoá.
Bốn là, các nước phải thực hiện ngay các biện pháp thiết thực để loại trừ chế độkiểm soát và quản chế ngoại hối, đồng thời thiết lập chế độ tiền tệ tự do chuyển đổi,nhằm tạo những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các quan hệ thương mại vàcác quan hệ đối ngoại khác giữa các nước với nhau
Năm là, thiết lập một tổ chức tiền tệ quốc tế nhằm điều chỉnh các quan hệ tiền tệ tài chính quốc tế theo những nguyên tắc của chế độ tiền tệ Bretton-woods
Chế độ tiền tệ Bretton-woods đã lấy USD làm chuẩn Thực chất, các nước đã cố định tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước mình theo đồng đô la Tuy các nước vẫn phải xác định nội dung vàng của đồng tiền nước mình, nhưng chỉ là hình thức Đồng tiền các nước không tự do chuyển đổi ra vàng, muốn có vàng thì các đồng tiền đó trước hết phải chuyển thành USD, tức là các nước sẽ phải có USD, từ USD
sẽ chuyển được thành vàng theo tỷ giá chính thức (giá vàng chính thức) 35 USD =
1 ounce vàng Vì lẽ đó, chế độ tiền tệ Bretton-woods được gọi là bản vị vàng-hối đoái dựa trên USD, còn gọi là chế độ bản vị đô la
Chế độ bản vị đô la đã làm cho sự liên hệ giữa đồng tiền các nước với vàng lại một bước nữa bị nới lỏng Chế độ tiền tệ này đã hợp pháp hoá, biến đồng tiền quốc của Mỹ thành đồng tiền quốc tế Chính vì thế đã khuyến khích Hoa Kỳ lạm phát đô
la Tình trạng này đã kéo theo sự lạm phát quốc tế, trước hết là ở những nước thànhviên của chế độ tiền tệ này
Lạm phát ở trong nước và quốc tế làm cho uy tín của USD trên trường quốc tế giảm dần Nhưng vấn đề quan trọng là ở chỗ, các nước “đồng minh” của Hoa Kỳ
đã không chấp hành chế độ tỷ giá cố định, không can thiệp vào thị trường tiền tệ để
Trang 14giữ giá USD như đã cam kết, mà thả nổi tỷ giá trên thị trường Đô la Mỹ càng bị mất giá, thì các nước càng tìm mọi cách chuyển nó ra vàng với số lượng ngày càng tăng Để đối phó với tình trạng này, ngày 15-8-1971 Mỹ đã phải tuyên bố ngừng chuyển đổi USD ra vàng theo tỷ giá chính thức Sau đó, ngày 18-12-1973, USD lại một lần nữa bị phá giá với mức 10%.
Qua hai lần phá giá USD (17,89%) đã chứng tỏ rằng, những nội dung cơ bản của chế độ tiền tệ Bretton-woods gần như bị phá vỡ hoàn toàn USD lại trở về vị trí đồng tiền quốc gia Nhưng do tiềm lực kinh tế của Mỹ rất lớn, cho nên USD vẫn còn là một đồng tiền mạnh, đồng thời nó vẫn chiếm 1 tỷ trọng đáng kể trong quỹ
dự trữ ngoại hối quốc gia của các nước
+ Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca:
Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca ra đời trên cơ sở Hiệp định được ký kết giữa các nước thành viên IMF tại Gia-mai-ca vào những năm 1976-1978 Chế độ tiền tệ này vận hành theo những nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Thừa nhận SDR là cơ sở của chế độ tiền của các nước SDR trở thành một đơn vị tiền tệ tính toán quốc tế mới Giá trị của nó được xác định theo phương pháp
rổ tiền tệ, lúc đầu rổ tiền tệ gồm 16 đồng tiền mạnh nhất của thế giới Hiện nay, tham gia “rổ tiền tệ” là 5 đồng tiền mạnh của những quốc gia có tiềm lực về kinh
tế, tài chính Như vậy, chế độ tiền tệ Gia-mai-ca thực chất là chế độ bản vị SDR
- Các nước thành viên được tự do lựa chọn thi hành chế độ tỷ giá hối đoái
mà không cần đến sự can thiệp của IMF
- Thực hiện phi tiền tệ hoá vai trò của vàng Không thừa nhận vàng trong chức năng là thước đo giá trị và là cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái của các đồng tiền quốc gia các nước
Trang 15Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca đến nay vẫn chưa đi đến cùng của sự hoàn thiện Một số nguyên tắc của chế độ tiền tệ ấy vẫn chưa được chấp hành triệt để, chưa trở thành hiện thực.
+ Chế độ tiền tệ châu Âu
Chế độ tiền tệ châu Âu là một chế độ tiền tệ quốc tế khu vực Chế độ tiền tệ nàytrong bối cảnh mâu thuẫn giữa ba trung tâm thế lực quốc tế trong lĩnh vực thươngmại, tiền tệ, tài chính ngày càng trở nên gay gắt Nó được xây dựng trên cơ sở Hiệpđịnh tiền tệ do các nước trên lục địa châu Âu ký kết vào tháng 3-1979
Nội dung cơ bản của chế độ tiền tệ này như sau:
- Chế độ tiền tệ châu Âu không dựa trên SDR mà dựa vào ECU - một đơn vị tiền tệ quốc tế khu vực của các nước châu Âu Giá trị của ECU được đảm bảo bằng dự trữ vàng và ngoại hối của các nước thành viên
Khác với chế độ tiền tệ Gia-mai-ca, chế độ tiền tệ châu Âu không dựa trên SDR mà dựa vào ECU
- một đơn vị tiền tệ quốc tế khu vực của các nước thuộc khối EU Đồng ECU có các chức năng tương tự như SDR, là hình thái tiền “bút tệ” Giá trị của ECU được tính theo phương pháp “rổ tiền tệ”, nghĩa là giá trị của nó được dựa trên sức mua “tổng hợp” của các đồng tiền tham gia “rổ tiền tệ” Khi “giá trị” của các đồng tiền tham gia “rổ tiền tệ” thay đổi, thì giá trị của toàn rổ cũng thay đổi và do đó, giá trị của ECU cũng được được xác định lại Hiện nay đồng tiền chung châu
Âu có tên gọi mới là EURO
1 Quan điểm về chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất màNhà nước giao cho Ngân hàng Trung ương thực hiện Ở mỗi quốc gia khác nhau có đề cập tới chính sách tiền tệ với những quan điểm khác
Trang 16nhau Theo quan điểm của của Frederic S.Mishkin - trường Đại học
C o l u m b i a ( M ỹ ) – t h ì c h í n h s á c h t i ề n t ệ c h í n h l à v i ệ c m à C ụ c
d ự t r ữ l i ê n b a n g M ỹ (Federal Reserve System - FED) sử dụng đến
ba công cụ để điều tiết cungứng tiền tệ: nghiệp vụ thị trường tự do,
nghiệp vụ này ảnh hưởng đến cơ sốtiền tệ; thay đổi lãi suất chiết khấu, thay đổinày ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ,bằng cách này ảnh hưởng đến lượng vay chiết khấu; và thay đổi DTBB, thayđổi này ảnh hưởng đến số nhân tiền tệ.Quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) về chính sách tienf tệ như sau: công cụ chính là lãi suất ngắn hạn để thực hiện mục tiêu chính của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả khu vực Châu Âu trong thời kì trung hạn.Theo quan điểm của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc: mục tiêu của là chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền và theo cách đó đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế.Còn ở Việt Nam, theo điều 2, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003, số 06/1997/QHX, qui định: chính sách tiền tệ quốc gia là mộtbộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân
Nhà nước thống nhất quản lý mọi hoạt động ngân hàng; có chínhsách để động viên các nguồn lực trong nước là chính, tranh thủ tối
đa nguồn lực ngoài nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của cácthành phần kinh tế; bảo đảm vai trò chủ đạo và chủ lực của các tổchức tín dụng nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngânhàng; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia, mở rộng hợp tác
và hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tuy có rất nhiều quan điểm khác nhau về chính sách tiền tệ nhưng
về cơ bản thìchính sá ch tiền tệ là chính sá ch kinh tế vĩ mô mà
Trang 17Ngân hàng Trung ương thực hiện nhằ m tác động v àocung cầu tiền tệ, đảm bảo mục tiêu ổn định hay tăng trưởng kinh tế.Có thể nói sử dụng chính sách tiền tệ sao cho hiệu quả là một vấn đề hiện đang được tranh cãi rất nhiều vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế Tuy điều hành chính sách tiền tệ giữa các thời kỳ, các giai đoạn phát triển kinh tếở mỗi nước rất khác nhau song việc xây dựng và thực thi chính sách tiền
tệ của các Ngân hàng Trung ương đều hướng đến mục tiêu tăng trưởng hay ổn định nền kinh tế
2 Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành của tiền tệ
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển, sản xuất hàng
hóa và thị trường ngày càng mở rộng thì tình trạng có nhiều vật ngang giá chunglàm cho trao dổi giữa các điạ phương vấp phải khó khăn, do đó đòi hỏi khách quanphải hình thành vật ngang giá chung thống nhất Khi vật ngang giá chung được cốđịnh ở một vật độc tôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị Lúcđầu có nhiều kim loại đóng vai trò tiền tệ, nhưng về sau được cố định lại ở kim loạiquý: Vàng, bạc và cuối cùng là bạc Sở dĩ bạc va vàng đóng vai trò tiền tệ là donhững ưu điểm của nó như thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng, với mộtlượng và thể tích nhỏ nhưng chứa đựng một giá trị lớn Tiền tệ xuất hiện là kết quảphát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi tiền tệ ra đời thì thế giớihàng hóa dược phân chia thành hai cực: Một bên là hàng hóa thông thường, mộtbên là hàng hóa (vàng) đóng vai trò tiền tệ
IV Vai trò và đặc điểm của tiền tệ.
1 Vai trò của tiền tệ.
Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:
Trang 18-Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền
kinh tế hàng hóa C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta khổng thể tiến hàng sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó
Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách trôi chảy Mặt khác, khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh giúp cho người sản xuất có thể hạch toán được chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện được tích lũy tiền tệ để thực hiện tái sản xuất kinh doanh
Tiền tệ trở thành công cụ duy nhất và không thể thiêu để thực hiện yêu cầu quy luậtgiá trị Vì vậy, nó là công cụ không thể thiếu được để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa
-Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát huyvai trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các quan
hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước
-Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng chúng.
Trang 19Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan hệkinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ Trong điều kiênh tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng xử l và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền
tệ Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó
2 Đặc điểm tiền tệ
Đã có nhiều bài viết về sự phù hợp của phân tích kỹ thuật đối với giao dịch trongcác thị trường tiền tệ Thực tế là, nó có thể khiến cho những người mới tham gia thịtrường tiền tệ một ấn tượng là các công cụ kỹ thuật áp dụng cho các thị trường tiền
tệ là như nhau Đó có thể coi là quan điểm nguy hiểm nhất trong quan điểm về tìmkiếm lợi nhuận, nó có thể khiến nhà đầu tư tìm kiếm một “viên đạn bịt bạc”: mộtcông cụ hoặc nghiên cứu kỹ thuật có thể phù hợp với tất cả các cặp tiền tệ, mọi thờiđiểm Tuy nhiên, bất kỳ ai giao dịch trên thị trường ngoại hối trong bất kỳ khoảngthời gian nào sẽ nhận ra rằng giao dịch các cặp tiền tệ chẳng hạn như dollar/Yen(USD/JPY) và dollar/Franc Thụy Sĩ (USD/CHF) được theo các cách khác nhau
Tại sao phương pháp phân tích kỹ thuật one-size-fits-all, một phương pháp áp dụngchung cho các cặp tiền tệ khác nhau được kỳ vọng là sẽ tạo ra kết quả giao dịch ổnđịnh? Thay vào đó, các nhà giao dịch đã đạt được những kết quả tốt hơn nếu họnhận ra sự khác biệt giữa các cặp tiền tệ chính và áp dụng các chiến lược kỹ thuậtkhác nhau cho các cặp tiền tệ đó Bài viết này sẽ phân tích sự khác biệt giữa cáccặp tiền tệ chính và khuyến nghị các phương pháp phù hợp nhất với xu hướng hành
vi của mỗi cặp tiền tệ
Trang 20Cặp tiền tệ chính.
Cho đến nay cặp tiền tệ được giao dịch nhiều nhất là euro/dollar (EUR/USD),chiếm 28% khối lượng giao dịch hàng ngày toàn cầu ở Ngân hàng Thanh toánQuốc tế theo kết quả điều tra hoạt động thị trường tiền tệ Cặp EUR/USD nhận lãisuất phát sinh từ các cặp tiền tệ Euro chéo (chẳng hạn Euro/Bảng Anh(EUR/GBP), EUR/CHF và EUR/JPY, và lãi suất có xu hướng ngược với chiều củađồng đô la cơ bản Ví dụ, khi đồng USD âm, đồng Euro sẽ có lượng mua cơ bảnxuất phát từ tổng lượng bán USD Tuy nhiên, cặp đồng tiền ít có tính thanh khoản(ví dụ EUR/USD), sẽ được bán thông qua các cặp tiền tệ Euro chéo có tính thanhkhoản, trong trường hợp này dẫn đến bán cặp EUR/CHF, chào bán đồng Euro ra thịtrường.Lãi suất hai chiều có xu hướng làm chậm lại biến động của đồng Euro sovới các cặp tiền tệ chính và khiến thị trường trở nên hấp dẫn với những nhà giaodịch ngắn hạn, những người có thể tận dụng “backing and filling” Mặt khác, khảnăng thanh khoản nghĩa là đồng EUR/USD có xu hướng trải qua các cuộc thửnghiệm kéo dài dường như không có kết thúc về các mức kỹ thuật, cho dù xuấtphát từ các phân tích đường xu hướng hay các tính toán sóng Fibonacci/Elliot Cácnhà giao dịch breakout cần biên độ lớn hơn 20-30 pip Một cách khác để xác định
sự phá vỡ của cặp EUR/USD là xem xét cặp tiền tệ ít có tính thanh khoản hơnUSD/CHF và GBP/USD Nếu các cặp này có điểm phá vỡ tương tự, chẳng hạn cácđiểm cao hàng ngày gần nhất, sau đó cặp EUR/USD sẽ biến động tương tự sau một
sự đi xuống Nếu đồng “Swissy” và “Cable” sẽ dừng ở các mức đó, sau đó đồngEUR/USD sẽ có xu hướng suy giảm
Cá nhân hóa các thiết lập của bạn
Theo các nghiên cứu kỹ thuật, độ sâu của cặp EUR/USD cho thấy xung lượng daođộng phù hợp để giao dịch đồng Euro, nhưng các nhà đầu tư nên cân nhắc điều
Trang 21chỉnh các giới hạn (tăng khoảng thời gian) để giải thích sự suy giảm tương đối, biếnđộng back-and-fill.
Theo nghĩa này, dựa trên các chỉ dẫn rất ngắn hạn (ít hơn 30 phút) các nhà giao dịch có thể nhận ra xu hướng tăng lên của các chuyển động “whipsaw”(whipsaw: là khoảng tiền mất đi khi đầu tư vào một thị trường biến động cao) Cácđường phân kỳ và hội tụ trung bình động MACD phù hợp với cặp tiền tệEUR/USD, đặc biệt bởi vì nó sử dụng đường trung bình cùng với đường trung bìnhđộng thứ ba, giảm đi các điểm giao nhau sai Các đường phân kỳ xung lượng ngắnhạn (theo giờ) thông thường xuất hiện ở cặp EUR/USD, nhưng chúng cần được xácnhận bởi các điểm phá vỡ của các mức giá xác định bằng các phân tích đường xuhướng để có một giao dịch có thể thực hiện được Khi một biến động lớn hơn xảy
ra, nhà giao dịch thường tìm hệ thống các chỉ dẫn biến động có định hướng có ích
để xác nhận liệu xu hướng có đúng vị trí hay không, trong trường hợp này các phântích xung lượng sẽ không được tính đến, và có thể lựa chọn để căn cứ các điểmgiao nhau DI +/DI xác định dấu hiệu điểm vào thị trường để giao dịch
Cặp tiền tệ thứ hai
Cặp tiền tệ được giao dịch rộng rãi tiếp theo là USD/JPY, chiếm 17% khối lượnggiao dịch hàng ngày toàn cầu theo cuộc điều tra năm 2004 về doanh thu thị trườngtiền tệ Cặp USD/JPY là cặp tiền tệ có tính nhạy cảm chính trị nhất, với việc chínhphủ Mỹ đã sử dụng tỷ giá hối đoái như một lực đòn bẩy trong đàm phán thươngmại với Nhật Bản Trong khi Trung Quốc đã thay thế Nhật Bản trở thành đối thủthương mại với Mỹ, cặp tiền tệ USD/JPY vẫn là cặp tiền tệ khu vực được giao dịchthay cho Trung Quốc và các cặp tiền tệ ít có tính thanh khoản và được giám sát
Trang 22chặt chẽ khác Theo đó, cặp USD/JPY được giao dịch trong các thời điểm xảy racác vấn đề chính trị hoặc thương mại của khu vực (chẳng hạn: nâng giá đồng nhândân tệ).
Với giao dịch theo ngày, đặc điểm quan trọng nhất của cặp USD/JPY là sự ảnhhưởng mạnh mẽ của các công ty đầu tư và các nhà quản lý tài sản Với nền văn hóa
có sự gắn kết chặt chẽ giữa những người hoạt động cùng ngành, bao gồm các vị trí
có phạm vi hoạt động rộng và chia sẻ thông tin chiến lược, các nhà quản lý tài sảnNhật Bản thường hành động theo một định hướng giống nhau với đồng yen trên thịtrường tiền tệ Một cách cụ thể, các nhà đầu tư thường thực hiện các lệnh ở cùngmột giá hoặc ở cùng một mức kỹ thuật, sau đó củng cố các mức đó như là các hỗtrợ hay kháng cự Một khi các mức này bị phá vỡ, một loạt các lệnh dừng lỗ theosau, sau đó sẽ tạo ra các điểm phá vỡ Khi cộng đồng đầu tư Nhật Bản cùng thựchiện hàng loạt một giao dịch nào đó, họ thường có xu hướng kéo thị trường tránh ra
xa trong một vài khoảng thời gian, trong khi đó điều chỉnh các lệnh đến một mứcgiá mới, chẳng hạn tăng lệnh hạn chế mua khi giá tăng
Một kỹ thuật thay thế khác thường được các nhà quản lý tài sản áp dụng là xếp xen
kẽ các lệnh để tận dụng các chiều nghịch đảo ngắn hạn của các xu hướng lớn hơn.Chẳng hạn, nếu USD/JPY là 115.000 và xu hướng cao hơn, các lệnh mua USD/JPY
sẽ bị thay thế bới các điểm giá độc quyền, chẳng hạn như 114.75, 114.50, 114.25
và 114.00, để tận dụng bất kỳ sự kéo lùi nào trong xu thế lớn hơn Điều này cũnggiúp giải thích tại sao cặp USD/JPY thường gặp các sự hỗ trợ hoặc kháng cự ở cácmức chẵn, mặc dù không có một tầm quan trọng kỹ thuật tương ứng
Xem xét các đường xu hướng
Xem xét khía cạnh kỹ thuật của cặp USD/JPY, những tranh luận trên đây cho thấyphân tích các đường xu hướng có lẽ là công cụ kỹ thuật quan trọng nhất để giaodịch cặp USD/JPY Do các lệnh của các nhà đầu tư Nhật Bản đặt quanh một mức
Trang 23giá hay một mức kỹ thuật, cặp USD/JPY có xu hướng ít gặp các điểm phá vỡ củacác đường xu hướng hơn Ví dụ, lãi suất bán ở phạm vi lớn tại một mức kháng cự
kỹ thuật sẽ cần được trung hòa nếu mức kỹ thuật bị phá vỡ Điều này thường xảy rachỉ khi biến động của thị trường là mở rộng, bất kỳ một điểm phá vỡ sẽ cần đượcbảo toàn Điều này khiến cặp USD/JPY hấp dẫn đối với các nhà giao dịch dựa trêncác điểm breakout, những người sẽ sử dụng các lệnh dừng lỗ trên các điểm phá vỡcủa các ngưỡng hỗ trợ và kháng cự
Các đường xu hướng ngắn hạn, theo giờ hay 15 phút, có thể sử dụng một cách hiệuquả nhưng các nhà giao dịch cần hoạt động trên cơ sở ngắn hạn tương tự; mứcđóng cửa hàng ngày đóng vai trò quan trọng đối với cặp USD/JPY Dựa trên phântích biểu đồ, những nhà quản lý tài sản Nhật Bản dựa chủ yếu vào các biểu đồ hìnhnến (phụ thuộc phần lớn vào mức đóng cửa hàng ngày), và các nhà giao dịch đượckhuyến nghị học cách nhận biết các mô hình biểu đồ hình nến, chẳng hạn mô hìnhdoji, người treo cổ, đỉnh nhíp, đáy nhíp và tương tự Xem biểu đồ 2 Khi các đường
xu hướng quan trọng đảo ngược hoặc dừng, giá đóng cửa, biểu đồ hình nến có thểđược xem là một chỉ dẫn đáng tin cậy
Những tranh luận về đồng yen trên đây cũng nhấn mạnh các nhân tố đứng sau xuhướng của cặp USD/JPY trên một khoảng thời gian trung bình (nhiều tuần) Khíacạnh cũng khuyến nghị các nhà đầu tư nên áp dụng các công cụ xu hướng như cácđường trung bình động (biểu đồ 21 và 55 ngày thường được áp dụng rộng rãi),DMI và Parabolic SAR Nên tránh các chỉ dẫn xung lượng như chỉ số RSI-Chỉ sốsức mạnh tương đối, MACD-Đường trung bình động phân kỳ hoặc stochastics, đặcbiệt là các giao dịch trong ngày, do bản chất của xu hướng và các tổ chức điềuchỉnh cặp USD/JPY Trong khi các chỉ dẫn xung lượng thường là đảo ngược, đưa
ra các giao dịch tiềm năng, hành vi giá có thể sụt giảm để đảo ngược vừa đủ để làmcho giao dịch có giá trị do lãi suất cơ bản Thay vì đảo ngược dọc theo xung lượng,hành vi giá của cặp USD/JPY thường đi theo đường sideway, cho phép các nghiên
Trang 24cứu xung lượng tiếp tục được giãn ra, cho đến khi xu hướng cơ bản trở lại Cuốicùng, phân tích Ichimoku là một hệ thống chỉ dẫn xu hướng được sử dụng chủ yếu
ở Nhật Bản thể hiện các xu hướng và các đường đảo ngược chính
Các lọai tiền tệ ít có tính thanh khoản
Sau khi xem xét hai cặp tiền tệ được giao dịch nhiều nhất, hãy xét đến hai cặp tiềntiền tệ chính có tính thanh khoản thấp nhất USD/CHF và GBP/USD, đặt ra nhiềuthử thách đặc biệt cho những nhà giao dịch thiên về phân tích kỹ thuật Đồng Franchay còn được gọi là “Swissy” có một vị trí quan trọng của các cặp tiền tệ chính do
vị trí độc đáp của Thụy Sĩ như là một nơi an toàn cho các khoản đầu tư toàn cầu.Đồng Franc Thụy Sĩ có vai trò lịch sử như là một loại tiền tệ an toàn thay cho đồng
đô la Mỹ trong thời kỳ địa chính trị bất ổn định, nhưng vai trò này đã giảm đi đáng
kể sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Ngày nay, cặp USD/CHF được giao dịch dựatrên tâm lý về đồng đô la Mỹ, ngược với các phân tích cơ bản về kinh tế Thụy Sĩ.Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ (SNB) chủ yếu kiểm soát giá trị đồng franc so vớiđồng euro, do phần lớn giao dịch của Thụy Sĩ là với Liên minh châu Âu, nhữngdiễn biến phân tích cơ bản Thụy Sĩ chủ yếu được phản ánh ở tỷ giá chéo của cặpEUR/CHF
Tính thanh khoản của cặp USD/CHF chưa bao giờ thật tốt, và nó trở thành công cụ
ưa thích của các quỹ bảo hộ và các nhóm lợi ích đầu cơ để tối đa hóa lợi nhuận.Tính thanh khoản thấp hơn và độ biến động cao đã khiến đồng Swissy trở thành chỉdẫn quan trọng hàng đầu cho sự biến động của đồng Đôla Mỹ Biểu đồ 3 minh họa
về sự phá vỡ gần đây của các đường xu hướng hỗ trợ chính hàng ngày của cặpUSD/CHF diễn ra trong một ngày trước khi cặp EUR/USD và USD/JPY phá vỡmức cân bằng Đồng Swissy cũng dẫn đường trong các biến động ngắn hạn, nhưngtổng mức biến động chung của giá cặp USD/CHF thường tạo ra các điểm phá vỡsai của các mức kỹ thuật chung Những điểm phá vỡ sai thường dẫn đến lệnh dừng