Tăng tổng cung Chi phí sản xuất giảm: Sự thay đổi của chi phí sản xuất gắn liền với những biến động giá cả của các yếu tố đầu vào.. Do đó, các nhà sản xuất sẽ cắt giảm nhân công để khắ
Trang 1CHỦ ĐỀ: GIẢM PHÁT VÀ PHÂN TÍCH GIẢM PHÁT NHẬT BẢN
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
I GIẢM PHÁT LÀ GÌ? 2
II NGUYÊN NHÂN GÂY RA GIẢM PHÁT2
1 Giảm tổng cầu 2
2 Tăng tổng cung 3
III TÁC ĐỘNG CỦA GIẢM PHÁT 3 1 Thất nghiệp tăng 3
2 Giá trị thực của các khoản nợ tăng 4
3 Vòng xoáy giảm phát 4
4 Giảm phát có hại hơn lạm phát? 5
IV GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT GIẢM PHÁT 7 1 Chính sách tiền tệ 7
a Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc 7
b Nghiệp vụ thị trường mở (Open market operation) 7
c Giảm lãi suất mục tiêu (Target interest) 8
d Nới lỏng định lượng (Quantitative easing) 8
e Chính sách lãi suất âm 8
2 Chính sách tài khóa 9
a Tăng chi tiêu chính phủ 9
b Giảm thuế 9
V GIẢM PHÁT Ở NHẬT BẢN 10 1 Thực trạng giảm phát tại Nhật Bản 10
2 Nguyên nhân 13
a Những mâu thuẫn của một xã hội đầu cơ và sự đỗ vỡ của nền kinh tế bong bóng 13
b Sự yếu kém, lạc hậu của hệ thống ngân hàng tài chính Nhật Bản 14
Trang 2c Sự già hoá dân số và gánh nặng của các chính sách bảo đảm phúc lợi xã
hội 15
d Những hạn chế, bất cập của mô hình kinh tế Nhật Bản trước những yêu cầu thách thức mới của thời đại 15
3 Biện pháp kiểm soát giảm phát dưới thời tổng thống Shinzu Abe 15
a Chính sách nới lỏng tiền tệ 16
b Chính sách tài khóa linh hoạt 17
c Chính sách thúc đẩy tăng trưởng 17
4 Nhận xét – đánh giá 18 KẾT LUẬN 20
Tài liệu tham khảo:21
Trang 4MỞ ĐẦU
Lạm phát và giảm phát là những vấn đề phức tạp cả về nhận thức lý luận
và thực tiễn Nhiều nhà kinh tế đã cảnh báo về nguy cơ giảm phát toàn cầu bởi
vì giảm phát được hiểu là việc giảm liên tục nếu không khắc phục sẽ gây ranhững tác hại lớn hơn cả lạm phát, cụ thể là nó làm chậm lại tốc độ tăng trưởngkinh tế Do vậy, nghiên cứu về vấn đề giảm phát đòi hỏi một quá trình lâu dài,một sự phân tích mạch lạc, khách quan bởi chính bản chất phức tạp và kéo dàicủa giảm phát Trên thực tế, trừ trường hợp các cuộc khủng hoảng chu kỳ hồi thế
kỷ 19, giảm phát rất ít khi là một hiện tượng tự phát, mà thường là các biện pháp
cố tình của Nhà nước nhằm hạn chế mạnh cầu và qua đó giảm những mất cânđối rất lớn Ngày nay, giảm phát lại đang là trở lực kéo nền kinh tế của nhiềunước vào vòng xoáy suy thoái Vấn đề này đã và đang làm đau đầu nhiều nhàkinh tế học và các nhà lãnh đạo trên thế giới, mặc dù đã có nhiều sự cố gắng suynghĩ to lớn
Trong một thế giới không có ranh giới, trong điều kiện thương mại quốc
tế, kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển mạnh mẽ, Việt Nam cũng không thểtránh khỏi những tác động khủng hoảng có tính chu kỳ và dây chuyền của kinh
tế các nước Tuy giảm phát ở nước ta mới chỉ là nhất thời khó kèo dài với mức
độ trầm trọng song nếu không thoát khỏi “vòng xoáy” giảm phát thì triển vọngphát triển về trung và dài hạn là hết sức khó khăn Kích cầu là một biện pháp tấtyếu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nước nhằm thúc đẩy tiêu dùng,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiểm soát được một cách chặt chẽ cácyếu tố gây tác động đến giá cả thị trường theo hướng tích cực Những vấn đềđược nêu ra có thể nắm bắt được bằng trực giác nhưng việc đi sâu nghiên cứunhững mối quan hệ có tính định lượng thường xuyên giữa tiền tệ, sự tăng trưởng
và giá cả là một việc làm còn quá nhiều mạo hiểm Vì vậy, trong khuôn khổ mộtbài tiểu luận nhóm, những vấn đề được trình bày dưới đây không nhằm kết thúcmột sự phân tích ngắn gọn về giảm phát và các biện pháp kích cầu mà chỉ đểnhận thức được vai trò, tầm quan trọng của chúng trong những mối liên kết củanền kinh tế hiện đại
Trang 5Một số nhân tố dẫn tới tổng cầu giảm:
- Lượng cung tiền giảm:
Ngân hàng trung ương sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng lãisuất Do đó, thay vì chi tiêu, người dân sẽ chuộng tiết kiệm hơn
Hơn nữa, lãi suất tăng cũng dẫn tới chi phí vay mượn cao hơn Điều này cũngkhông khuyến khích chi tiêu trong nền kinh tế
Trang 6Những sự kiện tiêu cực trong nền kinh tế như suy thoái kinh tế cũng có thể gây
ra việc tổng cầu giảm Ví dụ, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, người dân cảm thấy
bi quan hơn về tương lai của nền kinh tế Do vậy, họ sẽ có xu hướng tăng tiếtkiệm và giảm chi tiêu hiện tại
2 Tăng tổng cung
Chi phí sản xuất giảm:
Sự thay đổi của chi phí sản xuất gắn liền với những biến động giá cả của các yếu
tố đầu vào Khi giá máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhân công giảm, trong điềukiện các yếu tố khác không đổi, làm chi phí sản xuất giảm Các nhà sản xuấtphải gia tăng sản xuất để tăng sản lượng Điều này làm đường tổng cung AS dichuyển xuống dưới và dịch sang phải Trong khi nhu cầu sẽ không thay đổi, cácnhà sản xuất sẽ cần hạ giá hàng hóa để giữ mọi người mua hàng hóa của họ
Tiến bộ trong khoa học kỹ thuật:
Những thay đổi về công nghệ và kỹ thuật sản xuất luôn tác động mạnh đến chiphí sản xuất của một loại hàng hoá Trong tiến trình phát triển của xã hội, conngười luôn tìm cách cải tiến cách thức sản xuất, chế tạo ra những công cụ sảnxuất mới có năng suất cao hơn, sử dụng những phương pháp sản xuất tiên tiếnhơn, tạo ra nhiều vật liệu mới có nhiều tính năng và công dụng ưu việt hơn sovới những gì có sẵn trong tự nhiên Chính nhờ vậy, xét tổng thể, tiến bộ khoahọc và công nghệ làm cho chi phí sản xuất các loại hàng hoá nói chung có xuhướng giảm xuống Điều này thể hiện một cách nổi bật trong những lĩnh vực chếtạo sản phẩm "mới" (như sản xuất máy tính, điện thoại di động v.v ), nơi mànhững sản phẩm đang trực tiếp là con đẻ của những thành tựu mới nhất của cuộccách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Nhờ tiến bộ công nghệ mà chi phísản xuất các loại hàng hoá loại này có thể hạ xuống nhanh chóng
Trang 7III TÁC ĐỘNG CỦA GIẢM PHÁT
1 Thất nghiệp tăng
Khi giá thấp, lợi nhuận thấp dẫn đến doanh thu của các nhà sản xuất giảm Do
đó, các nhà sản xuất sẽ cắt giảm nhân công để khắc phục các chi phí, yếu tố đầuvào khiến cho một lực lượng lao động mất việc, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng
2 Giá trị thực của các khoản nợ tăng
Giảm phát tác động đến việc tăng lãi suất Điều này sẽ gây ra sự gia tăng giá trịthực của nợ Giá trị thực của các món nợ cao kéo theo lòng tin của người tiêudùng về tính dễ đổ vỡ của hệ thống tài chính Đồng thời khả năng trả nợ củangười đi vay ngày càng xấu và người tiêu dùng có khả năng trì hoãn chi tiêu củahọ
3 Vòng xoáy giảm phát
Một vòng xoáy giảm phát là sự đồng loạt giảm của giá cả hàng hóa bị gây ra bởimột thời kỳ khủng hoảng kinh tế, và chính nó lại dẫn tới mức lương thấp hơncho người lao động, giảm cầu, và tiếp tục gây giảm giá hàng hóa Khi giảm phátxảy ra, Ngân hàng trung ương và các tổ chức tiền tệ có thể sẽ áp dụng chínhsách tiền tệ mở rộng để kích cầu và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên,
Trang 8nếu như chính sách tiền tệ thất bại, thì chính vì sự khủng khoảng tồi tệ hơn dựtính của nền kinh tế, hoặc vì lãi suất mục tiêu thậm chí đã xuống đến 0 hoặc gầnđến 0, một vòng xoáy giảm phát rất có thể sẽ xảy ra thậm chí là song song vớinhững chính sách tiền tệ đang được áp dụng Một vòng xoáy giảm phát có thểtrở thành một sự lặp đi lặp lại vô cùng tai họa, khi mà một chuỗi sự kiện lạikhiến cho vấn đề cốt lõi trở nên trầm trọng hơn, thay vì giải quyết nó
Một vòng xoáy giảm phát thường xảy ra khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng,hoặc suy thoái, khi mà đầu ra của nền kinh tế trở nên nhỏ giọt và nhu cầu đầu tư
và tiêu dùng giảm mạnh Điều này có thể sẽ dẫn đến một sự sụt giảm cục bộ củagiá cả, vì những nhà sản xuất buộc phải thanh lý hàng tồn kho, những mặt hàng
mà hầu như không còn cầu trên thị trường Người tiêu dùng và những hộ kinhdoanh bắt đầu tập trung vào nắm giữ tiền mặt để tránh khỏi những thất thoátthêm về mặt tài chính Và khi tiết kiệm càng tăng, đầu tư càng giảm, thì tổng cầulại giảm càng sâu hơn nữa Tại thời điểm này, kỳ vọng của mọi người vào lạmphát dự kiến giảm xuống vô cùng thấp, và họ bắt đầu tích trữ tiền
Người tiêu dùng không còn động cơ để tiêu tiền ngay hiện tại khi mà họ có thể
kỳ vọng rằng đồng tiền họ giữ sẽ có sức mua lớn hơn trong tương lai (lạm phát
dự kiến thấp)
Trong một cuộc suy thoái, cầu giảm và những nhà sản xuất sản xuất ra ít hànghóa hơn Cầu cho một mặt hàng nào đó giảm xuống thì cũng đồng nghĩa vớiviệc giá cả xuống thấp Khi cắt giảm sản xuất để phù hợp với mức cầu giảm, các
xí nghiệp sẽ cắt giảm lực lượng lao động của mình, gây nên thất nghiệp Những
cá nhân bị thất nghiệp có thể sẽ rất khó khăn để tìm được việc làm trong thời kỳsuy thoái, và phải dùng đến khoản tiền tiết kiệm của mình, và cuối cùng sẽ gâynên những nghĩa vụ nợ nặng nề hơn như là khoản thế chấp, khoản nợ mua xe,
Trang 9khoản nợ sinh viên và nợ thẻ tín dụng Những khoản nợ xấu này tích lại vớinhau trong nền kinh tế, và cuối cùng trở thành những khoản tiền bị thất thoát,không thể đòi lại được Những tổ chức tài chính vì vây bắt đầu sụp đổ, mangtheo sự sụt giảm thanh khoản trầm trọng của thị trường tài chính, và cũng giảmnguồn cung ứng vốn cho những cá nhân và tập thể đang có nhu cầu vay nợ
4 Giảm phát có hại hơn lạm phát?
Hầu hết mọi người đều có thái độ tiêu cực với lạm phát và cho rằng giảm phát làmột điều vô cùng tuyệt vời vì giảm phát nghĩa là giá trị đồng tiền đang tăng lên.Nghe như là bạn bỗng nhiên có nhiều tiền hơn bởi vì tự đồng tiền tăng giá trịngay khi nó đang nằm trong túi của bạn Nhưng, giảm phát sẽ dẫn đến suy thoáikinh tế và thất nghiệp Chúng ta đã chứng kiến điều này xảy ra rất nhiều lầntrong lịch sử, và đó cũng là lý do chính giải thích tại sao chế độ bản vị vàng lạigây tác động tiêu cực như vậy Giảm phát xảy ra thường xuyên dưới chế độ bản
vị vàng là một trong những nguyên nhân gây ra những cuộc suy thoái kinh tế,bao gồm cả cuộc Đại khủng hoảng
Krugman đưa ra một số lý do về việc tại sao giảm phát lại tồi tệ hơn lạm phát:
“Giảm phát và lạm phát không hề tương xứng với nhau 4% lạm phát hầu nhưkhông gây ra tác hại gì cho nền kinh tế, trong khi 4% giảm phát có thể sẽ là mộtthảm họa.” Sau đây là một vài lý do tại sao chúng ta có thể kết luận như vậy:
Quy mô sản xuất, thu nhập và lao động có việc làm sẽ tăng lên ở giai đoạnđầu thời kỳ lạm phát, dù cho nó sẽ không tăng lên vào những giai đoạn saucủa thời kỳ Tuy nhiên, những yếu tố trên có thể sẽ giảm xuống nếu như lạmphát vượt khỏi tầm kiểm soát của các tổ chức tiền tệ đặc biệt là trong giaiđoạn lạm phát phi mã Nhưng, mức độ quy mô sản xuất, thu nhập và ngườilao động có việc làm sẽ liên tục giảm trong thời kỳ giảm phát diễn ra
Trang 10 Mặc dù lạm phát khá làm tăng mức độ bất bình đẳng, tác động tiêu cựccủa nó có thể được hạn chế bởi những biện pháp tiền tệ và tài khóa phù hợp,nhưng lại rất khó khăn để có thể sửa chữa những tác hại do giảm phát gây ra.
Chính sách tiền tệ hầu như không có tác động hiệu quả đối với giảm phátnhư trong việc kiểm soát lạm phát Trong thời kỳ giảm phát, hiệu suất cậnbiên của các khoản đầu tư sẽ xuống rất thấp Chỉ một sự cung tiền đơn thuầntăng lên tại thời điểm đó sẽ không thể nào mang lại sự khôi phục cho cả nềnkinh tế tại thời điểm đó bởi nó không thể tác động nhiều đến hiệu suất cậnbiên của các khoản đầu tư Nhưng, một sự giảm cung tiền lại hoàn toàn cóthể dập tắt một sự bùng phát lạm phát
Lạm phát, đặc biệt là lạm phát mức độ vừa phải có thể thúc đẩy sự pháttriển kinh tế, nhưng giảm phát lại làm chậm lại sự phát triển của cả nền kinh
Khi giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lượng cung tiền (MS) trong nền kinh tế sẽ tănglên, dẫn đến lãi suất (i) giảm xuống, từ đó khuyến khích đầu tư, việc tăng đầu tư
sẽ đẩy tổng cầu tăng lên, giúp tăng giá cả hàng hóa trong nền kinh tế
Trang 11b Nghiệp vụ thị trường mở (Open market operation)
Nghiệp vụ thị trường mở là việc ngân hàng Trung ương mua và bán lại cácchứng khoán chính phủ trên thị trường nhằm điều chỉnh độ thanh khoản trongnền kinh tế
Khi nền kinh tế phải đối mặt với giảm phát, Ngân hàng trung ương sẽ nỗ lựcmua vào các chứng khoán chính phủ (government security) từ các ngân hànghoặc từ thị trường để tăng độ thanh khoản Điều này sẽ tăng lượng cung tiền chocác cá nhân, hộ gia đình, nhằm kích thích cầu, cung và trao đổi hàng hóa trongnền kinh tế, để kiểm soát lạm phát
c Giảm lãi suất mục tiêu (Target interest)
Ngân hàng trung ương cũng có thể giảm lãi suất mục tiêu của những nguồn vốnngắn hạn khi cho các trung gian tài chính vay hoặc khi các trung gian tài chínhcho vay lẫn nhau Nếu lãi suất mục tiêu cao, thì các trung gian tài chính sẽ phảimất nhiều chi phí hơn để vay đủ lượng tiền cần thiết để duy trì vận hành bộ máy
và thực hiện các chức năng của nó Lãi suất ngắn hạn còn ảnh hưởng đến lãi suấtdài hạn, vì vậy nếu nâng lãi suất mục tiêu, những dòng tiền dài hạn, ví dụ nhưvay thế chấp, cũng có thể trở nên đắt đỏ Hạ thấp lãi suất mục tiêu sẽ giúp giảmchi phí vay nợ và qua đó khuyến khích đầu tư Đồng thời, cũng khuyến khíchcác cá nhân mua nhà bằng cách giảm chi phí hàng tháng
d Nới lỏng định lượng (Quantitative easing)
Khi lãi suất danh nghĩa bị hạ thấp xuống gần bằng 0, Ngân hàng trung ương sẽbuộc phải áp dụng chính sách tiền tệ phi truyền thống
Nới lỏng định lượng (QE) là khi không chỉ mỗi trái phiếu chính phủ, mà tráiphiếu doanh nghiệp cũng được mua bán trên thị trường mở
Trang 12Điều này không chỉ giúp bơm thêm tiền vào hệ thống tài chính, mà còn giúptăng giá các tài sản tài chính, góp phần ngăn chặn trình trạng sụt giá liên tục củachúng
Nhưng một số người lo ngại rằng dòng lũ tiền mặt đã khuyến khích những hành
vi tài chính thiếu cẩn trọng và trực tiếp hướng vòi rồng tiền này sang các nềnkinh tế mới nổi mà không thể quản lý chúng Hoặc khi các ngân hàng trungương bán các tài sản mà họ đã tích lũy được, lãi suất sẽ tăng vọt và bóp nghẹt sựphục hồi kinh tế
e Chính sách lãi suất âm
Lãi suất âm có nghĩa người gửi tiền sẽ phải trả phí cho các khoản tiền tiết kiệm,ngược với quy tắc thông thường của kinh tế học
Dựa theo lý thuyết, lãi suất âm muốn kích thích mọi người bao gồm người dân,quỹ đầu tư, các nhà đầu tư nhỏ lẻ và các tổ chức doanh nghiệp dùng tiền để muasắm, đầu tư, thay vì tích lũy hay gửi tiết kiệm
- Tác động của lãi suất âm:
Và cũng theo lý thuyết, Lãi Suất Âm giảm chi phí vay tiền, khuyến khích thịtrường vay thêm tiền Nhưng trong thực tế thì việc này có thể sẽ phản tác dụng.Thay vì dùng số tiền vay với lãi suất thấp để đầu tư dài hạn, thì Lãi Suất Âm sẽkhuyến khích thị trường đầu cơ ngắn hạn và tạo những bong bóng tài chính
Nó có lợi cho người vay, nhưng lại mang lại thiệt hại cho người tích lũy Điềunày sẽ khuyến khích người tích lũy dùng tiền đầu cơ mạo hiểm hoặc để tiềnngoài hệ thống ngân hàng thay vì phải đóng phí để tiết kiệm tiền của mình
2 Chính sách tài khóa
a Tăng chi tiêu chính phủ
Các nhà kinh tế theo trường phái Keynes ủng hộc việc sử dụng chính sách tàikhóa nhằm tăng tổng cầu và và kéo nền kinh tế ra khỏi tình trạng giảm phát Nếu
Trang 13như các cá nhân và hộ kinh doanh ngừng chi tiêu, các nhà sản xuất sẽ không
còn động lực để sản xuất và tuyển dụng lao động Chính phủ chỉ có thể can thiệp
vào với tư cách là người chi tiêu, với hi vọng sẽ duy trì được sản xuất và việc
làm cho người lao động Chính phủ thậm chí còn vay tiền để chi tiêu, dẫn đếnthâm hụt ngân sách Các hộ kinh doanh và người lao động sẽ sử dụng tiền củachính phủ để sản xuất, đầu tư, chi tiêu cho đến khi giá cả và cầu tăng lên
b Giảm thuế
Nếu chính phủ cắt giảm thuế, sẽ tạo điều kiện cho nhiều phần thu nhập hơn nằmlại trong túi của các nhà sản xuất và người lao động Nhờ hiệu ứng tài sản, họ sẽchi tiêu số tiền mà đáng lẽ ra phải dành để nộp thuế Một nguy cơ có thể gặpphải khi cắt giảm thuế trong thời kỳ suy thoái kinh tế là doanh thu từ thuế sẽgiảm, dẫn đến chính phủ phải cắt giảm chi tiêu và không đáp ứng được việc vậnhành những dịch vụ cơ bản Vì vậy, việc cắt giảm thuế không hoàn toàn manglại hiệu quả tích cực trong tất cả mọi trường hợp, đặc biệt là khi ngân sách nhànước không đủ mạnh
V GIẢM PHÁT Ở NHẬT BẢN
1 Thực trạng giảm phát tại Nhật Bản
Nhật Bản đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế do tìnhtrạng giảm phát kéo dài Kể từ khi bong bóng tài sản tại Nhật Bản bùng nổ vàođầu thập niên 1990, "gọng kìm" giảm phát đã "siết" chặt kinh tế nước này Lo sợlạm phát bùng nổ do sự đổ vỡ của thị trường nhà đất và chứng khoán, Nhật Bản
đã giảm mạnh cung tiền từ trên 11% năm 1990 xuống chỉ còn 0,6% năm 1991.Đây là nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng giảm phát tại Nhật Bản